
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi : Hội đồng sáng kiến cấp Sở.
Chúng tôi ghi tên dưới đây:
Stt Họ và tên Ngày tháng
năm sinh
Nơi
công tác Chức vụ Trình độ
chuyên môn
Tỷ lệ (%)
đóng góp
1 Hoàng Thị Diễm 27/07/1987 THPT
Gia Viễn B Giáo viên Thạc sĩ 50%
2 Nguyễn Thị Thanh Hiên 08/09/1978 THPT
Gia Viễn B Giáo viên Đại học 20%
3 Nguyễn Thị Hương 03/10/1981 THPT
Gia Viễn B Giáo viên Thạc sĩ 10%
4 Trần Ngô Mỹ Hậu 06/07/1991 THPT
Gia Viễn B Giáo viên Thạc sĩ 10%
5 Hoàng Thị Thanh 04/08/1987 THPT
Gia Viễn B Giáo viên Thạc sĩ 10%
1. Tên sáng kiến, lĩnh vực áp dụng
Là nhóm tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: Sử dụng Infographic nhằm
nâng cao hiệu quả và tăng hứng thú học tập môn Ngữ văn của học sinh THPT.
Lĩnh vực áp dụng: Môn Ngữ văn cấp THPT.
2. Nội dung sáng kiến
a. Giải pháp cũ thường làm:
* Chi tiết giải pháp cũ
Quá trình đi m i ph ng pháp d y và h c Ng văn đã và đang di n ra m tổ ớ ươ ạ ọ ữ ễ ộ
cách sâu r ng trên h u kh p các ph ng di n: khung n i dung ch ng trình, m cộ ầ ắ ươ ệ ộ ươ ụ
tiêu giáo d c, ph ng pháp và kĩ thu t d y h c, hình th c ki m tra đánh giá,... Đcụ ươ ậ ạ ọ ứ ể ặ
bi t, xu h ng ng d ng công ngh thông tin vào quá trình d y h c và yêu c u, nhi mệ ướ ứ ụ ệ ạ ọ ầ ệ
v cũng nh m c tiêu c n h ng t i c a giáo d c nói chung, d y h c Ng văn nóiụ ư ụ ầ ướ ớ ủ ụ ạ ọ ữ
riêng.

Tuy nhiên, t i đn v chúng tôi đang công tác (cũng là tình hình chung c a cácạ ơ ị ủ
c s giáo d c THPT trên đa bàn), các gi i pháp đã đc giáo viên s d ng là:ơ ở ụ ị ả ượ ử ụ
Th nh t: ứ ấ Đa phần giáo viên sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ
văn mới đang dừng lại ở mức trình chiếu Power Point, cắt ghét chỉnh sửa các video tư
liệu cho HS xem hoặc cao hơn là yêu cầu HS tự làm Power Point thuyết trình theo
yêu cầu của thầy/cô.
Thứ hai: Do đặc thù bộ môn, phương tiện, công cụ dạy học sử dụng trong các
giờ dạy học Văn phổ biến nhất là phiếu học tập, bảng phụ của HS và bài giảng Power
Point của GV. Phương tiện có sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin cũng đa phần là
trên bài giảng của GV: hình ảnh, sơ đồ... mà GV trình chiếu thay cho bảng viết truyền
thống. Phần mềm phổ biến nhất là các Microsoft Office (Word và Power Point).
Ngoài ra có thêm một số công cụ tìm kiếm trên internet khác. Vi c s d ng cácệ ử ụ
ph ng ti n, công c d y h c tích c c ươ ệ ụ ạ ọ ự đặc biệt là những phương tiện gắn liền với
công nghệ thông tin còn chưa được đầu tư đúng mức.
Thứ ba: Những năm gần đây, mặc dù infographic đã có mặt tại Việt Nam trên
nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng trong giáo dục thì còn khá mới mẻ. Một số môn học
như Địa lý, Lịch sử, Sinh học, Hóa học…đã được giáo viên sử dụng trong quá trình
dạy học. Tuy nhiên, với môn Ngữ văn, việc làm này còn thực sự mới mẻ, lạ lẫm. Tại
trường THPT Gia Viễn B, các giáo viên Ngữ văn và các môn học khác chưa sử dụng
nhiều infographic. Việc sử dụng chúng trong các bài học như một công cụ, phương
tiện dạy học hiện đại lại càng hạn chế.
