BM 01-Bia SKKN

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI Đơn vị trường THPT Trần Phú

Mã số: ................................ (Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ TAY NGHỀ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG DỰ GIỜ THĂM LỚP Ở TRƢỜNG THPT TRẦN PHÚ (Ghi đầy đủ tên gọi giải pháp SKKN)

Người thực hiện: Hà Xuân Văn

Lĩnh vực nghiên cứu:

- Quản lý giáo dục 

- Phương pháp dạy học bộ môn: .............................  (Ghi rõ tên bộ môn)

- Lĩnh vực khác: .......................................................  (Ghi rõ tên lĩnh vực)

Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN

 Hiện vật khác

 Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh

Năm học: 2011-2012

BM02-LLKHSKKN

SƠ LƢỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC

I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN

1. Họ và tên: Hà Xuân Văn

2. Ngày tháng năm sinh: 17/8/1962

3. Nam, nữ: Nam

4. Địa chỉ: Trường THPT Trần Phú

5. Điện thoại:0613.726006 (CQ)/ 0613726632 (NR); ĐTDĐ: 0988863905

6. Fax: E-mail: vanhaxuan@gmail.com

7. Chức vụ: P. Hiệu trưởng

8. Đơn vị công tác: Trường THPT Trần Phú

II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân Toán

- Năm nhận bằng: 1983

- Chuyên ngành đào tạo: ĐH Sư phạm Toán

III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC

- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy toán THPT

Số năm có kinh nghiệm: 29 năm

- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây: + Phân loại các bài toán cơ bản về tích phân.

+ Sử dụng phương pháp toạ độ để giải các bài toán hình học không gian.

+ Công tác vận động quỹ khuyến học của trường THPT Trần Phú.

+ Một số biện pháp phân công chuyên môn cho giáo viên trường THPT Trần Phú

+ Một số biện pháp bồi dưỡng giáo viên ở trường THPT Trần Phú

2

BM03-TMSKKN

Tên SKKN:

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ TAY NGHỀ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG DỰ GIỜ THĂM LỚP Ở TRƢỜNG THPTTRẦN PHÚ

A. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1. Lý do khách quan: Khi nói đến trường học người ta nghĩ ngay đến hoạt động dạy và học. Như vậy hoạt động dạy học là hoạt động đặc trưng và là yếu tố cốt lõi của một nhà trường. Chính vì vậy bất cứ cấp quản lý nào cũng đều hết sức quan tâm đến công tác giảng dạy, giáo dục của đội ngũ giáo viên trong nhà trường. Việc dự giờ thăm lớp là một hoạt động không thể thiếu được trong nhà trường phổ thông nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng với yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nền Giáo dục Việt Nam.

Trong suốt nhiều năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta không ngừng phát triển và giành được những thành tựu to lớn về kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật. Ngành giáo dục đã góp một phần quan trọng trong những thành tựu đó. Tuy nhiên để thực hiện được mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hòa nhập với các nước trong khu vực và thế giới thì ngành giáo dục cần phải có sự đổi mới một cách tích cực về nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo... Đây là một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn của ngành giáo dục. Một trong những yếu tố quan trọng góp phần quyết định sự thành công của các mục tiêu trên chính là chất lượng đội ngũ giáo viên trong nhà trường phổ thông. Xác định được vai trò quan trọng của ngành Giáo dục trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, Đảng, Quốc hội, Chính phủ luôn luôn có sự quan tâm chỉ đạo sâu sát đối với ngành:

- Chỉ thị 40/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành ngày 15/6/2004 đã thể hiện quan điểm hết sức coi trọng vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục để thực hiện hiệu quả những yêu cầu và nhiệm vụ của sự nghiệp đổi mới giáo dục đào tạo, đáp ứng sự nghiệp phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. - Nghị quyết Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 40/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông.

- Nghị quyết TW2 ngày14 tháng 09 năm 2005, Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ IX đã khẳng định một số vấn đề chủ yếu:" Phát triển giáo dục đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá, là điều kiện để phát triển nguồn lực con người yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng cường kinh tế nhanh và bền vững…".

3

- Theo quy định về trách nhiệm của hiệu trưởng mỗi năm phải dự mỗi giáo

viên một giờ.

- Năm học 2011-2012 là năm tiếp theo thực hiện thông tư số 30/2009/TT- BGDĐT về chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở, giáo viên trung học phổ thông. Đặc biệt cả nước đang tích cực hưởng ứng cuộc vận động học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh nên đối với ngành giáo dục việc nâng cao chất lượng giáo dục là một việc làm thiết thực và đúng với nội dung của cuộc vận động.

2. Lý do chủ quan:

Trường THPT Trần Phú được thành lập từ năm học 2006-2007, đóng chân trên địa bàn xã Suối Tre - một xã vùng ven của Thị xã Long Khánh. Dân cư địa phương chủ yếu là công nhân cao su và nông dân làm rẫy, mật độ dân cư khá thưa thớt. Mặc dù nằm ngay trên Quốc lộ 1A nhưng vị trí của trường không thuận lợi cho việc giao thông, trên tuyến đường này thường xuyên xảy ra các tai nạn giao thông.

Trường mới thành lập nên cơ sở vật chất, phòng ốc khá thoáng mát và tương đối đầy đủ về các trang thiết bị phục vụ cho việc dạy - học. Tuy nhiên một điều khó khăn là chất lượng học sinh đầu vào thấp; đội ngũ giáo viên thiếu và không đồng bộ. Đặc biệt tỷ lệ giáo viên có tuổi đời và tuổi nghề trẻ còn rất cao. Làm thế nào để nâng cao được chất lượng dạy - học, tạo dựng uy tín, thương hiệu cho nhà trường? Trong rất nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy - học thì cái nào làm trước, cái nào làm sau, cái nào trước mắt, cái nào lâu dài... Đây là một thách thức không nhỏ đối với người làm công tác quản lý chuyên môn của nhà trường.

