MỤC LỤC

I. ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................ 1

1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................................... 1

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.............................................................................. 2

2.1. Mục đích ........................................................................................................... 2

2.2. Nhiệm vụ ........................................................................................................... 2

3. Phương pháp nghiên cứu......................................................................................... 3

4. Phạm vi nghiên cứu đề tài. ...................................................................................... 3

II. NỘI DUNG .............................................................................................................. 3

1.Tính mới của đề tài .................................................................................................. 4

2. Thực trạng giải quyết vấn đề ................................................................................... 4

2.1. Cơ sở lí luận của vấn đề .................................................................................... 4

2.2. Cơ sở thực tiễn .................................................................................................. 5

2.3. Nguyên nhân ..................................................................................................... 6

3. Các biện pháp giải quyết vấn đề ............................................................................. 7

3.1. Lí luận về phương pháp dạy học Lịch sử bằng hình thức sân khấu hóa. ......... 7

3.2. Những nguyên tắc cơ bản khi thực hiện phương pháp dạy học Lịch sử bằng

hình thức sân khấu hóa. ........................................................................................... 7

3.3. Các bước thực hiện một bài giảng sử dụng sân khấu hóa Lịch sử ................... 8

3.4. Giới thiệu một số kịch bản dùng để tái hiện lịch sử trong phạm vi bài 16

và bài 19 sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 .................................................................. 9

3.5. Khả năng áp dụng của đề tài ........................................................................... 21

3.6. Kết quả của đề tài ............................................................................................ 24

III. KẾT LUẬN .......................................................................................................... 26

IV. KIẾN NGHỊ .......................................................................................................... 26

1.Đối với nhà trường ................................................................................................. 26

2. Đối với giáo viên ................................................................................................... 27

1

ĐỀ TÀI

SỬ DỤNG PHƢƠNG PHÁP SÂN KHẤU HÓA

TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ BÀI 16 VÀ BÀI 19 - LỊCH SỬ 10

TẠI TRƢỜNG THPT NGUYỄN TẤT THÀNH, HUYỆN ĐẮKRLẤP

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Lý do chọn đề tài

Bác Hồ đã từng nói “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt

Nam”. Lịch sử là môn học mang tính nhân văn và phát triển con người. Nó không

chỉ hướng con người biết về những mối quan hệ hiện tại, kết nối hiện tại với quá

khứ mà còn tạo nền tảng cho sự phát triển của tương lai, dạy cho con người biết

đến lòng yêu quê hương xứ sở, chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn, hình thành

nhân cách và bản lĩnh vững vàng.

Tuy nhiên, thế hệ trẻ ngày nay lại đang thờ ơ, quay lưng lại với lịch sử nước

nhà, các em hiểu rất ít về lịch sử vẻ vang của dân tộc, thâm chí nhiều em...không

phân biệt? Có ý nghĩa ra sao? Lịch sử nước ta trải qua những giai đoạn nào? Trái lại,

khi nhắc đến lịch sử Trung Quốc, các em hiểu rất rõ và tỏ ra thích thú. Tại sao lại

đáng buồn như vậy? Có lẽ do lịch sử Việt Nam ít dựng thành phim hoặc những nhà

làm phim không thể hiện được sự hùng tráng của những câu chuyện lịch sử. Và theo

tôi một trong những nguyên nhân mấu chốt dẫn đến học sinh không yêu thích môn

lịch sử, sợ môn lịch sử, học trước quên sau, học một cách thụ động, máy móc là do

phương pháp dạy học của giáo viên. Nhiều giáo viên dạy thiếu thực tế, thiếu hình

ảnh, thiếu minh họa, dạy theo lối thầy đọc, trò chép, dạy một chiều, thụ động, nặng

về kiến thức hàn lâm khiến bài học khô khan, nặng nề, khó hiểu, khó hình dung,

không hấp dẫn.

Nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học, dựng lại bức tranh quá khứ một

cách chân thật nhất, tạo nên sự hấp dẫn trong tiết dạy lịch sử, tôi xin được mạo muội đề ra

2

giải pháp “Sử dụng phương pháp sân khấu hóa trong dạy học lịch sử lớp 10 - bài 16 và

bài 19 ở Trường THPT Nguyễn Tất Thành, Huyện ĐắkrLấp”.

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục đích

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận phương pháp dạy học lịch sử, đề tài đi sâu vào

nghiên cứu việc sử dụng phương pháp sân khấu hóa trong dạy học Lịch sử ở trường

THPT Nguyễn Tất Thành.

Rút kinh nghiệm trong việc giảng dạy môn lịch sử ở trường THPT Nguyễn

Tất Thành, nhằm đưa ra những phương pháp dạy học tối ưu nhất, góp phần nâng

cao chất lượng dạy và học lịch sử.

Với đề tài này, tôi sử dụng phương pháp sân khấu hóa để thay đổi cách dạy

và học đối với môn lịch sử, tạo nên sự mới mẽ, không khí sinh động trong giờ học.

Đồng thời với phương pháp này giáo viên cũng phát hiện được kỹ năng trong

học tập bộ môn, kỹ năng diễn xuất của học sinh.

Quá trình thực hiện đề tài, tôi mong muốn giờ học lịch sử phải thực sự là một

giờ học hấp dẫn, có ý nghĩa giáo dục và phát triển toàn diện cho học sinh.

Giúp cho đồng nghiệp trong trường dạy môn lịch sử cải tiến phương pháp

dạy học theo hướng tích cực, giúp cho học sinh yêu thích học tập môn lịch sử và

nâng cao chất lượng bộ môn.

2.2. Nhiệm vụ

Thông qua tìm hiểu nội dung lí luận dạy học nói chung, đặc thù bộ môn nói

riêng để làm rõ nội hàm khái niệm phương pháp sân khấu hóa trong dạy học lịch sử

trên lớp đạt hiệu quả cao.

Đề xuất một số phương pháp sư phạm nhằm phát huy tính tích cực học tập

của học sinh trong dạy học phần lịch sử dân tộc.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các hình thức, phương pháp dạy học

sân khấu hóa tại Trường THPT Nguyễn Tất Thành, huyện Đắk R’Lấp.

3

Đây là đề tài có phạm vi vận dụng rộng, cho nên trong giới hạn một sáng

kiến, tôi chỉ xin đi vào nghiên cứu hình thức này theo một vấn đề cụ thể là: “Ngô

Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 938” “Bài 16: Thời Bắc thuộc và các cuộc

đấu tranh giành độc lập dân tộc”; “Các cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông –

Nguyên ở thế kỉ XIII”. “Bài 19: Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các

thế kỉ X – XV”, chương trình SGK Lịch sử 10, ban Cơ bản.

3. Phƣơng pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, tôi kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau:

Phương pháp giáo dục học: phương pháp này được sử dụng để trình bày,

phân tích cơ sở kiến thức của tái hiện lịch sử về nội dung và và ý nghĩa, đặc biệt là

ý nghĩa giáo dưỡng.

Phương pháp lịch sử để xem xét các sự kiện, hiện tượng trong hoàn cảnh lịch

sử nó diễn ra, nhờ đó sắp xếp các vấn đề được chọn trình bày theo trình tự thời gian.

Phương pháp logic được thể hiện xuyên suốt trong cả đề tài, sắp xếp câu văn,

các nội sung sao cho hợp lí. Do đó, đề tài bao giờ cũng đi từ chỗ lí luận làm cơ sở

rồi đến vận dụng. Trong vận dụng thì phải đi từ việc tiến hành đến kết quả đánh giá

rồi mới rút ra nhận xét dựa trên kết quả đã có.

Phương pháp tổng hợp, phân tích để trình bày các vấn đề. Ngoài ra, còn

nhiều phương pháp khác như liệt kê, sưu tầm tài liệu, nghiên cứu lí luận, so sánh,

đối chiếu, thống kê…Trên cơ sở kết hợp nhiều phương pháp, tôi hy vọng đề tài sẽ

có những đóng góp tích cực cho quá trình dạy học bộ môn ở nhà trường.

4. Phạm vi nghiên cứu đề tài.

- Phạm vi thời gian, đề tài được nghiên cứu trong học kì II, năm học: 2020 – 2021 và

được áp dụng trong năm học 2021 – 2022.

- Phạm vi không gian, đề tài được thực hiện tại 4 lớp gồm 10a1, 10a2, 10a5,

10a7 trường THPT Nguyễn Tất Thành, Huyện Đắk R’Lấp.

