SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:

MỘT SỐ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KĨ

NĂNG MỀM CHO HỌC SINH LỚP CHỦ NHIỆM

Ở TRƯỜNG THPT

======================================

LĨNH VỰC: CHỦ NHIỆM

1

SỞ GD-ĐT NGHỆ AN

TRƯỜNG THPT HUỲNH THÚC KHÁNG ======================== SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Đề tài

“Một số biện pháp hình thành và phát triển kĩ năng mềm cho

học sinh lớp chủ nhiệm ở trường THPT”

LĨNH VỰC: CHỦ NHIỆM

Tác giả: VÕ THỊ MINH HẠNH (Giáo viên tổ Toán- Tin)

PHẠM THỊ VIỆT DUNG (Giáo viên tổ Văn- Ngoại ngữ)

2

Năm học 2020 - 2021

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Lý do chọn đề tài

Cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Việt Nam chúng ta đã và đang bước vào một giai đoạn phát triển và hội nhập mới. Với Đề án đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, mục tiêu giáo dục đang chuyển hướng từ trang bị kiến thức nặng lý thuyết sang trang bị những năng lực cần thiết và phẩm chất cho người học. Điều đó khẳng định thêm tầm quan trọng và yêu cầu thiết yếu đưa giáo dục Kĩ năng sống vào trường học cùng với các môn học và các hoạt động giáo dục. Các em học sinh ngày càng chủ động tích cực và linh hoạt hơn trong mọi hoạt động của nhà trường và xã hội.

Tuy nhiên, ta không thể phủ nhận được một thực trạng đó là bạo lực học đường ngày càng gia tăng, không ít bộ phận học sinh thiếu tính tự tin, tự lập, sống ích kỷ, vô tâm, thiếu trách nhiệm với gia đình và bản thân, vi phạm pháp luật, đạo đức, gây bức xúc cho nhà trường, gia đình và xã hội. Ngày càng nhiều học sinh vô cảm trước cái xấu. Hiện tượng học sinh vô cảm trước bạo lực học đường, thậm chí không can ngăn mà còn reo hò, cổ vũ khi chứng kiến bạn mình đánh nhau… là điều khiến nhiều chúng ta thấy đáng lo ngại.

Tình trạng đánh nhau ở học sinh trong thời gian gần đây đang gia tăng trở lại, đặc biệt là sau đợt nghỉ học do COVID-19. Trong thời gian dài nghỉ học, ở nhà học online, các em lướt mạng, chơi game, chịu áp lực từ các vấn đề học tập, gia đình có khó khăn về việc làm, kinh tế sa sút... là một trong số nguyên nhân khiến một bộ phận nhóm trẻ có những căng thẳng, bức xúc, “giận cá chém thớt”, dễ dẫn đến các tình huống bạo lực.

Ngoài ra, sự khác biệt của học sinh trong lớp, trong trường như học giỏi, xinh đẹp, ngoại hình nổi bật... hoặc những học sinh quá khép kín (trầm tính, ít nói, không có nhiều bạn bè...) có thể là nguyên nhân khiến các em dễ bị bắt nạt, bị đánh. “Một lý do khác thường thấy bắt nguồn từ những hiểu lầm đơn giản như “nhìn đểu”, “nói đểu”. Yêu đương cũng là nguyên nhân phổ biến khiến nhiều học sinh đánh nhau. Việc đăng đàn, bình luận những lời lẽ khiếm nhã, khiêu khích lên mạng khiến các em nổi nóng, muốn đánh nhau để “dằn mặt”

Nguyên nhân sâu xa là do các em thiếu hụt về kỹ năng sống. Kỹ năng mềm càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của lứa tuổi HS THPT. Giáo dục Kỹ năng mềm tại các trường THPT hiện nay đang được chú trọng và tạo điều kiện thực hiện. Trong đó, được tập trung ở những buổi ngoại khóa, hoạt động ngoài giờ

3

hay các tổ chức các câu lạc bộ chuyên đề giúp các em có cơ hội được tiếp cận và trải nghiệm thực tế trong việc rèn luyện Kỹ năng mềm.

Xã hội đã giao phó và đòi hỏi người dạy học phải góp phần “xuất lò” những học sinh “chính mác thế kỉ XXI”, nghĩa là những lớp người không chỉ toàn tài mà còn phải vẹn đức – có óc thông minh, nhạy bén, có tư duy sáng tạo, năng động, có kỹ năng sống thích hợp, có nhân cách tốt đẹp, có đầy đủ những ý thức và hành vi công dân,… Từ đó góp phần thúc đẩy mối quan hệ tích cực giữa học sinh với giáo viên, đem đến hứng thú học tập, giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống trong cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tích cực với mọi người xung quanh, sống lành mạnh, chủ động trong cuộc sống.

Một người thành công ngoài xã hội thì kiến thức không thôi chưa đủ mà cần có những Kỹ năng mềm cần thiết. Học sinh độ tuổi THPT là giai đoạn chuẩn bị bước ra cuộc đời nên là thời điểm quan trọng để giáo dục các em những Kỹ năng mềm. Đó là sự cần thiết để các em có đủ hành trang bước vào đời và thành công trong tương lai sau này.

Làm công tác chủ nhiệm lớp, gắn bó với các em học sinh nhiều hơn qua các hoạt động giảng dạy và công tác lớp, chúng tôi nhận thấy việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, với bản chất là hình thành và phát triển cho các em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những người chung quanh, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống phức tạp, muôn hình, muôn vẻ của cuộc sống là vô cùng quan trọng.

Bên cạnh đó, do đặc thù của thi cử theo khối nên ở trường đã có phân lớp theo các khối thi của học sinh. Điều này cũng tạo ra sự chênh lệch về giới tính trong các lớp. Như các lớp khối A , A1 thì số lượng học sinh nam thường đông hơn học sinh nữ. Và trong các lớp khối D thì số lượng học sinh nữ chiếm ưu thế hoặc có khi là toàn bộ sĩ số của một lớp. Do đó việc giáo dục học sinh cũng có những nét đặc thù riêng mà người làm công tác chủ nhiệm phải linh hoạt, và có lúc cần kết hợp với nhau để tìm hiểu rõ hơn về học sinh của mình. Bởi vì vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp đối với sự hình thành nhân cách, đạo đức của học sinh là vô cùng quan trọng. GVCN lớp là cầu nối giữa nhà trường với học sinh, với cha mẹ học sinh và các đoàn thể mà các em sinh hoạt, học tập.

Trên cơ sở cả hai chúng tôi là giáo viên dạy cùng một trường THPT, đối tượng học sinh và các điều kiện trong nhà trường là gần như tương đồng. Trong đó, cô Võ Thị Minh Hạnh là giáo viên dạy Toán và chủ nhiệm các lớp khối A; cô Phạm Thị Việt Dung là giáo viên dạy tiếng Anh và thường xuyên được phân công chủ nhiệm lớp khối D. Nếu kết hợp kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm sẽ có sự hiểu biết cặn kẽ

4

hơn các đối tượng học sinh của mình và có những giải pháp đề xuất phù hợp hơn, tốt hơn.

Chính vì vậy chúng tôi đã quyết định thực hiện chung đề tài :

“Vai trò của người giáo viên chủ nhiệm trong việc nâng cao kĩ năng sống và cải thiện kĩ năng mềm cho học sinh ở trường THPT”

2. Mục đích nghiên cứu

Đề ra một số biện pháp để nâng cao chất lượng của việc giáo dục Kĩ năng sống

và Kĩ năng mềm cho học sinh ở giáo viên chủ nhiệm.

3. Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục Kĩ năng sống ở học sinh THPT

Đánh giá thực trạng về công tác giáo dục Kĩ năng sống ở học sinh THPT nói

chung và học sinh THPT Huỳnh Thúc Kháng nói riêng.

Đề xuất một số giải pháp trong thực hiện giáo dục Kĩ năng sống và cải thiện kỹ

năng mềm ở học sinh THPT.

4. Phạm vi nghiên cứu

- Địa điểm: Tại trường THPT Huỳnh Thúc Kháng – Vinh – Nghệ an.

- Thời gian: Năm học 2019-2020 và Học kỳ 1 Năm học 2020-2021

- Chủ thể: Học sinh lớp 10 D1 K100 và lớp 11 A 2 K99

5. Tính mới của sáng kiến

Linh hoạt trong việc tiếp cận và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình

giảng dạy và lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho học sinh .

Áp dụng nhiều hình thức, địa điểm, áp dụng nhiều kiến thức các môn học khác

nhau để giáo dục học sinh.

Sử dụng mạng xã hội, và các thiết bị điện tử như một công cụ hỗ trợ nhanh nhất

và thuận tiện nhất trong quá trình làm công tác chủ nhiệm.

6. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này, chúng tôi đã sử dụng các phương

pháp cơ bản nhất là:

- Quan sát, phỏng vấn, nghiên cứu sản phẩm, so sánh giữa các số liệu thu được.

Và nghiên cứu các tài liệu, thu thập thông tin lí lịch liên quan.

- Phương pháp khảo sát: Chúng tôi tiến hành khảo sát tâm lí học sinh, khảo sát

các phương pháp, cách thức tiến hành, khảo sát kết quả đã đạt được...

5

- Phương pháp thống kê số liệu trong quá trình khảo sát

- Phương pháp phân tích, phân loại: phân tích những nguyên nhân và những

kết quả đạt được trong hoạt động giáo dục.

- Phương pháp so sánh trong thực trạng vấn đề và so sánh kết quả thu được sau

khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

- Sử dụng mạng xã hội và các ứng dụng lấy ý kiến trên các apps

PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1. Cơ sở lí luận

1.1. Khái niệm Kĩ năng mềm

Kỹ năng là khả năng thực hiện một công việc nhất định, trong một hoàn cảnh, điều kiện nhất định, đạt được một chỉ tiêu nhất định. Các kỹ năng có thể là kỹ năng sống, kỹ năng mềm và kỹ năng nghề nghiệp.

Kỹ năng mềm (Soft skills) là một thuật ngữ xã hội học chỉ những kỹ năng có liên quan đến việc sử dụng ngôn ngữ, khả năng hòa nhập xã hội, thái độ và hành vi ứng xử áp dụng vào việc giao tiếp giữa người với người. Chúng quyết định bạn là ai, làm việc thế nào, là thước đo hiệu quả cao trong công việc.

Hiện nay, Kỹ năng sống và Kỹ năng mềm là hai thuật ngữ đều được quan tâm khá nhiều trong giáo dục nói riêng và xã hội nói chung. Thực trạng cho thấy, khi đề cập đến một vấn đề mà cá nhân không thích ứng hay giải quyết trong cuộc sống thì được đánh giá theo khía cạnh "thiếu Kỹ năng sống". Mặt khác, khi cá nhân không xin được việc làm, gặp thất bại trong công việc thì xã hội thường gán là "thiếu Kỹ năng mềm".

Kỹ năng sống nằm trong phạm trù mang nghĩa phổ quát và rộng hơn nhiều so với Kỹ năng mềm. Kỹ năng sống bao hàm tất cả các kỹ năng thuộc về mặt tâm lý xã hội giúp cá nhân giải quyết có hiệu quả các yêu cầu, thách thức đặt ra của cuộc sống và thích nghi với cuộc sống. Hay nói một cách đơn giản hơn đó là những kỹ năng giúp con người phản ứng hiệu quả trước những vấn đề đặt ra trong cuộc sống.

Kỹ năng mềm trước hết liên quan đến mặt tương tác với người khác bằng những yếu tố liên quan đến mặt cảm xúc, ngôn ngữ, thái độ nhằm thiết lập ra những mối quan hệ xã hội tích cực để đạt được hiệu quả cao trong công việc. Kỹ năng mềm chỉ hỗ trợ đắc lực cho cá nhân đạt được hiệu quả cao trong công việc nhưng không hoàn toàn đầy đủ để giúp cá nhân thích ứng được với các vấn đề nảy sinh từ cuộc sống.

Nếu căn cứ vào sự phân loại Kỹ năng sống, dựa vào khái niệm có thể nhận

thấy Kỹ năng mềm là một bộ phận quan trọng của Kỹ năng sống.

6

Theo quan niệm của WHO có 3 nhóm Kỹ năng sống gồm:

• Nhóm 1: Nhóm kỹ năng nhận thức.

• Nhóm 2: Nhóm kỹ năng liên quan đến cảm xúc.

• Nhóm 3: Nhóm kỹ năng xã hội.

Kỹ năng mềm thuộc nhóm thứ 3 - nhóm kỹ năng xã hội của Kỹ năng sống, tức là hệ thống những kỹ năng giúp cá nhân thiết lập và duy trì các mối quan hệ trong xã hội. Tuy nhiên, cách nhìn này vẫn chưa nhấn mạnh được ý nghĩa quan trọng của Kỹ năng mềm là thúc đẩy công việc và hỗ trợ công việc đạt được hiệu quả cao.

Theo quan điểm của UNESCO

Kỹ năng sống phải được phân chia dựa trên những kỹ năng nền tảng cơ bản cũng như những kỹ năng chuyên biệt trong đời sống cá nhân của con người ở những mối quan hệ khác nhau cũng như ở những lĩnh vực khác nhau. Như vậy, dưới góc độ phân loại này có thể nhận thấy Kỹ năng mềm thuộc trong nhóm kỹ năng chung mà cụ thể hơn là nhóm kỹ năng liên quan đến cảm xúc và các kỹ năng cơ bản về xã hội.

Ở một góc nhìn khác, có thể nhận thấy rằng: Kỹ năng sống mang tính hệ

thống và ổn định hơn so với Kỹ năng mềm.

Kỹ năng sống mang tính hệ thống và có thể "ổn định" tương đối với nhiều

người dù rằng họ có sự khác biệt về văn hóa, dân tộc, độ tuổi.

Kỹ năng mềm sẽ rất "cơ động" và dù nó hướng đến vấn đề giúp con người thích nghi trong việc tương tác hiệu quả với người khác hay thúc đẩy công việc đạt hiệu quả cao nhưng bản thân nó lại phụ thuộc khá nhiều vào tính chất của nghề nghiệp mà đặc biệt là tính đối tượng của nghề nghiệp.

Nói tóm lại, Kỹ năng mềm không đồng nhất với Kỹ năng sống nhưng không phải là một phạm trù tách biệt với Kỹ năng sống. Kỹ năng mềm là một bộ phận quan trọng của Kỹ năng sống.

1.2. Vai trò của giáo viên chủ nhiệm ( GVCN)

GVCN là nhà quản lí, nhà sư phạm đại diện cho Hiệu trưởng truyền đạt những chủ trương, yêu cầu, kế hoạch giáo dục của nhà trường đến với HS và tập thể học sinh. Bằng phương pháp thuyết phục, sự gương mẫu, kinh nghiệm sư phạm và uy tín của mình, GVCN giúp cho mỗi học sinh và tập thể lớp có trách nhiệm tuân thủ và tự giác thực hiện nghiêm túc những yêu cầu này.

Nói như PGS.TS Đặng Quốc Bảo - Học viện quản lý giáo dục thì: GVCN lớp là nhà quản lý không có dấu đỏ. Ngày nay, với sự nhận thức ngày càng đúng đắn và sâu sắc về giáo dục, có thể coi GVCN như một nhà quản lý với các vai trò: Người

7

lãnh đạo lớp học; người điều khiển lớp học; người làm công tác phát triển lớp học; người làm công tác tổ chức lớp học; người giúp hiệu trưởng bao quát lớp học; người giúp hiệu trưởng thực hiện việc kiểm tra sự tu dưỡng và rèn luyện của học sinh; người có trách nhiệm phản hồi tình hình lớp. Một người GVCN giỏi sẽ góp phần xây dựng nên một tập thể lớp giỏi, nhiều tập thể lớp giỏi sẽ xây dựng nên một nhà trường vững mạnh. GVCN là cầu nối giữa nhà trường - gia đình và xã hội. Nếu thực hiện thành công công tác chủ nhiệm sẽ góp phần giáo dục học sinh sau này trở thành thế hệ trẻ năng động, sáng tạo và tài năng.

