VĂN MẪU LỚP 11
PHÂN TÍCH NHÂN VẬT GIĂNG-VAN-GIĂNG TRONG NGƯỜI
CẦM QUYỀN KHÔI PHỤC UY QUYỀN
BÀI MẪU SỐ 1:
Trong đoạn trích, nời đọc thấy sự phân chia hai tuyến nhân vật krõ. Đối
lập với một Gia-ve hung hãn, tàn ác một Giăng Van-giăng cương nghị, kiên quyết. Khi
quyết định ra tự thú cứu Săng-ma-chi-ơ, Giăng Van-giăng đã trở thành một kẻ tội phạm
bị truy đuổi của Gia-ve nhưng ông vẫn hoàn toàn bình nh. Trong khi Gia-ve “phá n
cười, cái cười gtởm phô ra tất cả hai hàm răng”, “nắm lấy cổ áo Giăng Van-giăng thì
Giăng Van-giăng “không cố gỡ bàn tay hắn”.
Trong khi người ta gọi Gia-ve “ông thanh tra” thì Giăng Van-giăng chỉ gọi hắn
với cái tên “Gia-ve”. Con nời Giăng Van-giăng dường như không chịu bất cmột s
uy hiếp nào. Đặc biệt, sau khi Phăng-tin chết, thái độ của Giăng Van-giăng đối với Gia-
ve càng kiên quyết hơn. Ông “cậy bàn tay” Gia-ve như “cậy n tay trẻ con”. Ông “lăm
lăm cái thanh giường” “nhìn Gia-ve trừng trừng”. Không chỉ vậy, lời nói của Giăng
Van-giăng đầy nghiêm khắc : “’Tôi khuyên anh đừng quấy rầy tôi lúc này”. Lời khuyên
nhưng đã m ý trong đó một sự đe dọa, phản kháng một lời cảnh cáo của Giăng Van
Giăng trước Giave. lẽ chính thái độ bình nh kiên quyết ấy của Giăng Van Giăng
đã làm cho Giave run sợ. Một “ông thanh tra” được quyền bắt bớ đánh đập, đe doạ người
khác lại bị một tên khổ sai uy hiếp. Đó cũng sự chiến thắng của cái thiện đối với cái
ác.
Trong lời nói của Giăng Van-giăng, người đọc cảm nhận được vị thế kiêu hãnh
ngạo nghễ của một “ông thị trưởng” của quyền lực chính nghĩa. Đây chính hình ảnh
của một “người cầm quyền” đã khôi phục được uy quyền của mình. Kẻ thuộc hạ dưới
trướng của Giăng Van-giăng cuối cùng cũng phải run sợ, cúi đầu.
đoạn trích, người đọc cũng thấy đối lập với một Gia-ve hung ác một Giăng
Van-giăng giàu tình thương. Bỏ mặc sđe docủa Gia-ve, Giăng Van-giăng vẫn lo lắng
và săn sóc cho Phăng-tin. Lời “cầu xin” của Giăng Van-giăng : “Xin ông thư cho ba ngày
! Ba ngày đđi m đứa con cho người đàn đáng thương kia ! Phải trả giá thế nào tôi
cũng chịu. Nếu muốn, ông cứ đi kèm tôi cũng được” đã biểu hiện rõ tấm lòng yêu thương
cao cả của ông. Tấm lòng cảm thông của Giăng Van-giăng trước hoàn cảnh đáng thương
của Phăng-tin khiến người đọc cảm động. Đó một nghĩa cđẹp đẽ đáng trân trọng. Để
rồi ngay chính Gia-ve cũng phải ngạc nhiên : “Á, à. Tốt thật ! Tốt thật đấy !”. Hành động
của Giăng Van-giăng stoả sáng của tinh thần nhân văn cao cả. Trong khốn khổ hiểm
nguy, lòng tốt và tình yêu thương của con người vẫn được “thăng hoa” rực rỡ.
Phăng-tin chết, Giăng Van-giăng “xót thương khôn tả”, ông “tì khuỷu tay lên
thành giường, bàn tay đỡ lấy trán”… Ông ngồi yên lặng, “chẳng nghĩ đến điều gì trên đời
này nữa”. Lời nói thì thầm của Giăng Van-giăng ý nghĩa sâu xa. Người ta không rõ
ông nói với Phăng-tin. Chỉ biết sau lời nói ấy người ta thấy xuất hiện “một nụ cười
không sao tả được hiện trên đôi môi nhợt nhạt trong đôi mắt xa m, đầy ngỡ ngàng
của chị khi đi vào cõi chết”. Khuôn mặt Phăng-tin ánh lên một sự thanh thản, giống như
mãn nguyện hạnh phúc. Nụ cười của Phăng-tin điểm sáng của tác phẩm. làm mờ
đi những tăm tối khắc, những hung ác bạo ngược. Đó cũng nụ cười của niềm tin lạc
quan và khát vọng chiến thắng không gì dập tắt. Lời thì thầm của Giăng Van-giăng có thể
lời hứa tìm lại đứa con cho Phăng-tin, hay thể một viễn cảnh tương lai tươi sáng
được mở ra. Dẫu thế o, nời đọc cũng cảm thấy một niềm hạnh phúc lan toả đánh
thức tâm hồn người ta. Phăng-tin đi vào cõi chết những cũng chính đi vào “bầu ánh
sáng vĩ đại” – sự giải thoát khỏi đau khổ, hạnh phúc để bước vào sự đổi thay của thế giới,
sự chiến thắng của tinh thần nhân văn bất diệt. Đó cũng là bức thông điệp đẹp đẽ của chủ
nghĩa lãng mạn Vích-to Huy-gô trong tác phẩm.