- Phạm vi nội dung, sử dụng phương pháp sân khấu hóa nhằm tái hiện lịch sử

trong phạm vi bài 16 và bài 19 sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 - chương trình cơ bản.

4

II. NỘI DUNG

1.Tính mới của đề tài

Qua nghiên cứu và tìm hiểu tại đơn vị công tác, tôi nhận thấy ở Trường THPT

Nguyễn Tất Thành, Đắk R’Lấp, Đắk Nông chưa có giáo viên dạy sử nào thực hiện đề

tài này.

Trong thực tế giảng dạy bộ môn lịch sử tại đơn vị, tôi thấy đề tài này rất cần

thiết để áp dụng trong quá trình dạy học nhằm đáp ứng được vấn đề đổi mới phương

pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực và năng lực học tập của học sinh.

2. Thực trạng giải quyết vấn đề

2.1. Cơ sở lí luận của vấn đề

Sử gia Heraclit đã nói “Không ai tắm được hai lần trên cùng một dòng sông”.

Và thời gian như dòng nước trôi mãi, chính vì thế, những gì là của ngày hôm qua

hay thậm chí là trước khi chúng ta nói ra đều sẽ trở thành quá khứ. Nó chỉ còn lưu

lại trong trí nhớ con người. Điều quan trọng nhất là trong quá trình sống, con người

phải nhận thức được quá khứ, vận dụng quá khứ vào hiện tại và tương lai. Giáo dục

lịch sử đáp ứng được yêu cầu đó. Nhà sử học người Pháp M.BoLoc đã nhận xét:

“Lịch sử là kinh nghiệm sâu rộng về nhiều mặt của loài người, sự gặp gỡ của

những con người trong các thế kỉ. Nếu sự gặp gỡ này diễn ra một cách thân thiện

thì sẽ có lợi bao nhiêu cho cuộc sống, cho khoa học”.

Cũng như nhiều bộ môn khác trong trường phổ thông, môn Lịch sử cũng

thực hiện hai chức năng chính là giáo dục và giáo dưỡng. Nó đảm bảo cung cấp cho

học sinh những kiến thức cơ bản, có hệ thống về lịch sử phát triển hợp quy luật của

dân tộc và xã hội loài người. Đồng thời, lịch sử cũng giáo dục lòng yêu nước, tinh

thần tự hào dân tộc, qua đó nâng cao năng lực tư duy và nhận thức cho học sinh.

Từ chỗ xác định ưu thế, tầm quan trọng của bộ môn Lịch sử trong việc giáo

dục thế hệ trẻ, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như các ban ngành liên quan đã có

nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy sử và học sử ở trường phổ thông.

Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, quá trình giao lưu hợp tác ngày càng diễn ra

5

mạnh mẽ. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải giữ gìn và phát huy truyền thống

văn hóa dân tộc. Dạy học Lịch sử cũng phải tự đổi mới để thích ứng với hoàn cảnh.

Đổi mới không phải là xóa bỏ hoàn toàn những gì đã có. Trên cơ sở phân tích

những mặt được, mặt không được, chúng ta phải cải tiến theo yêu cầu chung nhưng

không làm mất đi những nét truyền thống tốt đẹp vốn có. Đồng thời, việc giảng dạy

phải đưa ra được những biện pháp, cách thức mới nhằm nâng cao chất lượng dạy

và học. Muốn thế đội ngũ giáo viên năng động là một yếu tố không thể thiếu.

Người giáo viên ngày nay không những phải có kiến thức mà đặc biệt còn phải có

phương pháp. Người giáo viên trực tiếp và chủ động trong việc đưa ra cách thức và

con đường tiến hành một bài dạy sao cho việc truyền thụ được hiệu quả nhất. Muốn

vậy, phương pháp phải kết hợp giữa việc cung cấp kiến thức và tạo ra nguồn hứng

thú học tập cho học sinh. Lịch sử là những gì đã xảy ra, do đó chúng ta không thể

trực tiếp quan sát đối tượng mà phải tái hiện lại một cách gián tiếp. Trước đây chỉ

có giáo viên thực hiện nhiệm vụ tái hiện này. Nhưng có thể nói, việc cho học sinh

trực tiếp tham gia tái hiện lịch sử thông qua hành động và lời nói của chính bản

thân các em là một phương pháp đáp ứng được yêu cầu lấy học sinh làm trung tâm,

đồng thời nâng cao hứng thú cho học sinh trong học tập môn Lịch sử. Bởi vậy sử

dụng phương pháp sân khấu hóa trong dạy học lịch sử là một trong những phương

pháp hiệu quả để học sinh dựng lại bức tranh chân thật về quá khứ.

2.2. Cơ sở thực tiễn

Nét đặc trưng làm cho bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông khác với những

bộ môn khác là học sinh không thể trực tiếp tri giác được đối tượng lịch sử. Thông

qua phương pháp dạy học của giáo viên, học sinh phần nào nhận thức được các sự

kiện, hiện tượng lịch sử. Điều này cho chúng ta thấy rõ vai trò định hướng, dẫn dắt

của người giáo viên trong dạy học Lịch sử. Song không phải người giáo viên nào

cũng có khả năng truyền đạt tốt. Phổ biến hiện nay, tình trạng nhiều giáo viên dạy

sử lên lớp chỉ sử dụng bài giáo án viết tay hoặc đánh máy và tiến hành dạy “chay”

không phải là hiện tượng xa lạ. Việc một số giáo viên không tiến hành tìm phương

6

pháp dạy mới có nhiều nguyên nhân, song một nguyên nhân quan trọng là điều kiện

cơ sở vật chất nơi dạy. Có nơi thiếu tranh ảnh, máy tính, nơi thì thiếu kinh phí để

học sinh tiến hành các tiết ngoại khóa, tham quan di tích lịch sử… Do đó, kiến thức

học sinh tiếp nhận mang tính gượng ép, chỉ đơn giản là nhớ để kiểm tra, sau lại

quên vì đơn giản là có “học” mà không có “hành”. Khái niệm “hành” ở môn Lịch

sử không thể hiểu là thực hành trên đối tượng. “Hành” thể hiện qua việc ứng dụng

những gì đã học vào học tập hay nhận thức cuộc sống. Cho học sinh tham gia tái

hiện lịch sử được coi là một biện pháp “hành” có tác dụng tích cực. Song các em

không thể tự tìm hiểu, tự tái hiện mà cần phải có sự hướng dẫn, giúp đỡ của giáo

viên. Khi hai yếu tố “học” và “hành” được kết hợp chặt chẽ thì sẽ tăng cường hứng

thú học tập cho học sinh. Hiểu rõ tầm quan trọng của bộ môn lịch sử, tính cấp thiết

của việc đổi mới phương pháp dạy học, nên Ban giám hiệu nhà trường đã tạo mọi

điều kiện để giáo viên giảng dạy bộ môn Lịch sử được tốt hơn, nâng cao chất lượng

bộ môn, giúp học sinh nhận thức được rằng, học lịch sử, biết lịch sử, hiểu lịch sử và

yêu lịch sử là cực kì quan trọng. Bởi vậy, Ban giám hiệu tạo điều kiện để các tổ bộ

môn lên khung chương trình, tăng tiết, dạy thêm, đầu tư cơ sở vật chất như thiết bị

nghe nhìn, đồ dùng dạy học (tranh ảnh, lược đồ, sách giáo khoa, sách tham

khảo…), ôn lại những ký ức truyền thống thông qua tiết sinh hoạt dưới cờ, kỷ niệm

những ngày lễ lớn, tạo điều kiện cho học sinh được thăm quan học tập, về nguồn,

cử giáo viên tham gia tập huấn nhằm nâng cao chuyên môn nghiệp vụ.

Về phía đội ngũ giáo viên: nhiều giáo viên có sự đầu tư chuyên môn, chăm

chút tiết dạy, đổi mới phương pháp dạy học như sử dụng giảng dạy bằng giáo án

điện tử, sử dụng tài liệu liên môn, chiếu phim tư liệu, làm đồ dùng dạy học…

2.3. Nguyên nhân

Từ cơ sở lí luận và thực tiễn nêu trên, trong công tác giảng dạy tại trường, tôi

nhận thấy còn tồn tại một số hạn chế ảnh hưởng đến việc đổi mới phương pháp

giảng dạy, đặc biệt là đối với sử dụng phương pháp sân khấu hóa.

