I. Giới thiệu tổng quan
1. Phạm vi áp dụng: Áp dụng cho tất cả các vùng trồng ớt cay trong nhà màng trên
địa bàn Tp. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Rịa Vũng Tàu, Tiền Giang, Bến
Tre, Long An, Tây Ninh và các tỉnh khác có điều kiện tự nhiên tương tự.
2. Đối tượng áp dụng: Cây ớt cay
3. Các yêu cầu của mô hình
3.1 Yêu cầu về nhà màng
Nhà màng được thiết kế với nhiều kiểu khác nhau: Kiểu nhà kính, nhà màng kiểu cổ
điển, nhà màng kiểu răng cưa, kiểu mái vòm, kiểu hình ống, nhà lưới,...Tuy nhiên cần
đảm bảo các điều kiện như: độ truyền sáng từ 85 - 90%; quy cách: độ cao cột (chiều cao
từ mặt đất đến máng xối) từ 4 - 4,75m, khẩu độ mỗi gian nhà 8m, cột cách cột (bước
cột) 4m. Với mái được lợp bằng màng Polymer (dày 150 micron) vách xung quanh
được che bằng lưới chắn côn trùng dày 50 mesh.
3.2 Yêu cầu về kết cấu hệ thống tưới nhỏ giọt
Vật liệu cần có
- Nguồn nước mặt hoặc nước ngầm.
- Một máy bơm thông thường động cơ điện hay dầu, xăng, khả năng bơm nước
lên độ cao 3,5 m. Có thể lắp thêm rơle tự đóng mở (đối với hệ thống bơm điện để tự động
bơm nước vào bồn).
- Ống nhựa PVC cứng đường kính 30-40 hay 60 mm làm ống dẫn ớc chính
loại đường kính 16-21 hay 26 mm làm ống dẫn phụ.
- Các phụ kiện lắp ráp hệ thống ống gồm các co, khúc nối thẳng, khúc nối chữ T,
khúc nối giảm đường kính ống, ống van cánh bướm và keo để dán các khúc nối.
- Ống nhựa dẻo đường kính 16 mm một trong những loại vòi phun tia li tâm,
phun tia cố định, nhỏ giọt. thể chế đầu nhỏ giọt bằng ống van của hệ thống truyền
“nước biển” dùng trong y tế.
Bảo quản và vận hành
- Tất cả đường ống chính phụ cần được chôn sâu 20-30 cm đ kéo dài tuổi thọ
của ống, đoạn cuối của ống nhánh cũng cần được che phủ tránh nắng rêu phát triển
trong ống.
- Thường xuyên giặt rửa lưới lọc nước trên bồn.
- Sau mùa tưới, mở khóa đầu các ống nhánh, xả bỏ cặn toàn bộ hệ thống.
1
4. Tổng quan ở Việt Nam, thế giới và tại TPHCM
4.1.Tổng quan về ớt cay
4.1.1 Nguồn gốc và sự phân bố
Ớt cay (Capsicum frutescens L.) thuộc bộ Solanales, họ Solanaceae. Cây ớt
nguồn gốc t Mexico, Trung Nam Mỹ. Ớt được gieo trồng phổ biến từ vùng Địa
Trung Hải đến nước Anh năm 1548 đến Trung Âu vào cuối thế kỷ thứ 16. Sau đó,
người Bồ Đào Nha mang ớt từ Brazin đến Ấn Độ năm 1885 việc trồng ớt được biết
đến Trung Quốc khoảng cuối năm 1700, ớt được nhập vào Triều Tiên khoảng cuối thế
kỷ 17 (Mai Thị Phương Anh, 1999).
4.1.2 Đặc điểm thực vật học
Thân: Ớt cây thân gỗ 2 mầm, thân thường mọc thẳng, nhiều cành, chiều cao
trung bình 0,5-1,5 m.
Rễ: Ớt có rễ cọc phát triển mạnh với nhiều rễ phụ.