Để trở thành một GVCN chân chính thì người GV đó cần hội tụ đủ những yếu tố sau: Có hiểu biết rộng về văn hóa chung, có tri thức sâu sắc; vững vàng về môn học phụ trách ở lớp chủ nhiệm; có khả năng sáng tạo trong công tác giáo dục, dạy học; có khả năng thu thập tích lũy tri thức để ngày càng nâng cao hoặc mở rộng tầm hiểu biết của mình; có khả năng kích hoạt, gây hào hứng nhằm khơi dậy sự hứng thú và động cơ học tập, rèn luyện đạo đức ở học sinh; GVCN cần tự trang bị cho mình nhiều kĩ năng sư phạm như: giao tiếp sư phạm trước đám đông, biểu lộ và kiềm chế tình cảm, cảm xúc khi cần thiết, ứng xử các tình huống sư phạm linh hoạt,… Và trên hết, GVCN phải thực sự là một tấm gương sáng cho HS noi theo.

Theo Điều lệ trường THCS, THPT và trường PT có nhiều cấp học, ban hành kèm theo Thông tư sổ 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, giáo viên chủ nhiệm có những vai trò sau:

Giáo viên chủ nhiệm thay mặt hiệu trưởng quản lí một lớp học

Giáo viên chủ nhiệm lớp do hiệu trưởng phân công và thay mặt hiệu trưởng để

quản lí và tổ chức các hoạt động giáo dục học sinh ở một lớp học.

Vai trò quản lí của giáo viên chủ nhiệm lớp thể hiện trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch giáo dục, đôn đốc, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập và tu dưỡng của học sinh trong lớp.

Giáo viên chủ nhiệm phải trả lời các câu hỏi về chất lượng học tập và hạnh kiểm của học sinh trong lớp trước hiệu trưởng, trước Hội đồng sư phạm của nhà trường và trước phụ huynh học sinh của lớp khi tổng kết năm học.

Giáo viên chủ nhiệm xây dựng tập thể học sinh thành một khối đoàn kết

Giáo viên chủ nhiệm lớp là linh hồn của lớp, bằng các biện pháp tổ chức, giáo dục, bằng sự gương mẫu và quan hệ tình cảm, giáo viên chủ nhiệm xây dựng khối đoàn kết trong tập thể, dìu dắt các em nhỏ như con em mình trưởng thành theo từng năm tháng.

Học sinh kính yêu giáo viên chủ nhiệm như cha mẹ mình, đoàn kết thân ái với bạn bè như anh em ruột thịt, lớp học sẽ trở thành một tập thể vững mạnh. Tình cảm 8

của lớp càng bền chặt, tinh thần trách nhiệm và uy tín của giáo viên chủ nhiệm càng cao thì chất lượng giáo dục càng tốt.

Rất nhiều giáo viên cùng giảng dạy trong một lớp, nhưng giáo viên chủ nhiệm bao giờ cũng để lại những ấn tượng sâu sắc đối với từng học sinh trong suốt cuộc đời họ. Bởi vì, người giáo viên không chỉ dạy kiến thức mà còn dành nhiều thời gian, sức lúc, tình cảm cảm hóa, dạy học sinh. Họ kết gắn các thành viên trong lớp học thông qua những câu chuyện, những trò chơi, hoạt động.

Giáo viên chủ nhiệm tổ chức các hoạt động giáo dục học sinh trong lớp

Vai trò tổ chức của giáo viên chủ nhiệm thể hiện trong việc thành lập bộ máy tự quản của lớp, phân công trách nhiệm cho từng cá nhân, các tổ, nhóm, đồng thời tổ chức thực hiện các mặt hoạt động theo kế hoạch giáo dục được xây dựng hàng năm.

Các hoạt động của lớp được tổ chức đa dạng và toàn diện, giáo viên chủ nhiệm

lớp quán xuyến tất cả các hoạt động một cách cụ thể, chặt chẽ.

Các phong trào thi đua học tập đi vào thực chất, các cuộc sinh hoạt các đoàn thể có nội dung hấp dẫn thanh, thiếu niên, phong trào văn hóa, văn nghệ, thể thao được tiến hành thường xuyên… Chất lượng học tập và tu dưỡng đạo đức của học sinh phụ thuộc rất nhiều vào trật tự, kỉ luật, vào tinh thần đoàn kết và truyền thống của tập thể lớp cũng như các hoạt động đa dạng của lớp.

Giáo viên chủ nhiệm - Cố vấn đắc lực cho các đoàn thể của học sinh trong lớp

Giáo viên chủ nhiệm lớp phải nắm vững điều lệ, tôn chỉ mục đích, nghi thức và

nội dung hoạt động của các đoàn thể.

Với tinh thần trách nhiệm, với kinh nghiệm công tác của mình làm tham mưu cho chi Đoàn thanh niên của lớp lập kế hoạch công tác, bầu ra ban lãnh đạo chi đoàn, tổ chức các nội dung hoạt động và phối hợp với ban cán sự lớp để xây dựng tập thể, đem lại hiệu quả giáo dục tốt nhất.

Giáo viên chủ nhiệm giữ vai trò chủ đạo trong việc phối hợp với các lực lượng giáo dục

Gia đình, nhà trường và xã hội là ba lực lượng giáo dục, trong đó nhà trường là cơ quan giáo dục chuyên nghiệp, hoạt động có mục tiêu, nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở khoa học, do vậy giáo viên chủ nhiệm phải là người chủ đạo trong điều phối các hoạt động giáo dục cùng với các lực lượng giáo dục đó một cách có hiệu quả nhất. Năng lực, uy tín chuyên môn, kinh nghiệm công tác của giáo viên chủ nhiệm lớp là điều kiện quan trọng để tập hợp lực lượng, phối hợp thành công các hoạt động giáo dục cho học sinh trong lớp.

Như vậy, GVCN là người đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục để hình

9

thành và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh. Để thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của mình, việc học hỏi và không ngừng trau bản thân là yếu tố tiên quyết của một GVCN.

1.3. Đặc điểm của học sinh THPT

Học sinh THPT ở lứa tuổi khoảng từ 15-18 tuổi, đây là lứa tuổi có nhiều biến đổi về tâm sinh lí. Độ tuổi này tâm lí, tình cảm của các em đa dạng, phong phú và cũng rất phức tạp. Điểm nổi bật ở lứa tuổi này là dễ xúc động, dễ bị kích động, vui buồn chuyển hoá dễ dàng, tình cảm còn mang tính bồng bột. Nhiều khi do hoạt động hệ thần kinh không cân bằng, thường thì quá trình hưng phấn mạnh hơn quá trình ức chế, đã khiến các em không tự kiềm chế được. Học sinh THPT bước vào thời kỳ đầu của tuổi thanh niên về sinh học, cấu trúc não đã phát triển tương đối hoàn thiện, các khả năng tư duy, phân tích, đánh giá, cảm giác, tri giác,... cũng dần phát triển. Ở lứa tuổi này, các em thích khẳng định cái tôi bản ngã, muốn được đối xử như người lớn, được thoát ra khỏi sự ràng buộc của cha mẹ, thích được độc lập suy nghĩ và hành động. Bên cạnh đó, nhiều em cũng có biểu hiện lệch lạc về nhân cách, sống ích kỉ, thiếu đạo đức, bắt chước, đua đòi, sống bất cần,...

Ở lứa tuổi này các em có nhiều thay đổi, khủng hoảng vì sự phát triển rõ rệt về cơ thể, thay đổi tâm sinh lý, tình cảm và các mối quan hệ xã hội. Một mặt, các em vẫn muốn níu kéo những ký ức của tuổi thơ, muốn được nâng niu chiều chuộng cùng với suy nghĩ và cách ứng xử vụng dại của thời thơ bé, mặt khác lại muốn khẳng định mình là người lớn. Vì thế bản thân các em có nhiều mâu thuẫn, nhiều suy nghĩ phức tạp trong nội tâm về các mối quan hệ xung quanh cần giải quyết. Do chưa có kỹ năng sống nên các em gặp nhiều khó khăn, răc rối, đôi khi phải gánh chịu những hậu quả không như mong muốn bởi chưa tìm ra phương hướng giải quyết đúng đắn và thông minh nhất.

Về phương diện xã hội: các em bắt đầu có ý thức, nhận thức về cuộc sống, nhu cầu kết bạn phát triển mạnh, các mối quan hệ mở rộng, thích tham gia các hoạt động xã hội, thích đi đây đi đó để mở rộng tầm nhìn, thích khẳng định mình là người lớn.

Trong lĩnh vực tình cảm: cường độ những rung động tình cảm ngày càng cao nhưng chưa có sự kiểm soát chặt chẽ của lý trí dễ rơi vào tình trạng cảm tính đơn thuần, cảm xúc tùy hứng nhất thời xuất hiện nhiều khó kiềm chế dễ dẫn đến sai lầm.

Đây là độ tuổi muốn khẳng định “Cái tôi cá nhân” nên có nhu cầu tự khẳng định mình rất cao thể hiện ở chỗ: không muốn tham gia vào những sinh hoạt bó buộc của gia đình, muốn có quyền riêng tư, thích tranh luận và hay bình luận nhận xét đánh giá về người khác ... ngại tiếp xúc và chia sẻ với người lớn, người thân hay giấu kín những khó khăn, vấp ngã của bản thân mình. Thêm vào đó là nhu cầu phát triển các mối quan hệ xã hội, đây cũng là giai đoạn cuối cấp, các em phải chịu áp lực lớn trong

10

thi cử dẫn đến dễ rơi vào trạng thái tiêu cực ảnh hưởng tới sức khỏe, tinh thần. Do vậy, rất cần sự quan tâm, định hướng từ phía gia đình và nhà trường, giúp các em có các kỹ năng để hoàn thiện mình hơn.

* Một số đặc điểm tâm lý học sinh THPT - lứa tuổi vị thành niên

Tuổi học sinh THPT là lứa tuổi tiếp sau tuổi học sinh THCS, học sinh THPT

thuộc lứa tuổi thanh niên. Có nhiều quan niệm khác nhau về tuổi thanh niên.

- Các nhà lý luận sinh học xác định tuổi thanh niên dựa trên sự trưởng thành của cơ thể. Tiêu biểu như các nhà phân tâm học, họ cho rằng tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển tình dục.

- Các nhà lý luận về xã hội lại coi tuổi thanh niên là thời kỳ chuyển tiếp từ thơ

ấu sang tuổi người lớn.

- Các nhà tâm lý học cho rằng: Cần phải nghiên cứu tuổi thanh niên một cách

phức hợp, kết hợp cả quan điểm xã hội và quan điểm sinh học.

Từ nhiều quan niệm nhìn nhận các biểu hiện của lứa tuổi ta có thể sơ lược sự

phát triển tâm sinh lý của tuổi vị thành niên như sau:

- Về thể chất: sự thay đổi về kích thước và những đặc tính

- Về nhận thức: sự thay đổi trong khả năng suy nghĩ. Có hiểu biết tốt hơn về mỗi quan hệ giữa nguyên nhân và hậu quả, có khả năng lớn hơn để thiết lập mục tiêu, bắt đầu suy nghĩ về ý nghĩa của cuộc sống.

- Về xúc cảm, tình cảm: sự thay đổi trong những trải nghiệm và thể hiện những cảm xúc. Có sự mâu thuẫn giữa sự mong đợi tự cao với sự tự nhận thức còn kém. Phát triển cảm xúc của tình yêu và niềm đam mê.

- Về xã hội: thay đổi trong các mỗi quan hệ với mọi người. Nhận ra người lớn không hoàn hảo, khao khát phát triển sự độc lập. Những ảnh hưởng của bạn cùng trang lứa trở nên quan trọng, tin tưởng nhiều hơn vào sự cổ vũ của bạn bè. Có khoảng cách với cha mẹ.

Như vậy tuổi THPT được miêu ta như một giai đoạn khó khăn, tiêu cực trải qua nhiều giông bão và sự căng thẳng để có thể sống sót và trưởng thành. Trên thực tế đây là một giai đoạn phát triển có nhiều sự thay đổi lớn lao về cả tâm lý và sinh lý, là giai đoạn chuyển giao rất dài về mặt thời gian từ trẻ nhỏ thành người trưởng thành. Vì thế, đây là giai đoạn cần được sự hỗ trợ, giúp đỡ một cách đặc biệt từ thầy cô giáo, cha mẹ, bạn bè và cả cộng đồng để các em có thể phát huy được mặt mạnh của sự phát triển về thể chất và tâm lý đồng thời hạn chế được những điểm yếu của sự phát triển trong giai đoạn này.

* Những khó khăn tâm lý của học sinh THPT

11

Học sinh THPT nhìn chung cả thể chất, giải phẩu, sinh lí và tâm lí, nhân cách đều phát triển theo hướng ổn định dần và đạt đến độ trưởng thành sau 18 tuổi. Tuy vậy trong quá trình phát triển, cũng gặp không ít khó khăn cần có sự quan tâm, chia sẻ và thấu hiểu thấu cảm của thầy cô, cha mẹ, bạn bè:

- Khó khăn tâm lí trong quá trình học tập, rèn luyện

- Khó khăn trong định hướng và chọn nghề, chọn trường học nghề

- Khó khăn trong hình thành lí tưởng sống và xây dựng kế hoạch đường đời

+ Khó khăn trong hình thành hình ảnh bản thân trong mắt người khác

+ Khó khăn trong hành trình hình thành lí tưởng sống

+ Khó khăn trong xác định kế hoạch đường đời

- Khó khăn trong quan hệ xã hội, quan hệ với bạn và bạn khác giới

+ Khó khăn trong giao tiếp xã hội, tương tác và kết giao xã hội

+ Khó khăn trong quan hệ với bạn khác giới, tình yêu, tình dục

+ Khó khăn trong các trải nghiệm tình yêu đầu đời.

Những khó khăn trên ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tâm lý của học sinh. Tạo ra lực cản đối với các hoạt động, sinh hoạt và quan hệ xã hội của học sinh. Tác động trực tiếp tới sự phát triển thể chất và tâm lí, nhân cách của học sinh. Những khó khăn đó đẩy đến mức cao dễ dẫn đến sự khủng hoảng tâm lí, làm thay đổi chiều hướng phát triển tâm lí học sinh, tạo ra các ngã rẽ trong tiến trình phát triển tâm lí, nhân cách học sinh.

Nắm vững những đặc điểm tâm sinh lý này sẽ giúp Giáo viên chủ nhiệm có cách

thức giáo dục Kỹ năng mềm phù hợp.

1.4. Tính cấp thiết của giáo dục kĩ năng sống và cải thiện kĩ năng mềm của học sinh

Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ngày càng trở nên bức thiết khi mà xã hội hiện đại đang tác động tới các em từ quá nhiều phía. Bên cạnh các kiến thức được học ở trường, có rất nhiều kỹ năng sống mà các em cần phải rèn luyện để hoàn thiện bản thân.

HS Trung học phổ thông có các mối quan hệ đa chiều với bạn bè, với người yêu, với thầy cô, với người thân và bố mẹ … đặc biệt trong môi trường xã hội phức tạp xuất hiện nhiều tình huống khó xử, nhiều cám dỗ các em dễ rơi vào lúng túng, bế tắc, thất bại, dễ chán nản, mệt mỏi bi quan mất phương hướng, dẫn đến những suy nghĩ và hành động tiêu cực trong cuộc sống bởi tâm hồn các em nhạy cảm dễ tổn thương, dễ đổ vỡ do bất lực trong giải quyết các tình huống xảy ra với mình.

12

Để giúp các em vượt qua, đứng vững trước những thay đổi phức tạp và nhiều

thử thách trong giai đoạn này chúng ta cần trang bị cho các em kỹ năng sống.