7

Phòng học chật hẹp, thiếu không gian cho các em biểu diễn, kinh phí còn

hạn chế (Vì các em phải đầu tư để làm trang phục, đạo cụ để biểu diễn…). Tài liệu,

tư liệu tham khảo thì chưa phong phú, đa dạng.

Đa phần các em có lực học yếu, lười suy nghĩ, lười vận động, không chủ

động tìm hiểu, nắm bắt kiến thức. Nhiều học sinh vừa đi học vừa đi làm nên khó có

thời gian sưu tầm tư liệu, sự kiện lịch sử, tìm hiểu kiến thức, đặc biệt là tư liệu gốc.

Một số giáo viên còn chủ yếu giảng dạy theo phương pháp cũ, ngại đổi mới,

thiếu sự đầu tư cho bài giảng.

Chính vì vậy, khi chọn đề tài này, tôi muốn khám phá một con đường, một

biện pháp tích cực mang lại hiệu quả cho việc nâng cao chất lượng dạy và học môn

Lịch sử tại đơn vị.

3. Các biện pháp giải quyết vấn đề

3.1. Lí luận về phƣơng pháp dạy học Lịch sử bằng hình thức sân khấu hóa.

Sân khấu hóa là tái hiện, là trình bày lại quá khứ đúng như bản chất mà nó

có. Trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông việc tái hiện này thường do giáo

viên thực hiện trong quá trình lên lớp. Đó được coi là phương pháp dạy học một

chiều. Việc cho học sinh tham gia tái hiện lịch sử là cách học mới lấy học sinh làm

trung tâm. Dạy học bằng sân khấu hóa là sự tham gia của học sinh diễn ra có tổ

chức nhằm thể hiện tài năng tái hiện lại lịch sử. Vì thế nó không chỉ đánh giá chính

xác mức độ lĩnh hội kiến thức của học sinh mà còn đánh giá được kĩ năng hành

động, thái độ tình cảm đối với vấn đề lịch sử.

3.2. Những nguyên tắc cơ bản khi thực hiện phƣơng pháp dạy học Lịch

sử bằng hình thức sân khấu hóa.

Dạy học thông qua sân khấu hóa là sự kết hợp giữa hình thức nhập vai với

trò chơi giáo dục. Học sinh sẽ trình diễn theo một kịch bản, một nhân vật lịch sử cụ

thể. Điều khó là các em phải hóa thân vào những nhân vật mà mình không trực tiếp

chứng kiến mà chỉ gián tiếp qua sách vở, lời giảng của thầy cô vì lịch sử là những

gì đã xảy ra trong quá khứ. Để xây dựng một biểu tượng lịch sử, các em phải biết

8

sống với vai diễn, thể hiện cho được những gì thuộc về bản chất nhân vật. Trong

các phần tái hiện lịch sử, kịch bản được coi là sự sáng tạo. Kịch bản phải dựa trên

một cốt truyện lịch sử có thật, đảm bảo cả tính khoa học và tính nghệ thuật. Về mặt

này, hoạt động của học sinh phần nào giống với hoạt động của diễn viên trên sân

khấu. Học sinh phải nhập vào vai diễn, làm cho khán giả hiểu đúng và rung động

với nhân vật. Việc đánh giá các phần thi tái hiện lịch sử dựa trên nhiều tiêu chí như

kịch bản hay, diễn xuất tốt và cả hiệu quả giáo dục đem lại.

3.3. Các bƣớc thực hiện một bài giảng sử dụng sân khấu hóa Lịch sử

Để tiết dạy thành công, để học sinh có thể tái hiện một kịch bản, một nhân vật

lịch sử chính xác như những gì đã từng trải qua trong quá khứ, đặc biệt qua phần tái

hiện lịch sử, học sinh có thể rút ra và nhớ những kiến thức cơ bản, trọng tâm, yêu cầu

người giáo viên phải có sự đầu tư, chuẩn bị chu đáo, thực hiện qua các bước:

Bước 1: giáo viên lựa chọn câu chuyện, nhân vật lịch sử trọng tâm, hấp dẫn

nằm ở một bài học cụ thể trong khung chương trình sách giáo khoa. Kịch bản đó

phải thể hiện được nội dung kiến thức cần tìm hiểu.

Bước 2: Soạn giáo án, xây dựng nội dung cần sử dụng phương pháp sân khấu hóa.

Bước 3: Chia nhóm và giao nhiệm vụ cho từng thành viên.

Bước 4: Hướng dẫn, tư vấn, giới thiệu tài liệu để học sinh tiếp cận kiến thức,

tìm hiểu tư liệu, phân vai, làm đạo cụ…

Bước 5: Giáo viên thường xuyên kiểm tra tiến độ thực hiện của các em. Nếu

khó khăn giáo viên có thể hỗ trợ (Tuyệt đối không được làm thay).

Bước 6: Duyệt kịch bản.

Bước 7: Tiến hành – biểu diễn.

Bước 8: Qua phần biểu diễn kịch bản, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu

kiến thức, rút ra bài học.

Bươc 9: Giáo viên nhận xét, đánh giá…

9

3.4. Giới thiệu một số kịch bản dùng để tái hiện lịch sử trong phạm vi

bài 16 và bài 19 sách giáo khoa Lịch sử lớp 10

3.4.1. Bài 16 “Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập dân

tộc”, phần “Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 839”.

* Nội dung cơ bản:

Năm 937, Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn giết hại. Năm 938, Ngô

Quyền đem quân đánh Kiều Công Tiễn. Kiều Công Tiễn cho người sang cầu cứu

nhà Nam Hán. Lợi dụng cơ hội này, quân Nam Hán sang xâm lược nước ta.

Ngô Quyền tiến quân vào thành Đại La, bắt giết Kiều Công Tiễn và tổ chức

đánh quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, giành thắng lợi.

Ý nghĩa: chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đã kết thúc ngàn năm Bắc thuộc,

mở ra thời kì độc lập, tự chủ lâu dài của dân tộc.

* Vận dụng kịch bản chiến thắng Bạch Đằng năm 938.

Dẫn truyện: Tháng 3/937, Kiều Công Tiễn sát hại Dương Đình Nghệ ngay

tại thành Đại La. Mùa Đông năm 938, Ngô Quyền thống lĩnh thủy binh ra Bắc dẹp

loạn Kiều Công Tiễn. Biết tin, Kiều Công Tiễn hoảng hốt sai sứ sang cầu cứu nhà

Nam Hán đưa quân tiếp viện.

Vua Nam Hán Lưu Tung phong con trai là Nhạc Dương Hoàng Tháo chức

tịnh hải quân Tiết độ sứ, đổi tước phong là Giao Dương thống lĩnh 2 vạn thủy binh

vượt biển vào xâm lược nước ta.

Nhận được tin báo thủy binh của Hoàng Tháo đang tiến vào đất Việt, Ngô

Quyền và các tướng lĩnh lại bàn kế sách.

Ngô Quyền: Hoàng Tháo là đứa trẻ khờ dại, đem quân từ xa đến, quân lính

còn mỏi mệt, lại nghe Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía

trước rồi. Quân ta sức còn khỏe, nên với quân địch tất phá được. Nhưng bọn chúng

có lợi ở chiến thuyền, ta không phòng bị trước thì thế đường thua chưa biết ra sao,

nên đem cọc lớn vót nhọn, đầu bịt sắt đóng ngầm ở trước cửa biển, thuyền của bọn

chúng theo nước triều lên vào trong hàng cọc thì sau đó ta dễ bề chế ngự.

10

Quân ta cho thuyền ra khiêu chiến, giả vờ thua, bỏ chạy.

Hoàng Tháo: mau đuổi theo bọn chúng cho ta, ha ha…

Quân lính: Thưa tướng quân, bây giờ địch đã vào sâu trong bãi cọc rồi ạ.

Ngô Quyền: tốt lắm, đã đến lúc thủy triều rút rồi, tất cả cùng phản công cho ta.

Quân lính: tuân lệnh.

Quân Nam Hán hốt hoảng.

Quân ta tấn công lên thuyền giao chiến và giành thắng lợi.

Đầu năm Kỉ Hợi, Ngô Quyền xưng vương, chính thức lên ngôi ở kinh đô Cổ

Loa, lịch sử gọi là Ngô Vương Quyền.