* Ưu điểm, nhược điểm và những tồn tại cần khắc phục:
- Ưu điểm:
Có thể thấy, môn Ngữ Văn với đặc thù vừa là bộ môn khoa học, vừa là môn học
nghệ thuật nên việc ứng dụng công nghệ là việc làm rất khó khăn. Các GV đã nỗ lực
trong việc đưa công nghệ thông tin vào trong quá trình dạy học mà vẫn đảm bảo tính
nghệ thuật, “chất văn” trong từng bài học. Việc sử dụng bài giảng trình chiếu, các
phương tiện dạy học chỉ mang tính công cụ thay cho việc đọc - chép theo lối truyền
thụ kiến thức trước đây hơn với những hình ảnh, video tư liệu minh họa cho một đơn

vị kiến thức nào đó, hoặc thay cho phần “giảng” của GV. Không thể phủ nhận việc
cách làm ấy đã góp phần đổi mới phương pháp, hình thức dạy học, giúp giờ học sinh
động hơn, kiến thức thực tế của HS phong phú, trực quan hơn.
- Hạn chế:
Theo đánh giá chủ quan của chúng tôi trên cơ sở trước đây sử dụng và quan sát
thực tế sử dụng các phương tiện dạy học như đã nói ở trên của GV Ngữ văn THPT,
các giải pháp cũ còn bộc lộ một số hạn chế sau:
Thứ nhất, GV sử dụng bài giảng điện tử khiến HS thụ động, phân tán sự chú ý.
Các em thay vì nghe, hiểu, kết hợp nhìn và ghi chép (kết hợp bốn kĩ năng nghe - nói -
đọc - viết) thì khi GV trình chiếu, HS chỉ chăm chú vào việc ghi chép lại nội dung
trên slide bài giảng. Hoặc khi GV đưa các hình ảnh, video tư liệu minh họa kiến thức,
HS bị phân tán sự tập trung, hoặc chỉ chú ý vào hình ảnh mà quên mất nhiệm vụ, mục
tiêu chính của hoạt động học tập hiện tại.
Thứ hai, những năng lực cơ bản cần định hướng hình thành cho HS đôi khi
chưa thật rõ ràng trong mục đích GV sử dụng các phương tiện, học liệu; việc phát huy
khả năng sáng tạo, tính chủ động của HS còn chưa hiệu quả.
Cuối cùng, về phía GV, cách làm cũ bộc lộ hạn chế trong việc chủ động tiếp
cận những hình thức, phương tiện giáo dục hiện đại của xã hội vào quá trình dạy học.
Việc cập nhật những xu hướng giáo dục mới, đưa những hình thức ứng dụng công
nghệ thông tin khác nhau vào dạy học Ngữ Văn luôn luôn là tồn tại cố hữu trong hầu
hết các cơ sở giáo dục, đặc biệt ở các trường đóng trên địa bàn những xã, huyện còn
nhiều khó khăn về kinh tế, vùng nông thôn, miền núi...
b. Giải pháp mới cải tiến:
* Mô tả bản chất của giải pháp mới:
- Cơ sở của giải pháp:
Về cơ sở lý luận: giải pháp của chúng tôi dựa trên tinh thần chỉ đạo chung về
“đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học” của ngành trong suốt
những năm gần đây. Đó cũng là nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm của năm học 2020 -
2021 được Bộ GD&ĐT, UBND tỉnh, Sở GD&ĐT Ninh Bình chỉ đạo quyết liệt trong

năm học này nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Ngoài ra, giải pháp cũng
căn cứ trên những nghiên cứu về infographic và thế mạnh của nó trong giáo dục.
Về cơ sở thực tiễn: xuất phát từ thực tế hiện nay infographic không còn là khái
niệm xa lạ trong đời sống xã hội cũng như trong giáo dục. Trái lại, nó còn có thể trở
thành một công cụ, phương tiện hỗ trợ dạy học đầy tiềm năng trong thời đại mới,
không chỉ giúp nâng cao hứng thú, hiệu quả học tập mà còn mở ra khả năng phát triển
các năng lực của người học. Mặc dù đã có một số infographic Ngữ văn được thiết kế
và đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng lại chưa được ứng dụng trong
quá trình dạy học trong các nhà trường hiện nay với tư cách một biện pháp mới, góp
phần làm đổi mới phương tiện, công cụ dạy học. Tại đơn vị chúng tôi đang công tác,
nó cũng rất mới mẻ và lạ lẫm với cả GV và HS.
- Chi tiết giải pháp mới:
Nhằm đáp ứng những yêu cầu của lý luận và thực tiễn dạy học Ngữ văn ở cấp
THPT, khắc phục những hạn chế của giải pháp cũ, chúng tôi mạnh dạn đề xuất và áp
dụng giải pháp: sử dụng infographic trong dạy học Ngữ văn THPT.
