NGÔN NGỮ
SỐ 10 2012
VỀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY VĂN HỌC PHÁP
PGS.TS NGUYỄN THỊ BÌNH*
1. Mở đầu
Yêu cầu đổi mới phương pháp
giảng dạy văn học nước ngoài để phục
v vic dạy tiếng trong c trưng đại
học ngoại ngữ là hết sức cần thiết, khi
sinh viên không còn say mê học môn
văn học, thậm chí họ chán nn vàsợ
môn hc này. Đứng trưc thc trng đó,
chúng i luôn trăn tr và mong muốn
tìm hướng đi mới, các biện pháp tối
ưu nhằm nâng cao chất ợng giảng
dy môn văn. Xut phát từ các phương
pháp giảng văn học Pháp đã và đang
được thực thi, bài viết của chúng tôi
mong muốn chọn lọc nhng giải pháp
thiết thc, kh thi t ra từ nhng thành
tựu lí luận và thc tin của nước ngi
nhằm đổi mới phương pháp giảng dạy
văn học Pháp nói riêng và văn hc nưc
ngoài nói chung trong các trường đại
hc, đng thi góp phn giới thiu nhng
quan niệm mới và bin pháp hiu qu
trong quá trình nâng cao chất lượng
giảng dạy môn văn học tại Vit Nam.
2. c pơng pp ging dạy
văn học Pháp
2.1. Phương pháp truyền thng
Trong quá trình giảng dạy tiếng
Pháp cho người nước ngoài, văn bản
n học được sử dụng n những tài
liệu ging dạy bắt buộc. Tuy nhiên
vai t của thay đổi theo những
quan niệm khác nhau của các nhà sư
phạm siêu độc gi”, người khai thác
tác phmn học trong ging dạy.
Theo phương pháp truyền thống,
văn bản văn học là tài liệu ưu tiên để
giảng dạy ngữ pháp dịch. Những
đoạn trích c tác phẩm n học là
tài liệu để y dựng các bài tập về
t vựng, ngữ pháp, dch ngược
dịch xuôi. Khi cho rằng, dịch là hình
thức cho phép nời học hiểu đúng
tác phẩm, t quá trình cảm thbị lệ
thuộc o ngôn ngữ mđẻ nguy
hiểu sai tác phẩm tăng lên rệt.
Bởi lẽ chúng ta đã biết, nếu trình độ
dịch văn bản văn học non yếu dễ dẫn
đến “phản bộinghĩa đích thực của
tác phẩm, đồng thời buộc người học
trở nên thụ động.
Trong quá tnh phân tích bài
thơ Le dormeur du val của Arthur
Rimbbaud chúng tôi chia sinh viên
ra làm hai nhóm: nhóm 1 tiến hành
đọc trực tiếp bài thơ bằng tiếng Pp;
nhóm 2 vừa đọc bài tbằng tiếng
Pháp, va tham khảo phần dịch sang
tiếng Việt. Chúng tôi không bình luận
về chất lượng dch do dịch giả Trần
Minh Cu thực hin, chúng tôi
một số nhận xét về khả năng hiểu
đúng và cảm thụ độc lập của sinh viên
như sau.
Nhóm 1: thực hiện các thao tác
phân tích những tính chất đặc trưng
của bài thơ, vậy họ đã hiểu đúng
......................
* Khoa Ngôn ngữ Văn hóa Pháp,
ĐH Ngoại ngữ, ĐH QG Hà Nội.
Về phương pháp...
41
ý nghĩa của văn bản và có những cảm
nhận nhân tương đối độc lập
sáng tạo. Theo họ, không tham khảo
phần dịch, họ hiểu bài thơ dễ dàng
n khi áp dụng các thao tác thi pháp
thơ: nghiên cứu các vần, nhịp điệu,
cấu trúc c khthơ, thuật láy âm,
các thuật tu tđể phát hiện nghĩa
ngầm ẩn sâu sắc của tác phầm: Lên
án sự phi của chiến tranh hu diệt
con người và thiên nhiên tươi đẹp.
