GVHD: GS.TS. Trần Ngọc Thơ Thực hiện: Nhóm 3 – TCDN Đ4 – K19
Quản trị rủi ro và điều hành doanh nghiệp 1/18
Tiu luận
QUẢN TRỊ RỦI RO VÀ ĐIỀU HÀNH DOANH NGHIỆP
GVHD: GS.TS. Trần Ngọc Thơ Thực hiện: Nhóm 3 – TCDN Đ4 – K19
Quản trị rủi ro và điều hành doanh nghiệp 2/18
I. GIỚI THIỆU: NHỮNG RỦI RO MÀ DOANH NGHIỆP PHẢI ĐỐI MẶT
Chúng ta biết rằng luôn luôn có khoảng cách giữa lý luận về quản trị rủi ro so với thực tế
thực hiện trong các ng ty đại chúng hiện nay. Cthể, mỗi doanh nghiệp s được quản
(hoặc giám sát) bi ban giám đốc. Người quản trị không phải là một thiên tài cũng chlà
một con người bình thường. Chưa công ty đại chúng thể đối mặt tốt với số rủi ro
trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: từ những rủi ro tài chính phức tạp đến kim
soát chất lượng của các nguyên liệu được sản xuất tại Trung Quốc. Nếu ban điều hành không
thể hiểu và kiểm soát tốt các rủi ro mà công ty đại chúng phải đối mặt, thì các rủi ro này th
không được công bố đến các nhà đầu tư và ảnh hưởng đến việc phân bổ vn đầu tư.
Gần đây, luật liên bang đã yêu cu các ng ty đại chúng phải được quản bởi bộ phận
kiểm toán. Theo Đạo luật Sarbanes-Oxley ca 2002 (SOX), kim toán độc lập phải gửi báo
cáo đã được kiểm toán tới ban kiểm soát – bao gồm những chuyên gia trong lĩnh vực tài chính.
Những yêu cầu y đòi hỏi phải gii hạn kiểm soát của các CEO đối với bộ phận kiểm toán và
đảm bảo ban kim soát bao gồm những thành viên trình độ chuyên môn trong lĩnh vực tài
chính. Tuy nhiên, chmột bộ phận kim toán thì không nhận định hết tất cả các rủi ro mà công
ty đại chúng đang đối mặt.
Trong bài y sxem xét quản trị rủi ro toàn doanh nghiệp điều hành doanh nghiệp.
Bài này đưa ra kết luận rằng quản trị rủi ro toàn doanh nghiệp thnâng cao hoạt động của
công ty cũng như khả năng trên thtrường vốn để ứng phó với các rủi ro nhưng khung pháp lý
hiện tại không tạo điều kiện cho quá trình này. i viết này đề xuất nên công bnhững thông
tin liên quan đến quản rủi ro vì khuyến khích sự minh bạch trong qun các công ty
đại chúng.
Ngày nay, các công ty đại chúng thường thất bại trong xác định và quản các rủi ro.
dụ, cuối m 2007, một cuộc khủng hoảng trong lĩnh vực thế chấp dưới chuẩn phát sinh t
một trong những "tính toán sai lầm tồi tnhất trong lịch sử của quản rủi ro". Trong thực tế,
hthống quản rủi ro yếu kém nguy đe dọa kinh tế và dẫn đến cuộc khủng
hoảng tài chính. Trong lịch sử, quản trị rủi ro trong các công ty đại chúng ở Mkhông phải lúc
nào cũng hoạt động tốt. Có thminh chứngtrường hợp đưới đây.
A. Đánh cược với các tranh chp
GVHD: GS.TS. Trần Ngọc Thơ Thực hiện: Nhóm 3 – TCDN Đ4 – K19
Quản trị rủi ro và điều hành doanh nghiệp 3/18
Cuộc chiến của Pennzoil và Texaco một minh chứng điển hình cho nguy của các
cuộc tranh chấp. Vào 3/1/1984, ban điều hành Công ty Getty Oil (cùng với các đơn vtrực
thuộc) đã thống nhất bằng miệng là cho phép bán Getty cho Pennzoil. Sau đó Texaco gây cản
trở thỏa thuận này bằng cách trả giá cao hơn. Penzoil đã kiện Texaco ra tòa và phải bồi thường
một khoản tin 11 t USD cho Penzoil, đây vụ tranh chấp dân sự lớn nhất từ trước đến
giờ. Cuối cùng Tecxaco tuyên bphá sản và mắc nợ 3 tỷ USD. Có thể thấy rằng ban điều hành
của Texaco đã không hiểu được rủi ro khi theo đuổi Getty và cũng như thất bại trong những
cuộc tranh chấp với chính Penzoil. Báo cáo kiểm toán giúp được rất ít trong việc này, bởi vì
phần lớn vkiện tụng không được thể hiện trong báo o kiểm toán cũng như không được hỗ
trợ bởi các chuyên gia pháp lý mà điều này lại rất có ý nghĩa với Ban điều hành.