Có thể nói Những người khốn khổ là bản anh hùng ca ca ngợi nhân dân,bản cáo
trạng hội sản với cả một mạng lưới luật pháp, toà án, nhà tù, quân lính, cảnh sát,
những kgiàu sang, những tên lưu manh,... Chính hội sản nguyên nhân gây ra
bao cảnh khổ trong nhân dân. hội ấy hiện hình tập trung nhất trong bộ mặt gớm ghiếc
m hồn chai cứng của Gia-ve. Tác phẩm nêu tình thương yêu chân chính chỉ
những con nời nghèo khổ. Huy-băn khoăn m biện pháp để đem lại hạnh phúc cho
những người khốn khổ. Tác phẩm bộc lộ quan điểm của nhà văn chịu ảnh hưởng của chủ
nghĩa hội không tưởng, kêu gọi người giàu giúp đỡ người nghèo chủ trương dùng
tình thương yêu để cải tạo con người, cải tạo cái ác. Trong Những nời khốn khổ, Huy-
đã phần nào nhận thức được những tưởng mạng nặng tính chất ảo tưởng của mình.
Ông cảm thấy srạn nứt của tư tưởng nhân văn bất bạo động đã nhìn thấy một
hướng giải quyết khác làm cách mạng tiêu diệt trật tự hội . Tuy sự chuyển biến
trong tư tưởng Huy-chưa thật dứt khoát, nh ảnh Giăng Van-giăng yêu thương "tuyệt
đối" vẫn bao trùm tđầu đến cuối tác phẩm, nhưng cuộc chiến đấu hào hùng trên chiến
luỹ của nhân dân lao động Pa-ri đã được nhà văn xây dựng thành những trang đẹp nhất
BÀI MẪU SỐ 2:
- Đối với Gia-ve - một tên ác t.
+ Lúc Phăng-tin còn sống: tên Gia ve hung hãn đến đòi bắt ông, ông nhún nhường,
vẫn nhún nhường với hắn - bởi hắn đang nắm trong tay cái mật ông ko hề muốn
hắn nói ra - ông là tên tù nhân nhữngm trước.
Không cố gỡ tay Gia ve khi hắn túm lấy áo ông mà nhẹ nhàng nói.
Trong khi Gia - ve thô lỗ với những lời nói như đâm dao vào mặt người khác thì
ông vẫn giữ thái độ điềm tĩnh, nói những lời nhe nhàng với Gia-ve.
Khổng phải ông sợ hãi hắn bởi ông đang cgắng để hắn ko nói ra
những lời không nên nói - là nói ra ông chính là tên tù nhân những năm trc chko phải là
ông thị trưởng đáng kính.
Ông nhún nhường nhưng ko hề run sợ: khi i với Gia ve ông ko hề xưng ông
thanh tra mà chỉ gọi là Giave.
--> rất thông minh khôn khéo khi chủ tâm nói nhẹ nhàng với Gia ve để giữ kín
bí mật ông là một tên tù nhân năm xưa với Phăngtin.
+ Khi Phăng-tin mất: ông cho rằng Giave chính kẻ gián tiếp gây nên cái chết
của Phăngtin khi nói về cái bí mật đó.
Ông nhổ cái thanh sắt rồi dọa nạt tên Giave, ông mạnh mhơn và không hề sợ hãi
gì trước thái độ dọa nạt của Gia ve nữa. --> lúc đó, thái độ sợ hãi của giave đã thể hiện sự
chiến thắng của cái thiện với cái ác.
--> Sự thay đổi về diễn biến m lý và hành đông bởi lúc đó Phăng tin đã mất, điều
mật đã được nói ra bởi miệng của tên độc ác nhân tính Giave, thì ông đã ko còn
gì để mất nữa.
Những điều ông kìm nén cho một tên nhẫn m đã ko còn nữa, bây giờ điều
cần phải nói nặng với ông ta, để thể làm những điều ông cần làm trước khi đi
theo hắn.
- Đối với Phăng-tin - một người phụ nữ đang bệnh:
+ Khi Phăng-tin còn sống: Giăng Van-giăng đã nhiều lần động viên, trấn tĩnh
Phăng-tin, bởi đương lúc Phăngtin đang bệnh nặng.
Ông cố gắng thật nhiều, nhẹ nhàng thật nhiều để không ảnh hưởng đến Phăngtin.
--> sự quan tâm, chăm sóc đói với Phăng-tin.
+ Khi Phăng tin mất:
Ông to tiếng với Giave đểthể nói được những lời cuối cùng với Phăngtin dù cô
đã mất.
+ Nói những lời cuối cùng với Phăngtin và hưá sẽ tìm được con gái cho cô.
=> cố gắng để cho cô có thể yên lòng.
=> Lòng thương người sâu sắc, đáng kính trọng.
- sau đó, ông đi theo Gia ve. Không thể chống cự ông chờ đến lúc cần thiết
nhất.