Sau đây là bảng thống kê tuổi đời, tuổi nghề của giáo viên nhà trường năm

học 2011-2012:

Stt Môn Nữ Số lƣợng Dưới 5 năm

1 Toán 2 Vật lý 3 Hoá học Sinh học 4 5 Công nghệ 6 Tin học 7 Ngữ Văn 8 Lịch sử 9 Địa lý 10 GDCD 11 Tiếng Anh 12 TD-QP 8 6 5 3 1 2 7 3 2 2 6 5 3 1 4 1 1 1 7 3 2 2 5 0 Số năm công tác Từ 11 đến 15 năm 2 2 1 1 1 1 Từ 5 đến 10 năm 1 1 4 1 2 1 2 Từ 16 đến 20 năm 1 Trên 20 năm 1 1 1 4 4 3 1 1 2 2 1 1 2 4

4

25 30 51 12 8 1 3

Tổng cộng Một thực trạng xảy ra hằng năm ở trường THPT Trần Phú là đội ngũ giáo viên không những trẻ về tuổi đời, tuổi nghề mà còn không ổn định. Số giáo viên sau một số năm giảng dạy đã có kinh nghiệm thì xin chuyển đi, thay vào đó là số giáo viên trẻ, mới ra trường.

Mặc dù nhà nước có quy định và chế độ cho những giáo viên đang tập sự và giáo viên hướng dẫn tập sự nhưng giáo viên hướng dẫn tập sự chỉ làm cho có lệ hoặc hoặc không thường xuyên. Sau một năm hết tập sự thì giáo viên trẻ đó tự xoay sở, nếu có tâm huyết thì tiếp tục tìm tòi, tự bồi dưỡng, nếu không có tâm huyết thì coi như đã xong thủ tục tập sự, tự bằng lòng với những gì mình đang có.

Với kinh nghiệm tích luỹ được, tôi xác định rằng công tác dự giờ thăm lớp đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục nhà trường. Với tình hình thực tế của nhà trường về đội ngũ giáo viên, tình hình chất lượng học sinh. Với mong muốn sử dụng kiến thức lý luận và thực tiễn, tôi muốn bản thân mình nhìn nhận một cách nghiêm túc, kỹ lưỡng công tác dự giờ thăm lớp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THPT Trần Phú, qua đó tìm ra những ưu điểm để phát huy, phát hiện ra những tồn tại để điều chỉnh, khắc phục nhằm xây dựng nhà trường phát triển liên tục và bền vững. Đó là lý do tôi chọn đề tài: "Một số biện pháp nâng cao trình độ tay nghề thông qua hoạt động dự giờ thăm lớp ở trường THPT Trần Phú"

B. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI I. Cơ sở lý luận Theo tài liệu về bồi dưỡng cán bộ thanh tra và quản lý Giáo dục Việt Nam do Cộng hoà Pháp tài trợ thì "Tƣ vấn là nhiệm vụ được thực hiện trong quá trình trao đổi giũa thanh tra viên với giáo viên nhờ việc quan sát giờ dạy và nghiên cứu các hoạt động khác của giáo viên, nhằm giúp giáo viên phát hiện những thiếu sót, hạn chế về nội dung, phương pháp giảng dạy cũng như trong việc thực hiện các nhiệm vụ của mình.

Cũng theo tài liệu này thì " Thúc đẩy là hoạt động nhằm kích thích, phát hiện và phổ biến kinh nghiệm, đồng thời đề xuất những kiến nghị để phát huy thành quả của giáo viên, tiếp tục bồi dưỡng nâng cao trình độ, khắc phục những yếu kém, hạn chế về năng lực nghiệp vụ và thực hiệc các nhiệm vụ của giáo viên, dần dần hoàn thiện hoạt động sư phạm của mình, góp phần phát triển hệ thống giáo dục"

Từ lâu các nuớc tiên tiến trên thế giới đã xác định giáo dục là động lực cho sự phát triển kinh tế- xã hội, là con đường quan trọng nhất để phát huy nguồn lực con người. Ở nước ta Đại hội BCHTW Đảng khóa VIII đã khẳng định: "Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu”; Chính vì vậy, luận điểm đi lên bằng giáo dục đã được khẳng định và trở thành chân lý của thời đại chúng ta - thời đại mà trí tuệ con người trở thành tài nguyên quý giá nhất của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Xuất

5

phát từ đặc điểm của thời đại và yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “Phát triển Giáo dục và Đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”.

Chỉ thị 40 của BCHTW ngày 15/6/2004 về việc: "nâng cao chất lượng đội

ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục"

Nghị quyết Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 40/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông.

Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam về Giáo dục – Đào tạo và Thông báo số 242-TB/TW của Bộ Chính Trị ngày 15/4/2009 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020.

Thông báo kết luận số 117/TB-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT tại hội thảo Chỉ đạo, quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học ở các trường phổ thông ngày 26/2/2009 có đoạn viết:

"Thường xuyên tổ chức dự giờ thăm lớp và nghiêm túc rút kinh nghiệm, tổ chức sinh hoạt chuyên môn với nội dung phong phú, thiết thực, động viên tinh thần cầu thị trong tự bồi dưỡng của giáo viên, giáo dục ý thức khiêm tốn học hỏi kinh nghiệm và sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp".

Để đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cùng với sự hội nhập quốc tế của Việt Nam, chúng ta cần phải có con người có tri thức, năng động, nhạy bén, tự chủ. Để có được những phẩm chất này thì yêu cầu đặt ra đối với ngành giáo dục là phải đổi mới phương pháp giảng dạy, lấy học sinh làm trung tâm. Muốn vậy người thầy giáo cần phải có một nhận thức mới, một tầm cao mới, ngoài kiến thức còn phải là người hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn.

Trong nhà trường, đội ngũ giáo viên là lực lượng cực kỳ quan trọng, không có gì có thể thay thế được. Một nhà trường có thể được đầu tư trang thiết bị đầy đủ, hiện đại nhưng không có sự đầu tư về yếu tố con người thì nhà trường đó vẫn không thể phát triển được, dẫn đến lãng phí vô ích. Như vậy, giáo viên là lực lượng then chốt quyết định sự thành trong quá trình giáo dục cũng như chất lượng giáo dục.