Nhóm 2: tham khảo phần dch
sang tiếng Việt, họ khó khăn nhận
diện cấu trúc ca bài thơ gm 3 phần:
Phong cảnh đầy sắc màu và âm thanh
rộn của bức tranh thôn quê; miêu
tchân dung nhân vật - nh tượng
trung tâm của bài thơ; phát hin mt
c chết - người lính.
Dịch thực chất ng tạo bài
thơ lại mt ln nữa sang mt ngôn
ngkhác, nhưng dịch thơ lại vô cùng
phức tạp vì mun trung thành với văn
bản, duy trì tính nhc, vần điệu một
số t thbị lược bỏ. Như vậy g
trị biểu cảm b giảm đi đáng kể. Thí
dụ: les glaieuls trong tiếng Pháp
loại hoa hình dáng của ỡi kiếm
sắc, khiến người đọc liên tưởng đến
k chiến đấu được đặt cạnh
người đàn ông đang nằm giữa bãi cỏ
gợi lên hình nh người lính bị giết
chiến trường. Nhưng khi dch sang
tiếng Vit ch có nghĩa là mt li hoa,
không gợi ra được ý nghĩa hàm ẩn
của loại hoa đặc biệt này.
Hơn nữa, khi bài t được dch
sang một ngôn ngữ khác t thường
cấu trúc âm thanh của bị huỷ
bỏ. Trong khi đó, nhiều nhà thi pháp
học cho rằng “âm mang nghĩa”, âm
thanh tạo cht nhc tràn đầy - một giá
tr thẩm mĩ quan trọng của thi ca. Cảm
th những âm vang được tạo nên t
các cách gieo vn, cấu trúc trùng đip
(sự láy lại cùng mt phụ âm, hoặc
cùng mt nguyên âm...), sựơng ứng
hoặc không tương ứng giữa câu thơ
câu ngữ pháp qua các thuật
(enjambement, rejet, contre rejet)
cũng là một sơ s để khám phá v đẹp
nghthuật của tác phẩm thơ. Đối với
trường hợp bài thơ Le dormeur du
val, các thuật gieo vần: vần đan
chéo (rimes croisées- abab, cdcd)
trong khthnhất và khthhai, s
đan xen hai hình thức gieo vần (vần
phẳng= rimes plate: eef và vần ôm =
rimes embrassées: fggf) trong hai khổ
thơ cuối khó có thchuyển dịch sang
tiếng Việt.
LE DORMEUR DU VAL
Cest un trou de verdure où chante une rivière
Accrochant follement aux herbes des haillons
Dargent, où le soleil, de la montagne fière,
Luit; cest un petit val qui mousse de rayons,
Un soldat jeune, bouche ouverte, te nue,
Et la nuque baignant dans le frais
cresson bleu,
Dort: il est étendu dans l’herbe, sous la nue,
Pâle dans son lit vert où la lumre pleut,
Les pieds dans les glaieuls, il dort.
Souriant comme
Souriait un enfant malade, il fait un somme,
Nature berce-le chaudement: il a froid!
Les parfums ne font pas frissonner sa narine,
Il dort dans le soleil, la main sur la poitrine,
Tranquille. Il a deux trous rouges au
té droit.
Qua t dụ trên đây, chúng tôi
không nhm phủ nhận những thành
tựu của các tác phẩm dịch văn học
nước ngoài sang tiếng Việt, mà chỉ
muốn nhấn mạnh phương pháp truyn
thng la chọn hình thc dch là phương
thc tiếp cận văn bản văn học có một
Ngôn ngữ số 10 năm 2012
52
sbất cập đối với việc hiu, diễn giải
đúng tác phẩm n học nước ngoài,
khiến người hc trở nên thụ động,
mt khácng giới hạn phạm vi nghĩa
của tác phm.
Với đối tượng sinh viên học
tiếng Pháp như mt ngoi ngữ, phương
pháp truyền thống khi phân tích các
n bản dựa quá nhiều vào ngôn ng
mẹ đẻ, kĩ năng giao tiếp bị xem nhẹ,
năng viết được đặt lên hàng đầu.