Một người thành công ngoài xã hội thì kiến thức không thôi chưa đủ mà cần có những Kỹ năng mềm cần thiết. Học sinh độ tuổi THPT là giai đoạn chuẩn bị bước ra cuộc đời nên là thời điểm quan trọng để giáo dục các em những Kỹ năng mềm. Đó là sự cần thiết để các em có đủ hành trang bước vào đời và thành công trong tương lai sau này.

Những hoạt động giáo dục ngoài giờ giúp học sinh thấy được tầm quan trọng của các Kỹ năng mềm đối với lứa tuổi học sinh. Từ đó góp phần thúc đẩy mối quan hệ tích cực giữa học sinh với giáo viên, đem đến hứng thú học tập, giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống trong cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tích cực với mọi người xung quanh, sống lành mạnh, chủ động trong cuộc sống.

2. Thực trạng của vấn đề

2.1. Thực trạng giáo dục Kĩ năng sống và Kĩ năng mềm cho học sinh phổ thông hiện nay

Thông báo 242-TB/TW ngày 15/4/2009 của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020, đã nêu một trong những hạn chế của giáo dục phổ thông như sau: “Giáo dục phổ thông mới chỉ quan tâm nhiều đến “dạy chữ”, chưa quan tâm đúng mức đến “dạy người”, kỹ năng sống và “dạy nghề” cho thanh thiếu niên”.

Theo Điều 2 của Luật Giáo dục năm 2005, mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, nội dung và phương pháp giáo dục trong các nhà trường hiện nay là còn xem trọng việc dạy kỹ năng cứng (hard skills) – trí tuệ logic để chỉ trình độ chuyên môn, kiến thức chuyên môn hay bằng cấp và chứng chỉ chuyên môn.

Bộ và Sở Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức nhiều lớp tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ quản lý, giáo viên về giáo dục KNS cho học sinh phổ thông; hướng dẫn tích hợp giáo dục KNS vào các địa chỉ qua một số môn học và hoạt động giáo dục ở các cấp học phổ thông.

Nhìn chung cán bộ quản lý và giáo viên trong các trường phổ thông đã bước

đầu làm quen với thuật ngữ “kỹ năng sống”, mặc dù mức độ hiểu biết có khác nhau.

13

Một số hoạt động giáo dục KNS đã được đa số các trường chú ý thực hiện trong khuôn khổ và yêu cầu của Phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động.

Giáo dục KNS từ nhà trường cũng như qua các phương tiện thông tin đại chúng

đã thu hút được sự chú ý và hưởng ứng của xã hội, của phụ huynh học sinh.

Hình thức tổ chức giáo dục KNS đã bước đầu được thực hiện trong một số môn học, thông qua hoạt động ngoại khoá và các hoạt động trải nghiệm với nội dung khá đa dạng.

Ở trường Phổ thông, do còn tồn tại quan điểm “Thi gì học nấy “ nên các em học sinh thường tập trung vào việc học tập các môn học theo khối của mình. Cùng với sự động viên và định hướng từ phía gia đình, đại bộ phận các em quan niệm việc “ Học để thi” là chính. Kết quả học tập và điểm số thi cử thường được quan tâm nhiều hơn. Trong khi thực tế cho thấy người thành đạt chỉ có 25% là do những kiến thức chuyên môn, 75% còn lại được quyết định bởi những Kỹ năng mềm họ được trang bị. Người giáo viên, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm cần giúp cho học sinh hiểu được “chìa khóa “dẫn đến thành công thực sự là các em phải biết kết hợp cả hai kỹ năng này một cách khéo léo.

Khi xây dựng chương trình dạy học, nội dung dạy học trên lớp, giáo viên đều phải xây dựng 3 mục tiêu: cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành thái độ. Đây là yêu cầu mang tính nguyên tắc trong dạy học và giáo viên đều nhận thức sâu sắc yêu cầu này. Tuy nhiên, có thể nói rằng do phải chạy theo thời gian, phải chuyển tải nhiều nội dung trong khi thời gian có hạn, giáo viên có khuynh hướng tập trung cung cấp kiến thức mà ít quan tâm rèn luyện kỹ năng cho học sinh, nhất là kỹ năng ứng xử với xã hội, ứng phó và hòa nhập với cuộc sống.

Thời gian gần đây, giáo dục KNS cho học sinh được quan tâm nhiều hơn. Giáo dục KNS cho học sinh phổ thông hiện nay không bố trí thành một môn học riêng trong hệ thống các môn học của nhà trường phổ thông bởi KNS phải được giáo dục ở mọi lúc, mọi nơi khi có điều kiện, cơ hội phù hợp. Do đó, giáo dục KNS phải thực hiện thông qua từng môn học và trong các hoạt động giáo dục. Vì vậy, cơ hội thực hiện giáo dục KNS rất nhiều và rất đa dạng. Có thể đề cập tới một số phương thức tổ chức sau: Thông qua dạy học các môn học; qua chủ đề tự chọn; qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; qua hoạt động trải nghiệm.

Sự phối hợp chặt chẽ giáo dục KNS với các hoạt động giáo dục vốn đã được lồng ghép vào chương trình giáo dục qua các môn học như: giáo dục công dân, ngữ văn, lịch sử,… từ nhiều năm nay như giáo dục bảo vệ môi trường, phòng chống ma tuý, giáo dục pháp luật, sức khỏe sinh sản vị thành niên, … tạo nhiều cơ hội và điều

14

kiện để triển khai giáo dục KNS. giáo dục chăm sóc sức khỏe vị thành niên, kỹ năng giao tiếp, phòng cháy chữa cháy.

Thời gian qua, dù giáo dục KNS có được quan tâm nhưng hiệu quả vẫn còn

nhiều hạn chế thể hiện qua thực trạng về KNS của học sinh còn nhiều khiếm khuyết.

Tình trạng học sinh thiếu KNS vẫn xảy ra, biểu hiện qua hành vi ứng xử không phù hợp trong xã hội, sự ứng phó hạn chế với các tình huống trong cuộc sống như: ứng xử thiếu văn hóa trong giao tiếp nơi công cộng; thiếu lễ độ với thầy cô giáo, cha mẹ và người lớn tuổi; chưa có ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh công cộng, gây phiền hà cho người khác khi sử dụng điện thoại di động, ....

Khi thực hiện giáo dục KNS, giáo viên còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng (chưa có tài liệu cho giáo viên và học sinh, tiêu chí đánh giá chưa cụ thể,…). Tổ chức giáo dục KNS có những đặc thù riêng khác với các hoạt động giáo dục khác, nội dung giáo dục không chỉ diễn ra trong môn học mà còn thông qua một số hoạt động khác (hoạt động ngoài giờ lên lớp, câu lạc bộ,...) cho nên phải tính đến cơ sở vật chất, kinh phí để thực hiện.

- Giáo viên quen với việc tập trung cung cấp kiến thức mà không hoặc ít quan tâm giáo dục KNS cho học sinh.

2.2. Thực trạng giáo dục Kĩ năng sống và Kĩ năng mềm cho học sinh trường THPT Huỳnh Thúc Kháng

Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng nằm ở số 62, đường Lê Hồng Phong, TP Vinh. Đây là một mái trường có bề dày truyền thống về nề nếp và học tập, là địa chỉ tin cậy của phụ huynh học sinh trên địa bàn thành phố Vinh và một số địa phương trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Hiện nay trường có tổng số 43 lớp với gần hai nghìn học sinh trên địa bàn thành phố Vinh.

Trải qua 100 năm xây dựng và phát triển, Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng luôn phát huy truyền thống dạy tốt - học tốt, luôn là ngọn cờ đầu trong các phong trào thi đua của Ngành giáo dục Nghệ An, và đặc biệt là trường THPT đầu tiên của tỉnh Nghệ An được tặng danh hiệu Anh hùng Lao động.

Cơ sở vật chất của trường khá tốt so với mặt bằng các trường phổ thông trong

tỉnh và ngày càng được trang bị công nghệ tiên tiến hỗ trợ cho việc dạy học .

Nội quy giáo dục học sinh cụ thể, rõ ràng, đúng theo pháp luật

Học sinh học trường THPT Huỳnh Thúc Kháng chủ yếu có kết quả học lực khá- giỏi, hạnh kiểm khá- tốt ở trường THCS, vì thế phần lớn học sinh đều ngoan, có ý thức thực hiện nội quy trường lớp, có tinh thần trách nhiệm với tập thể, yêu trường lớp và thích hoạt động tập thể. Bên cạnh đó, nhà trường có đội ngũ giáo viên trẻ, có

15

tâm huyết, yêu nghề và ý thức tốt trong hoạt động giáo dục. Cùng với những thuận lợi đó, phụ huynh HS của trường rất quan tâm, sát cánh cùng giáo viên trong việc giáo dục con em mình.

Đoàn thanh niên và các tổ chức câu lạc bộ trong nhà trường hoạt động tích cực và có hiệu quả giáo dục cao. Các đội nhóm thanh niên phát huy được lợi thế của nhà trường và thúc đẩy các phong trào trong và ngoài nhà trường.

Học sinh sống ở thành phố từ nhỏ đã tham gia nhiều các sân chơi và hoạt động tập thể nên kỹ năng sống khá tốt. Có nhiều tấm gương học tập nghiên cứu khoa học cũng như các lĩnh vực khác của đời sống như văn hóa nghệ thuật để các em noi theo và phấn đấu. có những gương mặt tiêu biểu , những người có ảnh hưởng nhiều tới đời sống tinh thần của các em.

Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn những khó khăn, hạn chế có tác động không nhỏ đến sự hình thành Kĩ năng mềm của học sinh. Vẫn còn một bộ phận học sinh hạn chế: nhút nhát, ngại giao tiếp, do điều kiện gia đình có kinh tế hoặc được bố mẹ bảo bọc từ nhỏ nên còn ỷ lại, thụ động và gặp khó khăn trong hòa nhập tập thể. Nhiều em còn đua đòi và theo xu hướng tiêu cực trên mạng xã hội. HS của trường đa phần được sự quan tâm của gia đình, tâm lí của của phụ huynh nói chung muốn dành cho con em mình những điều kiện tốt nhất để học tập, sinh hoạt. Phụ huynh thường “rải thảm” cho con em mình, không muốn con em mình vất vả. Bởi vậy, trong hoạt động lao động, vệ sinh trường lớp, chăm sóc khu di tích…theo chương trình của nhà trường, phụ huynh không muốn con em mình tham gia. Nếu buổi lao động, sinh hoạt tập thể trùng với lịch học thêm ngoài trường thì phụ huynh thường chủ động xin cho các cháu nghỉ, điều đó hình thành thói quen và tinh thần tập thể thiếu tích cực ở các em. Hệ quả sự “nuông chiều” của phụ huynh đã khiến nhiều học sinh sống ích kỉ, hẹp hòi, thích hưởng thụ, không biết quan tâm đến mọi người, kĩ năng giao tiếp, ứng xử tình huống kém…Hơn nữa, học sinh của trường trên địa bàn thành phố Vinh nói chung, trường THPT Huỳnh Thúc Kháng nói riêng còn tham gia học thêm ngoài trường quá nhiều, các em không có thời gian để tham gia nhiều các hoạt động xã hội khác.

BẢNG KHẢO SÁT VIỆC HỌC THÊM VÀ THAM GIA CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA CỦA HỌC SINH

Tham gia các Câu lạc bộ, đội, nhóm

Học thêm trong và ngoài nhà trường hàng tuần Hoạt động rèn luyện sức khỏe, kĩ năng hàng tuần Lớp Sĩ số

Số lượng hs Số CLB Số người tham gia Số buổi Số người tham gia Số buổi

16

1 1 25 (55%) 18 ( 40%)

A2 K99 45 91% 8 2 8 (17,8%) Từ 2 12 ( 26,7 %)

0 Từ 3 3 (6,7 %) 15 (33,3 %)

1 1 20 ( 45,5%) 21 ( 47,7 %)

7 D1 K100 44 95% 2 15 (34,1%) Từ 2 10 (22,1 %)

Từ 3 5 ( 11,1%) 0 13 ( 30,2%)

Thông quan Bảng khảo sát ta có thể thấy rõ các em học sinh dành phần lớn thời gian cho việc học thêm ngoài giờ học chính khóa. Và gần như cả lớp đều đi học thêm với tần suất cao.

Trong khi đó, mặc dù số lượng các em tham gia vào các Câu lạc bộ trong và ngoài nhà trường ở cả hai lớp khá ổn định nhưng những hoạt động của cá nhân tham gia trải nghiệm rèn luyện sức khỏe và các kĩ năng trong cuộc sống thì lại rất thấp. Và cũng có không ít học sinh không có bất cứ thêm một hoạt động gì ngoài việc học văn hóa.

2.2.1. Từ phía BGH nhà trường

Ban giám hiệu luôn đồng hành cùng giáo viên chủ nhiệm và các giáo viên nhân viên trong nhà trường thống nhất quan điểm song hành giáo dục văn hóa và giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.

Các hoạt động ngoại khóa và các tiết học ngoài giờ lên lớp cũng xen kẽ việc

giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.

Xây dựng nhà trường có môi trường học đường thân thiện cởi mở và đoàn kết

nhân ái.

2.2.2. Từ phía giáo viên

Giáo viên trong trường luôn có sự ủng hộ động viên đối với các em học sinh tham gia vào các hoạt động ngoại khóa, các câu lạc bộ trong ngoài nhà trường nhằm giúp các em cải thiện tích cực những kĩ năng sống của bản thân. Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh cũng được lồng ghép trong quá trình giảng dạy tùy vào đặc thù của môn học.

2.2.3. Từ phía học sinh

Các em học sinh luôn nhận được sự ủng hộ của Ban giám hiệu nhà trường cùng các thầy cô giáo nên các em tự tin thể hiện mình, mạnh dạn tổ chức thực hiện các hoạt 17

động nhằm nâng cao kĩ năng sống cho bản thân và góp phần nâng cao vị thế của nhà trường.

Có nhiều chương trình sự kiện được các em tổ chức thường niên, kết nối học sinh các khóa và giao lưu với học sinh trên địa bàn thành phố ví dụ như Radio 196X, Lễ Tri ân và trưởng thành, Giờ Trái đất 60+, chương trình “ Hòa nhịp con tim” ở trung tâm khuyết tật, Thắp nến tri ân các anh hùng liệt sĩ, chương trình “ Trung thu thắp sáng yêu thương” ở làng trẻ SOS, chương trình “ Xuân Yêu Thương” ở Bệnh viện Ung bướu, Thu gom sách vở tặng cho các bạn học sinh miền núi, Hành trình về nguồn, chương trình Tiếp sức mùa thi, Bước chân xanh bảo vệ môi trường… cùng nhiều hoạt động ngoại khóa khác.

Stt Số lượng thành viên các Câu lạc bộ trong trường Huỳnh Thúc Kháng

Câu lạc bộ Năm học 2019 - 2020 Năm học 2020 - 2021

Nhóm Bút HTK 80 1 94

Thanh niên tình nguyện 173 2 193

Đội xung kích 42 3 44

Đội nề nếp 42 4 43

BOC (CLB Nhảy) 30 5 36

HGC (CLB Đàn hát) 71 6 120

HCDC (CLB Múa) 21 7 40

HDC (CLB Tranh biện) 25 8 43

HBC (CLB Bóng rổ) 49 9 80

HEC (CLB Tiếng Anh) 105 10 231

11 HFC (CLB Bóng đá) 32 32

12

HMU (CLB Mô phỏng Liên hợp Quốc) Đang trong quá trình thử nghiệm

13 HIGGS (CLB Khoa học) Đang trong quá trình thử nghiệm

18

Từ số liệu của bảng khảo sát có thể thấy sự gia tăng về mặt số lượng câu lạc bộ cũng như các thành viên trong đội nhóm. Tuy nhiên số lượng các em tham gia vào câu lạc bộ hay đội nhóm hoạt động bổ trợ cho kĩ năng trong cuộc sống còn rất ít so với tổng số gần hai nghìn học sinh trong nhà trường.