3.4.2. Bài 19: “Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các thế kỉ X -

XV”, phần “Các cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông - Nguyên ở thế kỉ XIII”.

* Nội dung cơ bản:

Vấn đề các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta thế kỉ XIII gồm các

nội dung cơ bản sau: ba cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông Nguyên ở thế kỉ XIII.

- Hoàn cảnh lịch sử

Từ thế kỉ XII trở về trước, Mông Cổ còn ở trong tình trạng liên minh các bộ

lạc. Nhưng bước sang thế kỉ XIII, một đế chế Mông Cổ hùng mạnh ra đời và đã

nhanh chóng trở thành một quốc gia rộng lớn, vắt ngang địa cầu, từ bờ Thái Bình

Dương đến bờ Bắc Hải, gây bao nỗi kinh hoàng cho các dân tộc trên thế giới. Với

đầu óc bành trướng của giới quí tộc Mông Cổ, vó ngựa của chúng đã tung hoành

khắp nơi, đi đến đâu là bắt bớ, tàn sát đến đó.

Đại Việt hùng mạnh và hưng thịnh trở thành miếng mồi tiếp theo trên con

đường chinh phục xuống phương Nam. Chúng tuyên bố “càng bọ ngựa mà dám

chống cả xe”, “chỉ trong chốc lát, núi sông sẽ thành đất bằng, vua tôi sẽ thành cỏ mục!”1. Trước âm mưu của kẻ thù xâm lược, vua tôi nhà Trần gấp rút chuẩn bị cho

cuộc chiến không thể tránh khỏi.

- Diễn biến:

11

Năm 1257, Thành Cát Tư Hãn sai sứ sang đòi nhà Trần đầu hàng. Trước sự

ngang ngược của chúng, vua Trần cho bắt trói sứ giả ném vào nhà giam và ra lệnh

cho cả nước chuẩn bị chiến đấu.

Chờ mãi không thấy sứ giả về, đầu năm 1258, 3 vạn quân Mông Cổ do Ngột

Lương Hợp Thai chỉ huy theo đường sông Thao kéo sang nước ta.

Ngày 17/1/1258, một trận chiến ác liệt đã diễn ra tại Bình Lệ Nguyên, Trần

Thái Tông trực tiếp chỉ huy trận đọ sức đầu tiên này. Trước thế giặc mạnh, quân ta

rút về Thăng Long, rồi rút khỏi kinh thành Thăng Long thực hiện kế sách “vườn

không nhà trống”, đẩy địch vào thế nguy khốn.

Ngày 29/1/1258, quân ta tiến hành phản công ồ ạt tại khu vực Đông Bộ Đầu,

3 vạn quân Mông Cổ bị đánh bật ra khỏi kinh thành Thăng Long. Rồi sau đó, chúng

liên tiếp bị đánh bật ra khỏi các vị trí then chốt. Ngột Lương Hợp Thai phải rút

chạy về Vân Nam (Trung Quốc).

Ngày 5/2/1258, cả triều đình về lại kinh thành tổ chức ăn mừng chiến thắng.

Chỉ trong vòng nửa tháng, cuộc xâm lược lần thứ nhất của quân Mông Cổ bị đại bại.

Đến năm 1285, sau khi chiếm xong Trung Quốc và thiết lập chính quyền đô

hộ tại đây, quân Mông Cổ tiến hành đánh chiếm Champa làm bàn đạp tấn công từ

phía Nam lên nhằm tiến hành xâm lược Đại Việt lần thứ hai. Lần này chúng mang

theo 50 vạn quân do Thoát Hoan chỉ huy, tấn công Đại Việt.

Vua tôi nhà Trần đã ra sức chuẩn bị cho cuộc kháng chiến. Năm 1282, hội

nghị Bình Than được tổ chức nhằm nhất trí về phương hướng chiến lược chống

xâm lược. Đây là hội nghị điển hình về nghệ thuật xây dựng sự thống nhất trong

nhận thức của đội ngũ những người trực tiếp cầm quyền. Đến năm 1285, một sự kiện

độc đáo chưa từng có trong lịch sử cổ trung đại Việt Nam, đó là hội nghị Diên Hồng.

Khối đại đoàn kết của toàn dân được củng cố, sẵn sàng cho trận chiến sắp đến.

Ngày 27/1/1285, quân xâm lược bắt đầu tràn vào biên giới phía Bắc và tấn

công ồ ạt vào Nội Bàn, quân ta do Trần Hưng Đạo chỉ huy tạm thời lui về Vạn Kiếp.

12

Một lần nữa, quân dân Đại Việt bỏ lại kinh thành, rút lui về phía Nam, lập tức

quân Toa Đô được lệnh từ Champa đánh lên để khép chặt vòng vây vua tôi nhà Trần.

Dưới sự chỉ huy của Trần Quốc Tuấn, nhà Trần đã đánh lừa bọn giặc, vượt

vòng vây, đợi khi thời cơ đến tiến hành phản công, cắt đôi lực lượng giặc và đánh

mạnh vào các căn cứ phòng thủ của chúng ở ven Thăng Long.

Giặc bị đánh ở nhiều trận và bị tiêu diệt ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương.

Cuối tháng 4/1285, quân đội nhà Trần đã lấy lại được Thăng Long. Trước sự tấn

công của ta, Thoát Hoan vội vã chui vào ống đồng sai lính khiêng chạy về nước.

Đại bộ phận quân giặc bị tiêu diệt. Toa Đô bị chém đầu. Sau 2 tháng phản công,

quân dân Đại Việt đã đánh tan hơn nửa triệu quân xâm lược.

Sau hai lần thất bại, Hốt Tất Liệt vô cùng tức tối, y quyết định hoãn cuộc xâm

lược Nhật Bản, tập trung đánh trả thù Đại Việt. Cuối năm 1287, 50 vạn bộ binh, do

Thoát Hoan chỉ huy, được lệnh xuất phát, cùng với một hạm đội gồm 600 chiến

thuyền do Ô Mã Nhi chỉ huy và 70 thuyền lương do Trương Văn Hổ phụ trách.

Bộ binh theo hai đường Lạng Sơn, Vân Nam kéo xuống. Cánh quân thủy

theo ngã Vân Đồn vào cửa sông Bạch Đằng để hội với Thoát Hoan ở Vạn Kiếp.

Cuối tháng 12 năm 1287, tại Vân Đồn, Trần Khánh Dư đánh đắm toàn bộ

đoàn thuyền lương của địch làm cho Thoát Hoan vô cùng tức tối nên xua quân vào

Thăng Long để bắt vua Trần, nhưng vua Trần đã rút khỏi kinh thành.

Giặc điên cuồng cướp phá các làng mạc, nhưng chúng lại bị nhân dân chống

trả quyết liệt. Trước tình thế nguy khốn, Thoát Hoan ra lệnh đốt phá Thăng Long

và rút về Vạn Kiếp. Nhưng Vạn Kiếp cũng chẳng là chốn dung thân nên y quyết

định nhanh chóng rút quân về nước. Nhưng chúng lại bị quân ta mai phục tiêu diệt.

Đầu tháng 4 năm 1288, đoàn thuyền của Ô Mã Nhi rút lui theo đường sông

Bạch Đằng bị quân ta dồn vào bãi cọc ở ngã ba sông Chanh để diệt gọn. Ô Mã Nhi

bị bắt sống. Cùng thời gian này, ta liên tiếp phục kích, đánh tả tơi đạo quân bộ rút

chạy theo hướng Lạng Sơn. Thoát Hoan cùng một số tướng liều mình băng rừng

theo đường tắt về nước. Cuộc xâm lược lần thứ ba của quân thù bị đập tan.

13

Ngày 28/4/1288, vua Trần và triều đình trở về lại kinh đô làm lễ ăn mừng

chiến thắng trong không khí đất nước thái bình.

- Ý nghĩa

Thắng lợi của ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên đã đè bẹp

hoàn toàn ý chí xâm lược Đại Việt của kẻ thù, giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc.

Đồng thời chiến thắng đó góp phần ngăn chặn sự bành trướng của đế quốc Mông

Cổ xuống vùng Đông Nam Á và có tác dụng thúc đẩy phong trào đấu tranh của các

dân tộc dân tộc ở châu Á.

Học sinh đang thực hiện kịch bản

3.4.3. Vận dụng một số kịch bản tái hiện trong phạm vi vấn đề các cuộc

kháng chiến chống xâm lược Mông – Nguyên ở thế kỉ XIII.

