
PHẢN BIỆN TÍNH HIỆU QUẢ TỪ LUẬN ĐỀ "NHỮNG HÌNH ẢNH CỦA
NƯỚC" (HAY LÀ YÊU CẦU CẦN PHÂN BIỆT ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ
CỦA MINH TRIẾT PHƯƠNG ĐÔNG)
NGUYỄN HỮU SƠN (*)
Thông qua những so sánh đối chiếu của F.Jullien trong tác phẩm
Bàn về tính hiệu quả, tác giả đã đi đến phân tích luận đề “những
hình ảnh của nước” với tư cách hình ảnh đặc sắc phản ánh tư tưởng
của Lão Tử. Lão Tử đã xem xét một phẩm chất của nước – “bất
tranh” và từ đó khái quát thành quan điểm nhân sinh, thành phẩm
chất ứng xử được coi là đặc trưng của tâm thức phương Đông – “vi
vô vi”. Theo tác giả, quan điểm nhân sinh này thiên về khái quát đặc
điểm kinh nghiệm, ứng xử hơn là định hướng tiến bộ xã hội, nên khó
có thể coi là giá trị.
1. Tuy cách đặt vấn đề và điểm nhìn khác nhau, song, chúng tôi nhận
thấy có những điểm tương đồng nhất định trong cách hình dung của
nhà nghiên cứu triết học đương đại Pháp F.Jullien với học giả Việt
Nam Cao Xuân Huy (1900-1983) khi cùng bàn về minh triết phương
Đông, cùng so sánh tương quan hai truyền thống văn hoá Đông -
Tây, cùng bàn về tính hiệu quả do hai dòng định hướng tư tưởng ấy
chi phối và đưa lại. Trước đây, Cao Xuân Huy đã xác định: "Tư
tưởng của loài người tác dụng và phát triển theo hai phương thức:
phương thức chủ toàn và phương thức chủ biệt (...). Hai phương
thức tư tưởng trên đây tuy đi ngược hướng với nhau, nhưng chúng
vẫn quyện vào nhau trong mỗi người, mỗi nhà tư tưởng, mỗi dân tộc,
mỗi nền văn hoá, mỗi thời đại. Chỉ có cái tỉ trọng, cái liều lượng của

hai phương thức ấy trong mỗi người, mỗi dân tộc, v.v. là có khác
nhau"(1). Gần đây, F.Jullien đã viết những dòng mở đầu trong thư
gửi các bạn đọc Việt Nam nhân công trình Traité de l'efficacité -
Bàn về tính hiệu quả (1977) của ông được dịch sang tiếng Việt:
"Trong tập tiểu luận này, tôi cố gắng tư duy tính hiệu quả bằng cách
đào sâu sự chia tách giữa hai truyền thống văn hoá lớn này: một là
truyền thống lập mô hình lý thuyết hướng về một sự ứng dụng thực
hành, chính là nhờ vào truyền thống này mà khoa học và kỹ thuật
phương Tây có được thành công; mặt khác, đó là truyền thống
không lấy sự chủ động của một cái Tôi - chủ thể lập mô hình và
hành động làm cơ sở cho tất cả, mà lấy xu thế của sự vật làm chỗ
dựa và tìm cách khai thác tiềm thế được bao hàm trong tình thế lâm
sự - từ truyền thống này trí tuệ chiến lược của Trung Hoa đã phát
triển cùng với những gì đã truyền cảm hứng dồi dào cho minh triết
Trung Hoa"(2). Tuy không đặt nhiệm vụ so sánh hệ thống quan điểm
của F.Jullien với Cao Xuân Huy, song những ý kiến khái quát trên sẽ
định hướng cho chúng tôi trong quá trình khảo sát cách thức lý giải
của F.Jullien về tính hiệu quả từ luận đề "những hình ảnh của nước"
và đi tới một vài nhận định ban đầu nhằm phân biệt cái gọi là đặc
điểm và giá trị của minh triết phương Đông so với tư tưởng triết học
phương Tây.