3. Đề xuất giải pháp

3.1. Chú trọng những kĩ năng cần rèn luyện đối với học sinh THPT

Vì mối quan hệ giữa Kĩ năng sống và Kĩ năng mềm là sự bao hàm, đan xen và lồng ghép có tính tương hỗ, gắn bó khăng khít với nhau nên trong đề tài này chúng tôi không phân chia kĩ năng theo từng khái niệm mà đưa ra những kĩ năng cơ bản nhất cần rèn luyện cho học sinh phổ thông.

3.1.1. Kỹ năng thuyết phục, truyền đạt, tự tin trước đám đông

Kỹ năng thuyết phục, truyền đạt là kỹ năng quan trọng bậc nhất trong các loại kỹ năng mềm. Học sinh có ý tưởng, có kiến thức nhưng nếu không thể nói cho người khác hiểu; không thể thuyết phục được người khác tin thì mọi điều là vô nghĩa.

Không phải học sinh có kiến thức là truyền đạt tốt. Việc truyền đạt và thuyết phục cần vận dụng rất nhiều kiến thức và sự khổ công rèn luyện. Nói để người khác nghe, để người khác hiểu, và để người khác tin là câu chuyện hoàn toàn khác nhau. Ngữ cảnh, thông tin, luận cứ, luận chứng, tốc độ nói, cường độ nói, ngôn ngữ cơ thể… Quyết định đến kết quả cần đạt sau cùng.

3.1.2. Kỹ năng giao tiếp, điều chỉnh và quản lí cảm xúc

Giao tiếp và truyền đạt là hai khái niệm khác nhau. Trong khi truyền đạt có tính một chiều, còn giao tiếp là sự tương tác qua lại. Truyền đạt có sự chuẩn bị từ trước, còn giao tiếp có tính phát sinh liên tục. Giao tiếp có người nói và có người nghe. Chính vì vậy bạn cần có kỹ năng lắng nghe, phân tích, đưa ra câu trả lời nhanh chóng và thuyết phục.

Kỹ năng giao tiếp được vận dụng thường xuyên trong cuộc sống thường ngày. Nó giúp bạn xây dựng các mối quan hệ, giải quyết mâu thuẫn, tăng tính gắn kết. Từ câu chuyện đời thường, cho đến giao tiếp công việc với đồng nghiệp. Mọi việc bạn đều cần sử dụng từ ngữ một cách linh hoạt tạo ra ấn tượng qua lời nói và cử chỉ.

Kỹ năng giao tiếp giữa các cá nhân trong nhà trường: giúp học sinh biết thiết lập tình bạn trong sáng với nhu cầu cần có nhiều bạn bè để chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, ước mơ khát vọng… trong thời học sinh. Tình bạn rất cần thiết để giúp mỗi người trở nên tốt hơn, nhưng cũng cần có thái độ dứt khoát khước từ kiểu tình bạn đưa chúng ta sa vào những cám dỗ, cạm bẫy không cần thiết hoặc tiềm ẩn sự nguy hiểm.

19

Trong tình bạn cần sự thông cảm, biết đoàn kết, yêu thương và luôn biết coi hoàn cảnh của người khác như chính mình để giúp đỡ nhau, hỗ trợ nhau vượt qua những sự cố, hoàn cảnh rắc rối đang diễn ra trong cuộc sống. Cần phải đứng vững trước những lôi kéo của bạn bè, biết bảo vệ những giá trị và niềm tin của bản thân nếu phải đương đầu với những ý nghĩ hoặc việc làm sai trái của bạn bè. Phải biết dừng lại, dứt khoát không chấp nhận đối với những sai lầm của bạn, biết bảo vệ quyết định của mình, đồng thời phân tích khuyên nhủ bạn bè hành động đúng, tích cực phù hợp với chuẩn mực đạo đức của xã hội.

Trong tình yêu: Đối với học sinh phổ thông đây, thường là tình cảm đầu đời, đó là những rung động mãnh liệt của cảm tính, ít có sự tham gia của lý trí. Vì vậy cần phải giữ gìn tình yêu trong sáng, tình yêu phải trở thành động lực tiếp thêm sức mạnh trong việc học tập rèn luyện tu dưỡng để trở nên tốt hơn. Biết cách ngăn chặn, từ chối tình yêu ích kỷ, những biểu hiện khi yêu thì xa lánh bạn bè, trốn học đi chơi, bỏ bê việc học tập, không tham gia các hoạt động tập thể… đặc biệt kiên quyết chống lại việc đi quá xa, vượt quá giới hạn cho phép, kiểu sống thử… gây hậu quả xấu và những hệ lụy khôn lường trong cuộc sống.

Trong học tập: đứng trước những căng thẳng, áp lực của việc học tập các em cần phải có bản lĩnh, có nghị lực, có ý chí vươn lên, tự nhận thức điểm mạnh điểm yếu của mình để khắc phục. Khi gặp các vấn đề khó khăn cần tham khảo sách vở, trao đổi với bạn bè, hỏi thầy cô để giải quyết. Trong quá trình học tập cần chủ động nắm vững 3 cấp độ: tái hiện, thông hiểu và vận dụng. Cần bố trí thời gian hợp lý, có kế hoạch học tập và thời gian vui chơi giải trí, sinh hoạt tập thể.

Trong quan hệ ứng xử với thầy cô, bạn bè và những người xung quanh cần thể hiện là người có đạo đức, có văn hóa, có lòng tin và ý thức trách nhiệm với bản thân và tư thế của người học sinh. Khi có mâu thuẫn, va chạm, bất đồng cần phải bình tĩnh, biết kiềm chế hành vi để giải quyết những xung khắc bằng thương lượng, hòa giải tránh việc giải quyết bằng bạo lực.

3.1.3. Kỹ năng thoát hiểm, kỹ năng ứng phó, ứng biến:

Khi gặp các tình huống nguy hiểm cần phải biết thoát ra khỏi nơi nguy hiểm một cách an toàn và hiệu quả, những tình huống như: hỏa hoạn, bão lụt, tai nạn xảy ra thương tích, bị xâm hại hay bị bắt cóc … nhiều tình huống chưa phải là nguy hiểm nhưng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cần phải biết cách ứng xử phù hợp để hạn chế thiệt hại cho bản thân.

3.1.4. Kỹ năng làm việc nhóm, hợp tác, và chia sẻ

Đây là kĩ năng rất quan trọng đối với học sinh vì thực tế hiện nay ngay cả viêc học tập các em cũng thường xuyên được giao các nhiệm vụ theo nhóm. Mỗi cá nhân

20

không thể tự mình hoàn thành tất cả mọi việc, chính vì vậy các em cần có kỹ năng làm việc nhóm.

Làm việc nhóm không chỉ là phân công công việc, tổ chức làm việc hiệu quả. Đôi khi nó còn là khả năng xử lý mâu thuẫn, kết nối mọi người. Trước tiên để có thể làm việc nhóm hiệu quả các em học sinh cần có tinh thần hợp tác, năng lượng và hỗ trợ. Nếu cá nhân học sinh làm việc quá độc lập các em dễ bị tách ra và trở nên cô lập.

3.1.5. Kỹ năng xác lập mục tiêu, lên kế hoạch và tạo động lực cho bản thân

Nếu muốn đạt được thành công, mỗi người cần phải đặt ra mục tiêu để quản trị cuộc đời của mình. Nếu không có mục tiêu, ta sẽ thiếu tập trung và định hướng. Thiết lập mục tiêu không chỉ giúp chúng ta điều khiển định hướng của cuộc sống mà còn là chuẩn mực để xác định xem ta có đang thực sự thành công hay không.

Mỗi em học sinh cần nhận thấy tầm quan trọng của việc lập kế hoạch để có kế hoạch học tập và cuộc sống của bản thân. Việc lập kế hoạch cũng giúp các em hình thành thói quen tốt. Nó giúp cho các em trong tương lai có thể tính toán những rủi ro có thể phát sinh và chuẩn bị tốt cho công việc sắp tới

Làm việc có kế hoạch đồng nghĩa với tính kỷ luật và tuân thủ. Rèn luyện cho học sinh cách để lập kế hoạch trước tiên là với bản thân mình và nghiêm túc thực hiện nó.

3.1.6 Kỹ năng nhận thức, đánh giá bản thân và đánh giá người khác.

Tự nhận thức bản thân được hiểu là khả năng hiểu rõ được bản thân cần gì, mong muốn gì, tự nhận thấy được con người mình sống ra sao, đâu là thế mạnh của mình, điểm yếu của mình là gì, nhận thức được tư duy, cảm xúc của chính bản thân mình trước cuộc sống. Tự nhận thấy bản thân phải bổ sung hoàn thiện như thế nào trong quá trình rèn luyện hoặc dựa trên sự đánh giá của người khác mà bản thân nhìn nhận lại mình xem có đúng hay không và đưa ra phương án tốt nhất cho các bạn. Kỹ năng tự nhận thức là một kỹ năng sống cơ bản và cần có để sống trong xã hội hiện đại.

Kỹ năng đánh giá bản thân là kỹ năng sống mà cần có trong việc tu dưỡng nhân cách các bạn trẻ là khả năng đánh giá bản thân trong các lĩnh vực, hành động do chính bản thân làm, đánh giá bản thân đã thực sự làm tốt chưa, tâm huyết và theo đuổi mục tiêu tới cùng không. Khác với kỹ năng tự nhận thức bản thân, kỹ năng đánh giá bản thân thường dựa trên kết quả mà bản thân làm được, hoặc dựa trên những đặc điểm sẵn có mà bản thân có như năng khiếu, điểm mạnh điểm yếu để không ngừng hoàn thiện. Đánh giá bản thân có chính xác không là cần có sự nhìn nhận sâu rộng, am hiểu và lối sống tích cực nhất.

21

Kỹ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân luôn có sự tương quan với nhau, đều là những lời nhận xét của chính mình về bản thân mình, tự nhìn nhận và đánh giá giúp các bạn phát hiện được những điều yêu thích của bản thân và kỹ năng đó là cần thiết trong quá trình phục vụ công việc của mình, từ việc thuyết trình hay đơn xin học bổng, vân vân.

Tự nhận thức và đánh giá bản thân là nền tảng hỗ trợ con người trong việc giao tiếp ứng xử phù hợp với con người, trước tiên là cha mẹ, thầy cô, bạn bè và những người xung quanh. Tự nhận thức được bản thân nên nói gì, và nội dung đem lại có phù hợp với hoàn cảnh không và đánh giá bản thân trong việc truyền đạt và kết quả nhận được là sự hài lòng của người đối diện không. Kỹ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân giúp mọi người biết được điểm mạnh, điểm yếu trong cách giao tiếp để có phương án ứng xử tốt nhất và đem lại hiệu quả cao.

Kỹ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân tốt giúp con người sống nhân ái, có thái độ cư xử đúng mực hơn. Làm chủ được suy nghĩ hành động của bản thân, tự nhận thức được sự cảm thông chia sẻ trước những người có hoàn cảnh khó khăn để đưa ra những hành động thiết thực nhất, đánh giá bản thân về việc trao yêu thương cho mọi người là công việc tốt nên làm.

Kỹ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân một cách chính xác giúp mỗi người hiểu đúng đắn về con người mình, hiểu được lý do tại sao mình làm như thế, mình có thái độ như thế với người khác, từ đó có những quyết định và lựa chọn phù hợp nhất với khả năng bản thân, điều kiện xã hội, biết được bản thân yêu thích gì, công việc nào để không ngừng phấn đấu đạt mục tiêu.

Tập cho học sinh thói quen trả lời câu hỏi “ Bạn thực sự muốn và làm gì”

Hãy học cách chấp nhận và thích nghi : Đừng thấy thất bại trước mắt mà mất niềm tin và hy vọng trong cuộc sống, cũng như dễ dàng bỏ cuộc mọi thứ. Không có thành công nào mà không có thất bại, không con đường nào là không có chông gai, mọi vấn đề cuộc sống xảy ra không bao giờ biết trước được cũng như không bao giờ theo ý muốn của các bạn. Hãy có sự nhìn nhận và xem xét về những nguyên nhân gây ra thất bại để có sự thay đổi về tính cách tâm hồn sao cho phù hợp, thay đổi để mang lại niềm hạnh phúc cho bản thân, để tạo ra những bước đi mới trong cuộc đời các bạn.

Hãy hình thành những thói quen thích nghi và chấp nhận từ những điều nhỏ nhặt như chấp nhận trước kết quả học tập chưa cao, thích nghi với môi trường mới với điều mới mẻ mới, các kỹ năng sống của các em sẽ nâng cao hơn và bản thân các em sẽ là người tự đánh giá được sự thay đổi đó.

Trong cuộc sống, mỗi người một quan điểm, suy nghĩ riêng của mình. Cần biết bản thân cần gì trong xã hội hiện đại cũng như cần biết mình phải hành động như nào

22

để đáp ứng những nhu cầu xã hội, hãy tôn trọng bản thân, vượt lên ý kiến người khác, giữ quan điểm đúng đắn của mình, không ngừng học hỏi và trau dồi tri thức. Tất cả là cơ sở để bạn rèn luyện cho bản thân kỹ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân, một kỹ năng cần thiết và quan trọng đối với những con người hiện đại.

3.1.7. Kỹ năng tìm kiếm và học hỏi.

Với tốc độ phát triển chóng mặt của công nghệ, kiến thức mới cũng tăng lên theo cấp số nhân. Và các nhiệm vụ yêu cầu của việc học tập cũng như những vấn đề trong cuộc sống ngày càng nhiều và phức tạp hơn, rất cần các em có khả năng tìm kiếm. Các em không thể bắt kịp được xu hướng nếu không có kỹ năng tìm kiếm thông tin và học hỏi cái mới.

Nhiều em thực sự yếu ở khâu tìm kiếm; và rất nhiều trong số đó khi gặp vấn đề thường chỉ đi hỏi những người xung quanh. Người giáo viên cần hướng các em chủ động tìm kiếm thông tin; không chờ đợi bạn bè hoặc phụ thuộc thầy cô, đôi khi cả cha mẹ truyền đạt lại kiến thức. Các em cần phải là người tiên phong dẫn đầu. Một tinh thần học hỏi không ngừng cũng là vô cùng cần thiết. Ngừng học hỏi là ngừng phát triển; Việc học tập trên lớp luôn song hành cùng tinh thần tự học hỏi đào sâu kiến thức của mỗi một học sinh.

3.1.8. Kỹ năng hoạt động trải nghiệm:

Trong nhà trường không chỉ tiếp thu những kiến thức khoa học phổ thông nền tảng mà còn phải trang bị kỹ năng sống cơ bản để học sinh có năng lực hòa nhập vào cuộc sống xã hội. Một trong những biện pháp là tận dụng thế mạnh của các hoạt động trải nghiệm do nhà trường tổ chức như: tổ chức mít tinh, tổ chức thi đấu thể thao, văn nghệ, cắm trại, đi du lịch, hội nghị học tốt và các sinh hoạt khác… Quá trình học sinh tham gia vào các hoạt động trải nghiệm là quá trình các em đặt mình vào một hoạt động thực tiễn giúp các em nâng cao nhận thức, hình thành các kỹ năng, hình thành phát triển thái độ, ý thức tập thể một cách vững chắc .

Khi học sinh được trang bị kỹ năng sống đúng đắn, lành mạnh các em sẽ có đời sống tinh thần vui tươi thoải mái sẽ trưởng thành, cảm nhận được mái trường là môi trường thân thiện đáng yêu, nơi gắn bó và lưu giữ những kỷ niệm êm đẹp về tuổi ấu thơ không bao giờ trở lại. Các hình thức giáo dục trên sẽ tạo ra môi trường tốt để các em học tập rèn luyện để trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời đó cũng là cách thực hiện nguyên lý và phương châm giáo dục của Đảng.