Không chú trọng đến yếu tố ngôn ngữ,
các đặc trưng thuật của thể loại,
th hình củac phẩm văn học mà chỉ
chú trọng đến khả năng cung cấp c
kiến thc v văn hóa và xã hội. Phương
pháp y không cho phép người đọc
khả năng hiểu theo nhiều cách khác
nhau đối với ng một văn bản văn
học, bởi lẽ chỉ mt bản dịch hay
nhất, một nghĩa duy nhất khi chuyển
sang nn ngữ của người học.
Mặt khác, thời hoàng kim
của phương pháp truyền thống, giảng
dạy văn học chịu stác động sâu sắc
của trường phái Lanson khi đcao
vai trò quyết định của nhà văn và các
yếu t bên ngoài văn bn (nn văn
minh, môi trường xã hội, lịch sử nơi
mà văn bản đưc viết ra) để giải thích
nghĩa của văn bản văn học. i mt
cách khác là người dạy dựa nhiềuo
tiểu sử của nhà văn để soi sáng các
giá trị hội, văn hóa và áp đặt mt
định hướng duy nhất trong phân tích
văn bản cho người học [9].
2.2. Phương pháp nghe - nhìn
Đối lập vi phương pháp truyền
thng, phương pháp nghe nhìn quan
m chyếu đến ngôn ngữ nói. Theo
quan điểm của những "đồ đệ" trung
thành với phương pháp này, văn bn
văn học đương nhiên thuộc bộ phận
ngôn ngữ viết ưu tiên dành cho
người hc trình độ cao v tiếng Pháp,
vậy rất khó khăn khi sử dụng
để phát triển năng nghe và nói.
Đối với phương pháp này, việc
sử dụng nn ngữ mẹ đẻ bị nghiêm
cấm, vậy tbiện pháp nào được đề
cao để tháo gỡ c khó khăn trên các
bình diện ngôn ngữ, hội văn hóa,
lịch sử, triết hc…? Để phục vụ cho
mục tiêu n luyện nhng năng
thực hành ngôn ngữ, họ đã gọt giũa,
sa đổi các văn bản n học cho phù
hợp với người hc. Nhiều tác phm
nổi tiếng được viết li theo hướng
đơn giản hóa trong cuốn Tiếng Pháp
sở. nvậy những tác phẩm
đã bị “gọt giũa” còn được coi
tác phm văn học nữa hay không?
Rất chú trọng đến mục tiêu giao
tiếp nói, hdành ưu tiên cho các văn
bản sử dụng ngôn ngữ thông dụng, ít
hoặc không còn có tính văn hc. Tài liu
học tập ch yếu là các bài hội thoại vi
các nhân vật như trongc đoạn kịch.
Thc tế hiện nay, hình thc nghe -
nhìn cũng thđược sdụng trong
dạy học văn bn văn học với tư
cách là ng cụ hỗ tr, kích thích lòng
đam văn học của nời học, to
không khí sinh động cho i giảng.
Thí dụ, ở giai đoạn củng cố kiến thức,
người dạy tchức hoạt động ngoại
khóa, cho sinh viên xem vở diễn của
c phẩm kịch hoặc các bộ phim được
chuyển thể từ tác phẩm văn học.
2.3. Phương pháp giao tiếp
dạy - học theo loại hình và thloại
2.3.1. Phương pháp giao tiếp
Thế kỉ XX với những thành tựu
của luận tiếp nhận đã mở rộng quan
niệm về tác phẩm văn học. Văn bản
ch trở thành tác phẩm văn học thông
qua quá trình cụ thhóa n bản của
Về phương pháp...
43
người đọc. Từ đây mở rộng khái niệm
của hành động đọc, không chỉ
công việc nhằm tiếp cận, tái hiện văn
bản văn học mà còn 1 hoạt động
đồng sáng tạo cùng nhà văn.