Thực tế ở nhà trường hiện nay cho thấy đa số giáo viên trẻ có kiến thức chuyên môn tốt, nhạy bén, có kỹ năng tin học để hỗ trợ cho công tác soạn giảng nhưng còn rất hạn chế về kinh nghiệm giảng dạy, quản lý học sinh. Tiết dạy của những giáo viên này thường hay bị học sinh làm mất trật tự, thậm chí thầy trò cãi nhau trên lớp dẫn đến học sinh xin đổi giáo viên dạy, phụ huynh xin chuyển con

6

em mình sang lớp học khác. Sự khó khăn trong công tác hoạt động chuyên môn, thực hiện nhiệm vụ dạy học và giáo dục học sinh đó cần có sự giúp đỡ của đồng nghiệp, của Ban giám hiệu.

Có một bộ phận giáo viên lên lớp chỉ biết dạy sao cho truyền thụ hết được kiến thức nội dung bài học, họ không quan tâm đến việc giáo dục nề nếp, tác phong, đạo đức cho học sinh với lý do nội dung bài dạy nhiều. Điều đó chưa hẳn đúng, thật ra có một lý do khác: đó là kỹ năng giáo dục tác phong, đạo đức của giáo viên chưa cao.

Việc dự giờ thăm lớp là một nội dung trong chức năng quản lý của nhà trường. Theo đúng mục đích thì nó giúp cho Hiệu trưởng duy trì được nề nếp, kỷ cương dạy học, đánh giá được năng lực chuyên môn, trình độ tay nghề, việc thực hiện nội dung chương trình, đổi mới phương pháp giảng dạy, sử dụng được năng lực, sở trường của từng giáo viên một cách hiệu quả, hợp lý để không lãng phí nguồn nhân lực của nhà trường, đồng thời cũng giúp giáo viên có cơ hội được thể hiện mình cũng như có cơ hội để trao đổi học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Tuy nhiên thực tế cho thấy đa số giáo viên đều không thích dự giờ vì nó tăng thêm áp lực cho họ. Nguyên nhân của điều đó là:

+ Tiết dạy thường cho là bị soi mói, bới lông tìm vết, khen ít chê nhiều;

+ Khi có người dự giờ thì bị áp lực, mất thời gian chuẩn bị. dạy mang tính

trình diễn, đối phó;

+ Phải làm việc nhiều hơn.

+ Người dự giờ chỉ dự cho có lệ, sao cho đủ số tiết quy định.

+ Không nhận xét đánh giá hoặc đánh giá một cách chung chung. Từ đó người dạy không nhận được lời khuyên, không thấy được điểm mạnh, điểm yếu của mình để phát huy hoặc khắc phục dẫn đến sụ nhàm chán, lơ là trong giảng dạy

Một nguyên nhân khác nữa là đang xảy ra tình trạng buông lỏng quản lý việc cấp chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm cho người học ngành khác để được tuyển dụng làm giáo viên; công tác rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, thực tập tốt nghiệp của sinh viên sư phạm.

7

Sau đây là bảng phân loại giáo viên của trường năm học 2010-2011:

Trình độ tay nghề Khá Giỏi STT Môn T.Số GV

Cấp tỉnh Cấp trường

Toán Vật lý Hoá học Sinh học Công nghệ Tin học Ngữ Văn Lịch sử Địa lý GDCD

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 Tiếng Anh 12 TD-QP Tổng 8 6 5 3 1 2 7 3 3 2 6 5 51 Đạt YC 2 2 2 1 2 1 12 2 2 2 1 4 2 2 1 3 2 17 2 1 1 1 1 1 1 8 2 1 2 1 1 1 1 1 1 1 9

Như đã trình bày ở trên, trong những năm qua đội ngũ giáo viên của nhà trường có tỷ lệ trẻ khá cao, luôn có sự chuyển đi, chuyển đến nên không có tính ổn định. Nhìn bề ngoài thì thấy đồng đều vì ai cũng được đào tạo từ các trường đại học, có nghiệp vụ sư phạm nhưng thực chất bên trong còn nhiều điều bất ổn: Đội ngũ giáo viên giỏi chiếm tỷ lệ thấp, công tác chủ nhiệm non yếu, việc soạn, giảng còn nhiều lúng túng.

Trong những năm qua uy tín của nhà trường đối với nhân dân địa chưa cao, một phần do thiếu về thông tin, một phần do chất tlượng giáo dục của nhà trường chưa cao.

Tôi xác định rằng muốn tạo được uy tín, lòng tin với phụ huynh thì phải nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường. Một trong những giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục là xây dựng chất lượng đội ngũ giáo viên. Để xây dựng chất lượng đội ngũ giáo viên công tác dự giờ thăm lớp có vai trò quan trọng.

Các năm trước việc dự giờ thăm lớp chỉ tập trung vào các đợt thi đua 20/11, 26/3. Hoạt động dự giờ thăm lớp chưa được thực hiện đều đặn và chưa có kế hoạch cụ thể, người nào "xui" thì mới bị BGH dự giờ. Làm thế nào để công tác dự giờ thăm lớp đạt được mục đích của nhà quản lý đồng thời người dạy không những không bị áp lực mà còn nhận thấy đây là sự quan tâm giúp đỡ của đồng nghiệp và

8

Ban giám hiệu, từ đó họ có nhu cầu được có người dự giờ và được dự giờ người khác.

II. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài Từ tình hình thực tế của nhà trường như đã nêu ở trên tôi đã tiến hành thực

hiện theo các bước sau: 1. Công tác chuẩn bị 1.1 Lập phiếu thăm dò

PHIẾU THĂM DÒ (Dành cho giáo viên)

Xin thầy (cô) đánh dấu X vào các ô "có", hoặc "không" tương ứng với các

nội dung trong bảng dưới đây:

Không

Nội dung Khi có người dự giờ thầy (cô) có cảm thấy bị căng thẳng không Khi có người dự giờ thầy (cô) có chuẩn bị bài kỹ hơn các tiết dạy khác không? Thầy cô nhận thấy tiết dạy có người dự thì học sinh tập trung hơn vào bài học không? Thầy (cô) muốn có người dự giờ của mình hay không? Thầy (cô) có muốn dự giờ của giáo viên giỏi trong trường không? Khi được phân công dự giờ của giáo viên còn ít kinh nghiệm giảng dạy hơn mình để dìu dắt họ tiến bộ thầy (cô) có từ chối không? Khi được phân công GVDG dự giờ để giúp đỡ thầy cô nâng cao tay nghề thầy cô có đồng ý không? Những ý kiến khác về dự giờ, hoặc có thể giải thích rõ hơn (không bắt buộc): ..................................................................................................................................... ..................................................................................................................................... ..................................................................................................................................... ..................................................................................................................................... ..................................................................................................................................... Bước này giúp người nghiên cứu nắm được tâm tư, nguyện vọng của giáo viên. Kết quả cho thấy 80% thầy cô không muốn có người dự giờ của mình; 75% giáo viên sẵn sàng dự giờ của giáo viên còn ít kinh nghiệm để giúp đỡ họ; 100% muốn dự giờ của những giáo viên dạy giỏi (GVDG), 60% muốn được GVDG dự giờ của mình.