3.2. Cách tổ chức thực hiện

3.2.1. Cách thức chung

Giáo dục Kỹ năng mềm thông qua các hoạt động của trường, lớp

23

Những bài học về Kỹ năng mềm có thể được lồng ghép trong các tiết chào cờ, sinh hoạt lớp, sinh hoạt tập thể của trường bằng những cách thức hoạt động cụ thể như: Tạo hoạt cảnh, hỏi – đáp, trò chơi, đóng vai theo tình huống bằng hình thức sân khấu hóa giúp hoạt động trở nên sinh động, thú vị thu hút các em tham gia. Nhờ đó, học sinh tiếp thu nhanh chóng các kiến thức được truyền đạt.

Giáo dục Kỹ năng mềm thông qua sổ tay tuyên truyền

Hiện nay, các trường có thể đặt mua những cuốn sổ tay giáo dục Kỹ năng mềm trên thị trường. Nội dung của sổ tay rất hữu ích với học sinh, tuyên truyền bao gồm các kiến thức về kỹ năng sống, Kỹ năng mềm cần rèn luyện, cách thức rèn luyện. Cuốn sổ tay nhỏ dễ mang theo bên mình, nội dung dễ đọc, dễ tiếp thu sẽ có tác dụng rất tốt trong việc kết hợp giáo dục Kỹ năng mềm cho học sinh THPT.

Tạo điều kiện cho học sinh tham gia các hoạt động bề nổi

– Sinh hoạt văn hóa nghệ thuật: Hoạt động văn hóa nghệ thuật bao gồm nhiều thể loại khác nhau như: Hát, múa, thơ ca, kịch ngắn, kịch câm, thi kể chuyện,.. nhằm góp phần hình thành cho các em sự mạnh dạn, tự tin trước đám đông, rèn luyện kỹ năng thể hiện bản thân.

– Hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh, hội trại, thể dục thể thao: Hoạt động này sẽ góp phần giúp các em rèn luyện kỹ năng làm việc, hoạt động tập thể. Qua đó, các em được thể hiện bản thân, rèn luyện khả năng ứng phó nhiều tình huống, tự tin hơn trong giao tiếp đặc biệt là rèn luyện kỹ năng hoạt động nhóm, kỹ năng hợp tác, tư duy tích cực và sáng tạo.

– Hoạt động xã hội, lao động công ích: Thông qua hoạt động này, học sinh sẽ hiểu thêm về giá trị lao động, biết vận dụng kiến thức vào đời sống. Các em có thể thích nghi với cuộc sống xung quanh ở nhiều hoàn cảnh khác nhau. Các em được hòa mình vào đời sống xã hội, có tinh thần tập thể, sống có trách nhiệm với cộng đồng, biết chia sẻ và cảm thông.

– Tham gia tiếp cận khoa học – kỹ thuật: Những hoạt động như tìm hiểu các danh nhân, các nhà khoa học, tham gia thi hỏi đáp về các kiến thức về khoa học, kỹ thuật sẽ rèn luyện cho học sinh kỹ năng nghiên cứu khoa học và tự khẳng định mình. Qua đó, các em có thêm nhiều kiến thức về khoa học, kỹ thuật cũng như xã hội. Những hoạt động ngoài giờ tạo điều kiện cho học sinh trải nghiệm, tương tác thực tế với nhiều đối tượng, trải nghiệm qua nhiều hoàn cảnh, qua đó rèn luyện các Kỹ năng mềm cần thiết cho cuộc sống.

Xây dựng các câu lạc bộ học sinh

Tổ chức các câu lạc bộ chuyên đề trong học sinh là một biện pháp hữu hiệu để hình thành Kỹ năng mềm cho các em học sinh. Những câu lạc bộ chuyên đề với hoạt 24

động tích cực thu hút các em tham gia vào nhiều loại hình hoạt động ngoài giờ lên lớp, giúp các em lĩnh hội các giá trị sống và rèn luyện các kỹ năng cần thiết.

Những câu lạc bộ được thành lập, tổ chức và hoạt động ngay trong môi trường nhà trường THPT như: CLB Bóng rổ, CLB Tiếng Anh, CLB Dancesport, CLB Bóng bàn, CLB báo chí, CLB sức khỏe giới tính, Câu lạc bộ MC, câu lạc bộ thủ lĩnh đoàn, câu lạc bộ thanh niên tình nguyện… Mõi CLB có cách thức và nội dung hoạt động khác nhau, có khẩu hiệu và cả quy chế hoạt động riêng. Tham gia các câu lạc bộ này, các em học sinh sẽ trở thành những thành viên tích cực, hoạt động vì một mục đích chung. Các em được hòa mình vào một tập thể có chung sở thích, sở trường nên có thể thỏa sức thể hiện thế mạnh của bản thân. Nhờ đó mà qua các câu lạc bộ, nhiều học sinh nhút nhát trở nên mạnh dạn hơn.

Chưa kể đến, nhiều câu lạc bộ còn yêu cầu thành viên phải có những hoạt động tích cực, nhất là tham gia những hoạt động xã hội, tình nguyện, những hoạt động tập thể mang tính chất thể mỗi cá nhân phải thể hiện được mình mạnh mẽ, bản lĩnh, tự tin và dám nghĩ dám làm như các câu lạc bộ người dân chương trình, thủ lĩnh đoàn, thanh niên tình nguyện. Tham gia những hoạt động này, các em từng bước tự rèn luyện mình trở thành một con người trưởng thành, bản lĩnh hơn, sống có trách nhiệm với người thân, gia đình và xã hội. Kỹ năng mềm được rèn luyện chính từ những hoạt động hữu ích đó.

3.2.2. Cách thực hiện cụ thể

Các bước thực hiện: Khám phá - kết nối - thực hành - vận dụng.

Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thường gắn với một bối cảnh để học sinh có thể hiểu và thực hiện một cách cụ thể, đi liền với một tình huống sư phạm mà giáo viên chủ nhiệm lớp thường là người tham gia cùng với học sinh giải quyết vấn đề để từ đó học sinh hình thành được kĩ năng sống cho mình. Chính vì vậy, người chủ nhiệm cũng là người thấy được rõ nhất sự chuyển biến hành vi, thái độ hoạt động của học sinh.

Các Mục đích Mô tả quá Vai trò của GV - HS

bước trình thực hiện

1. Khám phá

- GV phân công nhiệm vụ phù hợp với năng lực học sinh

- GVCN đóng vai trò khởi động, đưa ra các tình huống, nêu vấn đề, ghi nhận, cầu nối…

- HS lập kế hoạch thực hiện nhiệm vụ.

-HS hưởng ứng, chia sẻ, trao đổi, xử lí thông - HS trình bày ý tưởng, - Kích thích học sinh tìm hiểu cách giải quyết một vấn đề, một tình huống phát sinh trong nhiệm vụ mới của học sinh:

25

tin, ghi chép.

Biện pháp chính: kế họạch và biện pháp thực hiện nhiệm vụ được giao + Tư vấn tâm lí.

- GV giúp HS chỉnh sửa bằng các trải nghiệm hoạt động hội trại, chào mừng ngày 20/11, 26/3, cán bộ lớp, lao động , thi học sinh giỏi, thi học kì… + Xử lí những cảm xúc gây cản trở việc học.

+ Sử dụng kĩ năng mời gọi trẻ hợp tác.

- Đưa ra được kế hoạch và biện pháp thực hiện nhiệm vụ của học sinh tối ưu. + Cùng nhau giải quyết

vấn đề.

2.Kết

- Giới thiệu kế hoạch, quy định nối - GV triển khai kế hoạch mới của nhà trường - GVCN đóng vai trò là người chỉ đạo hoặc quan toà, luật sư…

- lấy ý kiến về việc thực hiện kế hoạch mới của học sinh hướng dẫn học sinh thực hiện. - HS là người phản hồi, trình bày ý kiến, quan điểm, giải thích về hành vi của mình…

- Kiểm tra việc thực hiện của học sinh, phân tích ưu, nhược điểm, hướng học sinh thực hiện theo hướng tích cực. nhà của mới trường, của các tổ chức đoàn thể trong nhà trường thông qua việc tạo cầu nối liên kết giữa cái đã biết về nội quy trường học, thi cử.. với cái mới.

- Xử lí các tình huống phát sinh như đánh nhau, mất đoàn kết, học sút giảm tập nghiêm

trọng…

3.Thực hành

- GV đóng vai trò là người chỉ đạo, hướng dẫn, hỗ trợ.

- Tạo cơ hội cho HS vận dụng vốn của biết hiểu mình, kĩ năng vốn có để giải quyết - GV phân công nhiệm vụ, chuẩn bị hoạt động mà theo đó HS phải sử dụng kĩ năng, hành vi đúng để thực hiện. - HS là người thực hiện. Phương pháp

26

tình huống . thực hiện: làm

+Thảo luận nhóm. - HS theo nhóm hoặc cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ.

+Hoạt động độc lập của HS. - Hướng dẫn học thực hiện sinh tích đúng cách, cực, có ý nghĩa. - GV giám sát mọi hoạt động, điều chỉnh khi cần. +Vấn đáp - gợi mở.

- Điều chỉnh những hành vi còn sai chưa lệch, chuẩn mực. - Khuyến khích HS thể hiện những điều mà các em suy nghĩ và mới học được.

- GV đóng vai trò là người hướng dẫn, giám sát.

- Tạo cơ hội cho học sinh được thể hiện kĩ năng của mình học được trong tình huống mới. 4.Vận dụng

- HS là người thực hiện kế hoạch, người sáng tạo, giải quyết vấn đề và là người đánh giá. - GV cùng với học sinh lập kế hoạch để giải quyết các tình huống phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của lớp, trong việc ổn định nền nếp học đường và phong trào học tập của học sinh. Phương pháp:

+ Hoạt động nhóm.

+ Hợp tác.

+Trình bày cá nhân.

Một số kĩ năng mà học sinh học được thông qua việc giáo dục trong các tình huống sư phạm cụ thể

* Kỹ năng xác lập mục tiêu, lên kế hoạch và tạo động lực cho bản thân

Xây dựng kế hoạch của giáo viên:

Vai trò của Mục đích Quá trình thực hiện

GV - HS

- GV: đóng vai là trò - GV: khi nhận lớp 10, GV có bản điều tra thông tin về mọi mặt của học sinh

- HS xác định mục được tiêu cuộc người tổ +Học lực, hạnh kiểm của cấp THCS.

đời, mục tiêu phấn đấu chức, giám sát. +Những môn học có thế mạnh (sở trường), yếu(sở đoản).

trong từng +Năng khiếu. -HS:là người

27

+Dự định khối thi. thực hiện Phươngpháp: + Dự định ngành nghề, trường thi đại học…

+Mục tiêu phấn đấu ở lớp 10, 11,12. giai đoạn của thân: bản mình sẽ là ai? làm gì? đạt +Hoạt động nhóm. +Kế họach thực hiện mục tiêu của bản thân. được gì trong +Hợp tác.

- HS: hoàn thành bảng thông tin.

+Trình bày cá nhân.

- GV: dựa vào điểm thi vào 10, kết quả kì thi khảo sát kết quả đầu năm, học bạ THCS..sơ lược đã nắm bắt được trình độ học sinh đầu vào của lớp mình và đánh giá được bước đầu:

tương lai và lập kế hoạch hiện thực mục tiêu của mình.

+ HS nào là xác định đúng ( vd HS có sở trường toán, lí, hoá dự thi khối A, toán, lí vẽ dự thi khối V…)

+ giúp HS chuẩn hoá kế hoạch và biện pháp thực hiện mục tiêu từng giai đoạn (vd giúp HS tìm hiểu những kiến thức, thông tin mà em lựa chọn như thông tin về ngành, trường, điểm đầu vào của các năm gần đây, sách tham kháo, kĩ năng cần thiết như giỏi tiếng anh, nhanh nhẹn…)

+ Đối với những HS xác định mục tiêu chưa hợp lí yêu cầu HS tìm hiểu những thông tin mà mình lựa chọn …; từ đó các em nhận ra lựa chọn của mình chưa đúng / đúng và lập kế hoạch thực hiện nó.

* Trong các hoạt động giáo dục cụ thể GVCN tạo cơ hội cho HS được thể hiện khả năng, sở trường của các em để các em khẳng định việc lựa chọn của mình.

Vd: Đoàn trường phát động làm clip Quốc Học trong tôi chào mừng 100 năm thành lập trường. GVCN phân công nhiệm vụ như sau:

- Biên soạn nội dung, viết lời dẫn, sưu tập tư liệu

… cho nhóm học sinh có dự định thi khối C, D lập kế hoạch, biện pháp thực hiện. => GV thẩm

28

định, đánh giá và quyết định giao nhiệm vụ thực hiện.

- Trang trí, bố cục, lồng ghép hình ảnh… giao nhiệm vụ cho nhóm HS có dự định thi môn vẽ như kiến thúc, mĩ thuật…

Áp dụng: Cho học sinh viết sơ yếu lí lịch bản thân

Mẫu Sơ yếu lí lịch:

TRƯỜNG THPT CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

HUỲNH THÚC KHÁNG VIỆT NAM

Lớp …………….. Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

____________________________

PHIẾU LÝ LỊCH HỌC SINH

I. SƠ YẾU LÝ LỊCH:

Họ và tên học sinh:

Ngày, tháng, năm sinh: Nơi sinh:

Giới tính: Tôn giáo: Dân tộc:

Đã tham gia học đối tượng Đoàn: Đoàn viên:

Hộ khẩu thường trú: Số nhà Đường:

Phường:

Đường: Nơi ở hiện nay: Số nhà

Điện thoại: Phường:

Điện thoại liên lạc :

Năm sinh: Họ tên cha:

Chức vụ: Nghề nghiệp:

Đơn vị công tác:

Địa chỉ cơ quan:

Điện thoại liên lạc:

Năm sinh: Họ tên mẹ:

29

Nghề nghiệp: Chức vụ:

Đơn vị công tác:

Địa chỉ cơ quan:

Điện thoại liên lạc:

II. SƠ LƯỢC HOÀN CẢNH VÀ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ:

1. Năm học 2019 – 2020

Học tại trường: Lớp:

Kết quả học tập cuối năm: XL Hạnh kiểm: XL Học lực: TB cả năm:

Điểm thi tuyển sinh vào 10: Toán………Văn……………Anh:…….

Môn học yếu:

Danh hiệu thi đua đạt được (HS Giỏi, HS Tiên tiến, HS Giỏi bộ môn,…):

Chức vụ đã từng làm ở lớp/ trường:……………………

2. Hoàn cảnh gia đình:

Đời sống ổn định  Diện xóa đói giảm nghèo 

Số anh chị em: Trai Gái:… Số đã đi làm: Số còn đi học:

Họ tên anh chị em đang theo học phổ thông:

STT Họ và tên Lớp Trường

1

2

Năng khiếu và sở thích cá nhân (đàn, hát, múa, vẽ, nữ công, TDTT…)? Cấp độ đã đạt được?

- Có ý định du học trong thời gian cấp 3: Có …………. Không…………..

- Đã có chứng chỉ IELTS: Có …………..Điểm: ……………/ Không …….

- Đang học IELTS và chưa thi: có…………….. / không……………

- Đã có chứng chỉ tiếng Anh nào khác:………… ……………

- Mong ước được làm nghề gì trong tương lai:………………………

- Lí do: ………………………………………………………

- Đã có ý thích hoặc dự định học trường Đại học nào :

30

- Cảm xúc và suy nghĩ / ý kiến của em những ngày đầu năm học: ……………….

III. PHẦN TRẢ LỜI CỦA PHỤ HUYNH (yêu cầu ghi rõ ràng và đầy đủ):

1. Những đặc điểm tâm sinh lý cần lưu ý:

* Tính tình:

* Khả năng tiếp thu bài học:

* Tình hình sức khỏe của học sinh:

- Lúc nhỏ có tai biến gì ảnh hưởng đến việc phát triển tâm sinh lý của học sinh

hay không?

- Có bệnh tật bẩm sinh không?............................................

- Xếp loại sức khỏe?....................................................

2. Bố, mẹ đã từng tham gia hội phụ huynh chưa:… ……………..

3. Nguyện vọng :

Vinh, ngày ….. tháng 9 năm 2020…….

