
UBND XÃ TRỊ AN
Trường Tiểu học Kim Đồng
Mã số:......................................
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP MỘT
TRONG MÔN TIẾNG VIỆT
Người thực hiện: NGUYỄN THỊ ANH TRÀ
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lí giáo dục:
- Phương pháp giáo dục:
- Phương pháp dạy học bộ môn: ………………
- Lĩnh vực khác : …………………………………
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in sáng kiến
Mô hình Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2025 – 2026

BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP MỘT
TRONG MÔN TIẾNG VIỆT
I. SƠ LƯỢC LÍ LỊCH TÁC GIẢ
Họ và tên: NGUYỄN THỊ ANH TRÀ Năm sinh: 1996
Nơi thường trú: Tổ 5B KP6 Vĩnh An Vĩnh Cửu Đồng Nai
Đơn vị công tác: Trường TH Kim Đồng
Chức vụ: Giáo viên
II. TÊN BIỆN PHÁP
Biện pháp rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp Một trong môn Tiếng
Việt
III. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU, NỘI DUNG
1. Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng biện pháp
Đầu năm học 2025 – 2026 tôi được phân công phụ trách lớp 1/3
với 34 học sinh.hCác em thay đổi môi trường học tập, phương
pháp học tập nên còn bỡ ngỡ nên nhiều học sinh chưa tự giác
trong học tập.hĐa số các em chưa chăm học, ngại nói, chưa hứng
thú với việc luyện nói và giao tiếp do chưa biết cách học. Trong
quá trình giao tiếp, làm quen thì các em thường có thói quen nói
không đủ câu, không đủ ý. Khi được hỏi, các em chỉ trả lời trống
không, không biết trả lời thế là chưa đủ câu. Một số chủ đề lạ,
chưa thật sự gần gũi với cuộc sống của các em như: ruộng bậc
thang, thung lũng, suối, đèo, lễ hội, vó bè, đồi núi… nên các em
khó hình dung để phát huy khả năng nói của mình một cách
phong phú. Thời lượng dành cho phần luyện nói còn ít nên học
sinh không được luyện nói nhiều.hQua khảo sát chất lượng đầu
năm học này, đã có 62,5% học sinhhcòn rụt rè, nhút nhát, ít phát
biểu, chưa tự tin trong luyện nói.
Qua quá trình giảng dạy lớp 1, tôi nhận thấy học sinh học hạn
chế việc phát huy luyện nói là do nhiều nguyên nhân như:

- Thời lượng dành cho phần luyện nói còn ít nên học sinh
không được luyện nói nhiều.
- Một số chủ đề lạ, chưa thật sự gần gũi với cuộc sống của các
em như: ruộng bậc thang, thung lũng, suối, đèo, lễ hội, vó bè, đồi
núi… nên các em khó hình dung để phát huy khả năng nói của
mình một cách phong phú.h
- Do tâm lí rụt rè e ngại: Học sinh lớp 1 khả năng giao tiếp,
giao lưu trò chuyện với mọi người xung quanh còn rất hạn chế.
Mặt khác do tâm lí sợ nói sai ý của giáo viên, sợ bạn bè chê cười
khi nói không đúng hoặc nói ngọng nên học sinh cũng rất ít thể
hiện mình, rất ít nói thậm chí đến giờ luyện nói có học sinh còn
không nói được câu nào.
Từ những hạn chế của thực trạng nêu trên cũng như từ thực
tế lớp học trong thời gian qua, tôi đã lựa chọn và xác định một số
nội dung cần giải quyết như sau:
- Hướng dẫn học sinh luyện nói đúng chủ đề.
- Đổi mới luyện nói và khuyến khích học sinh nói theo khả
năng của mình
- Rèn cho học sinh kĩ năng luyện nói thông qua các môn học
và các hoạt động khác.
2. Sự cần thiết phải áp dụng biện pháp
Trong hệ thống giáo dục, bậc tiểu học đóng vai trò là tiền đề,
là nềnhtảng. Tiếng Việt ở trường Tiểu học có nhiệm vụ rất quan
trọng, hình thành phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh,
được thể hiện trong 4 hoạt động với 4 kĩhnăng: nghe - nói - đọc - viết.
Nên việc dạy luyện nói cho học sinh tiểu học, nhất là học sinh lớp 1
phải có định hướng, có kế hoạch ngay từ buổi đầu.
Việc dạy luyện nói cho lớp 1 cũng quan trọng bởi từ chỗ các
em còn phải đánh vần từng tiếng mà mới tiếp xúc với môi trường
mới nên việc nói đúng, tròn câu là việc tương đối khó với các em.
Đó là một trong những lý do học sinh của chúng ta thiếu tự tin khi
nói và ngại giao tiếp. Vì thế cần rèn cho học sinh không những chỉ

