
Phụ tố tiếng Anh và vấn đề dịch thuật ngữ tin học
từ tiếng Anh sang tiếng Việt
(Phần 2)
2.1. Như chúng ta đã biết, tiếng Anh là một ngôn ngữ thuộc loại hình khuất chiết
nhưng lại được xếp vào nhóm phân tích. Nghĩa là việc cấu tạo từ tiếng Anh đã bớt
phần biến hình và có thêm phương thức hư từ, trật tự từ… Còn tiếng Việt là một
ngôn ngữ đơn lập điển hình, không có hiện tượng biến hình và chỉ có căn tố. Như
vậy, có thể dễ dàng nhận ra là về mặt cấu tạo từ, giữa tiếng Việt và tiếng Anh cũng
có một điểm chung là phương thức hư từ, trật tự từ – mặc dù, như đã nói ở trên,
phương thức hư từ và trật tự từ không phải là một phương thức điển hình của Anh
ngữ.
Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, GS. Nguyễn Tài Cẩn đã chia các hình vị tiếng
Việt thành 4 loại:
Tiếng độc lập
Tiếng không độc lập
Thực Hư
Tiếng có nghĩa
học sẽ quốc (quốc kì)
gi
ả (học giả)
Tiếng vô nghĩa
- - dãi (dễ dãi)

cộ (xe cộ)
(Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999, trang 37)
Hay như một cách diễn đạt khác của TS. Nguyễn Hồng Cổn:
Giá trị →
Hoạt động ↓
Có giá trị ngữ nghĩaCó giá trị ngữ pháp
Độc lập hoàn toàn học, đẹp… sẽ, dù…
Độc lập không hoàn toàn
thuỷ, quốc… bù (bù nhìn)… bất, vô…
2.2. Trong khi trình bày về thành tố cấu tạo từ, GS. Nguyễn Thiện Giáp đưa ra khái
niệm bán phụ tố. Đó là “những yếu tố không mất hoàn toàn ý nghĩa sự vật của
mình, nhưng lại được lặp lại trong nhiều từ, có tính chất của những phụ tố cấu tạo
từ. Tiêu chí cơ bản của bán phụ tố là tính chất phụ trợ của nó, thể hiện trong
những đặc điểm về ý nghĩa, phân bố và chức năng. Trong khi hoàn thành chức
năng cấu tạo từ, chúng vẫn giữ mối liên hệ về ý nghĩa và hình thức với những từ
gốc hoạt động độc lập, cho nên chúng không chuyển hoàn toàn thành các phụ tố”
(Dẫn luận ngôn ngữ học. Nxb Giáo dục, H., 1998, trang 67). Và khi đối chiếu với
tiếng Việt, tác giả Nguyễn Thiện Giáp nhận định: “Trong tiếng Việt, những yếu tố
như viên, giả, sĩ, hoá… cũng có tính chất của các bán phụ tố” (sđd, trang 68). Đối
chiếu với các phân loại của TS. Nguyễn Hồng Cổn thì chúng ta thấy các hình vị có

giá trị ngữ pháp nhưng không độc lập hoàn toàn và có nguồn gốc Hán Việt là
những hình vị có tính chất của các bán phụ tố. Sau đây là một vài ví dụ:
-sĩ : nghệ sĩ, hoạ sĩ, nhạc sĩ, viện sĩ, nha sĩ…
-học : dân tộc học, tâm lí học, xã hội học, sinh học…
tiền- : tiền đề, tiền lệ, tiền sử, tiền tố, tiền nhiệm…
bất- : bất biến, bất cẩn, bất chính, bất công, bất định, bất nhân, bất nghĩa, bất
ngờ…
…
Có thể nhận thấy, trong các ví dụ trên, mỗi từ đều được cấu tạo từ hai yếu tố: một
yếu tố mang nghĩa từ vựng cho toàn từ, còn yếu tố kia lại có thiên hướng về ý
nghĩa ngữ pháp. Các yếu tố thứ hai đó chính là các hình vị có tính chất của các bạn
phụ tố mà chúng ta đang nói tới. Và, khi đối chiếu với các từ tiếng Anh tương ứng,
chúng ta sẽ nhận thấy có những sự tương ứng nhất định giữa các “bán phụ tố” tiếng
Việt với các phụ tố tiếng Anh về vai trò trong cấu tạo từ:
– artist, painter, musican, academician, dentist…
– ethnology, pschology, sociology, biology…
– premise, precedent, prehistoric, prefix, predecessor…
– invariable, careless, illegal, injustice, indeterminate, humanless, ungrateful,