B. Quản lý kém nguồn nhân lực
Việc quản kém nguồn nhân lực cũng đem đến nhiều rủi ro cho doanh nghiệp. d
điển hình Công ty Texaco Oil (các cđông) trong suốt thời gian mà ch nghĩa phân biệt
chủng tộc bên trong Texaco được đưa ra ánh sáng. Cơn ác mộng về nguồn nhân lực tại Texaco
đã bắt đầu từ năm 1994, khi mà những công nhân Mỹ gốc Phi tiến hành một vụ kiện chống lại
công ty, cáo buộc phân biệt chủng tộc. Hành vi phân biệt đối xử của Texaco bị phát hiện trong
năm 1996, khi một nhà điều hành cấp cao đưa ra những cuốn băng ghi âm cho thấy s
sthù địch về chủng tộc tồn tại trong doanh nghiệp. Khi các cáo buộc vhành vi sai trái của
Texaco nổi lên, các cđông công ty thực sự bị choáng váng, làm giá thtrường của công ty
giảm gần 1 tỷ đola. Các báo cáo sau đó chứng minh rằng các cuốn băng kng phải là trường
hợp duy nhất về vấn đề chủng tộc mà còn rt nhiều thứ khác gọi văn hoá Texaco. Trong
năm 1997, Texaco đã tr 176 tỷ đôla, số tiền thanh toán được xem là lớn nhất liên quan đến
các vấn đề phân biệt chủng tộc vào thi điểm đó, để giải quyết các khiếu nại của hơn 1300
công nhân người Mỹ gốc Phi. Tình trạng của Texaco cũng trở nên tồi tệ khi b xã hội lên án
gay gắt, nhà đầu rút lui bị người tiêu dùng tẩy chay. Đây chắc chắn là một bằng chứng
cho thấy sự sai lầm của hội đồng quản trị khi không kiểm soát được nạn phân biệt chủng tộc
trong doanh nghiệp.
C. Không có hệ thống kiểm soát nội bộ
Trường hợp điển hình của việc quản yếu kém, đó là Ngân hàng Barings bthiệt hại do
phải gánh chịu các tổn thất do một nhà giao dịch lừa đảo. Lỗ hổng trong quản rủi ro của
Ngân hàng Barings trong hoạt động kinh doanh của mình tại Singapore từ giữa các năm 1993-
1995, khi ngân hàng cho phép các nhân kinh doanh, Nick Leeson, th phát sinh những
khoản lỗ lớn nhưng lại không sgiám sát hiệu quả. Lesson cùng lúc đảm nhận 2 vai trò,
GVHD: GS.TS. Trần Ngọc Thơ Thực hiện: Nhóm 3 – TCDN Đ4 – K19
Quản trị rủi ro và điều hành doanh nghiệp 4/18
va thực hiện giao dịch vừa giám t chính hoạt động của mình. thế, v bản Leeson
tự giám sát chính mình.
Do không sgiám sát, Leeson thbáo o các khoản lỗ thành những khoản lãi tới
chi nhánh Barings tại Luân Đôn. Đặc biệt, Leeson sa số tài khoản, được biết đến với tài
khoản 88888 m stám” đngăn chặn Luân Đôn nhận được các o cáo khoản lỗ. m
1994, Leeson bắt đầu thực hiện kinh doanh hợp đồng tương lai quyền chọn trên th trường
chứng khoán Nikkei. Sau hai m thua lỗ lớn, các kiểm toán viên của ngân hàng đã phát hin
ra ssai lệch trên ssách tđó dẫn đến phát hiện ra các hoạt động kinh doanh của Lesson.
Tổng s thua l của Nick Leeson lên đến trên 1.3 tđôla. Ngân hàng Barings bsụp đổ ngày
26 tháng 2, 1995.
Gần đây, một nhà giao dịch lừa đảo đã lm dụng gây ra khoản thiệt hại đến 7.2 tỷ đôla
cho một Ngân hàng lớn tại Pháp, điều này cho thấy rằng quản rủi ro trong lĩnh vực này đã
hầu như không được cải thiện. Bản thân từ bài học của Leeson đã cho thấy vấn đề cốt lõi
thường tập trung quá nhiều vào "li nhuận” trước mắt mà không quan tâm đến việc quản trị rủi
ro.
D. Gian lận trong kế toán và quản trị doanh nghiệp yếu kém
Tầm quan trọng của quản trị doanh nghiệp và nguy gian lận trong kế toán đã được th
hiện qua bài học sự sụp đổ bất ngcủa Enron trong năm 2001. Enron tập trung quá mức vào
giá c phiếu của mình. Chiến lược của tổng giám đốc điều hành Kenneth Lay Jeffrey
Skilling tiếp tục thâm nhập thị trường mới và thành lập các công ty con để thổi phồng giá tr
công ty cũng như cổ phiếu. Enron sdụng các tài khoản ngoài bảng để che giấu các khoản lỗ
kéo lãi về công ty mẹ. CFO của Enron nhận được hàng chục triệu đôla chỉ trong vàim từ
việc vận dụng "mục đích riêng theo hướng có lợi cho đơn vị". Các gian lận kế toán tại Enron
dẫn đến việc sụp đỗ của Arthur Andersen, công ty vừa tiến hành kiểm toán vừa vấn hệ
thống kế toán cho Enron.