Học sinh Phụ huynh

(ký và ghi rõ họ tên) (ký và ghi rõ họ tên)

* Kỹ năng giao tiếp, điều chỉnh và quản lí cảm xúc

Mục đích

Văn hóa giao tiếp là cốt lõi của KỸ NĂNG MỀM, là biểu hiện dễ thấy nhất của con người trong ứng xử. Rèn luyện tốt kĩ năng giao tiếp sẽ giúp cho các em hoc sinh có thái độ cư xử đúng đắn hơn trong giao tiếp hằng ngày với bạn bè, thầy cô.

Văn hóa giao tiếp rất đa dạng, phong phú và có sự biến đổi nhanh, nó phụ thuộc chủ yếu vào trình độ và thái độ cảm xúc tâm lí của các đối tượng hoạt động giao tiếp. Nguyên tắc trong giao tiếp phải đảm bảo các yêu cầu: Nhiệt tình, ân cần, ngay ngắn, chuyên chú, đĩnh đạc, ôn hòa, đồng cảm, khiêm nhường, nhất quán

Thời gian thực hiện:

Chúng tôi hướng dẫn, uốn nắn học sinh trong giao tiếp, tiếp xúc hàng ngày, qua hoạt động ngoài giờ lên lớp như giờ sinh hoạt 15 phút, giờ sinh hoạt lớp cuối tuần, cùng các em chia sẻ và tìm hiểu, thực hiện những kĩ năng ứng xử có văn hóa khi giao tiếp với mọi người. Đây không chỉ là việc làm một chiều mà qua tiếp xúc gần gũi với các em, chính người làm công tác chủ nhiệm như chúng tôi cũng học hỏi, thay đổi và điều chỉnh được rất nhiều những kĩ năng sống cho cho bản thân mình.

31

Các bước thực hiện:

Bước 1: Lập bảng câu hỏi trắc nghiệm và cho học sinh trả lời để tìm hiểu về thói quen trong cách thức giao tiếp thường ngày của các em; sau đó đưa ra các đáp án đề xuất để giúp các em có thể ứng dụng điều chỉnh hành vi, thói quen của mình sau này.

Bảng các câu hỏi trắc nghiệm Kỹ Năng Giao Tiếp:

Câu hỏi Lựa chọn Đáp án đề xuất

Đáp án: b

a. Vui mừng và ôm chặt người đó

1. Khi bạn gặp một người lần đầu, bạn sẽ:

b. Bạn sẽ mỉm cười, tự giới thiệu và chủ động làm quen

c. Đợi người khác giới thiệu

a. Đồng tình với những gì họ nói.

2. Bạn phải làm gì để gây ấn tượng và tạo mối quan hệ với người khác? Hãy chọn 3 đáp án. b. Thay đổi âm lượng giọng nói cho phù hợp với người bạn đang đối thoại.

c. Bắt chước tư thế giao tiếp của họ

d. Thường xuyên giao tiếp bằng mắt với họ.

Đáp án: b, c, d. Muốn tạo ấn tượng và xây dựng mối quan hệ lâu dài với người khác bạn nên thay đổi âm lượng giọng nói cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, có thể bắt chước theo những động tác của họ nhưng đừng lộ liễu bởi ai thích người khác cũng giống mình. Và cuối cùng bạn phải giữ mối liên hệ bằng cách liên tục giao tiếp bằng mắt với họ

a. 20 giây

b. 5 phút

c. 1 phút

3. Trong quá trình giao tiếp, bạn có bao nhiêu thời gian để gây ấn tượng tốt cho người khác? Đáp án: a. Khi giao tiếp, bạn chỉ có 20 giây để gây ấn tượng với đối tác qua trang phục, nét mặt và cử chỉ của mình.

a. Không bao giờ Đáp án: b

b. Thường xuyên từ c. Thỉnh thoảng 4. Bạn _____ sử dụng những từ và cụm - “vui lòng”; “cám ơn”;

32

“rất vui”; “xin lỗi”

Đáp án: b

a. Bạn thường để người khác nói nhiều hơn

5. Khi trò chuyện với một người nào đó, _______.

b. Cố gắng cân bằng trong suốt cuộc đối thoại

c. Bạn thường là người nói nhiều nhất

Đáp án: c

a. Nổi giận và bảo vệ quan điểm của mình

6. Khi nhận được những ý kiến phản hồi tiêu cực, bạn sẽ:

b. Phủ nhận vấn đề, xin lỗi hoặc biện hộ cho sự thiếu hiểu biết của mình

c. Ghi nhận và tìm cách cải thiện vấn đề

Đáp án: b

a. Nói với người khác rằng anh/chị/ bạn ấy trông quá mập

7. Nếu bạn của bạn càng ngày càng mập, bạn sẽ: b. Không nói gì cả

c. Nói với người khác rằng anh/chị ấy thay đổi nhiều kể từ lúc gặp

Đáp án: b

a. Nhanh chóng chỉ ra cho người đó những điểm sai và tại sao sai

8. Khi không đồng ý với một người, ________ .

b. Đầu tiên bạn sẽ lắng nghe, hỏi lại những điều chưa sáng tỏ và nói lên ý kiến phản đối của mình

c. Nói ý kiến thật nhỏ hoặc không nói gì

a. Tạo vẻ mặt thật nghiêm túc Đáp án: c

9. Khi bạn làm việc trong một nhóm bạn: b. Giữ vẻ mặt thật nghiêm trang, khó chịu

c. Vẫn hài hước và cười đùa những lúc thích hợp

33

a. Luôn luôn cười lúc trò chuyện Đáp án: c

10. Trong buổi nói chuyện, bạn có khuynh hướng: b. Nghiêm trang và không mỉm cười trong suốt cuộc trò chuyện

c. Cười đúng lúc

a. Lời chào thân ái

b. Cách mở đầu câu chuyện của bạn 11. Khi bạn giao tiếp, ấn tượng đầu tiên bạn ghi điểm là yếu tố nào? c. Cách nói chuyện hài hước

d. Dáng điệu, cử chỉ và trang phục

Đáp án: d. Người xưa nói “Nhất dáng nhì da thứ ba là nét mặt”, dáng điệu và cử chỉ là yếu tố đầu tiên tác động đến người giao tiếp với bạn. Khi giao tiếp bạn cần chuẩn bị một tác phong chững chạc, dáng thẳng, cử chỉ chuẩn mực, trang phục lịch sự để tạo ấn tượng tốt với người đối diện.

a. Xảy ra hiểu nhầm

b. Người nói không thể đưa ra chỉ dẫn rõ ràng tiếp 12. Giao không hiệu quả sẽ dẫn đến hậu quả chính nào? c. Mọi người không làm

theo bạn

Đáp án: a. Khi bạn giao tiếp không hiệu quả, bạn sẽ dễ hiểu nhầm thông điệp mà người khác muối nói với bạn, điều đó sẽ dẫn đến sự xung đột giữa những người tham gia giao tiếp.

d. Mọi người không lắng nghe nhau

a. Góp ý thẳng thắn, Lắng nghe và Tôn trọng

b. Luôn tươi cười, Học cách khen ngợi, Lắng nghe

c. Đặt câu hỏi, Giúp đỡ nhiệt tình, Phê bình khi có sai sót 13. Ba bí quyết nào luôn sau đây sẽ giúp bạn thành luôn được công, những người khác yêu mến trong học tập và cuộc sống?

Đáp án: b. Trong cuộc sống và công việc, ai cũng mong muốn nhận được những nụ cười, những câu khen ngợi và được lắng nghe khi mình chia sẻ. Để được bạn bè yêu mến, bạn hãy rèn luyện thói quen luôn tươi cười, khen ngợi chân thành và lắng nghe trong giao tiếp.

34

a) Thông tin được truyền tải tại một thời điểm và không gian cụ thể.

14. Giao tiếp trực tiếp có những lợi ích gì hơn so với giao tiếp qua điện thoại? b) Người giao tiếp không bị mất tập trung. trực

c) Giao tiếp diễn ra nhanh chóng, dễ dàng và tiện lợi.

d) Những thông tin phức tạp được truyền tải chính xác hơn.

Đáp án: a, b, d. Khi giao tiếp trực tiếp, bạn có thể loại bỏ được các yếu tố gây nhiễu do không gian, công nghệ gây ra. Giao tiếp tiếp sẽ khiến người giao tiếp luôn tập trung, thông tin truyền tải cần được đưa đi vào một thời điểm cụ thể và đảm bảo sự giao tiếp diễn ra nhanh chóng, dễ dàng và thuận lợi. e) Bạn có thể đạt được nhiều mục đích trong một khoảng thời gian ngắn hơn.

a. 20%

b. 50%

c. 85%

d. 70%

15. Theo bạn, kỹ năng giao tiếp tốt sẽ quyết định bao nhiêu thành sự công của bạn trong học tập, công việc và cuộc sống?

Đáp án: c. Kết quả điều tra của Viện xã hội Mỹ năm 2008 cho thấy, kỹ năng giao tiếp và các mối quan hệ của bạn trong cuộc sống quyết định 85% sự thành công trong công việc của mỗi người. Những yếu tố khác như bằng cấp, trí thông minh chỉ chiếm 15%.

Bước 2: Sau khi cho học sinh thực hiện bảng câu hỏi, chúng tôi xây dựng các nội dung để nâng cao các kĩ năng giao tiếp như sau:

+ Kĩ năng nói (xưng hô, chào hỏi, nói chuyện điện thoại, trình bày, thuyết trình, đàm đạo, tranh luận, hội họp …) cho chuẩn và nghệ thuật.

+ Kĩ năng viết (văn bản, thư từ, tin nhắn..) cho đúng và hay.

+ Các cử chỉ, hành động, tư thế, tác phong, đi đứng…cho đàng hoàng, đúng mực, lịch sự, trang trọng.

+ Kĩ năng mời, cảm ơn, xin lỗi, nhờ vả, vay mượn, tặng quà cho minh bạch, cầu thị.

+ Kĩ năng từ chối, phản đối, chê bai, phê phán… cho đúng mực.

+ Kĩ năng góp ý, khuyên nhủ… cho hợp lí, hợp tình.

35

+ Kĩ năng hưởng ứng, tán thành, khen tặng…cho lịch sự, tinh tế.

+ Kĩ năng bày tỏ cảm xúc, tình cảm, thể hiện bản thân…

+ Kĩ năng trốn tránh, kìm nén, thể hiện cảm xúc…

Để kết quả của cuộc giao tiếp như mong đợi thì chúng ta cần phải rèn luyện cho HS các kỹ năng giao tiếp như trên. Bên cạnh việc sử dụng các kỹ năng giao tiếp thì GV cần phải dạy cho các em:

+ Khi nói chuyện hoặc trao đổi một vấn đề nào đó thì các em cần phải quay mặt về hướng của đồi tượng giao tiếp, ở tư thế ngang tầm có thể cùng đứng hoặc cùng ngồi, tránh ở tư thế cao hơn hoặc thấp hơn so với đối tượng của mình.

+ Nét mặt luôn thể hiện sự niềm nở, biểu hiện của sự quan tâm tới lời nói của đối tượng, tùy theo nội dung câu chuyện mà thể hiện sự lo lắng, đồng cảm, vui vẻ.

+ Trong khi giao tiếp các em nên nhìn vào mắt, duy trì ánh mắt với đối tượng giao tiếp. Có những biểu hiện tán đồng hoặc thể hiện sự lắng nghe như: gật đầu…

+ Khi giao tiếp âm điệu của lời nói: Vừa phải, dễ nghe, không cao giọng quá, nói to quá hoặc nói nhỏ quá...

+ Khi nói chuyện nên tập trung vào chủ đề đang thảo luận, tránh để tư tưởng bị phân tán dẫn đến không hiểu nội dung câu chuyện. Không nên bảo thủ chỉ coi trọng ý kiến của mình mà không tôn trọng ý kiến của người khác

+ Khi đối tượng giao tiếp đang nói thì ta nên lắng nghe, tuyệt đối tránh ngắt lời hoặc cướp lời của người nói khi họ chưa nói hết ý của mình.

+ Trong khi giao tiếp chú ý đến thái độ của đối tượng giao tiếp. Hoặc đưa ra nhiều câu hỏi cùng một lúc khiến người khác không kịp trả lời.

+ Khi nói về một chủ đề nào đó, nếu ta không được rõ thì lúc này nên lắng nghe chứ không nên "nói bừa”.

Bước 3: Lựa chọn mỗi lần giáo dục HS từ một đến hai kĩ năng mà các em thường vi phạm nhiều nhất để thực hiện.

Thông qua việc quan sát, GV nhận thấy HS lớp mình thường mắc lỗi nào nhiều nhất, sau đó GV lần lượt lựa chọn nội dung cụ thể để giáo dục học sinh. Thời gian thực hiện nội dung có chủ điểm là một tháng. Bên cạnh đó, chúng tôi tổ chức NGLL với cách thức linh hoạt như thảo luận, đưa ra các tình huống giả định, kể chuyện, đọc những bài viết hay, có ý nghĩa… mà nội dung liên quan đến giáo dục kĩ năng ứng xử cho HS.

Việc thực hiện rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh THPT là điều khá khó khăn. Ở lứa tuổi này các em cơ bản đã định hình tính cách, thói quen, nếp

36

nghĩ… vì vậy, đòi hỏi giáo viên phải công phu, tinh tế, khéo léo và đặc biệt gương mẫu. Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng có lợi thế là đa phần phụ huynh đặc biệt quan tâm đến con em mình, tuy nhiên cũng xuất phát từ sự quan tâm lo lắng nên nhiều phụ huynh quá ưu tiên việc học của con mà bỏ qua việc rèn luyện kĩ năng ứng xử. Do vậy, nhiều em đã không biết cách ứng xử văn hóa kể cả những điều tối thiểu nhất như đi trước mặt người khác là phải hơi cúi người, đưa một vật gì đó cho người khác, đặc biệt là người lớn là phải đưa ra phía sau lưng, hay ăn, uống khi có người lớn là phải biết mời, nhận được cái gì của ai là phải cảm ơn…Những kĩ năng này các em đã được hướng dẫn từ thủơ mẫu giáo, thế nhưng cùng với sự lớn lên nếu không được thường xuyên uốn nắn, nhắc nhở thì các em sẽ quên và đương nhiên nhận thức đó không phải là vấn đề để các em bận tâm.

Khi mới nhận lớp chủ nhiệm. chúng tôi thực sự ngạc nhiên vì rất nhiều em, kể cả những em vốn học giỏi, ngoan, hiền… thế nhưng khi lớp tổ chức tiệc liên hoan nhỏ có sự tham gia của giáo viên và phụ huynh các em “hồn nhiên” ăn mà không có bất kì một lời mời nào. Ban đầu chúng tôi cũng có một chút cảm giác không vui và có khi rất không bằng lòng. Nhưng để tránh làm cho không khí lớp bị gượng ép bởi suy nghĩ cần bàỳ nhủ cho các em nhưng cũng thấm nhuần câu tục ngữ “ trời đánh còn tránh bữa ăn” nên chúng tôi thường để sau khi cuộc vui kết thúc hoặc đến hôm sinh hoạt lớp hoặc có một tình huống có tính liên hệ tôi sẽ gợi lại và khéo léo chấn chỉnh các em. Tất nhiên việc này được thực hiện càng sớm càng tốt nhưng nhất định không điều chỉnh ngay khi đó. Trước những tình huống như vậy, chúng tôi nhắc khéo các em bằng lời mời của chính mình ngay lúc đó. Sau rất nhiều năm làm công tác chủ nhiệm chúng tôi thấy đây là vấn đề tuy nhỏ nhưng hầu như học sinh lớp nào cũng mắc; nếu như giáo viên không điều chỉnh thì đến khi học lớp 12 các em vẫn không nhận ra được để sửa đổi.