Khi đưa một văn bản văn học vào
trong giảng dạy ngoại ngữ, trước hết
chúng ta phải nhìn nhn người học
là một người đọc không chỉ tiếp nhận
thông tin một ch thđộng mà phải
khuyến khích vai trò sáng tạo ở người
đc. S giao tiếp vi văn học ca ngưi
đọc đây trước tiên giao tiếp với
văn bản, họ phải tìm hiểu những tín
hiệu ngôn ngữ phát ra từ văn bản văn
học. S giao tiếp đó mang lại cho ngưi
đọc sự cảm thụ thẩm mang tính
th hóa, không ging nhau giữa
những nời đọc. Từ đây, các văn
bản văn học đòi hỏi hướng khai thác
theo phương pháp giao tiếp ly nời
học làm trung tâm.
Với quan điểm đề cao vai ttiếp
thu của người đọc như một chủ thể
độc lập, hoàn chỉnh, trong quá trình
giảng dạy, giáo viên không tnh
giải tch áp đặt các ý nghĩa của
văn bn văn học mà gợi mở và khuyến
khích nhng ý kiến, cảm th riêng
của nời học trong quá trình tiếp xúc
với n bản. Điều này hoàn toàn đối
lập với phương pháp truyền thống
đề cao vai t của người dạy, áp đặt
những suy nghĩ, cách hiểu duy nhất
về văn bản văn học.
Mặc ngôn ngữ mẹ đẻ không
b trit tiêu hn tn như trong phương
pháp nghe - nhìn, nhưng chỉ được
dùng trong mt số tình huống nhất
định nhằm giúp người học hiểu đúng
nghĩa của văn bản. Kích thích năng
lực cảm thụ độc lập gtrị thm mỹ
tác phẩm văn người học được thể
hiện trên mi bình diện: dạy-học-
kiểm tra đánh giá.
Trong quá trình ging dạy, cần
phải chú trọng năng lực văn hóa của
người hc. Ngưi đọc (sinh viên- người
học) gi v trí trung tâm của hoạt động
đọc-tiếp nhận - ờng giải và dựa trên
nền tảng của những đặc thù văn hóa
riêng của nh trong việc cảm thụ
giá trị thẩm của tác phẩm n học.
Thc cht, ging dạy văn bản văn học
hướng tới mc đích trao đổi, đối thoại
giữa các nền văn hóa, cho nên người
dạy cũng không thb qua nền văn
hóa và văn học của nời học. Những
hiểu biết thấu đáo này giúp người dạy
lựa chn phương pháp p hợp
tổ chức hiệu quả việc giảng dạy văn
học nước ngoài.
Thí dụ, đối với sinh viên Việt
Nam, thao tác so sánh đối chiếu
hết sức cần thiết, bởi lẽ từ cấp học
phổ thông h đã được trang bị khối
kiến thức văn học Vit Nam hiện đại
chịu tác động trực tiếp của nn văn
học Pháp với các thloại tiểu thuyết,
truyện ngắn, kịch, thơ. Khuyến khích
họ bày t những suy nghĩ của mình
về những điểm tương đồng khác
bit giữa các th pháp nghthuật, ch
đ xã hội, văn hóa... trong các c phm
văn học Pháp thế k XIX (chủ yếu
qua các khuynh hướng hiện thực, lãng
mạn, tượng trưng) với tiểu thuyết và
Thơ mới trong văn hc Việt Nam
nửa đầu thế kỉ XX.
Trong thực tế giảng dạy, với sự
ứng dụng thao tác này, chúng tôi tạo
được những giờ học sinh động, lôi
cuốn người hc vào quá trình giải
tác phm văn hc vốn bị coi
rất khó sẽ xóa đi định kiến cho
rằng nời hc nước ngoài không
thcảm thụ được vẻ đẹp của các tác
phẩm văn chương bản địa. Đối lập
với phương pháp nghe-nhìn chỉ chn
Ngôn ngữ số 10 năm 2012
52
những c phẩm văn học đã được gọt
giũa, được “sn xuất lại cho đơn giản
nhất làm tài liệu đgiảng dạy môn
văn học, phương pháp giao tiếp chủ
trương sử dụng những văn bản đích
thực cố gắng khai thác tính toàn
vẹn của tác phm, nếu đoạn tch
dẫn cũng phi được đặt trong tổng
thể tác phẩm.