S sụp đổ của Enron kéo theo một loạt các vbê bối khác trong m 2002 như: Bristol-
Myers Squibb, Qwest, Xerox, WorldCom, and Global Crossing….. Các vbê bối này nêu bật
những thiếu sót nghiêm trọng trong qun trị doanh nghiệp. Quốc hội Mỹ sớm thông qua Đạo
luật Sarbanes-Oxley m 2002 trong n lực cải cách chức năng kiểm toán của các công ty đại
chúng nói riêng và cải cách việc quản trdoanh nghiệp nói chung.
Mỗi một vụ kiện trong tổng số các sự kiện trên cùng nêu ra một câu hỏi: Cách thức thích
hợp nào cho việc quản rủi ro tiềm năng một cách toàn diện nhất trong môi trường kinh
doanh?
GVHD: GS.TS. Trần Ngọc Thơ Thực hiện: Nhóm 3 – TCDN Đ4 – K19
Quản trị rủi ro và điều hành doanh nghiệp 5/18
II. SXUẤT HIỆN CỦA QUẢN TRỊ RỦI RO
A. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của qun trị ri ro doanh nghiệp
Để xem xét sự xuất hiện của quản tr rủi ro ("ERM"), trước hết cần thảo luận vkhái
niệm rủi ro để đưa ra biện pháp quản lý rủi ro. Từ “rủi ro” trong tiếng Anh có nguồn gốc t
risicare” trong tiếng Ý nghĩa là “sthách thức”. Vào thi cổ đại, chữ rủi ro trong tiếng
Hán gồm 2 từ ghép lại: chữ thứ nhất là chnguy (danger, nguy him) và ch thhai cơ”
nghĩa là cơ hội. Hai ký hiệu này ngụ ý cho thấy rủi ro là sự kết hợp giữa nguy hiểm và cơ hội.
Kiểm soát rủi ro, hoặc một từ thông dụng n quản trị rủi ro” một khái niệm đã có
từ hàng ngàn năm trước, dùng để nói về nhận diện rủi ro, kiểm soát rủi ro mức có thể, và cân
nhắc những hậu quả nếu không thể kiểm soát được nó. dụ, đã bằng chứng cho thấy rằng
quản trị rủi ro bằng cách sử dụng giao dịch hàng hóa tương lai đã n độ tnhững m
2000 trước công nguyên. Nguyên tắc bản của thị trường tập trung để quản những rủi
ro đã có từ thời Hy Lạp và La Mã cđại. Bắt đầu từ những năm 1100s, những người buôn bán
thời Trung cổ đã biết ký kết hợp đồng giao dịch tương lai, được gọi là thư đảm bảothhiện
sgiao ước mua bán trong tương lai. Cùng vi sự rộng lớn của Đế chế La mã, trung tâm giao
dịch, được gọi là fora vendalia, được xem là nơi mua bán của toàn b đế chế. Lịch sử cho thấy
rằng, hợp đồng tương lai xuất hiện đầu tiên tại Nhật Bản vào nhng năm 1600, những quý tộc
thời phong kiến Nhật Bản gọi những hợp đồng này cho-ai-mai (ghi sgiao dịch gạo) để
kiểm soát biến động về giá gạo để đề phòng những trường hợp xấu thể xảy ra như thời tiết
hay chiến tranh. Trong những năm 1600, thị trường tương lai chính thức xuất hiện ở Châu Âu.
Lịch sử của phương pháp quản lý rủi ro hiện đại bằng cách sử dụng công cụ tương lai bắt
đầu xuất hiện miền Trung Tây Hoa Kỳ vào đầu những m 1800 trong kinh doanh những
loại hạt (ncốc). Lịch squản rủi ro gccủa mặt hàng nông sản được liên hchặt ch
với sphát triển của trung m thương mại Chicago, một thành phchiến lược nằm tại n
ccủa Great Lakes gần các cánh đồng của miền Trung Tây. Sthuận lợi trong quan h
cung cầu, vận chuyển và lưu trữ hàng hóa đã tạo nên s phát triển thị trường tương lai
Chicago.
Vào những năm 1950, sự phát triển vượt bậc của toán học làm cho việc định lượng rủi ro
tài chính cũng phát triển theo, bắt đầu với thuyết trung bình phương sai của Markowitz v
lựa chọn danh mục đầu tư. thuyết của Markowitz đã cung cấp một khuôn khổ để lựa chọn
danh mục đầu lượng hóa các rủi ro về thương mại. Dựa trên thuyết của Markowitz,
William Sharpe John Lintner xây dựng nên hình định giá tài sản (CAPM),
hình dùng để đo lường rủi ro chứng khoán. Vào m 1973, Fisher Black Myron Scholes
cho xuất bản vgiá quyn chọn, nhanh chóng trở thành thuyết phát triển có ảnh hưởng