Nhận diện nghề báo – Kỳ 3: Nghề nhiều rủi ro và
định kiến
Trước hết là vấn đề tìm kiếm sự thật, tìm kiếm chân lý của sự kiện, hiện tượng,
con người. Sự thật, chân lý là một quá trình và chỉ có tính tương đối. Có cái hôm
nay là đúng nhưng ngày sau lại là sai. Ngược lại, có cái gây dị ứng, hoài nghi
hôm nay nhưng lại là cái hợp lý, cái chân lý trong tương lai. Lịch sử chứng kiến
quá nhiều sự kiện như thế nhưng bài học kinh nghiệm này ít ai chịu nghiền ngẫm,
thấu triệt.
Cuộc sống cứ trôi miên viễn nhưng những gì nhà báo trình bày, giải thích, khẳng
định hoặc phê phán ở hôm nay đều không thể “hiệu đính” ở ngày mai. Đây là bi
kịch của người làm báo. Dù có tài năng và có viễn kiến đến mấy, nhà báo cũng
khó thể thoát ly được những ràng buộc của thời đại, hoàn cảnh, môi trường chính
trxã hội và bầu khí quyển thông tin chung quanh mình. Nhiều sự kiện, hiện
tượng, nhân vật mà báo chí đề cập từng được lịch sử cải chính.
Chẳng hạn, ở Mỹ, lịch sử chứng minh “Chiến tranh Việt Nam là một lỗi lầm đồi
bại của nước Mỹ. Vậy mà những sự kiện được truyền tải trên những phương tiện
truyền thông đại chúng trong những năm đầu cuộc chiến hình như đã chỉ ra rằng
đó là những theo đuổi quan trọng.” (14). Ở Việt Nam, có thể nói những bài viết
phê phán bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phúc – Kim Ngọc trong thập niên 1970 hoặc những
bài viết ca ngợi Nguyễn Văn Mười Hai, Huỳnh Là, Tăng Minh Phụngvào thập
niên 1980, 1990 là những kỷ niệm không vui của nghề báo.
Kế đến là sự “vướng bẫy nguồn tin”. Tai nạn này thường xảy ra đối với các nhà
báo trẻ, ít kinh nghiệm. Những nguồn tin cá nhân, kể cả nguồn tin có thương hiệu,
đôi khi lại cung cấp những thông tin hoàn toàn sai lạc hoặc phiến diện mà nhà báo,
hoặc vì quá tin tưởng hoặc vì thiếu kỹ năng kiểm chứng nên vô tình biến bài viết
của mình thành công cphục vụ cho cá nhân hoặc cho một nhóm lợi ích nào đó.
Chẳng hạn, nhân viên chính phủ tiết lộ về một dự án sắp được triển khai, mà dự án
này do công ty của người nhà nhân viên ấy thực hiện. Nếu không lưu ý đến động
cơ rò rỉ thông tin thì khi bài báo được phát hành, đối tượng hưởng lợi nhiều nhất
chính là cá nhân người cung cấp tin và cái công ty của người nhà anh ta.
Mặc dù, trong nghề báo có nguyên tắc: “Khi nghi ngờ cứ quy cho người đã nói” –
nhà báo không chịu trách nhiệm về nội dung thông tin khi dẫn nguồn nhưng những
trường hợp “vướng bẫy nguồn tin” đều ảnh hưởng xấu đến uy tín của tờ báo và
phóng viên.
… và chịu nhiều định kiến từ xã hi
Trước đây, giới trí thức thượng lưu quan niệm Nhà báo là nhà văn bất tài” bởi vì
nội dung các bài viết của họ vẻ xô bồ, tạp nham, thiếu mực thước; còn văn
phong của họ thì cứ “thẳng đuột” như lời nói. Goethe, văn hào Đức, sinh thời rất
coi thường nghề báo: “Từ lâu, tôi vẫn tin rằng báo chí sinh ra đời là để cho đại
chúng tiêu khiển, giết thì giờ và lòe bịp họ nhất thời (…). Vì thế tôi không đọc một
tờ báo nào hết.” (15).
Còn Baudelaire, nhà thơ Pháp, từng thẳng thừng khinh miệt báo chí: “Bất cứ tờ
báo nào cũng vậy, từ trang đầu đến trang cuối chỉ là một cái ổ chứa những cái gì
ghê gm, kinh tởm. Chiến tranh, giết chóc, trộm cướp, hà hiếp, hành hạ, tội ác của
các vua chúa, tội ác của các quốc gia, tội ác của các tù nhân, biết bao là sự say sưa
cuồng loạn của vũ trụ loài người (…). Tôi tin rằng không có một bàn tay sạch nào
cầm lấy tờ báo mà không cm thấy muốn buồn nôn, buồn mửa.” (16).
Loại bỏ cái nhìn cực đoan vốn là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mọi định kiến khác
nhau của con người thì công bằng mà xét, định kiến trên đối với nghề báo cũng có
nguyên nhân lịch sử của nó. Báo chí trong giai đoạn khởi thủy, để tìm một lối đi
riêng, chắc hẳn nó có những biểu hiện ấu trĩ, hồn nhiên cvề nội dung thông tin và
hình thức thể hiện.
Nhất là khi đặt cạnh triết học và văn chương, báo chí rõ ràng có phần kém sang
trọng, đẹp đẽ và sâu sắc.n nữa, một thực thể báo chí nào, từ trước đến nay,
cũng tồn tại một bộ phận nhỏ là những tờ báo lá cải, chuyên khai thác những thông
tin giật gân để câu khách nên mới nảy sinh định kiến xem thường nghề báo, hạ
thấp giá trị của hoạt động báo chí.
Một định kiến khác mang tính đại chúng hơn, làm thành nỗi mặc cảm ám ảnh đối
với người làm báo, thể hiện qua câu cửa miệng: “Nhà báo nói láo ăn tiền!”. Lúc
bất đồng với những thông tin trên báo chí, dù chân lý chưa hẳn thuộc về mình,
người ta vẫn gán cho nhà báo câu này vi hàm ý: Nhà báo là người nói không
thành có, nói có thành không!
Nguyên nhân dẫn đến định kiến này chyếu xuất phát từ phía chủ quan của nghề
báo. Nhà báo dù rất giỏi nghề và có thiên lương trong sáng cũng khó tránh một lần
thông tin sai sthật, cấp độ nhỏ là sai chi tiết, cấp độ lớn là sai c sự kiện, nhất là
trong hoàn cảnh anh ta phải chạy nước rút để kịp giờ báo lên khuôn. Tbáo dù
chuyên nghiệp và cẩn thận mấy cũng phải thực hiện cải chính vài lần trong một
năm về những thông tin thiếu chính xác của mình.
S kiện tờ báo lừng danh
Mỹ, đoạt 94 giải Pulitzer
The New York Times, phải
đăng bài dài 14.000 chữ vào
ngày 11/5/2003 để xin lỗi độc
giả về những thông tin bịa đặt
Vả lại, trong báo giới thời nào cũng có những
“con sâu làm rầu nồi canh”, những người xem
nghề báo là phương tiện để kiếm danh lợi, nên h
bất chấp mọi quy tắc đạo đức nghề nghiệp, kể cả
“nói láo”; viết bừa miễn sao thu được nhiều tiền.
trong bài viết của nữ phóng
viên Jayson Blair, cho thấy bất
kỳ tờ báo nào, vào bất kỳ thời
điểm nào cũng có thể trở thành
nạn nhân của định kiến trên.