Lá: đơn, mọc xoắn trên thân chính, thường mỏng kích thước trung bình
1,5-1,2 x 0,5-7,5 cm.
Hoa: Hoa thường được tạo đơn độc trên từng nách lá. Hoa thể mọc đứng hoặc
buông thõng. Trên cuốn hoa thường không có li tầng.
Quả: Quả mọng, rất nhiều hạt với thịt nhãn chia làm nhiều ngăn (Mai Thị
Phương Anh, 1999).
4.1.3 Đặc điểm sinh thái
Nhiệt độ: Nhiệt độ nh hưởng đến sinh trưởng, số hoa, tỷ l đậu trái. Nhiệt độ ban
đêm thấp khoảng 8 - 150C thường làm giảm tỷ lệ đậu trái sinh trái không hạt, nhiệt độ
ban đêm thích hợp nhất 200C. Ớt cay thích nhiệt độ cao hơn dao động 20 - 300C, còn
ớt ngọt thích hợp nhiệt độ khoảng 20 - 250C.
Ánh sáng: Tuy ớt cây không mẫn cảm nhiều với ánh sáng nhưng cây ớt ưa ánh
sáng ngày ngắn, nếu chiếu sáng 9 - 10 giờ sẽ kích thích sinh trưởng, làm tăng sản phẩm
từ 21 - 24% tăng chất lượng trái. Trời âm u sẽ hạn chế sđậu trái, giảm năng suất
chất lượng sản phẩm.
Độ ẩm: Ớt cây chịu hạn, m độ đất thấp không ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu trái
nhưng tăng tỷ lệ rụng trái. Tốt nhất duy trì ẩm độ đồng ruộng khoảng 70 - 80%, nếu ẩm
độ quá cao rễ sinh trưởng kém, cây còi cọc (Mai Thị Phương Anh, 1999).
2
4.1.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ớt
4.1.4.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ớt trên thế giới
Vào năm 2003, kim ngạch nhập khẩu rau tươi của các nước EU đến gần 9,2 tỷ
Euro/10,4 triệu tấn. đáng chú ý là một số lượng ớt khá lớn được nhập vào EU. Nhập khẩu
ớt các nước EU lên tới hơn 1,3 tỷ EU/865 ngàn tấn vào năm 2003. Đức nước EU
nhập khẩu nhiều ớt nhất, chiếm 34% kim ngạch nhập khẩu của EU năm 2003, tiếp theo là
Anh (16%), Pháp (11%) và Hà Lan (6%) (Huỳnh Thị Thúy Oanh, 2010).
Theo tổ chức Nông lương thế giới (FAOSTART) cây ớt được xem một trong số
những cây trồng quan trọng các vùng nhiệt đới. Năm 2003, diện tích trồng ớt trên thế
giới vào khoảng 1.700.000 ha cho mục đích lấy quả tươi khoảng 1.800.000 ha để làm
ớt khô. Năm 2009, diện tích ớt trên toàn thế giới 1,81 triệu ha cho mục đích lấy quả
tươi, với sản lượng 28,07 triệu tân. Diện tích sản xuất ớt khô 1,91 triệu ha, với sản lượng
31,38 triệu tấn. Các nước nhập khẩu xuất khẩu ớt quan trọng nhất bao gồm: Trung
Quốc, Ấn Độ, Mexico, Pakistan, Thái Lan và Thổ Nhĩ Kỳ (Nguyễn Thanh Phong, 2011).
Bảng 1: Thống kê sản xuất ớt trên thế giới giai đoạn 2005 - 2009
Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 2009
Diện tích (nghìn ha) 1765,60 1774,94 1778,68 1786,60 1814,94
Năng suất(tấn/ha) 14,29 14,99 15,43 15,68 15,47
Sản lượng (nghìn tấn) 25228,35 26598,00 27450,24 28012,54 28070,85
(Nguồn: FAOSTAT Database, tháng10/2011)
Ở các quốc gia châu Á, t chiếm 60% tổng diện tích 65% tổng sản lượng ớt tươi
của thế giới. Trong đó, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ Indonesia chiếm khoảng 87% diện
tích sản xuất 93% tổng sản lượng 58% giá trị sản xuất ớt khu vực này (Mai Hải
Châu, 2010).