2. Trước hết, theo chúng tôi, cần lược thuật lại những điểm quan
trọng nhất liên quan tới vấn đề trên trong công trình Xác lập cơ sở
cho đạo đức (Đối thoại của Mạnh Tử với một nhà triết học Khai
sáng) của F.Jullien đã được giới thiệu ở Việt Nam từ nửa thập kỷ
trước. Công trình Xác lập cơ sở cho đạo đức tập trung so sánh
những phương diện căn bản nhất trong quan niệm về triết học và đạo
đức học giữa hai nhà tư tưởng thuộc hai thời đại và hai phương trời

cách biệt nhau: Mạnh Tử (385 - 304 TCN ?) và J.Rousseau (1712 -
1778). Qua 15 chương sách, tác giả đã làm nổi bật được những
tương quan, những mẫu số chung, những mối quan tâm chung của
hai nhà tư tưởng về cội nguồn của đạo đức - lòng trắc ẩn, sự huyền
bí của tình thương và những dấu hiệu của ý thức đạo đức. Trên cơ sở
đời sống vật chất - văn hoá - xã hội, tác giả tiếp tục khảo sát và so
sánh các phương diện, như tranh luận về bản tính con người, về việc
khẳng định nhân tính - “bản tính thiện” như là đức nhân - cội rễ của
tình đoàn kết, mối quan tâm “lo cho thiên hạ” và ước vọng về “sự
công bằng ngự trị trên trần gian”... Từ điểm nhìn của một trung tâm
văn hoá châu Âu hiện đại, học giả F.Jullien vừa thâm nhập vào nền
văn hoá Trung Hoa cổ đại, vừa tạo nên sự đối sánh với mong muốn
tạo lập một cách hình dung mới về những tương quan, sự đồng dạng,
ý nghĩa phổ quát của chân lý đạo đức: “Nếu như tôi chọn trình bày
những ý tưởng của Mạnh Tử là người đầu tiên trình bày một cách rõ
ràng tư duy đạo đức của người Trung Hoa thì đó là để đem lại cho
suy tư đạo đức của phương Tây hiện đại bấy lâu nay bị giam hãm
trong lịch sử của chính mình cơ hội của một sự đối chiếu giáp mặt”.
Phân tích hệ thống tư tưởng đạo đức của Mạnh Tử, F.Jullien nhấn
mạnh cả những phương diện tạo nên bản chất giá trị nhân văn có ý
nghĩa nhân loại lẫn những phương diện bộc lộ rõ giới hạn lịch sử của
một thời đại, một trình độ văn hoá - xã hội cụ thể. Rõ ràng là, từ tư
duy đối sánh có chiều sâu, những nhược điểm của minh triết phương
Đông và cả những khái niệm được coi là bất cập đối với triết học
phương Tây đã bộc lộ rõ nét. Đó là những mâu thuẫn, nghịch lý giữa
tính hiện thực và lý tưởng, giữa đạo đức cảm tính và chính trị duy lý:
“Ở đây còn có điều đáng suy nghĩ hơn là một nghịch lý. Mạnh Tử
muốn làm cho chúng ta dung hoà những điều không thể dung hoà

được (...). Làm sao tưởng tượng được là có thể làm cho đòi hỏi đạo
đức trùng hợp với thành công chiến lược? Hay là chúng ta đã sai lầm
đào sâu khoảng cách giữa vertu (cải thiện, đạo đức) và virtu (sự kiên
quyết, bạo lực)”; “Nhưng ta xử lý sao đây những sự cuồng loạn của
bạo lực trong cõi trần, những tình thế bất công. Rõ ràng là Mạnh Tử
phải phân biệt hai trạng thái của thiên hạ - khi thịnh trị và khi bị
loạn, khi có đạo đức hoặc khi vô đạo, nhưng ông một mực không
chịu tách biệt chúng”(3)…
Trong Lời giới thiệu cho bản dịch công trình nói trên sang tiếng
Việt, nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến đã khái quát sâu sắc bản
chất của sự so sánh: “Có một chiều sâu khác thường trong phương
pháp luận so sánh văn hóa Đông Tây của tác giả có thể trình bày như
sau: Hiểu lý trí Âu châu từ lý trí Trung Hoa và ngược lại, suy tư
Trung Hoa bằng Âu châu và ngược lại” (tr.v). Đồng thời, dịch giả
cũng nhấn mạnh ý nghĩa thời sự và tính vấn đề của đề tài: “Đạo đức
của cá nhân bao gồm hai loại quan hệ (hoặc trách nhiệm) đạo đức:
quan hệ đạo đức của cá nhân với người khác, với những cộng đồng
có liên quan đến mình và quan hệ đạo đức của cá nhân với bản thân
mình. Tuy nhiên, trong một thời gian dài, chúng ta coi nhẹ loại quan
hệ (hoặc trách nhiệm) đạo đức của cá nhân với bản thân mình” (vii).