unexpected…
– …
Như vậy, rõ ràng là đã có một sự tương ứng về vai trò trong việc cấu tạo từ giữa
các “bán phụ tố” tiếng Việt với các phụ tố tiếng Anh. Tuy nhiên, sự tương ứng này
không phải là tương ứng 1–1 hoàn toàn, nghĩa là không phải cứ ứng với một “bán
phụ tố” tiếng Việt là một phụ tố tiếng Anh. Rõ ràng là ứng với sĩ- trong tiếng Việt
là: -ist, -er, -an… trong tiếng Anh; hay giữa bất- với các phụ tố in-, -less, il-, un-….
Đó là khi chúng ta lấy tiếng Việt làm ngôn ngữ gốc để đối chiếu. Ngược lại, khi
ngôn ngữ cơ sở đó là tiếng Anh thì ta cũng nhận thấy tình trạng như vậy. Ví dụ với
phụ tố -er trong tiếng Anh, nó làm thành tố cấu tạo các từ như: painter, teacher,
worker, driver… thì các “bán phụ tố” tiếng Việt tương ứng lúc này lại là: -sĩ (hoạ
sĩ), -viên (giáo viên), -nhân (công nhân), trình- (trình điều khiển)…
Do vậy, sự tương ứng đó phải nằm ở một bậc cao hơn, và mang tính khái quát.
Như chúng ta đã biết, một trong những chức năng lớn nhất của từ là chức năng
định danh. Nghĩa là, từ là phương tiện dùng để gọi tên các sự vật, hiện tượng, hoạt
động, tính chất… Xét về mặt logic thì có thể coi từ tương đương với các khái niệm
(và chỉ là tương đương mà thôi). Trong khi đó, ở các dân tộc, các cộng đồng luôn
có những phạm trù về thời gian, tính chân thực, về sự khẳng định hay phủ định…
Đó là những cái chung. Tuy nhiên, giữa các ngôn ngữ khác nhau và giống nhau

trong việc định danh. Điểm tương đồng giữa tiếng Anh và tiếng Việt trong cấu tạo
từ có thể nhận thấy trước nhất ở mô hình theo kiểu căn tố+phụ tố/ “bán phụ tố”.
Những ví dụ trên đã cho thấy điều đó. Tuy nhiên, về tần suất sử dụng và bản chất
của mô hình này ở mỗi ngôn ngữ là khác nhau. Và chúng ta có thể khẳng định rằng
đó là một hiện tượng phổ biến trong tỉếng Anh, bởi đơn giản tiếng Anh là một
ngôn ngữ thuộc loại hình khuất chiết.
Mặc dù không thể có sự tương ứng 1–1 ở mặt đơn vị cấu tạo từ nhưng nếu xét ở
một bình diện khác, bình diện phạm trù ý nghĩa mà các hình vị đó thể hiện thì
chúng ta có thể thấy: Đối với mỗi phạm trù (phủ định, chỉ con người, chỉ ngành
khoa học…) ở mỗi ngôn ngữ luôn có những nhóm hình vị nhất định.
Ví dụ:
a. Phạm trù sự phủ định
a1. Tiếng Anh
dis- : dishonest, disorganize, dislike, disappear, disadvantage
il (+l)- : illegal, illiberal
im (+m or p)- : imposible, impolite
in- : indirect, invisible, injustice
ir (+r)- : irregular, irrelevant