Hàn Quốc với món ăn truyền thống “Kim chi”, ớt thành phần
không thể thiếu được. Ớt loại rau chủ lực của nước này chiếm 60% diện
tích trồng rau 40% tổng sản lượng. Hàng năm Hàn Quốc nhập khẩu từ
12,000-15,000 tấn ớt, lượng t nhập khẩu của nước này không lớn, cao nhất
là 53,000 tấn vào năm 2003 (Nguyễn Thị Giang, 2005).
Khu vực Đông Nam Á, Indonesia Thái Lan hai nước xuất khẩu
lớn nhất, Indonesia diện tích trồng ớt lớn, sản lƣợng ổn định cao nhất vào
năm 2011 đạt 1,9 triệu tấn. Singapo nước nhập khẩu ớt lớn nhất Đông Nam
3
Á với mức nhập khẩu hàng năm trên dưới 10.000 tấn, chiếm 96% (năm 2007) lượng nhập
của cả Đông Nam Á (Trần Khắc Thi, 2008).
Hiện nay, Ấn Độ nước xuất khẩu lớn nhất thế giới chiếm 25% tổng
sản lượng toàn cầu, tiếp theo Trung Quốc 24%, Tây Ban Nha 17%, Mexico
8%. c nước nhập khẩu lớn nhất thế giới các Tiểu vương quốc Rập
Thống Nhất (UAE), liên minh Châu Âu (EU), Sri Lanca, Nhật Bản, Hàn
Quốc. Trao đổi thương mại về ớt chiếm gần 16% tổng sản phẩm gia vị, đứng
vị trí thứ hai sau hồ tiêu (Bùi Thị Oanh, 2010).
Nhìn chung, ớt được thương mại hóa trên toàn thế giới, đối với các
nước đang phát triển thì mặc ớt chiếm tỷ trọng nhỏ trong sản xuất hàng
hóa nhưng là nguồn thu nhập đáng kể (Bosland P.W and Votava, 2000)[17].
4.1.4.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ớt ở Việt Nam
nước ta, ớt thường được gieo trồng vào 2 vụ chính là: Vụ đông xuân, gieo hạt từ
tháng 10 đến tháng 2, trồng vào tháng 1-2 thu hoạch vào tháng 4-5. Vụ đông: gieo hạt
tháng 6-7, trồng tháng 8-9, thu tháng 1-2. Ngoài ra, có thể trồng ớt trong vụ xuân hè: gieo
hạt tháng 2-3, trồng tháng 3-4, thu hoạch vào tháng 7-8 (Nguyễn Văn Thắng Trần
Khắc Thi, 1996).
Mặc cây ớt nước ta trồng từ lâu đời nhưng chủ yếu tập trung các tỉnh miền
Trung (Quảng Bình, Quảng Trị), vùng ven đô, khu vực đông dân (Hà Nội, Thái Bình,
Hải Hưng, Vĩnh Phúc,…). Vùng chuyên ớt đã được hình thành ở Quảng Bình, Quảng Trị,
Thừa Thiên Huế. Tuy nhiên, diện tích ớt thể mở rộng ra đồng bằng Bắc Bộ, đồng
bằng sông Cửu Long và miền Tây Nam Bộ (Trần Khắc Thi, 1985).
Theo thống kê của FAOSTAT năm 2007, tổng diện tích sản xuất ớt cay ở Việt Nam
là 51 nghìn ha với sản lượng là 314 nghìn tấn. Năng suất bình quân là 6,16 tấn/ha và đem
lại kim ngạch xuất khẩu 36,297 triệu đô la (Mai Hải Châu, 2010).