Những kết quả nghiên cứu của
Jakobson và Rolland Barthes v mi
tương quan giữa chủ nghĩa cấu trúc
văn học, cho phép coi văn bản văn
học như một tài liệu giảng dy ngoại
ngữ thđưa vào giảng dạy
giai đoạn đầu. Khám p mt văn
bản văn học không phải chỉ trên nh
diện văn hóa, hi cả trên các
nh diện khác: ngữ âm, cú pháp, ngữ
nghĩa. Vì vy J. Peytard đã đưa ra
nhận t trong cuốn Văn học lớp
học tiếng: “Đọc một n bản văn học
chính tìm cách nhận biết những
vận động của mt ngôn ngữ mức
độ cao nhất” [9].
Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với
tác giả Nguyễn Thị Huyền về giá tr
của tài liệu đích thực trong giảng dạy
môn văn học cho mi đối tượng. Đối
với cùng một i liệu đích thực có th
hai thái độ tiếp nhn: người bn
ngữ đọc tài liệu đó dựa vào năng lực
ngôn ngữ, giao tiếp văn hóa của
mình, còn sinh viên nước ngoài đọc
để đạt được những năng lực đó bằng
việc vận dụng hai hthống, h thống
tiếng nước ngoài và tiếng m đ. Trong
trường hợp đó, người đọc vn phải
coi việc nghiên cứu hệ thng nn
ng ca văn bản là quan trng nht [10].
Phương pháp giao tiếp được đ
cao, nhưng nó sẽ trở nên có hiu qu
n khi kết hợp với phương pháp dạy
theo loạinh và thể loại đối với phân
tích văn bản văn hc.
2.3.2. Phương pháp dạy theo loại
hình và thloại
Những khám phá của luận văn
học hiện đại mảnh đất sản sinh ra
nhng khuynh hướng phê bình, nghiên
cứu, giảng dạy n bản văn học với
tư duy đổi mới hin đại. Chúng
tôi đi sâu vào kết quả của nhng thành
tựu lí luận đó trong quá trình dạy- học
tác phm văn học.
Khi đề cao vai trò trung tâm của
nời đọc trong q trình giải mã và
tạo nghĩa của văn bản, các nhà nghiên
cứu cảnh o nguy giải sai, hoặc
giải quá đáng văn bản văn học. Để
tránh nguy cơ đó, cần phân biệt ý đồ
văn bản như i gì đó nằm trong
mi quan hệ tương hỗ với ý đồ tác
gi ý đồ người cắt nghĩa. Văn bản
tồn tại với khả năng mời gọi đối với
một cộng đồng người đọc, cái cộng
đồng không chỉ b các nguyên tắc ngữ
pháp của một thứ ngôn ngnht định
chi phối, mà còn bị tác động bởi nền
n hóa cùng các qui ước xã hi khác
mà họ có được nhờ sự chiếm lĩnh các
tác phm trước đó.
Vì vậy, sự đọc chính là sự thỏa
thuận đặc biệt gia trang bị của thế
giới văn bản và hành trang của người
đọc. Trong quá trình cắt nghĩa tác
phẩm văn học, Umberto nhn mạnh
tầm quan trọng hàng đầu của nghiên
cứu văn bản.
Từ đây, các nhà giáo học pháp
ý thức tầm quan trọng của việc trang
bị những hành trang cơ bản về văn
bn cho nời đọc để hcó kh năng
tiếp cận, cảm th cùng vi nhà
văn tạo nghĩa tác phm văn học. Họ
cho rằng việc xác định thể loại
tìm những dấu hiệu đặc trưng của
thloại trong mt văn bn văn học