9

PHIẾU THĂM DÒ (Dành cho học sinh)

Em hãy đánh dấu X vào ô lựa chọn: Nội dung Có

Không

Khi có thầy (cô) dự giờ em có cảm thấy bị căng thẳng không? Khi có thầy (cô) dự giờ em thấy bản thân mình có tập trung vào bài học hơn so với các tiết học khác không? Tiết học có thầy (cô) dự giờ em thấy dễ hiểu hơn các tiết học khác không? Em có thích tiết học có thầy (cô) dự giờ không? Các ý kiến khác: ............................................................................................................................. ............................................................................................................................. ............................................................................................................................. ............................................................................................................................. .............................................................................................................................

Kết quả thu được qua phiếu thăm dò có 80% học sinh dễ hiểu bài hơn các

tiết dạy không có thầy cô; hơn 70% thích tiết học có thầy cô dự giờ. 1.2 Nêu rõ mục đích, ý nghĩa và kế hoạch dự giờ thăm lớp ngay từ đầu năm trong cuộc họp chuyên môn.

Từ kết quả thu thập được ở bước 1.1, phân tích cho giáo viên thấy nhu cầu vươn lên của mỗi người, sự cần thiết chia sẻ những kinh nghiệm và giúp đỡ nhau, tạo thành một tập thể sư phạm có trình độ tay nghề vững vàng, đoàn kết, gắn bó với nhau. Tạo cho mọi người tâm lý yên tâm, vì đây là công việc bình thường của hoạt động dạy học và hoạt động này góp phần nâng cao trình độ tay nghề cho giáo viên. Đây chính là lợi ích của giáo viên. Giáo viên nên thể hiện thật khả năng của mình, mạnh dạn sáng tạo trong dạy học, sẵng sàng lắng nghe, chia sẻ. 1.3 Lập danh sách các đối tƣợng cần dự giờ và lĩnh vực muốn quan tâm

Căn cứ vào kết quả phân loại giáo viên năm học 2010-2011, chất lượng giảng dạy bộ môn, công tác chủ nhiệm và kết quả thu được qua quan sát và các kênh thông tin khác, lập danh sách giáo viên sẽ tiến hành dự giờ, thăm lớp. Danh sách này bao gồm phần lớn giáo viên chưa có kinh nghiệm giảng dạy và chủ nhiệm, số giáo viên còn lại là những nhân tố giảng dạy giỏi, làm rất tốt công tác chủ nhiệm (nhằm có sự so sánh, đối chứng).

TT Họ tên G/V Lĩnh vực Ghi chú

Môn dạy /C.nhiệm

1 Nguyễn Huy Hoàng 2 Nguyễn Thị Phương Lan 3 Lương Mỹ Thuỳ Toán Dự giờ Toán Dự giờ Toán Dự giờ Đang tập sự Hết tập sự 1 năm GV giỏi cấp tỉnh

10

4 Lê Ngọc Phùng Toán Dự giờ

5 Đỗ Thị Thuỷ Toán Dự giờ

.... Dự giờ

... 13 Trịnh Thị Minh Tâm 14 Nguyễn Trung Kiên 15 Nguyễn Thị Hương Lài 16 Nguyễn Thị Nga 17 Đặng Khắc Hạnh CN 12a3 Dự SHCN CN 11a5 Dự SHCN CN 11a6 Dự SHCN CN 10a7 Dự SHCN CN 11a3 Dự SHCN Dự kiến đưa lên dạy lớp 12 BD đi thi GVDG cấp tỉnh năm 2012-2013

1.4 Xây dựng đội ngũ giáo viên cốt cán

Đây là đội ngũ giáo viên đã đạt giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh hoặc có bề dày công tác, có uy tín đối với giáo viên và học sinh trong nhà trường. Trong quá trình giảng dạy và công tác họ luôn thể hiện được phẩm chất của mình: Dạy giỏi, chủ nhiệm giỏi, thẳng thắn, công tâm, biết lắng nghe người khác và tận tình giúp đỡ mọi người.

DANH SÁCH CB - GV CỐT CÁN

TT

Họ và tên Nguyễn Ngọc Duật Hồ Trọng Đăng Trần Ngọc Nhơn Nguyễn Thị Phương Dung Lê Văn Trung Lê Việt Hùng Đặng Thị Sen Ngô Thị Thuý Lan Đinh văn Kiệm Môn dạy Toán Toán Lý Hoá Sinh Văn Sử - Địa GDCD T.Anh Ghi chú

1.5 Xây dựng kế hoạch và công khai việc thực hiện kế hoạch

Để tìm được sự đồng thuận cao trong tập thể giáo viên thì ngoài việc thực hiện phiếu thăm dò cần nêu ý tưởng của mình, trao đổi với các tổ trưởng chuyên môn, một số giáo viên có thâm niên giảng dạy để tranh thủ ý kiến của họ. Sau đó tiến hành xây dựng kế hoạch. Hoàn chỉnh kế hoạch và công khai việc thực hiện. 2. Tổ chức thực hiện 2.1 Triển khai hoạt động dự giờ thăm lớp đối với công tác chủ nhiệm.

Bước vào đầu năm học nhà trường phải dồn lớp do số học sinh nghỉ học và chuyển đi ở khối 11 và khối 12 rất nhiều (mỗi khối giảm một lớp), khi phân chia lại lớp và chia lớp ở khối 10 mới tuyển nhà trường luôn chú ý phân số lượng các 11

đối tượng học sinh khá, TB, yếu ở mỗi lớp đều nhau. Do năng lực chủ nhiệm của mỗi người khác nhau nên sau một chặng thi đua thì nề nếp phong trào ở các lớp đã có sự khác biệt. Một số lớp có kỷ cuơng nề nếp yếu thì việc học tập cũng sa sút, giáo viên bộ môn (GVBM) mỗi khi có tiết dạy ở lớp này thường rất "ngán".