Bảng 2: Tình hình sản xuất ớt tại Việt Nam giai đoạn 2005 - 2009
Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 2009
Diện tích (nghìn ha) 55,51 57,06 57,90 59,73 62,41
Năng suất ớt khô (tấn/ha) 1,55 1,48 1,65 1,76 1,81
Sản lượng ớt khô (nghìn tấn) 85,88 84,38 95,51 105,13 112,94
(Nguồn: FAOSTAT Database, tháng 10/2011)
4
Trước đây, hàng năm nước ta xuất khẩu sang Liên khoảng 4500 tấn ớt bột,
những năm gần đây một số công ty của Đài Loan đã hợp đồng mua ớt cay tươi hoặc
muối chua của Việt Nam. Năm 2007, Trung Quốc, Singapores, Ấn Độ những thị
trường nhập khẩu ớt chủ yếu của nước ta. Giá nhập khẩu ớt khô của nước ta tăng rất
mạnh, nhập khẩu sang thị trường Trung Quốc từ 1800 3280 USD/tấn, nhập sang thị
trường Singapores và Ấn Độ khoảng 350 USD/tấn (Nguyễn Phúc, 2008).
4.1.5 Tình hình nghiên cứu về kỹ thuật canh tác
4.1.5.1 Tình hình nghiên cứu về chọn tạo giống ớt
Đánh giá tính tương thích của phép lai giữa 2 loài C. chinense C. annuum khả
năng tạo quả, tỷ lệ nảy mầm của các con lai, Lucifrancy Vilagelim Costa và cs (2009) kết
luận rằng: nếu chọn giống C. annuum làmthể mẹ, giống C. chinense làm cá thể bố thì
tỷ lệ tạo quả ở 2 lần thí nghiệm lần lược là 8,9 và 40%. Tỷ lệ nảy mầm từ hạt của các con
lai lần 1 dao động từ 0-45,3%, lần 2 dao động từ 0-87,5%. Như vậy, lai tạo giữa 2
loài C. chinense và C. annuum là điều có thể thực hiện được.
Trong những năm gần đây, những người thích ớt đã dùng các phương pháp lai tạo
truyền thống để làm tăng lượng capsaicin - hợp chất gây ra độ cay nóng của ớt nhằm tạo
ra những giống ớt cay hơn. Một số giống lai thành công có thể kể đến như giống Carolina
Reaper Trinidad Moruga Scorpion độ cay gấp 100.000 lần ớt bình thường (Mai
Nguyễn, 2014).
Nghiên cứu tập đoàn giống ớt cay (Capsicum annuum spp.) nhập nội trong vụ Đông
- Xuân 2001 - 2002 tại Thừa Thiên Huế của Trương Thị Hồng Hải (2002) được thực hiện
trên 33 dòng giống ớt cay nhập nội một giống Chìa Vôi địa phương làm đối chứng.
Trong các dòng giống ớt cay nhập nội 19 dòng giống được thu thập từ Trung tâm
Nghiên cứu Phát triển Rau Châu Á (CA36, CA102, CA201, CA802, CA48, CA17,
CA90, CA91, CA78, PBC535, PBC 161, PBC308, 9852-193, 99-9644, 9852-190, 99-
9623, 99-9129, 99-9126, 99-9195-1), 10 giống được thu thập từ Viện Rau quả Gia Lâm,
Hà Nội (PVR9225, PVR9242, PVR11, PVR6, PVR9, PVR9L43, PNC12, 70TL1, MC11,
AMC1), 2 giống được thu thập tại trường Đại học Nông Lâm Huế (DH5, DH2) 2
giống được thu thập từ phòng Nông nghiệp Can Lộc, Tĩnh (Thiên Lộc 1, Thiên Lộc
2). Kết quả nghiên cứu cho thấy: Chiều cao cây biến động trong khoảng 28,29 cm đếm
67,14 cm. Giống cao nhất là CA91 (67,14 cm) và đa số các giống có chiều cao trung bình
45 cm. Hầu hết các giống bản hình lưỡi mác, một số giống dạng hình trứng
5