Giải pháp này chúng tôi thực hiện ở cả hai cấp độ. Cấp độ đầu tiên, cơ bản và
phổ biến nhất là GV sử dụng infographic được sưu tầm và tự thiết kế vào những hoạt
động, mục đích dạy học của mình phù hợp với từng bài học. Dạng tiếp theo, GV yêu
cầu HS thiết kế infographic theo nhiệm vụ học tập cụ thể. Hình thức sử dụng linh hoạt
trong từng khâu, từng hoạt động học tập của cả GV và HS nhằm khai thác tối đa hiệu
quả của phương tiện.
Giải pháp mới cụ thể được chúng tôi áp dụng với các hình thức sau:
Một là: Sử dụng infographic vào quá trình dạy học đáp ứng mục tiêu phát triển
năng lực người học.
Đổi mới, sáng tạo trong dạy và học nhằm phát huy năng lực của học sinh đặt ra
như một nhu cầu tất yếu cho giải pháp nâng cao chất lượng môn Ngữ văn. Với mong
muốn cải tiến phương pháp để hiệu quả giảng dạy được tốt hơn, chúng tôi nhận thấy
cần tích cực hơn nữa trong việc vận dụng các phương pháp, phương tiện dạy học hiện
đại. Một trong số đó là giải pháp sử dụng infographic trong dạy học Ngữ Văn nhằm

phát triển một số năng lực chung và năng lực chuyên biệt cho người học gắn với đặc
thù bộ môn. Cụ thể chúng tôi hướng tới bốn năng lực cơ bản gồm năng lực ngôn ngữ,
năng lực thẩm mĩ, năng lực tự học, năng lực sử dụng công nghệ thông tin.
Làm việc với infographic có ưu thế trong việc phát triển năng lực ngôn ngữ cho
HS bởi lẽ yêu cầu của ngôn ngữ trong infographic là chọn lọc từ ngữ, những từ, cụm
từ có tính khái quát cao, rõ ràng, gợi mở…. Việc đọc để thâu tóm lại thành các cụm từ
thể hiện các ý tưởng chính là phát huy năng lực nắm bắt thông tin khi đọc và chọn lọc
ngôn từ để thể hiện của HS. Đây là kĩ năng đọc và viết. Còn khi thuyết trình từ các
hình ảnh, cụm từ giúp phát triển năng lực nói. Quá trình làm việc nhóm, thảo luận, lựa
chọn phương án giúp HS phát triển năng lực nghe. Để giúp HS hình thành và phát
triển các năng lực này, GV cần chú trọng các phương pháp dạy học thông qua hoạt
động, thực hành, cần tổ chức để HS thực hiện các hoạt động kiến tạo kiến thức và các
hoạt động tìm kiếm nguồn ngữ liệu, khai thác ngữ liệu cho nhiều hoạt động đọc, viết,
nghe, nói.
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ là năng lực đặc thù của môn Ngữ văn. Infographic là
một dạng thông tin thị giác thú vị và hiệu quả để truyền tải thông tin. Hệ thống hình
ảnh, màu sắc, cách sắp xếp bố cục, bố trí kiểu chữ, cỡ chữ,… trong mỗi infographic sẽ
thể hiện khả năng sáng tạo cá nhân, tư duy thẩm mĩ và dụng ý của mỗi học sinh trong
mục tiêu truyền tải thông điệp của mình. Sản phẩm của các em không đơn thuần chỉ là
việc chuyển tải nội dung văn bản từ dạng chữ sang dạng hình ảnh mà nó là sản phẩm
kết hợp của năng lực đọc hiểu văn bản, sử dụng ngôn ngữ, thẩm mĩ để tạo ra một sản
phẩm cá nhân độc đáo. Đó được xem là một tác phẩm – không chỉ phản ánh nội dung
bài học, mà còn thể hiện rõ quan điểm thẩm mĩ của các em. Cách làm này không chỉ
tạo ra một “sân chơi” cho HS thỏa sức phát huy sáng tạo, mà còn có ý nghĩa thực tiễn
lớn lao, gắn việc học tập với thực hành, gắn kiến thức với cuộc sống, phát huy cá tính,
sở trường, năng lực của từng học sinh.
Xu thế tất yếu của giáo dục hiện đại là tập trung phát triển các năng lực tư duy,
hành động, tự học, tự nghiên cứu của người học. Quá trình HS sử dụng các tư liệu
infographic có sẵn trên mạng hoặc GV cung cấp, đặc biệt khi các em tự thiết kế