Việc dự giờ thăm lớp tiết SHCN trước nay ít được quan tâm vì nhiều lý do. Đối với một số trường có học sinh học giỏi, chăm ngoan thì hoạt động này là không cần thiết và nghe có vẻ "hơi lạ" nhưng ở trường THPT Trần Phú thì rất cần thiết. Bởi vì đa số các em xa nhà, phải ở trọ lại học yếu. Các em thường không ham học, hay vi phạm các nội quy nề nếp, một số giáo viên chủ nhiệm (GVCN) nói học sinh không nghe, có lớp cả tháng trời không tìm ra được lớp trưởng, buộc GVCN phải kiêm thêm chức "lớp trưởng". Mỗi khi cần liên hệ với phụ huynh thì rất khó. Các bƣớc thực hiện a. Lập kế hoạch

Kế hoạch thực hiện cụ thể như sau: - Tháng 10/2011: Dự giờ SHCN 11a5, 11a7, 12a1 - Tháng 11/2011: Dự giờ SHCN 12a3, 10a5 Các tháng còn lại tuỳ vào tình hình thực tế để dự.

Trong những lớp nêu trên thì 11a7, 12a1 là những lớp có phong trào thi đua tốt, chất lượng học tập tốt. Khi dự SHCN những lớp này sẽ có sự so sánh với những lớp có phong trào học tập, thi đua yếu (gọi chung là lớp yếu) còn lại. b. Dự giờ SHCN

Mặc dù nhà trường đã tổ chức buổi báo cáo chuyên đề về công tác chủ nhiệm (do GV đi tập huấn tại sở GD báo cáo) và trao đổi một số kinh nghiệm về công tác chủ nhiệm nhưng khi dự giờ một nhóm lớp tốt và một nhóm lớp yếu thấy rõ về phương pháp sinh hoạt cũng như khả năng xử lý các tình huống của giáo viên ở hai nhóm này cũng có sự rất khác nhau. Cụ thể:

Hai lớp 11a2, 11a7 giáo viên chuẩn bị rất kỹ về nội dung sinh hoạt, nắm rõ số học sinh vi phạm, số học sinh tích cực, những học sinh tiến bộ hơn so với tuần trước; hướng xử lý những học sinh vi phạm trong tuần; kế hoạch cho tuần tới. Các buớc sinh hoạt rất bài bản: Lớp phó học tập báo cáo tình hình học tập của lớp, lớp phó văn thể báo cáo tình hình thực hiện các hoạt động văn nghệ, chuẩn bị các tiết mục văn nghệ chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam. Lớp trưởng báo cáo tình hình thực hiện nội quy nề nếp, công tác đoàn (do kiêm nhiệm làm bí thư chi đoàn), một số khó khăn của các bạn, đề nghị GVCN xem xét xử lý một số bạn vi phạm nhiều lần.

Giáo viên chủ nhiệm thực hiện rất tốt vai trò "đạo diễn" của mình: gợi ý dẫn dắt để học sinh vi phạm tự giác kiểm điểm lại chính bản thân mình, các học sinh trong lớp phát biểu, phân tích đấu tranh với các vi phạm. GVCN đã giải quyết các vấn đề rất rõ ràng, mạch lạc, thấu tình, đạt lý. Học sinh "tâm phục, khẩu phục". Trong khi đó các lớp yếu thì giáo viên chủ nhiệm chuẩn bị nội dung sơ sài. Các thức tổ chức một buổi sinh hoạt rất thiếu khoa học, các nội dung cần sinh hoạt thì không đề cập hoặc đề cập một cách sơ sài. GVCN không biết cách để giải quyết vấn đề học sinh vi phạm, không có sự động viên, khen chê. Vì vậy thời gian SHCN

12

rất ngắn vì hết nội dung! Chẳng hạn nhiều buổi tiết SHCN của lớp 11a5 chỉ hết 15 phút.

Sau khi dự giờ phát hiện ra các lớp yếu có chất lượng sinh hoạt chủ nhiệm cũng rất thấp, GVCN ôm hết việc để làm, xử lý vấn đề máy móc, thiếu hẳn sự động viên và sự hoà mình với tập thể lớp; chưa phát huy được vai trò của cán bộ lớp, cán bộ đoàn, chưa tạo được môi trường để chính các học sinh tự chủ động sinh hoạt với nhau. c. Thảo luận, góp ý:

Sau khi dự xong mỗi lớp thì có cuộc trao đổi góp ý nhanh những vấn đề cốt lõi. Cuối tháng 11/2011 mời tất cả các GVCN có tiết dự giờ sinh hoạt thảo luận trao đổi một cách cởi mở trên tinh thần học hỏi. GVCN những lớp yếu đã học được cách thức SHCN như thế nào cho hiệu quả và nhận được sự chia sẻ những khó khăn cũng như cách giải quyết cái "nếp" đã tạo ra. d. Động viên ghi nhận những tiến bộ

Qua quá trình quan sát theo dõi sự chuyển biến của các lớp yếu, trong các dịp hoạt động phong trào tôi gặp gỡ, tiếp xúc với lớp. Việc quan tâm đến lớp, động viên, phát hiện ra sự tiến bộ để khen ngợi lớp đã có một sự khích lệ tinh thần lớn cho GVCN và học sinh của lớp. Như một quy luật: Từ việc tốt nhỏ sẽ nhân lên được những việc tốt lớn, cái tốt vươn lên thì cái yếu kém giảm đi. 2.2 Dự giờ dạy của giáo viên

Kết quả thăm dò cho thấy hầu hết các giáo viên đều không muốn có người dự giờ, vì đó là sức ép, đôi lúc không là chính mình trong lúc dạy nữa. Ở một góc độ khác họ lại rất muốn dự giờ những giáo viên giỏi để học tập kinh nghiệm và họ cũng rất muốn có được "đàn anh" chỉ dạy để nâng cao tay nghề. Bản thân tôi cũng đã có nhiều giáo viên trẻ xin dự giờ mặc dù không cùng bộ môn. Rõ ràng ở mỗi người đều có sự cầu thị, mong muốn bản thân mình tiến bộ hơn.