nói theo câu nói, mà còn phải nói sao cho đủ câu, diễn đạt cho rõ
ràng và đúng theo nội dung chủ đề. Ở lớp 1 các em bắt đầu làm
quen với: Nghe, nói, đọc, viết. Và kỹ năng nói rất quan trọng, nếu kỹ
năng nói đượchrèn luyện tốthsẽ giúp các em lĩnh hội được ngôn ngữ
để sử dụng trong giao tiếp và hoạt động học tập. Là điều kiện để cho
học sinh có khả năng tự học,hgiúp các em phát triển tư duy, cảm
nhận cái hay, cái đẹp trong mỗi bài học, hiểu được nghĩa của tiếng,
từ mình vừa học, hiểu được các lệnh các yêu cầu trong các môn học
khác.
Từ những điều đã phân tích ở trên cho thấyhrèn cho học sinh
nói đủ câu và diễn đạt rõ ràng ngay từ lớp 1 làhvô cùng quan trọng
và đặt lên hàng đầu và làhyếu tố cơ bản của dạy học môn Tiếng Việt
chương trình mới 2018.hChính vì thấyhrõ được tầm quan trọng của
việc này, tôihđã chọn nghiên cứu đề tàih:h“Biện pháp rèn kĩ năng nói
cho học sinh lớp Một tronghmôn Tiếng Việt” để góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.
3. Nội dung biện pháp
Bản thân tôi khi nghiên cứu biện pháp này đểhhọc sinh có
thểhnói chuẩn vàhnói đúng chủ đề,hthông qua hoạt động nói các em
sẽ phát huy được vốn ngôn ngữ Tiếng việt. Giúp các em tự tin trong
giao tiếp và phát huy khả năng học Tiếng Việt để từ đó tiếp thu tốt
các môn học khác. Vàhnâng cao chất lượng luyện nói cho học sinh
tiểu học nói chung.
3.1. Hướng dẫn học sinh luyện nói đúng chủ đề.
Mỗi chủ đề đều gồm có 5 bài học, trong đó có 4 bài học âm
vần, 1 bài ôn tập – kể chuyện. Mở đầu mỗi tuần, học sinh được trao
đổi, nói và nghe xung quanh tên chủ đề để rèn kĩ năng tư duy,
phỏng đoán góp phần vào phát triển lời nói cho học sinh. Tập cho
học sinh đọc đúng tên chủ đề đây là tính mới của sách giáo khoa
Tiếng việt 1 bộ sách Chân trời sáng tạo là tập trung hình thành năng
lực giao tiếp cho học sinh, các kĩ năng ngôn ngữ gắn liền ngữ cảnh
chân thực với học sinh các chủ đề với tên gọi gần gủi, thân thuộc

với học sinh, mỗi tuần mỗi chủ đề tạo điều kiện cho học sinh khám
phá sáng tạo ở từng chủ đề.
Chính vì thế tôi luôn tìm cách gợi mở bằng những câu hỏi có
liên quan để các em luôn hướng vào nội dung tranh, phát huy được
tính sáng tạo trong suy nghĩ, khơi dậy những ý tưởng của từng em.
Từ đó cho các em nói được thành câu đủ ý, và xoay quanh chủ đề
bức tranh, hoặc tìm được tiếng mới, đặt câu phong phú hơn ở phần
mở rộng từ ứng dụng.
Ví dụ:hBài e, ê. Chủ đề: Bé và bà
Hoạt động mở rộng: Giáo viên cho học sinh quan sát tranh,
phát hiện được nội dung tranh (Tranh vẽ những gì? Màu sắc, hình
dáng như thế nào? hEm có thích không, vì sao?) – Học sinh sẽ xác
định được yêu cầu: nói về những vật em biết. Học sinh nói về xe,
chú hề, quả me. Giáo viên có thể tổ chức hỏi đáp theo cặp đôi.
Để tiết học nhẹ nhàng, không nhàm chán mà lại nhiều em
được luyện nói thì giáo viên phải tổ chức nói theo nhiều hình thức
khác nhau như hỏi- đáp, nói trước lớp, hướng dẫn học sinh nhận
xét. Những hình thức này còn giúp giáo viên kiểm soát được khả