Điều chỉnh và quản lí cảm xúc

Mục đích Quá trình thực hiện Hoạt động

GV - HS

1. Hãy lắng nghe cảm xúc và nhu cầu của học sinh.

* Trong mọi tình huống GVCN cần:

2. Tóm tắt những quan điểm của học sinh.

3. Bày tỏ cảm xúc và nhu cầu của mình.

- GV là người lắng nghe, định hướng quá điều trình chỉnh cảm xúc của học sinh.

- HS thực hiện quá trình điều chỉnh - HS kiểm soát được cảm xúc tức là nhận thức rõ được cảm xúc của mình trong một tình huống nào đó và hiểu được sự ảnh hưởng của cảm xúc với bản

37

thân và người khác như thế nào. 4.Mời gọi cả lớp cùng suy nghĩ để tìm ra giải pháp.

cảm xúc theo sự định hướng của học sinh.

5.Viết tất cả các ý kiến ra – không đánh giá.

Phương pháp

6.Cùng nhau quyết định xem sẽ dùng ý kiến nào và sẽ lập kế hoạch thực hiện ý kiến đó ra sao.

- HS biết cách điều chỉnh sự thể hiện cảm xúc một cách phù hợp.

+ GVCN với vai trò là “nhà tâm lí”, “quan toà”, “luật sư”…

Thống nhất nguyên tắc trong giao tiếp với bạn bè“ Thay những lời châm chích, gièm pha bằng dùng lời nói tôn trọng”.

* Kỹ năng làm việc nhóm, hợp tác, và chia sẻ

Mục đích

Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong công việc hoặc

một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung.

Cá nhân học sinh biết chia sẻ trách nhiệm, cùng làm việc có hiệu quả với các thành viên khác trong tổ nhóm của mình. Từ đó lợi ích của mỗi cá nhân và tập thể được đáp ứng giúp cá nhân học sinh sống hài hoà với tập thể, tránh xung đột với người khác.

Thời gian thực hiện

Khi trường, lớp có hoạt động tập thể, hay khi lớp có bài tập nhóm và nhất là hàng

ngày các em đều có công việc trực nhật theo tổ.

4. Một số tình huống sư phạm trong thực tiễn giáo viên đã thực hiện giáo dục kĩ năng sống cho học sinh

4.1. Các tình huống:

Tình huống 1:

Sau khi vào năm học được 3 tuần, thì lớp 10 D1 có em học sinh nữ luôn có biểu hiện chán nản khi đến lớp, nằm gục trong các giờ học rất mệt mỏi. Vì đây là thời điểm các em mới chuyển từ môi trường học cấp 2 lên cấp 3 nên tôi nghĩ mình tôn trọng cảm xúc tự nhiên của em để quan sát một thời gian nữa xem sao. Và 1 tuần sau thì phụ huynh của em đã liên hệ gặp tôi với nguyện vọng xin chuyển lớp cho con sang khối A1. Lí do là thấy mình không học được môn Văn, mà trong khi con thích học môn Vật lý.

38

Tìm hiểu thêm thì biết việc đăng ký vào khối D là do ý kiến của bố mẹ, và nhất là việc thưởng một chiếc điện thoại di động đắt tiền nếu con theo khối D . Và với mức điểm thi của mình em đã được xếp lớp D1. Tôi đã trực tiếp lên xin chuyển lớp cho em sang khối D . Tuy nhiên sau khi được sự đồng ý của Giám hiệu thì vấp phải sự phản đối từ phía bố của em, ông không đồng ý cho con chuyển lớp chuyển khối vì “tiếc” con đang học ở lớp đầu khá. Mẹ của em gọi điện tâm sự về tình hình gia đình. Mâu thuẫn trong gia đình căng thẳng, em học sinh đó lại càng chán nản vì không đạt được nguyện vọng của mình.

Tôi đã gặp em và nói để cho em một tuần suy nghĩ trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. Em nói với tôi là dù có thế nào đi nữa thì em cũng sẽ chuyển. Tôi đã có cuộc trò chuyện ngắn với em trong giờ sinh hoạt đầu buổi:

- Vì sao em chọn khối D? – Vì mẹ em bắt

- Sao mẹ bắt mà em không nói lên ý kiến của mình: - Vì mẹ nói chọn khối D thì mẹ mới cho mua điện thoại mà em thích.

- Vậy là em sẵn sàng đánh đổi ước mơ của mình ngay lập tức để lấy 1 vật dùng mà em có thể có nó bằng cách khác và thời điểm khác? – (Im lặng)

- Em gặp trở ngại với môn Văn? – em học không tiếp thu được

- Nhưng môn Văn ngoài việc là một trong ba môn chính thi cuối cấp, nó còn giúp em nhiều trong cuộc sống ? – em thấy mình không học được cô ạ.

- Em học tốt môn Vật Lý? – em nghĩ là tốt hơn Văn ạ

- Đó là khi em học ở cấp 2 e thấy môn Vật lý khá dễ học với em! - (im lặng) cô cứ chuyển lớp cho em đi ạ.

- Hiện nay vấn đề bắt đầu từ em, đó là để đạt mục đích của mình em sẵn sàng ko cân nhắc gì nhiều, sau đó để đạt mục đích tiếp của mình em sẵn sàng đòi hỏi bố mẹ mà không nghĩ đến suy nghĩ của bố mẹ hay những vấn đề nảy sinh sau này trong việc học. Cô sẽ đợi e thuyết phục bố mẹ hiểu được nguyện vọng trong học tập của em. Cô sẽ đợi em nói rằng bố mẹ vui vẻ để em chuyển lớp. Cô muốn em thử đặt mình vào vị trí của bố mẹ nếu em “làm sự đã rồi”, thì khi ấy sẽ như thế nào. Cô không muốn em tiếp tục dùng một hình thức sai lầm này để sửa chữa cho một sai lầm khác.

Đến giờ sinh hoạt lớp thứ 7 tuần đó, em đã lên vui vẻ nói với cô rằng “Em sẽ không chuyển lớp nữa đâu cô ạ . Vì em đã nhận thấy Vật lý không phải là thế mạnh của em, và em vẫn có thể tiếp thu được môn Văn nếu như em tập trung học ạ.”

39

Tôi đã không hỏi gì thêm mà đồng ý với lí do đó của em. Dần dần, trong quá trình học đến giờ em đã tích cực và vui vẻ hòa nhập với tập thể lớp hơn.

Kết quả:

Thông qua việc tìm hiểu học sinh đầu năm bằng phiếu khảo sát kết hợp lí lịch học sinh, giáo viên chủ nhiệm nắm được những nét sơ bộ về các thành viên trong lớp và cũng là tài liệu lưu giữ cả quá trình các em học tập để có sự tiếp cận và điều chỉnh, giúp đỡ , hỗ trợ các em tốt hơn. Việc thay đổi cấp học, và cả việc phải xác định khối học ngay từ đầu cấp học đã khiến các em phải suy nghĩ và tự mình ra quyết định hoặc nhờ sự tư vấn của bố mẹ hoặc người thân. Các em đặt ra mục tiêu cho bản thân mình sớm sẽ thuận lợi hơn trong việc lựa chọn hướng đi của mình trong tương lai.

Tình huống 2:

Sau đây là trích đoạn một bức thư của em học sinh nguyên là lớp 10 D1 gửi tới cô giáo chủ nhiệm sau ngày chia tay lớp để chuyển về trường mới. Trong đó, em viết: “…suốt quá trình học tập tại 10D1, em đã học được rất nhiều điều, từ những cái nhỏ nhặt nhất như lau bàn giáo viên, xếp gọn chổi, đến ăn nên mời các bậc tiền bối trước. Quả là lúc đầu bị nhắc nhở thì không thích lắm, nhưng bây giờ những lời dạy đó với em quý giá thật nhiều cô ạ…”.

Tình huống 3:

Trong quá trình chuẩn bị cho Lễ kỉ niệm 100 năm thành lập trường, các em tham gia làm trại có những mâu thuẫn nảy sinh do những bất đồng quan điểm. Giáo viên chủ nhiệm nhận được tin nhắn từ phía phụ huynh với nội dung con trai của chị đi về nhà nói không tham gia làm trại cùng cả lớp nữa do bị bạn lớp phó chỉ trích.

40

* Thực hiện và Kết quả:

Sau khi nhận tin nhắn của phụ huynh, GVCN đã có tìm hiểu qua một số học sinh khác trong lớp về công việc các em đang thực hiện và trao đổi khéo léo để biết về mối quan hệ hiện tại ở lớp giữa các em. Và sáng sớm hôm sau, GVCN đã vào nhóm lớp trên facebook để viết một chút suy nghĩ của mình với các em. Bởi đó là cảm xúc thật lòng nhất vào đúng thời khắc nhất, mà người GVCN như một người mẹ thấy các con của mình không vui, không hiểu nhau, bất đồng với nhau, đã không thể để mặc các con của mình. Đây là lúc cần giúp cho các em biết điều chỉnh cảm xúc, tiết chế những hành động cảm tính để vì mục đích chung.

41

Và buổi học hôm ấy, cô giáo không đề cập thêm bất cứ điều gì. Nhưng kết quả thì nhận được tin nhắn phản hồi tốt từ phía phụ huynh. Buổi chiều hôm đó, các em trở lại vui vẻ cùng làm trại với nhau và cùng vui vẻ trò chuyện khi ở lại trực trại buổi đêm.

Mỗi GVCN có một cách giải quyết tình huống khác nhau, nhưng chỉ bằng cách nói chung như viết thư tâm sự, các em học sinh lớp tôi đã có những thay đổi tích cực trong cách ứng xử với bạn bè, tập thể lớp trở nên gần gũi, đoàn kết hơn.

Tình huống 4: GVCN phổ biến kế hoạch của nhà trường yêu cầu các lớp tổ chức dọn vệ sinh, kiểm tra cơ sở vật chất chuẩn bị tổ chức cắm trại và kỉ niệm 100 năm thành lập trường.

Do trong thời gian này các thầy cô cũng có nhiều công việc cùng phải làm nên

GVCN lớp A2 K99 thông qua nhóm lớp phân công lớp trưởng điều hành 4 tổ nhóm.

42

Học sinh thảo luận và thống nhất cử đại diện nhóm trình bày kế hoạch phân công

nhiệm vụ và biện pháp thực hiện.

Khi được chủ động làm việc, các em tự giác và có tính trách nhiệm với công việc

được giao.

Tình huống 5:

Cũng trong thời gian này, lớp D1 k100 Ngoài công việc làm trại, các em được giao nhiệm vụ trực tuần trùng vào hai ngày Lễ hội của Kỉ niệm trường. Khối lượng công việc nhiều hơn và thời gian làm việc cũng bắt đầu sớm hơn, dài hơn. Ban cán sự lớp giao nhiệm vụ cụ thể trên nhóm lớp.

Và ngày cắm trại cả lớp thống nhất ăn chung tập thể ở trường. Phụ huynh phụ

trách việc đặt ăn cho các em.

Tuy nhiên, để bữa ăn được gọn gàng tươm tất và chu đáo, GVCN đã giao cho các tổ phụ trách. Sau khi Lớp trưởng thông báo cụ thể, thì Bí thư theo dõi việc thực hiện để có sự góp ý điều chỉnh cho các buổi sau.

- Lớp phó phân công làm trại theo từng buổi

43

- Lớp trưởng phân công trực tuần:

44

- Lớp trưởng phân công trực các buổi ăn tập thể và nhận xét, nhắc nhở của Bí thư

Chính vì sự tin cậy của giáo viên chủ nhiệm khi giao nhiệm vụ nên các em cán bộ lớp có sự chủ động trong công việc và vì thế, dù công việc trường lớp những ngày đó nhiều và đan xen nhiều nhiệm vụ nhưng các em vẫn cảm thấy khỏe khoắn vui vẻ và nhiệt tình trách nhiệm. Các nhiệm vụ được phân công công bằng nhất có thể cho mọi thành viên của lớp.

Tình huống 6:

Từ đầu năm học tới nay ở lớp 10 D1 có một hiện tượng thường xuyên xảy ra trong các giờ học buổi chiều đó là các em không lau bảng trước khi vào học. Điều này cô giáo dạy Toán đã phản ánh với GVCN và sau đó cũng đã được nhắc nhở chung. Sau 1 lần kiểm tra đột xuất thấy còn hiện tượng đó nên GVCN đã yêu cầu cả tổ 1 trực nhật lại tuần tiếp theo. Sau đó em tổ trưởng tổ 1 đã nhắn tin cho tôi để giải thích lí do.

Tuy nhiên điều khiến tôi rất suy nghĩ đó là em đã nhấn mạnh sự khác biệt về địa vị xã hội giữa gia đình của em và gia đình một bạn trong lớp người chịu trách nhiệm công việc mà không hoàn thành để ảnh hưởng cả tổ. “ …Vị thế nhà bạn cao hơn nhà em rất nhiều. Em không muốn chỉ vì xích mích nhỏ trên lớp mà ảnh hưởng tới gia đình………..Điều đó tuy nhỏ nhưng nó tổn thương em sâu sắc.”

Trước tình huống đó tôi đã nhắn tin lại cho em như sau:

45

“ Cô đã nói rồi, khi làm một công việc gì đó thì điều va chạm là ko tránh khỏi dù mình có cố gắng .Vậy khắc phục làm sao ? Là mình làm việc hết mình . Học tập hết mình . Góp ý thẳng thắn .

Bên cạnh đó cô muốn em hiểu 1 điều ĐỐI VỚI CÔ MỌI HỌC SINH ĐỀU EQUAL REGARDLESS OF GENDERS. Chỉ thế thôi .

Điều em nói về “ Vị thế” cô nghĩ là em đã hơi xa quá ở một học sinh . Bởi vì hoàn cảnh gia đình bạn có như thế nào thì ko bao giờ ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta . Bởi vì ta làm việc, học tập và sinh sống bằng sức mình . Vậy thôi .

Và em có thấy cô có phân biệt đối xử với học sinh hay ko? Em yên tâm ngày mai khi sinh hoạt lớp cô sẽ làm việc rạch ròi.

Em ko phải nói gì thêm với bạn . Nhất định ko nói gì thêm nhé . Bạn sai bạn phải sửa. Và bạn thiếu trách nhiệm bạn phải chịu trách nhiệm .

Cô gái bé bỏng của cô. Điềm tĩnh nhé .

Mọi vấn đề đều có thể giải quyết và ta cố gắng giải quyết trong hòa bình .”

Mặc dù vậy, nhưng trong buổi sinh hoạt lớp, tôi đã bất ngờ phê phán em Tổ trưởng. Và ngay lập tức em học sinh vi phạm đã giơ tay xin có ý kiến. Sau khi để cảm xúc của em tổ trưởng lên cao trào, tôi đã để em học sinh vi phạm được nói lên ý kiến của mình. Và thật bất ngờ với cả lớp đó là em đã nhận toàn bộ trách nhiệm về bản thân và thừa nhận mình đã sai khi để ảnh hưởng cả tổ. Và tôi đã hỏi em “ em biết mình sai rứa thì em đã xin lỗi bạn chưa và em có sẵn sàng xin lỗi vì đã nói lời tổn thương bạn không?” . Em nói là “ em có ạ.”. Lúc đó, em Tổ trưởng mới nhận ra được ý của cô chủ nhiệm.

Tuy nhiên tôi đã mượn một câu thơ của người khác để nói với các em rằng như vậy là các em đã hiểu ra vấn đề và không nhất thiết phải nói ra thêm nữa bởi vì các em đã 15 tuổi, đủ lớn để hiểu trách nhiệm của mình với lời mình đã nói rồi.

“ Những điều muốn nói bằng lời

Trách đôi mắt nói hết rồi còn chi ”

Cuối cùng những xích mích bất hòa được giải quyết và các em hiểu nhau hơn,

vui vẻ hòa đồng trở lại.

Tôi nhận thấy được rằng, phải hiểu các em, hiểu tâm lý, tính cách và cả những đặc điểm của lứa tuổi học trò thì người giáo viên mới có thể giải quyết được vấn đề một cách thấu đáo, hợp tình, hợp lý, nhất là không để sự việc đi quá xa dù chỉ bắt nguồn từ khúc mắc nhỏ.