Tiếp đó, dịch giả triển khai cụ thể hơn nội dung cơ sở đạo đức trong
cách nhìn của con người hiện đại: “Tự giác, chủ động trong hành vi
đạo đức là biểu hiện của sự thống nhất trong quan hệ mình với mình
và “mình dối gạt mình” là điểm tối kỵ trong đời sống đạo đức…
Tinh thần coi trọng sự tự xét mình và sự tự giác trong hành vi đạo
đức cùng một bản chất với tinh thần coi trọng sự xem xét độc lập và
sự quyết định độc lập của chính mình trong hành động” (xi), v.v..
3. Quay lại vấn đề, luận đề về "những hình ảnh của nước" được

F.Jullien xem như một nội dung quan trọng trong tư tưởng phương
Đông và, theo ông, được thể hiện sâu sắc trong học thuyết của Lão
Tử (thế kỷ V TCN). Để làm rõ quan điểm của F.Jullien, trước hết,
chúng tôi tổng thuật lại suy tư "những hình ảnh của nước" trong Đạo
đức kinh.
- "Thượng thiện nhược thuỷ. Thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh
(...). Phù duy bất tranh, cố vô vưu" (Thượng thiện giống như nước.
Nước làm lợi cho vạn vật mà không tranh... Ôi, vì không tranh nên
không sai lầm - Chương 8).
- "Đại quốc giả hạ lưu, thiên hạ chi giao, thiên hạ chi tẫn..." (Nước
lớn như ở hạ lưu vốn là chỗ hợp lại của thiên hạ và cũng là giống cái
trong thiên hạ - Chương 61).
- "Giang hải sở dĩ năng vi bách cốc vương giả dĩ, kỳ thiện hạ chi"
(Sông và biển sở dĩ làm vua của trăm hang bởi vì khéo ở dưới nó -
Chương 66).
- "Thiên hạ nhu nhược mạc quá ư thuỷ, nhi công kiên cường giả mạc
chi năng thắng" (Trong thiên hạ chẳng có gì mềm yếu hơn nước
nhưng cũng chẳng gì có thể vượt hơn nước trong việc công phá cái
kiên cường - Chương 78).
Từ những đặc tính trên của nước, Lão Tử ca ngợi phẩm chất "bất
tranh" của nước; phổ quát hoá đức khiêm tốn, khiêm nhượng và
nghệ thuật sống khiêm nhu; nâng "nhu đạo" và một phương diện
thích hợp của lối ứng xử "nhu thắng cương, nhược thắng cường" trở
thành phương châm chỉ đạo cả các lĩnh vực hoạt động chính trị, quân
sự và ngoại giao.
Khi xem xét luận đề về "những hình ảnh của nước", F.Jullien nhấn
mạnh: "Một hình ảnh xuyên qua tư tưởng của Trung Hoa cổ - vừa