* Hội nghị Diên Hồng

Kịch bản này được sử dụng trong bài 19 Lịch sử 10, phần II (Các cuộc kháng

chiến chống xâm lược Mông – Nguyên ở thế kỉ XIII). Kịch bản có nội dung về sự

chuẩn bị của vua tôi nhà Trần cho cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên lần 2.

Do đó có thể đưa vào bài học khi giáo viên giảng về cuộc kháng chiến chống Mông

– Nguyên lần 2, hoặc để minh họa cho nguyên nhân thắng lợi của ba lần kháng

chiến đó là tinh thần đoàn kết của cả dân tộc.

Dẫn truyện: Đầu thế kỉ XIII, đế chế Mông Cổ được hình thành. Chỉ hơn nửa

thế kỉ, quý tộc phong kiến Mông Cổ đã lôi kéo phần lớn thế giới vào những cuộc

14

chiến tranh khủng khiếp. Gươm giáo, máu lửa, tính dã man và đầu óc bành trướng

của quý tộc Mông Cổ đã tạo nên một đế chế rộng lớn từ bờ Thái Bình Dương đến

bên kia Hắc Hải chưa từng có trong lịch sử thế giới. Đại Việt hưng thịnh trở thành

miếng mồi ngon trên con đường chinh phục của chúng. Thế nhưng chúng phải chịu

một thất bại nhục nhã năm 1258. Căm phẫn cùng dã tâm quyết chiếm cho bằng

được đất nước này đã khiến chúng quyết định tấn công lần hai năm 1285. Trước

tình hình đó, tháng 1/1285, thượng hoàng Thánh Tông mời các bậc phụ lão có uy

tín trong nước về kinh đô hỏi kế đánh giặc. Hội nghị diễn ra tại điện Diên Hồng.

Dẫn truyện: Toàn dân nghe chăng?

Sơn hà nguy biến!

Hận thù đằng đằng.

Biên thùy rung chuyển…

Tuôn giày non sông rền vang tiếng vó câu, gây oán nghìn thu.

Toàn dân tiên long

Sơn hà nguy biến!

Hận thù đằng đằng

Nên hòa hay chiến.

Diên Hồng tâu lên cùng minh đế báo ân hỡi đâu tứ dân.

Thái Thƣợng Hoàng: Như các thần đã biết, quân Nguyên chưa khiếp sợ sau

thất bại lần trước. Nay chúng tiếp tục đem quân sang xâm lược nước ta. Với binh hùng

tướng mạnh, lực lượng đông đảo hơn, ta muốn hỏi ý kiến các khanh xem thế nào.

Quan Văn: Dạ bẩm hoàng thượng, đất nước ta nhỏ bé, dù thắng trận trước

nhưng chỉ là ăn may thôi ạ. Với sức mạnh của chúng lần này, không khéo chúng ta

không còn lấy một bát cháo mà húp, chứ đừng nói là đánh thắng. Thôi thì theo thần

nghĩ … ta nên giảng hòa với chúng, may ra còn được yên thân mà sống sót.

Trần Hƣng Đạo: Ông nói thế mà nghe được à? Trang sử nước ta còn ghi lại

bao chiến công hiển hách của cha ông. Độc lập hiện nay của nước ta là do họ, ta

phải biết noi gương họ mà chiến đấu và bảo vệ nước nhà.

15

Quan Văn: Này sư huynh, huynh xem lại quân dân ta thế nào cái đã. Dù

trang sử có hào hùng, vẻ vang nhưng so sức ta với quân Nguyên Mông thì… Thần

nói thật chắc chỉ bằng lỗ mũi. Quân Nguyên Mông lớn mạnh thế kia đánh chiếm

toàn thiên hạ, ngay cả nước Tống hùng mạnh mà cũng bị chúng nuốt gọn, huống

chi nước ta quân lực không bao nhiêu. Thay vì thế, ta thật dù đau lòng nhưng thần

không biết Trần Hưng Đạo dựa vào đâu để đánh nữa ạ. Xin bệ hạ suy xét.

Vua: Ta cũng đang nghĩ xem có nên hàng giặc hay không. Nếu đầu hàng

giặc ta sẽ tránh được cảnh chiến tranh đẫm máu, nhân dân lầm than. Ta sợ nhân dân

không chịu nổi. Trước thế giặc mạnh thế này, ta nghĩ cũng cần phải suy xét kĩ.

Trần Hƣng Đạo: Bẫm bệ hạ, tuy quân ta không đông bằng, khí tài ta có thể

không đầy đủ nhưng nhân dân ta có lòng yêu nước, lòng tự hào về những chiến

công hào hùng và tinh thần chiến đấu bất diệt. Nếu bệ hạ đầu hàng giặc thì nhân

dân ta còn lầm than gấp trăm, gấp ngàn lần nữa ạ. Lời của bệ hạ quả là lời của bậc

nhân nghĩa. Nhưng còn tôn miếu xã tắc thì sao? Xin bệ hạ suy xét cho thật kĩ ạ.

Dẫn truyện: Kì vừng hồng, tràn lan từ đỉnh núi.

Ôi Thăng Long, khói kinh kì phơi phới.

Loa vang vang chiếu ban truyền bốn phương

Theo gió bay khắp miền sông núi réo đòi.

Lòng dân Lạc Hồng nhìn non nước yêu quê hương

Giống anh hùng nâng cao chí lớn, giống anh hùng đua sức cán trường

Ta lên đường lòng mong tâu long nhan

Dòng Lạc Hồng xin thề liều thân liều thân.

Đường còn dài, hồn vương trên quan tái.

Xa xa trông áng mây đầu non Đoài

Trần Hƣng Đạo: Trông quân Nguyên tàn phá non sông nhà.

Đoạt thành trì toan xéo giày lăng miếu

Nhìn bao quân Thoát lấn xâm tràn nước ta

Ôi! Sông núi nhà rền muôn tiếng dân kêu la.

16

Vua: Trước nhục nước nên hòa hay đánh?

Toàn thể: Đánh!

Vua: Trước nhục nước nên hòa hay đánh?

Toàn thể: Đánh! Đánh!

Vua: Thế nước yếu lấy gì ta chiến chinh?

Toàn thể: Hi sinh!

Vua: Thế nước yếu lấy gì ta chiến chinh?

Toàn thể: Hi sinh! Hi sinh!

Dẫn truyện: Tiếng hô đánh của các phụ lão ở điện Diên Hồng biểu lộ tinh

thần quyết chiến của toàn dân, quyết chiến lúc sơn hà nguy biến. Đó là tiếng nói và

nguyện vọng của cả dân tộc. Các bô lão đã đưa đến vua Trần câu trả lời quyết chiến

của nhân dân ở các lộ trong cả nước và cũng mang từ Thăng Long về khắp nơi cái

không khí quyết tâm chống giặc giữ nước của hội nghị lịch sử có một không hai

này. Hội nghị Diên Hồng đã đưa đất nước vào trạng thái toàn dân quyết tâm và sẵn

sàng kháng chiến, đã thổi bùng lên khắp đất nước ngọn lửa của tinh thần “Sát Thát”.

Học sinh đang tích cực tập luyện

* Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn

Kịch bản này được sử dụng trong bài 19 Lịch sử 10, phần II (Các cuộc

kháng chiến chống xâm lược Mông – Nguyên ở thế kỉ XIII). Kịch bản được dùng để

nói nhân vật Trần Quốc Tuấn. Nên để kịch bản này trong phần chuẩn bị của vua

17

tôi nhà Trần cho cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên lần 2, sau hội nghị Bình

Than khi Trần Quốc Tuấn được phong làm thống lĩnh toàn quân.

Dẫn truyện: Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn sinh năm 1226, quê ở làng

Tức Mặc, phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định. Ông là con trai thứ của An Sinh Vương

Trần Liễu, cháu của vua Trần Thánh Tông. Sử sách ghi nhận ông là danh tướng Việt

Nam và anh hùng dân tộc. Những câu chuyện về cuộc đời, về đức độ, sự trung quân ái

quốc và tài năng lãnh đạo tài tình của ông vẫn còn được lưu truyền và gìn giữ ngàn đời.