Ban giám hiệu nhà trường xác định việc dự giờ thăm lớp là hoạt động thường xuyên trên tinh thần cởi mở trao đổi, học hỏi lẫn nhau để nâng cao trình độ tay nghề. Chú trọng kỹ năng lên lớp, khả năng giảng dạy để đạt hiệu quả cao. Vì vậy khi có tiết dự giờ người dạy không bị áp lực về soạn giáo án cũng như không phải "gồng mình" lên như một tiết hội giảng. Qua đó tạo được sự tự tin, thoải mái cho giáo viên và giáo viên cũng thể hiện một cách thực về năng lực của mình. Nhà trường thay đổi một số các quy định trước đây về công tác dự giờ thăm lớp:

- Bỏ quy định cứng nhắc mang tính hành chính là mỗi người phải dạy hai tiết, dự hai tiết/ học kỳ. Thay vào đó tuỳ vào mỗi giáo viên cụ thể mà dự kiến số tiết dự, tiết dạy hợp lý. Đặc biệt với giáo viên nòng cốt thì không quy định số tiết mà thực hiện theo kế hoạch chuyên môn hằng tháng của nhà trường.

- Xác định mục đích chính của công tác dự giờ thăm lớp là nâng cao tay

nghề, không mang nặng tính chất kiểm tra đánh giá.

- Khuyến khích sự sáng tạo trong thực hiện một tiết dạy theo ý tưởng của mình, không nhất thiết phải lệ thuộc vào cách tiến hành một tiết dạy như quy định.

- Có thể chủ động đề xuất giáo viên nòng cốt dự giờ của mình. - Đối với các giáo viên có thâm niên công tác lâu năm, trình độ tay nghề

cao thì không đặt nặng vấn đề về giáo án. Cần thiết chỉ kiểm tra một lần /năm 13

Việc thay đổi một số quy định nhằm giảm bớt áp lực cho giáo viên, thay

vào đó là nhu cầu mình được giúp đỡ hoặc mình cần giúp đỡ người khác.

Một số lưu ý đối với người dự: - Xác định dự giờ để mục đích nhắm đến mục đích nào; - Cần phải xem kỹ trước nội dung bài dạy của giáo viên và đặt mình vào

vai trò người dạy thì mình tiến hành thhực hiện bài đó như thế nào?

- Quan sát, ghi nhận việc thực hiện tiết dạy, bao gồm: Kiến thức trọng tâm,

Phương pháp giảng dạy, kỹ năng sư phạm;

- Khả năng sử dụng các thiết bị dạy học sẵn có hoạc làm đồ dùng dạy học; - Khả năng liên hệ thực tế và lồng ghép việc giáo dục học sinh trong bài

dạy;

-Chuẩn bị các ý kiến để rút kinh nghiệm, tư vấn, thúc đẩy.

Công tác dự giờ thì tiến hành thực hiện nhƣ sau: 1. Phân công giáo viên nòng cốt dự giờ lần thứ nhất.

Thời gian diễn ra từ giữa tháng 9/2011 đến đầu tháng 10/2011. Mục đích của lần này là: - Đánh giá tổng quát về công tác giảng dạy của giáo viên, - Sự tiến bộ về trình độ tay nghề so với năm học 2010-2011, - Đối chiếu với việc thực hiện giảm tải, bám sát chuẩn kiến thức và việc

đổi mới phương pháp giảng dạy.

- Việc sử dụng các trang thiết bị sẵn có hoặc đồ dùng dạy học tự làm. Qua đó đánh giá được khả năng là chủ bài dạy, nắm chắc được nội dung chương trình, sự nhiệt tình, sáng tạo của giáo viên.

Sau khi trao đổi rút kinh nghiệm nhằm khẳng định những điểm mạnh đã có

để tiếp tục phát huy, khắc phục những thiếu sót trong các tiết dạy vừa qua. 2. Thực hiện thăm lớp dự giờ đợt thứ hai

Thời gian thực hiện vào hai tuần đầu của tháng 12/2011 Nhà trường sắp xếp thời gian để các giáo viên nòng cốt giáo, viên dạy giỏi thực hiện việc dạy học. Những giáo viên dạy đợt 1 và những giáo viên khác tham dự.

Khi dự giờ giáo viên giỏi các giáo viên khác sẽ học được cách dẫn dắt học sinh vào bài dạy; kỹ năng giải quyết các bài toán khó thông qua sử dụng linh hoạt các phương pháp giảng dạy; kinh nghiệm giảng dạy; sự sáng tạo trong việc truyền thụ kiến thức...

Hoạt động này là cụ thể hoá những vấn đề đã trao đổi ở đợt 1, giúp giáo

viên có ngấm hơn những kinh nghiệm đã có.

Một thuận lợi của nhà trường là trường tổ chức học hai buổi nên việc bố trí thời gian giảng dạy để các giáo viên tham dự là khá thuận lợi. Hơn nữa giáo viên trong trường ít dạy thêm nên cũng đã tích cực tham gia.

Giáo viên có khoảng thời gian 4 tuần để áp dụng những kinh nghiệm đã có

được trong các tiết của mình ở trên lớp.

14

3. Thực hiện thăm lớp dự giờ đợt thứ ba

Sau những hoạt động trên, qua trao đổi, rút kinh nghiệm để tiến hành đợt 3 đối với các giáo viên có tên trong danh sách đợt 1. Lần này chủ yếu đánh giá sự tiến bộ của giáo viên.

Giáo viên nòng cốt sẽ quan sát tiết dạy, lưu ý đến những hạn chế của lần dự trước xem đã được khắc phục chưa, ghi nhận những tiến bộ khác. So sánh trình độ tay nghề lần này với lần dự giờ trước.

Trong quá trình thực hiện dự giờ thăm lớp cần chú ý một số điểm sau: - Phải có sự đồng thuận của giáo viên, tạo được sự tự tin, thân thiện, giúp giáo viên không ngại khi bị dự giờ, khuyến khích giáo viên thể hiện khả năng thực tế của mình

- Đội ngũ giáo viên nòng cốt phải chân thực, nhiệt tình và có kinh nghiệm

tư vấn, thúc đẩy.

