Bài 2: SDỤNG THUỐC NAM CHỮA BỎNG
(Kỳ 1)
I. SỬ DỤNG THUỐC NAM CHỮA BỎNG:
- Trên thế giới:
+ David Clegbern (1858) đ xuất phương pháp dùng Tanin đm đông
dịch tiết ở vết bỏng, kết tủa Protein tạo thành một màng thuốc che phủ vết bỏng.
+ Bettman, A.G (1935) dùng dung dịch axit Tanic 5% và dung dịch Nitrat
bạc 10% bôi lên vết bỏng.
+ tác gidùng bột Alumin rắc lên vết bỏng ng, dùng Azosuluamid +
Tiritricene, hoặc các chất tạo màng bằng Polyrethan, Polyretrafluoroethylen,
Polyvinyl, Polyvinyllcool, các chất tạo keo đơn phân tử bôi lên vết bỏng nông.
- Việt Nam: y học cổ truyền đã phân loại bỏng do nước sôi, bỏng do lửa,
nêu trạng thái ngạt thở do khói đen. Các vị danh y Tụê Tĩnh và Hải Thượng
Lãn Ông đã nêu nhiều vị thuốc và bài thuốc chữa bỏng. Trong nhân dân cũng lưu
truyền nhiều bài thuốc chữa bỏng tốt.
Trong y y học cổ truyền nêu phải m mát cái nóng đã nhập vào
thvà chống độc, giải độc thể, bồi bổ tâm dịch, chống thoát nước, điều hoà khí
huyết, bồi bổ âm dương, bồi dưỡng cơ thể, khôi phục tinh thần.
- TuTĩnh đã khuyên dùng nước tiểu của trẻ khoẻ mạnh để uống khi bị
bỏng và dùng lá củ cải giã nát lấy nước uống để chữa ngạt thở do hít thở khói.
- Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, tại các vùng giải
phóng, khu căn cvà tại chiến trường đã sdụng nhiều thuốc chữa vết bỏng
nguồn gốc tự nhiên từ các kinh nghiệm dân gian.
- Trong nhiu m gần đây chúng ta đã thừa kế nghiên cứu ứng dụng được
một số thuốc nam chữa bỏng.
II. CÁC NHÓM THUỐC ĐIỀU TR TẠI CHỖ VẾT THƯƠNG
BỎNG:
A. Các thuốc làm se khô to màng thuc che phủ vết thương bỏng
mới:
Cao đặc xoan trà: thuốc bỏng chế từ v cây xoan trà (chrospondias
axillaris Hill - Roxd hAnacardiacea) (ký hiệu B76); cao đặc xoan trà ttrọng
d: 1,22 - 1,24; độ nhớt n = 5,36 poises; pH: 7,0; cặn khô: 50%; chứa các thanh
phần: Tanin 32,1%; gôm nhựa:14%; Flavon: 5,4%; dầu béo: 1,37%; quinon: 0,5%.
Cao đặc được chuyển sang dưới dạng bột thuốc khô màu nâu mịn, tan nhanh trong
nước nóng.
Tác dụng: Sau khi rắc, phun thuốc, lớp thuốc này kết hợp với các dịch
huyết tương thành phn liên kết trung bì, gắn chặt và m vào vết thương
bỏng mới tạo thành một màng thuốc che phủ vết thương bỏng. Màng khô nhưng
không nứt nẻ và không cản trở các động tác của người bị bỏng.
- Thuốc tác dụng làm giảm thoát huyết tương ra ngoài vết bỏng và giảm
bội nhiễm trên vết bỏng.
- Đây phương pháp hở không cần băng, tiết kiệm thuốc bông, băng,
gạc, giảm đau đớn cho bệnh nhân, không còn mùi hôi.
- Thời gian khỏi của bỏng nông giảm ngắn được từ 2 - 5 ngày. màng thuốc
sẽ tự rụng hoặc được cắt bỏ khi bỏng nông đã khỏi.
ChĐịnh: Cao đặc xoan trà (thuốc bỏng B76) được dùng bôi, rắc, phun,
trên các vết thương bỏng nông sau khi đã được sử lý khuẩn kỳ đầu theo các qui
tắc đã nêu chung (rửa sạch, cắt bỏ vòm các nốt phỏng, rửa vô khuẩn, thấm khô).
Chống chỉ định: Vết bỏng sâu, vết bỏng đã nhiễm trùng.
Vết bỏng vùng mặt, tầng sinh môn, bỏng vùng khớp vận động, bỏng
bàn ngón tay, bàn ngón chân, bỏng ở đầu mặt cổ.
Không bôi kín chu vi chi thđể tránh hiện tượng chèn ép kiểu garo
Thuốc bỏng chế từ các cây khác có tác dụng tương tự như:
sim (Rhodomyrius, tometasa, Wight), Kháo nhậm (Machilus
odoretissimanees laurace), kháo vàng (Machlus bonii H. Lee - laurace), Hu đay
(Trema augustifola B.I, Ulmaceae), Săng l (Lagerstroemia, tomentosa,
lythraceae), Sú (Aegiceras cornin culatum Gacrin, Myrsinnaceae), Nâu
(Dioscorera eirrhosa eirrhsa lour, Dioscoreaceae), Sòi (Sapium sibyferum
L.Euphorbiaceae), Sến (Madhuca pasqiueri - Dubard - H, Sapoteceae)