Dẫn truyện: Khi còn nhỏ, Trần Quốc Tuấn đã tỏ ra thông minh nhanh nhẹn,

học một biết mười, có năng khiếu cả về văn lẫn võ nghệ. Thấy con sáng dạ, Trần

Liễu đã không tiếc tiền của, công sức mời thầy giáo có tiếng khắp nơi về dạy với

mong muốn sau này Trần Quốc Tuấn sẽ trở thành người tài giỏi.

Dẫn truyện: Một lần, khi đã có quyền cao chức trọng, ông nhớ lại lời cha

dặn trước lúc lâm chung. Lúc đó là năm 1251, Trần Liễu lâm bệnh nặng. Trước khi

qua đời, ông gọi con lại bên cạnh…

Trần Liễu: Con mà không vì cha lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối

vàng cũng không nhắm mắt được.

Trần Quốc Tuấn: Vâng! Con xin nghe lời cha.

Dẫn truyện: Trần Quốc Tuấn bèn đem chuyện này hỏi ý kiến của những người

thân cận.

Trần Quốc Tuấn: Ngày xưa cha ta uất hận vua Trần cướp vợ nên dấy binh

làm loạn, đến khi chết vẫn không trả được thù. Nay muốn ta lấy cả giang sơn để có

thể rửa nhục nhà, có thế mới yên lòng nhắm mắt nơi suối vàng. Vậy các ngươi nghĩ

ta có nên làm theo lời cha.

Yết Kiêu: Người là bậc nhân nghĩa, lại là đứa con có hiếu. Nhục nhà thì ai

mà không muốn trả. Nhưng nếu chỉ vì thế mà đổi chủ thì há là hợp đạo lí? Huống

chi vua Trần đối với người ơn trọng như núi, lại sủng ái hết mực, vậy hà cớ gì phải

làm chuyện trái lương tâm? Tôi nghĩ chuyện xưa không nên suy tính lại, ắt hẳn phụ

thân người nơi chín suối cũng sẽ hiểu.

18

Dã Tƣợng: Làm kế ấy tuy được phú quý một thời, nhưng để lại tiếng xấu

ngàn năm. Nay Đại Vương há chẳng đã phú quý rồi sao? Chúng tôi xin thề chết già

làm nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu.

Yết Kiêu: Đúng thế! Chúng tôi nguyện thề một lòng dốc sức cùng Đại

Vương giữ gìn non sông đất nước, công danh không màng.

Trần Quốc Tuấn: Quả là đấng nam nhi đầu đội trời, chân đạp đất, dù chết

cũng không từ bỏ chữ trung hiếu từ ngàn xưa. Thật là khá khen thay! Ta đây được

như ngày hôm nay cũng nhờ một phần ở mọi người “Chim hồng hạc bay cao được

là nhờ ở sáu trụ cánh vững chắc. Nếu không thì chỉ là chim thường mà thôi”.

Dẫn truyện: Cuộc nói chuyện ấy làm Trần Quốc Tuấn xúc động đến khóc,

khen ngợi hai người. Ông lại đem chuyện này hỏi con mình. Ông gọi con đến hỏi…

Trần Quốc Tuấn: Nhớ chuyện xưa vẫn còn để lại trong lòng cha bao niềm

suy nghĩ. Ông các con trước khi chết còn nhắc nhở phải trả cho được mối hận này.

Cha đắn đo muốn xem ý kiến các con thế nào?

Hƣng Vũ vƣơng: Dẫu khác họ cũng còn không nên, huống chi là một họ.

Dẫn truyện: Quốc Tuấn nhìn con mà thấy vui trong lòng, quay sang đứa con

còn lại đang đứng cạnh mình là Hưng Nhượng vương…

Trần Quốc Tuấn: Còn ý con thế nào?

Hƣng Nhƣợng vƣơng: Tống Thái Tổ vốn là một người làm ruộng, đã thừa

cơ dấy vận nên có được thiên hạ. Nay cha còn hơn cả Tống Thái Tổ khi xưa, vậy

sao không làm chuyện lớn?

Dẫn truyện: Quốc Tuấn giận lắm, tuốt gươm…

Trần Quốc Tuấn: Ngươi là đồ phản nghịch, khích lệ việc cướp ngôi. Tên loạn

thần là từ đứa con bất hiếu mà ra. Ta phải chém ngươi để trừ cái họa nhục gia môn về sau.

Dẫn truyện: Trần Hưng đạo rút gươm toan chém thì Hưng Vũ vương đứng

ra can ngăn, xin cha tha cho. Quốc Tuấn giận dữ quay sang Hưng Vũ vương…

Trần Quốc Tuấn: Khi ta chết, hãy đậy nắp quan tài rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng.

19

Dẫn truyện: Quốc Tuấn bỏ đi trong sự kính phục của biết bao người đứng

đó. Đức độ và tài năng của ông đã làm cho người đời phải cảm phục. Bỏ qua mối

thù nhà, ông đã cống hiến hết sức mình cho đất nước, đưa đất nước vượt qua cơn

binh đao, giành lại độc lập. Sau này khi ông mất, đền thờ của ông được xây dựng ở

nhiều nơi như một sự biết ơn của nhân dân.

* Hội nghị Bình Than

Kịch bản này được sử dụng trong bài 19 Lịch sử 10, phần II (Các cuộc

kháng chiến chống xâm lược Mông - Nguyên ở thế kỉ XIII). Nên để kịch bản này

trong phần chuẩn bị của vua tôi nhà Trần cho cuộc kháng chiến chống Mông –

Nguyên lần 2, trước hội nghị Diên Hồng.

Dẫn truyện: Thất bại trong cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ nhất 1258, Hốt

Tất Liệt luôn tìm cách sách nhiễu nhà Trần, ôm mối hận trong lòng và chờ cơ hội

phục thù. Đầu năm 1280, sau khi chiếm xong Nam Tống, Khubilai ra lệnh chiêu dụ

các nước “ngoài biển” đặc biệt là Chiêm Thành. Nhân lúc đó chúng tiến đánh luôn

cả Đại Việt. Cuộc kháng chiến của nhân dân Champa đã góp phần trì hoãn cuộc

chiến tranh xâm lược Đại Việt. Để chuẩn bị cuộc chiến đang đến gần, vua tôi nhà

Trần đã tích cực cho quân sĩ luyện tập ngày đêm. Ngòi lửa chiến tranh sắp bùng nổ.

Tháng 11 năm 1282, vua Trần ra Bình Than đến Trần Xá loan mở hội nghị các

vương hầu quan lại để bàn kế đánh giặc. Hội nghị diễn ra tại bến Bình Than, là cửa

sông lớn, nơi sông Đuống đổ ra sông Lục Đầu, gần Thái ấp Vạn Kiếp của Trần Hưng

Đạo, là địa điểm quân sự hiểm yếu của cả nước. Đây là hội nghị quân sự cấp cao của

quốc gia, do Thái Thượng Hoàng Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông chủ trì.

Thái Thƣợng Hoàng: Như các khanh đã biết, giặc phương Bắc nhiều lần

lăm le xâm chiếm bờ cõi nước ta. Thất bại lần trước đã khiến chúng vô cùng căm

phẫn. Vua của chúng lần này quyết tâm chiếm cho bằng được nước ta. Vì thế chúng

đã huy động một lực lượng viễn chinh hết sức hùng hậu do Thoát Hoan cầm đầu

tiến đánh nước ta.

20

Vua: Chính do đó, hôm nay ta triệu tập các khanh tại đây để bàn kế sách đối

phó với giặc. Ta đã mời các vương hầu võ tướng, đồng thời tha tội cho Nhân Huệ

Vương Trần Khánh Dư về để nêu ý kiến. Ta biết Nhân Huệ Vương là người hiền

tài, lại giỏi mưu lược, trung nghĩa, không thể vì một tội nhỏ mà không dùng. Vả lại

đất nước đang lâm nguy, cái ta cần là những người hiếu nghĩa, sẵn sàng hi sinh vì

đại cuộc. Các khanh nghĩ có đúng không?

Tất cả: Thánh Thượng anh minh!

Trần Khánh Dƣ: Đội ơn bệ hạ! Thần xin hết lòng vì tôn miếu xã tắc, có

chết cũng không từ nan.

Vua: Được lắm! Các khanh hãy cho trẫm ý kiến, chúng ta nên làm gì trước

thế giặc mạnh như thế này?