- Tôn trọng và khuyến khích sự mạnh dạn sáng tạo của giáo viên (có thể đó

là sáng tạo chưa hợp lý)

- Những giáo viên trong danh sách dự giờ thăm lớp không cần thiết đưa vào kế hoạch kiểm tra hoạt động của giáo viên, bởi vì việc dự giờ thăm lớp được diễn ra trong một thời gian dài, bản thân học cũng đã chủ động thực hiện các nội dung trong kiểm tra hoạt động sư phạm giáo viên.

- Các giải pháp trên tập trung hướng đến một nhóm đối tượng có "vấn đề", không thể nôn nóng là đại trà được. Số các giáo viên không thuộc nhóm này thì đưa vào danh sách kiểm tra hoạt động sư phạm giáo viên.

Mục đích của việc dự giờ thăm lớp như đã trình bày ở phần đầu. Cách làm như trước đây chỉ mang nặng tính hành chính, Giáo viên nào được dự giờ thăm lớp thì cũng chỉ có một lần trong năm, ai được dự giờ thăm lớp đầu năm thì thoải mái suốt thời gian còn lại của năm, ai chưa được dự giờ thăm lớp thì thấp thoảng chờ đợi cho đến khi nào dự giờ xong thì mới thở phào nhẹ nhõm. Rõ ràng là hiệu quả của việc dự giờ thăm lớp của ban giám hiệu như là cỡi ngựa xem hoa, tác dụng giúp giáo viên phát triển trình độ tay nghề không cao, ngoài ra còn tạo ra sự đối phó trong giáo viên.

Thực hiện theo giải pháp trên không những đảm bảo đúng mục đích của việc dự giờ thăm lớp mà còn giải quyết được các vấn đề thực tế, qua đó nâng cao được chất lượng dạy học của nhà trường.

15

C. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI

Việc triển khai thực hiện đề tài có một số thuận lợi sau: - Được sự nhất trí của Ban giám hiệu, sự đồng tình của tập thể giáo viên; - Giáo viên trẻ nhiệt tình, ham học hỏi, biết lắng nghe; - Đối tượng thực hiện là đội ngũ giáo viên trong nhà trường, vì vậy những sở đoản, sở trường cũng như thời gian giảng dạy của mỗi giáo viên đã được biết trước. Bên cạnh những thuận lợi trên thì có những khó khăn: - Tỷ lệ giáo viên trẻ, có thời gian giảng dạy còn ít. Số giáo viên nữ nhiều vì vậy nhà trường phải thường xuyên phân công lại chuyên môn mỗi khi có giáo viên nghỉ thai sản (có thời điểm hai người này vừa đi dạy lại có hai người khác nghỉ). Những khó khăn, thuận lợi trên cũng đã tác động đến hiệu quả của đề tài. Kết quả thu được như sau: - Trong quá trình thực hiện đề tài đã góp phần tăng cường sự đoàn kết gắn bó trong tập thể giáo viên; - Thông qua công tác dự giờ thăm lớp giúp nhà trường củng cố nề nếp chuyên môn, thực hiện đúng tiến độ chương trình, thúc đẩy quá trình tự học, tự sáng tạo của giáo viên. - Nâng cao trình độ tay nghề cho đội ngũ giáo viên, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. - Giữ vững nội quy nề nếp trong nhà trường, tạo được môi trường học tập thân thiện, học sinh yêu trường mến lớp. Số liệu thống kê: 1) Công tác chủ nhiệm

Lớp Trƣớc khi thực hiện

Sau khi thực hiện đề tài

đề tài

Tình hình nề nếp Chất lƣợng học

tập

Giảm tỷ lệ HL yếu so với HK1 21%

Thứ hạng thi đua Vuợt lên 5 hạng ở cuối năm

10a7 Tiết học ồn ào, học sinh nghỉ học nhiều, vi phạm đồng phục

11a3 Tiết học thụ động, học

Giảm tỷ lệ HL yếu so với HK1 21% Giảm tỷ lệ HL yếu so với HK1 21%

Vuợt lên 3 hạng ở cuối năm Vuợt lên 3 hạng ở cuối năm

sinh nghỉ học nhiều, không thuộc bài 11a6 Học sinh học yếu, hay nghỉ học, không thực hiện các yêu cầu của GVCN

Học sinh vắng học ít nề nếp tác phong chuyển biến Học sinh vắng học ít Lớp học sôi nổi Học sinh vắng học ít, thực hiện đúng các yêu cầu của giáo viên chủ nhiệm, số học sinh không thuộc bài giảm Từ giữa HK2, phong trào học tập

Từ kết quả xếp cuối bảng

Xếp thứ 3 Cả năm

12a3 Phong trào học tập trầm lắng, lười học, thường

16

đi học trễ

sôi nổi, thực hiện tốt nội quy

Còn một số ít đi học trễ (do phụ thuộc xe buýt)

kết quả kiểm tra HK1, qua kiểm tra HK2 và 2 lần thi thử tốt nghiệp vươn dần lên hạng 3 Giảm tỷ lệ HL yếu so với HK1 21%

tỷ

11a5 Thường vi phạm nội qui, nề nếp. Học yếu

Lớp học trật tự, nề nếp

lệ yếu còn

Từ hạng áp cuối HK1 vuơn lên hạng 12 cuối năm Vươn lên từ hạng 19 lên hạng 11

qui, nề nếp. Mất trật tự trong giờ học

cả là

tỷ

Duy trì sỉ số tốt, có phong trào học sôi nổi

Giảm HL xuống 28,9% (Chung khối 10 35,9% Giảm lệ HL yếu so với HK1còn 13,9%

10a8 Thường vi phạm nội

Vươn lên từ hạng 16 lên hạng 10. Số học sinh đạt DHTT tăng

11a7 Thường vi phạm nội qui, nề nếp. Vắng học nhiều; mất trật tự trong giờ học

(Tỷ lệ học sinh học yếu của nhà trường HK1 là 39,9%; Cả năm là 24,2% ) 2) Kết quả giảng dạy:

TT Họ tên Giáo viên Ghi chú

Năm học 2010-2011 Năm học 2011-2012 71%% 1 Nguyễn Huy Hoàng

65% 2 Nguyễn Thị Phương Lan

3 Lê Ngọc Phùng 4 Đỗ Thị Thuỷ 5 Trần Hoài Nam 6 Trần Ngọc Hùng 7 Hồ Thị Hiếu 8 Nguyễn Thị Thuỳ Trang 9 Trịnh Văn Đức 10 Nguyễn Thị Kim Thoa 11 Đặng Thị Thanh Hải 12 Trịnh Thị Loan 49% 51% 58% 57% 61% 63% 72% 52% 55% 43%% 63% 62% 64% 68% 74% 76% 83% 59% 64% 56% So với HK1 tăng 16% So với HK1 tăng 14%

17

13 Nguyễn Thị Hoài 41% 52%

D. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG

Hoạt động dự giờ thăm lớp là một hoạt động không thể thiếu ở bất cứ một trường phổ thông nào, hiệu quả của công tác này là giúp Ban giám hiệu nhà trường quản lý được nề nếp chuyên môn, thực hiện nội dung chương trình giáo dục, phát hiện, ngăn ngừa, xử lý các sai sót cũng như phát huy những mặt tích cực trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục của nhà giáo. Tuy nhiên, hiện nay ở hầu hết các trường việc dự giờ thăm lớp đối với giáo viên là một áp lực, còn đối với nhà quản lý không làm thì không được mà làm thì không xuể và do đó công việc còn mang nặng tính hành chính. hiệu quả chưa cao. Công tác dự giờ thăm lớp cần hướng đến mục đích cao hơn nữa, đó là nâng cao chất lượng dạy học, giáo dục của giáo viên.

Đề tài này đã được nghiên cứu và áp dụng trong thực tiễn tại trường THPT Trần Phú, đã mang lại hiệu quả thiết thực. Công tác dự giờ thăm lớp không phải là mới, nhưng để làm cho khoa học, hiệu quả, mang tính ổn định, theo một kế hoạch đã xây dựng chi tiết nhằm hướng đến việc nâng cao trình độ tay nghề và công tác chủ nhiệm thì đây là lần đầu tiên nhà trường thực hiện. Cũng vì lý do đó đề tài vẫn còn những khiếm khuyết phải được sữa chữa, điều chỉnh trong những năm tiếp theo để nó được hoàn thiện và mang lại hiệu quả thiết thực hơn nữa. Mỗi trường có một đặc điểm riêng về đội ngũ giáo viên, tôi tin rằng những trường những có đặc điểm về đội ngũ gần giống như trường THPT Trần Phú khi áp dụng đề tài này đều đem lại hiệu quả thiết thực.

Để thực hiện tốt công tác dự giờ thăm lớp cần phải:

- Chi bộ, Ban giám hiệu nhà trường phải xác định mục đích và tầm quan trọng công tác dự giờ thăm lớp, có cách nhìn sâu hơn về công tác này. Dự giờ thăm lớp không chỉ đơn thuần là Ban giám hiệu dự giờ giáo viên mà giữa các giáo viên dự giờ với nhau, người yếu dự giờ người giỏi để học hỏi, người giỏi dự giờ người yếu để giúp đỡ. Từ đó có sự quan tâm, chỉ đạo thường xuyên.

- Đánh giá đúng vai trò của đội ngũ giáo viên trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, chỉ khi đó mới phát huy hết khả năng của họ đóng góp cho sự nghiệp giáo dục. Đồng thời làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục làm cho nhân dân và toàn xã hội nhận thức rõ vai trò quan trọng của đội ngũ giáo viên trong việc nâng cao chất lượng giáo dục.

- Làm tốt công tác tư tưởng và tìm được sự đồng thuận của tập thể giáo viên. Các nội dung dự giờ thăm lớp phải mang tính thiết thực, không mang nặng tính chất hành chính. Đặc biệt phải bố trí lịch giảng dạy phù hợp sao cho giáo viên có thời gian để tham gia.

- Phải xây dựng một kế hoạch khoa học, phù hợp với đặc điểm của nhà trường. Quá trình thực hiện phải có sự kiểm tra, động viên của ban lãnh đạo nhà trường.

18

- Với mục đích nâng cao chất lượng của giáo viên thông qua công tác dự giờ thăm lớp thì đối tượng giáo viên phải có sự chọn lọc, không tham số lượng nhiều, chú trọng về chất lượng và có định hướng lâu dài.

Khuyến nghị đối với cơ quan quản lý giáo dục cấp trên:

- Phổ biến, thông tin những trường thực hiện tốt công tác dự giờ thăm lớp

trong tỉnh để các trường khác tham khảo học tập

- Công tác dự giờ thăm lớp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên cần đến rất nhiều sự cống hiến của giáo viên nòng cốt, tuy nhiên không có quy định nào về kinh phí cho hoạt động này.

- Cần quan tâm hơn nữa đến công tác thuyên chuyển, tiếp nhận giáo viên đối với các trường vùng ven, vùng sâu, qua đó giúp cho nhà trường có đội ngũ giáo viên ổn định, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu.

- Khi xét về thi đua cần tính đến chất lượng đầu vào của mỗi trường. Vấn đề thành tích luôn là áp lực đối với trường có chất lượng học sinh thấp, theo đó việc ghi nhận của các cấp quản lý đối với sự nỗ lực công tác, sự tiến bộ của giáo viên nên được xem xét quan tâm hơn.

NGƢỜI THỰC HIỆN

Hà Xuân Văn

19

E. TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Quản lý nhân sự trong nhà trường - Th.S Nguyễn Thị Thu Hiền, GVC trường Cán bộ Quản lý TP. Hồ Chí Minh - Chỉnh lý bổ sung năm 2010

3. Tài liệu Đào tiệo các bộ thanh tra và quản lý giáo dục Việt Nam 2. Chỉ thị 40 của BCHTW ngày 15/6/2004 về việc: "nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục" 3. Phát triển giáo dục Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và trước nhu cầu hội nhập quốc tế. Chính sách phát triển giáo viên - Viên nghiên cứu giáo dục - ĐHSP TP. Hồ Chí Minh - tháng 02/2009

4. Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về qui định chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở, giáo viên trung học phổ thông 5. Luật công chức năm 2010.

6. Thông báo kết luận số 117/TB-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT tại hội thảo Chỉ đạo, quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học ở các trường phổ thông ngày 26/2/2009

20