
Tuỳ theo vị trí nhiễm khuẩn thấp hay cao (viêm thận - bể thận), mức độ nặng
hay nhẹ, tính chất cấp tính hay mạn tính và chủng vi khuẩn gây bệnh mà có
những biện pháp điều trị khác nhau. Nguyên tắc chung là lựa chọn kháng
sinh thích hợp, tốt nhất là dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ (tức là sau khi
cấy nước tiểu hoặc máu thấy vi khuẩn gây bệnh thì đánh giá mức độ nhạy
cảm của vi khuẩn với một số thuốc kháng sinh, từ đó lựa chọn kháng sinh
nhạy cảm nhất, dễ hấp thu, ít tác dụng phụ nhất, sẵn có và cân nhắc cả về
vấn đề kinh tế); điều trị triệu chứng và điều trị hỗ trợ khác.
Trường hợp nhiễm khuẩn tiết niệu thấp thường dùng kháng sinh đường uống
kết hợp với thuốc sát khuẩn tại chỗ. Các kháng sinh thường dùng có tác
dụng tốt trong nhiễm khuẩn tiết niệu thấp hiện nay như nhóm quinolon:
peflacin 400mg uống 2 viên/ngày chia hai lần hoặc ciprofloxacin 500mg
uống 2 viên/ngày chia hai lần. Lưu ý không sử dụng quinolon cho phụ nữ có
thai, đang cho con bú và trẻ em dưới 16 tuổi vì thuốc ảnh hưởng tới sự phát
triển của trẻ do gây tổn thương sụn khớp. Các nhóm kháng sinh khác như
cephalosporin (cefuroxim 500mg uống 2 viên/ngày chia hai), beta lactam
(ampicillin) cũng có tác dụng tốt. Một kháng sinh thông thường, rẻ tiền, khá
thông dụng hiện nay là co-trimoxazon (Biseptol, viên 480mg, uống 4
viên/ngày chia hai) cũng có tác dụng trong một số trường hợp nhiễm khuẩn
tiết niệu nhẹ, tuy nhiên tỷ lệ vi khuẩn kháng kháng sinh này hiện nay khá
cao. Thời gian sử dụng kháng sinh tùy thuộc vào chỉ định của bác sĩ chuyên
khoa, căn cứ từng trường hợp cụ thể mà có thể dùng liều duy nhất hay dùng
kéo dài 3 - 10 ngày hay kéo dài hơn. Hiện nay hay dùng kháng sinh kết hợp
với một số hoá chất như nitrofurantoin, Mictasol bleu... là những thuốc đào
thải gần như nguyên vẹn qua đường tiểu nên có tác dụng sát khuẩn tại chỗ.