Quan văn: Bẩm thánh thượng, theo thần thì quân Nguyên lần này đang dốc

sức đánh Champa mà nước ta là đường mà chúng phải đi qua để tiện bề thuận lợi

công việc. Vậy mục đích của họ chắc chỉ là mượn đường thôi ạ! Vậy thì sao chúng

ta không nhân lúc này viết thư cho chủ của họ nói lên ý của ta muốn cho họ mượn

đường đi đánh Champa. Thể nào họ cũng chấp nhận và cảm tạ nước ta thôi.

Trần Hƣng Đạo: Không thể nói thế được. Chẳng lẽ ông không thấy âm mưu

của bọn giặc hay sao? Chúng đánh Champa chỉ là cái cớ để thực hiện dã tâm đã bị

bỏ lỡ từ trước. Bây giờ họ đã chiếm được đất nước hùng mạnh bên cạnh ta, thế và

lực ngày càng lớn. Mối hận xưa kia há gì họ đã quên. Cho chúng mượn đường đi

khác nào tự tay dâng nước mình cho chúng. Chẳng có thời nào mà giặc phương

Bắc lại xem nước ta là bạn cả, chúng chỉ tìm cơ hội mà nuốt chửng nước ta thôi.

Quan văn: Nhưng ông cũng phải xem lại. Nạn binh đao bao đời làm nhân

dân ta điêu đứng. Sao ta không học theo cách ngoại giao thời trước: đem vàng bạc,

ngọc ngà cống nạp cho chúng để được yên thân, mà lại còn được nước lớn che chở.

Không lo sau này bị nước nào lâm le xâm chiếm.

Trần Hƣng Đạo: Không thể làm thế! Đó là cách cuối cùng khi ta đã không

còn gì. Đằng này ta còn dân, còn nước, dân ta còn một lòng nồng nàn yêu nước.

21

Thế thì tại sao ta lại phải chịu cúi đầu? Chúng ta đến đây là để cùng nhau hợp sức

đánh giặc chứ không phải là bàn hòa. Ông không thể nói những lời dư thừa như thế

được. Phải đánh đến cùng.

Trần Khánh Dƣ: Đúng! Chúng ta dù thể nào cũng phải đánh! Cứ như trận

đánh lần trước mà nhìn, nước ta đâu thua kém họ. Xin bệ hạ có chủ ý!

Vua: Đánh là việc sớm muộn thôi và khả năng diễn ra một trận đánh lớn là

tất yếu. Trẫm triệu các khanh về đây để bàn về việc xây dựng kế hoạch chiến đấu.

Chúng ta phải thống nhất ý chí và hành động trước khi bước vào cuộc chiến đấu

không thể tránh khỏi này.

Tất cả: Tuân lệnh!

Dẫn truyện: Muôn người đồng lòng cùng nhau sát cánh đánh giặc.

Vua: Nay ta xá tội cho Trần Khánh Dư, giao làm Phó tướng cầm quân giữ

miền Đông Bắc của đất nước. Phong cho Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn làm Quốc

Công Tiết Chế, thống lĩnh thiên hạ chư quân. Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải làm

Thượng tướng Thái sư giúp đỡ Trần Quốc Tuấn. Ta mong các khanh hãy cùng nhau

chung sức làm thật tốt nhiệm vụ lần này. Nhất định chúng ta sẽ thắng!.

Tất cả: Bệ hạ vạn tuế! Vạn tuế!

Dẫn truyện: Có thể nói hội nghị Bình Than là một hội nghị quân sự dân chủ

đã đưa cả nước vào tình thế sẵn sàng chiến đấu. Cũng trong lúc hội nghị đang diễn

ra, Trần Quốc Toản vì mới mười sáu tuổi nên không được tham gia, lòng yêu nước

cùng với quyết tâm đánh giặc đã khiến cậu bóp nát quả cam trong tay lúc nào

không biết. Hình ảnh ấy chính là hình ảnh chung của một dân tộc anh hùng, không

bao giờ chịu khuất phục. Lòng dân đã quyết, quyết sách chiến lược đã được ban

hành, chỉ còn chờ ngày sống chết cùng kẻ thù.

3.5. Khả năng áp dụng của đề tài

Đề tài sử dụng sân khấu hóa trong dạy học lịch sử có khả năng áp dụng trong

nhiều bài ở các khối lớp. Chẳng hạn như trong bài “Sự xuất hiện loài người và đời

sống bầy người nguyên thủy”, bài 1 sách giáo khoa Lịch sử lớp 10, chúng ta có thể

22

dựng lên cảnh sinh hoạt, cuộc sống của bầy người nguyên thủy như: chế tạo và sử

dụng công cụ lao động để kiếm thước ăn; cảnh tìm, sử dụng và tạo ra lửa…Trong

bài 8 “Sự hình thành và phát triển các vương quốc chính ở Đông Nam Á”, giáo

viên có thể hướng dẫn học sinh diễn cuộc chinh chiến của người Giécman vào đế

quốc Rô Ma. Bài 23 “Phong trào Tây Sơn và sự nghiệp thống nhất đất nước và bảo

vệ Tổ quốc cuối thế kỉ XVIII”, giáo viên cũng có thể hướng dẫn học sinh dựng lại

trận thủy chiến Rạch Gầm – Xoài Mút hay trận đại phá quân Thanh năm

1789…Trong chương trình sách giáo khoa Lịch sử lớp 11 có nhiều bài giáo viên sử

dụng phương pháp sân khấu hóa như Trung Quốc với phong trào Nghĩa hòa đoàn,

cách mạng Tân Hợi; bài Chiến tranh thế giới thứ hai với nội dung Hội nghị Muy

ních,…Trong chương trình Lịch sử lớp 12, Bài 1: Hội nghị Ianta, Hội nghị thành

lập Liên Hợp quốc; Bài 4 “Các nước Đông Nam Á”: Hội nghị Bali; Hội nghị thành

lập Đảng Cộng sản Việt Nam, bài 13…Hầu hết các bài Lịch sử trong chương trình

phổ thông, giáo viên cũng có thể sử dụng phương pháp sân khấu hóa để học sinh tự dựng

lại bức tranh quá khứ một cách chân thật nhất dưới sự hướng dẫn của giáo viên.

Tuy nhiên phương pháp sân khấu hóa cũng bộc lộ một số hạn chế mà không

phải học sinh nào, lớp nào, trường nào cũng có thể tiến hành được, Bởi thời lượng

một tiết dạy 45 phút nhưng học sinh phải diễn một kịch bản tối thiểu cũng phải hết

25 phút thì không còn thời gian để rút ra nội dung kiến thức cơ bản của chương

trình sách giáo khoa mà Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu. Thời gian giáo viên kiểm

tra bài cũ, thời gian các em chuẩn bị từ đạo cụ đến trang phục, thời gian các em di

chuyển địa điểm để biểu diễn…

Để tổ chức một chương trình sân khấu hóa cần thiết phải có trang phục hóa

trang nhân vật và các vật dụng hỗ trợ khác nên kinh phí không nhỏ.

Sân khấu hóa khó có thể tổ chức trong một tiết học tại một phòng học bình

thường ở giờ học chính khóa. Một mặt vì phòng học không đủ rộng để biểu diễn,

mặt khác sẽ ảnh hưởng đến việc học của các phòng bên cạnh. Số lượng học sinh

tham gia diễn không ít, trong khi đó việc chuẩn bị cho một hoạt động sân khấu tốn

23

nhiều thời gian, công sức chuẩn bị về nội dung, tập luyện vai diễn…nên ít nhiều

ảnh hưởng đến thời gian học tập các môn học khác của học sinh. Trong khi đó các

em phải học nhiều môn và tham gia các hoạt động sinh hoạt khác nên một bộ phận

phụ huynh học sinh không tích cực, tạo điều kiện cho con em mình tham gia.

Trước những thực trạng trên, tôi nhận thấy rằng, việc tổ chức hoạt động sân

khấu hóa lịch sử theo hướng sau sẽ được kết quả và hài hòa hơn:

Giáo viên lựa chọn trong chương trình, bài nào quan trọng, phần nào kiến

thức trọng tâm, ảnh hưởng đến giai đoạn lịch sử khác, kịch bản nào hay, hấp dẫn

thì cho học sinh tái hiện. Tại Trung tâm phòng học không đủ điều kiện để tái hiện

một kịch bản sân khấu nên giáo viên có thể di chuyển học sinh xuống phòng bộ

môn, hội trường.