4.2. Kết luận chung cho vấn đề giải quyết tình huống

46

Trong nền giáo dục hiện tại, quan hệ thầy trò đã được thay đổi, thầy trò ngày nay có tình cảm thân mật gắn bó hơn, chính vì thế chúng ta dễ dàng tiếp cận học sinh, cùng các em trải nghiệm và điều chỉnh những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống.

Giáo viên chủ nhiệm có liên hệ chặt chẽ với với tổ chức Đoàn thanh niên, mà cụ thể là Ban chấp hành Chi đoàn học sinh. không bao che cho những sai phạm của học sinh mà động viên các em chấn chỉnh kịp thời những khuyết điểm của thành viên trong lớp. Thường xuyên tuyên dương khen ngợi, khích lệ tinh thần các em nhiệt tình trách nhiệm với các hoạt động tập thể của trường và lớp, các em có nỗ lực trong học tập, và những em có hoàn cảnh khó khăn.

Qua các cuộc họp phụ huynh học sinh chung của lớp, GVCN báo cáo kết quả rèn luyện học tập của học sinh và tạo mối quan hệ gần gũi chân tình, thân thiết với phụ huynh, để khi có vấn đề nảy sinh, phụ huynh sẵn sàng liên hệ trao đổi, giúp giáo viên chủ nhiệm nắm bắt kịp thời tâm lý cũng như mối quan hệ trong lớp để có biện pháp giải quyết sớm.

Và trên hết, người giáo viên chủ nhiệm luôn có sự bao dung, thấu cảm với các em và nhìn nhận đánh giá cũng như xử lý mọi tình huống khách quan nhất sẽ thu phục được lòng tin và tình cảm của các em. Từ đó, việc giáo dục văn hóa, đặc biệt là quá trình giáo dục kĩ năng sống cho các em sẽ thuận lợi hơn rất nhiều.

Nguyên tắc chung trong giải quyết tình huống nhằm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh:

Nếu HS sống trong: Các em sẽ học được cách:

1. Sự phê bình 1. Chỉ trích

2. Chỉ trích 2. Khiêu chiến

3. Nhạo báng 3. Làm tổn thương

4. Hổ thẹn 4. Gây tội lỗi

5. Khoan dung 5. Kiên trì

6. Sự động viên 6. Tự tin

7. Lời khen 7. Trân trọng

8. Công bằng 8. Đối xử công bằng

9. An toàn 9. Có niềm tin

10. Sự tán thành 10. Yêu bản thân

5. Kết quả áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Qua một số công việc trong thời gian ngắn, các em có kinh nghiệm làm việc

47

nhóm. Sau này, khi nhà trường giao nhiệm vụ như chuẩn bị cho lễ chào cờ hay lao động trực thi tốt nghiệp…sau khi phổ biến nhiệm vụ, GVCN để học sinh tự lập kế hoạch thực hiện thông qua thảo luận. GVCN điều chỉnh cho hợp lí và tổ chức cho các em thực hiện trong sự chủ động hợp tác giữa các thành viên.

5.1. Đối với giáo viên

Giáo viên cũng là một đối tượng được đánh giá về hiệu quả giáo dục trong khi hoạt động giáo dục này. Thành công của phương pháp giáo dục chính là thành quả giáo dục và được ghi nhận kết quả giáo dục từ phía ban lãnh đạo Nhà trường trong năm học đó.

Trước hết, cô trò hiểu nhau hơn, khi đã hiểu được nhau thì mọi hoạt động giáo dục dễ tiến hành và tiến hành có hiệu quả. Tư tưởng thông hiểu sẽ cảm thấy mọi việc tiến hành trôi chảy.

Cô trò đều có tình cảm và thấy yêu trường yêu lớp. Những tiết sinh hoạt lớp không có tư tưởng chỉ trích cau có, chì chiết tìm lỗi của trò để phê phán gay gắt.

Hiểu rõ tâm lí lứa tuổi, tâm lí của học sinh góp phần thu hẹp khoảng cách từ nhà trường đến phụ huynh; từ giáo viên đến học sinh, học sinh đến học sinh, giúp học sinh nhận thức được chính mình và nhìn rõ được tâm tư khát vọng cũng như mục đích lí tưởng của mình để vạch định tương lai cho bản thân các em trong cuộc sống sau cánh cổng trung học phổ thông. Các em có thêm kỹ năng hiểu mình và hiểu người hơn.

Hiểu được mình và cơ sở để hiểu người khác thì giáo viên và học sinh đều chủ động trong mọi công việc được giao cũng như hiểu ý nhau để làm cho nhau cảm thấy vui vẻ. Từ đó trường, lớp chính là ngôi nhà thứ hai của các em và giáo viên.

5.2. Đối với phụ huynh học sinh

Về phía phụ huynh, gia đình học sinh và xã hội: Hiệu quả của hoạt động giáo dục kĩ năng sống và cải thiện kĩ năng mềm cho học sinh cũng giúp phu huynh cũng hiểu con mình hơn, hiểu giáo viên hơn đặc biệt càng khẳng định niềm tin vào nhà trường- nơi đào tạo và rèn luyện được những đứa con có đủ Đức, Trí, Thể, Mỹ. là những nhân lực lao động giàu phẩm chất tốt đẹp và có năng lực thực thụ, giúp nước nhà giàu mạnh, văn minh hơn...

5.3. Đối với học sinh

Thực hiện theo sáng kiến này, học sinh sẽ là đối tượng được thu nhận hiệu quả giáo dục lớn nhất. Các em được yêu thương, được quan tâm, rèn luyện những kĩ năng cơ bản để ứng xử trong cuộc sống; phát triển năng lực cần có của người chủ nhân tương lai của đất nước.

Các phẩm chất, năng lực của học sinh sau khi được giáo dục bằng con đường

48

tâm lí học.

- Biết tìm kiếm sự giúp đỡ từ những người xung quanh, từ thầy cô

- Xác định được trách nhiệm và nhiệm vụ của bản thân

- Gương mẫu hoạt động, điều chỉnh và chia sẻ, học hỏi

- Biết phân tích nhiệm vụ và phân chia nhiệm vụ

- Nhận biết được khả năng, năng lực của bản thân

- Biết hướng hành động của mình theo cái đẹp

Kết quả học tập và rèn luyện đạo đức học kì 1 năm học 2020-2021

Lớp/ Sĩ số Hạnh kiểm Học lực Ghi chú

Tốt Khá Tb Yếu Giỏi Khá Tb Yếu

11 A2 K99 45 0 0 0 42 3 0 0 Lớp Tiên Tiến

45

10 D1 K100 44 0 0 0 44 0 0 0 Lớp TTXS

44

- Tập thể lớp 10D1K100 tích cực tham gia Phong trào thi đua kỉ niệm 100 năm thành lập trường và đạt giải Yêu thích với “Quốc Học Vinh trong tôi”.

- Tập thể lớp 11A2K99 tích cực tham gia Phong trào thi đua kỉ niệm 100 năm thành lập trường và đạt giải 3 Trại đẹp

- Tập thể lớp luôn đoàn kết, yêu thương , giúp đỡ nhau trong học tập và cuộc sống. các em luôn cảm thấy vui tươi phấn khởi khi đến trường, và luôn được trân trọng từ phái các thầy cô giáo và bạn bè.

49

PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh đã và đang là hoạt động giáo dục quan trọng trong các trường trung học phổ thông. Song nó mới chỉ được đề cập đến nhiều ở dạng tích hợp, lồng ghép vào nội dung các bài học thuộc lĩnh vực chuyên môn còn trong công tác chủ nhiệm lớp giáo viên tự mò mẫm tìm phương pháp giáo dục và rút kinh nghiệm dần thậm chí có ít giáo viên viết SKKN về đề tài này. Chưa có lớp tập huấn, tài liệu hướng dẫn cho giáo viên chủ nhiệm trong việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh mặc dù lĩnh vực này rất cần cho sự hình thành nhân cách đạo đức cho các em. 1. Kết luận chung

Kỹ năng mềm là một phạm trù rất rộng gồm cử chỉ, lời nói, hành vi, cách ứng xử. Trong xã hội ngày càng văn minh, hiện đại thì rèn luyện những Kỹ năng mềm vô cùng quan trọng. mang lại một giá trị to lớn. Đặc biệt là trong trường học – môi trường học tập và giáo

Từ kết quả nghiên cứu thu được, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:

Thực trạng nhận thức của học sinh THPT về vấn đề Kỹ năng mềm trong nhà trường (gồm hiểu, biết, biểu hiện, hành vi, thái độ, cảm xúc về cách ứng xử,...) ở mức độ bình thường. Đa số học sinh Trường THPT chưa thực sự quan tâm tới vấn đề kỹ năng mềm, nhiều em chưa hiểu rõ khái niệm, tầm quan trọng của vấn đề kỹ năng mềm. Các em có những biểu hiện thái độ, hành vi, lời nói chưa phù hợp với kỹ năng mềm của xã hội Việt Nam hiện nay.

Trong môi trường học đường học sinh chỉ thể hiện ở mức độ trung bình. Đây là điều đáng báo động. Điều này do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: gia đình, nhà trường, bạn bè và xã hội. Nhưng yếu tố tác động trực tiếp đến quá trình hình thành, phát triển về mặt nhận thức của các em đó là: gia đình và bạn bè. Bên cạnh đó, ở học sinh THPT còn có nhiều hiện tượng đáng báo động như: nói tục, chửi thề, bạo lực học đường, tác phong ăn mặc không đúng nội quy… Muốn nâng cao Kỹ năng mềm một cách bền vững và lâu dài cần có sự phối hợp đồng bộ giữa nhà trường, gia đình và xã hội.

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, chúng tôi đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng

cao kĩ năng sống và cải thiện kĩ năng mềm cho học sinh. 2. Kiến nghị đề xuất Trên cơ sở khảo sát Thực trạng Kỹ năng sống của học sinh THPT nói chung, trường THPT Huỳnh Thúc kháng nói riêng (qua đánh giá của giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh) và qua vấn đề chúng tôi đã giải quyết về: “Vai trò của người giáo viên chủ nhiệm trong việc nâng cao kĩ năng sống và cải thiện kĩ năng mềm cho học sinh THPT” , chúng tôi đưa ra một số kiến nghị sau đây:

50

2.1 Đối với nhà trường - Nên có những buổi học ngoại khóa nhiều hơn để cho các em có cơ hội giao lưu học hỏi góp phần nâng cao nhận thức hành vi ứng xử có đạo đức, có văn hóa của các em

- Mở nhiều lớp tập huấn, thường xuyên xây dựng tổ chức các chuyên đề về giáo dục kỹ năng ứng xử cho học sinh như: cho các em xem các tiểu phẩm, đặt câu hỏi gợi mở và lắng nghe các học sinh trả lời để có hướng điều chỉnh.

Thầy, cô cần dành thời gian để quan tâm đến học sinh lớp chủ nhiệm, kịp thời

Giáo viên chủ nhiệm phải kết hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh, giáo viên bộ

Mỗi thầy cô là một tấm gương đạo đức về Kĩ năng mềm cho học sinh noi theo.

- Tổ chức cho học sinh gặp gỡ với các chuyên gia tư vấn tâm lý để các em giải đáp thắc mắc và được chia sẻ những lời khuyên bổ ích về các kỷ năng ứng xử có văn hóa. 2.2 Đối với giáo viên hiểu được tâm tư nguyện vọng và giải quyết khó khăn của các em. môn, đội thanh niên trong việc giáo dục Kỹ năng mềm 2.3. Đối với gia đình

Trong gia đình ông bà, cha mẹ cần thường xuyên quan tâm nhắc nhở động viên

các em cả khi các em làm điều hay cũng như lúc các em vấp ngã.

Gia đình và nhà trường cần quan tâm nhiều hơn đến sự phát triển tâm, sinh lý của học sinh và con em mình. Nếu các em có biểu hiện khác lạ, người lớn cần hỏi han, động viên, giúp các em vượt qua những khó khăn ở tuổi dậy thì. “Mâu thuẫn của các em có thể bộc phát trong mọi thời điểm, nhưng phần lớn đều hình thành trong một thời gian dài. Khi nhận thấy bản thân và bạn bè đang có mâu thuẫn, các em cần học cách giải quyết và xoa dịu. Nếu không thể tự giải quyết, học sinh có thể nhờ đến bên thứ ba là bạn bè, cha mẹ, thầy cô... cùng đồng hành giải quyết.

2. 4. Đề xuất hướng phát triển đề tài.

Đây là đề tài được xuất phát từ ứng dụng thực tiễn và nhận thấy có hiệu quả cao vì vậy rất mong được nhà trường thường xuyên tổ chức học tập trao đổi kinh nghiệm để giáo viên có được nhận thức đúng đắn và áp dụng những biện pháp nhằm rèn cho học sinh những kĩ năng cần thiết, hữu ích để nâng cao chất lượng Kỹ năng mềm cho học sinh trong môi trường nhà trường nói riêng và xã hội nói chung.

Đây là những đề xuất hoàn toàn mang tính cá nhân, bắt đầu từ việc nhận thức về thực trạng Kỹ năng mềm của học sinh trường TPHT Huỳnh Thúc Kháng nói riêng và các trường THPT trên địa bàn TP Vinh nói chung.

Trong đề tài này chúng tôi chỉ mới đưa ra được một số phương pháp giáo dục kĩ 51

năng sống cho học sinh trong các tình huống cụ thể. Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, học hỏi để hoàn thiện mình hơn để có thể rèn luyện cho học sinh những kĩ năng sống giúp các em bước vào đời vững vàng hơn.

Hằng năm có nhiều giáo viên viết sáng kiến kinh nghiệm và nhiều người có kinh nghiệm hay như có phương pháp dạy học độc đáo, phương pháp giáo dục học sinh kĩ năng sống, phương pháp dạy học sinh giỏi… Sở giáo dục và đào tạo nên phổ biến rộng rãi những SKKN hay đó cho giáo viên có cơ hội được học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp để hoàn thiện mình hơn.

Trên đây là một vài kinh nghiệm nhỏ về giáo dục kĩ năng sống và cải thiện kĩ năng mềm cho học sinh trong quá trình làm công tác chủ nhiệm lớp của chúng tôi. Có thể các giải pháp mà chúng tôi đã đưa ra trong khuôn khổ đề tài “Vai trò của người giáo viên chủ nhiệm trong việc nâng cao kĩ năng sống và cải thiện kĩ năng mềm cho học sinh ở trường THPT” chưa thật sự hoàn hảo song là những gì tập thể chúng tôi đã thực hiện để rèn luyện năng lực cho học sinh. Hi vọng chúng sẽ tiếp tục hữu ích với nhiều cơ sở giáo dục khác nữa của bậc học THPT. Trong phần trình bày chắc hẳn không tránh khỏi sai sót, rất mong nhận được sự góp ý của các bạn đồng nghiệp và ban giám khảo.

Xin chân thành cám ơn.

52

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ GD&ĐT, Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên

2. PGS.TS Đặng Hoàng Minh, Nguyễn Cao Minh, Tài liệu bồi dưỡng về kỹ năng sống, giáo dục môi trường và các vấn đề xã hội, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên Bộ GD&ĐT (2018).

3. Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Nhân Ái, Tham vấn, tư vấn, hướng dẫn cho học sinh THPT, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên Bộ GD&ĐT.

4. Hoàng Anh Phước, Kỹ năng tham vấn học đường: Những vấn đề lí luận và thực tiễn, NXB Đại học sư phạm, 2014.

5. Diane Tillman, Những Giá trị sống cho tuổi trẻ, 2000

6.https://langmaster.edu.vn/ts-le-tham-duong-ky-nang-mem-chiem-75-su-thanh-bai- cua-cac-ban-a12i737.html.

7. http://www.literacynet.org/mi/assessment/cgi-bin/results.cgi

53