Trong từng học kì hoặc năm học, tổ chuyên môn có thể xây dựng kế hoạch

và tổ chức một đến hai chương trình lớn “Hội diễn sân khấu kịch Lịch sử” theo

từng chủ đề, từng khối lớp tạo nên không khí mới mẻ, hấp dẫn học sinh. Hoạt động

này nhằm hướng đến các mục đích học tập lịch sử gắn với chương trình sinh hoạt

ngoại khóa, các cuộc thi tìm hiểu, thay đổi địa điểm học tập, vừa tạo được hứng

khởi cho các em học sinh. Sự phối kết hợp này sẽ làm một việc mà được ba điều

lợi: vừa chơi, vừa học, vừa biểu diễn.

Tổ chuyên môn có thể kết hợp với đoàn trường tổ chức “ Hội diễn sân khấu

kịch Lịch sử” nhằm ôn lại phút truyền thống những ngày kỷ niệm lớn như kỷ niệm

cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Cách

mạng tháng Tám, ngày 30 tháng 4, ngày 9 tháng Giêng…Trong những ngày kỷ

niệm lớn, giáo viên nên đưa ra chủ đề, cho các chi đoàn lớp thi với nhau…

Lãnh đạo nhà Trường cần dành sự quan tâm, hỗ trợ về kinh phí và các điều

kiện khác cho tổ chuyên môn chủ động hoặc có thể phối hợp cùng tổ chức một

chương trình lớn với sự tham gia của nhiều trường bạn cùng đóng chân trên địa bàn

có khoảng cách địa lí không xa nhằm thu hút đông đảo học sinh tham gia, giao lưu

học hỏi lẫn nhau, tạo động lực phấn đấu để tiến bộ.

24

Qua chương trình, giáo viên bộ môn có thể đánh giá hiệu quả của công tác

chuẩn bị và thực hiện của từng học sinh, từng lớp. Trên cơ sở đó có thể đánh giá

bằng cách cho điểm môn học cho phù hợp với khả năng đóng góp của học sinh.

Cùng với các phương pháp giảng dạy truyền thống, các phương pháp mới

hiện nay, sân khấu hóa lịch sử được kỳ vọng sẽ trở thành một cách tiếp cận mới

trong việc phát huy tính tích cực, chủ động trong cách dạy và cách học, đồng thời

xóa tan những lối mòn suy nghĩ tiêu cực về bộ môn, mở ra một góc nhìn khác để

đến gần hơn, chân thực hơn và đầy đủ hơn về môn lịch sử.

3.6. Kết quả của đề tài

Trong học kì II năm học 2020 - 2021, tôi đã mạnh dạn áp dụng phương pháp

sân khấu hóa trong dạy học bộ Lịch sử tại lớp 10A5 và lớp 10A8, tôi thấy phương

pháp đạt được một số hiệu quả như sau:

Học sinh hào hứng, phấn khởi, thích thú chủ động khi tôi giao và phân công

nhiệm vụ. Học sinh chủ động tìm hiểu kiến thức, chuẩn bị đạo cụ, trang phục biểu

diễn, học sinh biết thêm nhiều tư liệu, tài liệu, kiến thức lịch sử thông qua tìm hiểu

và xây dựng kịch bản.

Khi học sinh tiến hành biểu diễn kịch bản, 100% học sinh của lớp tham gia (

kể cả những học sinh lười, thụ động trong lớp), nhận xét kịch bản, phần thể hiện

nhân vật của các bạn. Và quan trong hơn hết các em rút ra được kiến thức, nội dung

bài học, đặc biệt là bài học đạo đức mà các em được trãi nghiệm. Các em như được

sống với nhân vật, được sống với hào khí, không khí hào hùng của cả một dân tộc.

25

Qua phần kiểm tra nhanh, thông qua câu hỏi trắc nghiệm và kiểm tra bài cũ

giữa hai lớp 10A5, 10A8 được áp dụng phương pháp với hai lớp 10A2, 10A5 mà

tôi không áp dụng phương pháp sân khấu hóa Lịch sử, tôi nhận thấy như sau:

Mức độ tiếp nhận Lớp 10A5, 10A8 Lớp 10A1, 10A2 kiến thức

Nhanh, hiểu sự kiện, biết Chậm, nhanh quên. Bị động,

nhiều kiến thức, nhớ lâu. không muốn đọc sách Khả năng ghi nhớ

Chủ động tìm hiểu kiến sự kiện nhân vật

thức.

Đa dạng, phân tích có Chủ yếu học thuộc lòng, học Khả năng làm bài

chiều sâu. vẹt. phân tích sự kiện

Hấp dẫn, nhẹ nhàng, lôi Học sinh thiếu tự giác, giáo

kéo 100% học sinh lớp viên gọi tên các em phát biểu. Không khí tiết học

tham gia

Học sinh có tình cảm, Học sinh có thái độ đúng đắn

cảm xúc, thái độ đúng với nhân vật, tình cảm nhưng Công tác giáo dục

đắn, tích cực với nhân ít cảm xúc. tƣ tƣởng

vật, sự kiện.

26

Học sinh tích cực đăng ký tham gia đóng vai

III. KẾT LUẬN

Theo yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, phát

huy tinh thần tự giác, tích cực của học sinh. Đồng thời dựa vào đặc trưng của bộ

môn Lịch sử là những gì đã trãi qua trong quá khứ, chúng ta không trực tiếp quan

sát sự vật, hiện tượng mà phải tái hiện một cách gián tiếp. Chính vì vậy, sử dụng

phương pháp sân khấu hóa trong dạy học lịch sử là một những biện pháp phù hợp

nhằm khôi phục bức tranh chân thật nhất. Tuy nhiên, tùy vào yêu cầu bài học, đặc

điểm tình hình của từng lớp, khả năng tiếp nhận, lĩnh hội kiến thức của từng học

sinh mà chúng ta có thể sử dụng nhiều phương pháp dạy học phù hợp. Đây là

những ý kiến, những phương pháp chủ quan của cá nhân tôi nên chắc chắn còn

nhiều thiếu sót. Kính mong được sự góp ý của Ban Giám khảo, quý thầy cô!.

IV. KIẾN NGHỊ

1. Đối với nhà trƣờng

Trong các hoạt động ngoại khóa, sinh hoạt chuyên đề hoặc nhân dịp kỷ niệm

các ngày lễ lớn ngư ngày giỗ tổ (10/3), kỉ niệm ngày thành lập Đảng (3/2), ngày

quốc khánh(2/9)....nên tạo điều kiên để giáo viên bộ môn kết hợp với các bộ phận

27

nhà trường lồng ghép các hoạt động ngoại khóa, tổ chức thi văn nghệ để học sinh

có điều kiện bộc lộ và phát huy khả năng diễn xuất, tạo sự hứng thú cho các em vui

chơi, học hỏi và rèn luyện các kỹ năng.

2. Đối với giáo viên

Bản thân mỗi giáo viên là một chủ thể dạy học cần phải mạnh dạn hơn nữa

trong việc đầu tư, khám phá, khai thác các phương pháp dạy học mới nhằm không

ngừng đem lại sự mới mẽ trong quá trình dạy học bộ môn.

Cần chủ động phối hợp với các đồng nghiệp khác đặc biêt là chủ nhiệm để

hỗ trợ học sinh hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập trong mỗi giờ học.

Chủ động và mạnh dạn đề xuất ý tưởng lên các cấp lãnh đạo nhà trường hỗ

trợ tạo điều kiện giúp đỡ về mọi mặt, đặc biệt là sự hỗ trợ về thời gian và kinh phí

để hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học bộ môn nói riêng củng như mục tiêu của nhà

trường và nghành hướng tới.

28

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Phan Ngọc Liên ( chủ biên) ( 2003), Phương pháp luận sử học,

NXB Đại học sư phạm.

2. Mẫu sườn phương pháp viết sáng kiến.

3. Phan Ngọc Liên ( chủ biên) (2012), Sách giáo khoa lịch sử lớp 10,

NXB giáo dục Việt Nam)

4. Trương Hữu Quỳnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hân ( chủ biên) (2009),

Đại cương lịch sử Việt Nam toàn tập, NXB Giáo dục Việt Nam.

5. Sách giáo khoa, sách giáo viên lịch sử 10, Hướng dẫn sử dụng kênh

hình trong sách giáo khoa lịch sử 10, NXB Giáo dục Việt Nam

6. Một số tài liệu, nội dung tạp chí, văn thơ trên mạng Internet...