Những lý luận cơ bản về tín dụng ngân
hàng và kế toán cho vay trong hoạt động
kinh doanh ngân hàng
Biên tập bởi:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Những lý luận cơ bản về tín dụng ngân
hàng và kế toán cho vay trong hoạt động
kinh doanh ngân hàng
Biên tập bởi:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Các tác giả:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Phiên bản trực tuyến:
http://voer.edu.vn/c/395562fa
MỤC LỤC
1. Sự ra đời của tín dụng ngân hàng, vai trò của tín dụng ngân hàng
2. Vai trò, nhiệm vụ của kế toán cho vay
3. Các phương thức cho vay
4. Chứng từ và tài khoản dùng trong kế toán cho vay
5. Quy trình kế toán cho vay – thu nợ
Tham gia đóng góp
1/22
Sự ra đời của tín dụng ngân hàng, vai trò
của tín dụng ngân hàng
Sự ra đời của tín dụng.
Lịch sử phát triển kinh tế thế giới cho thấy hình thức tín dụng đầu tiên xuất hiện trên thế
giới tín dụng nặng lãi. Đặc điểm của n dụng này lãi xuất cao nhằm thoả mãn nhu
cầu chi tiêu của người cho vay tiền. Đối với các thương gia, người sản xuất, họ không
thể chấp nhận hình thức tín dụng này. Chính điều đó đẫ làm cho tín dụng nặng i bị thu
hẹp dần, thay vào đó các hình thức tín dụng với lãi xuất cho vay thấp hơn, phù hợp
hơn với lợi ích kinh tế của người kinh doanh.
Việt Nam, sự hình thành phát triển của quan hệ tín dụng đã trải qua các giai đoạn
lịch sử khác nhau. Trước cách mạng tháng 8/1945, Việt Nam tồn tại quan hệ n dụng
bản chủ nghĩa nạn cho vay nặng lãi. Sau cách mạng tháng 8 thành công, cùng với
những cải cách lớn về kinh tế hội, các quan hệ tín dụng trong nền kinh tế ớc ta
bắt đầu mang nội dung mới. Thống nhất đất nước năm 1975, nước ta đã thi hành chính
sách tín dụng thống nhất trong phạm vi cả nước. Các nguồn vốn tín dụng huy động được
cùng với vốn viện trợ, vốn vay của nước ngoài đã được đầu vào việc khôi phục kinh
tế sau chiến tranh, xây dựng sở vật chất kỹ thuật cho khu vực kinh tế quốc doanh,
kinh tế tập trung là hai thành phần kinh tế quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
Hiện nay với việc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo chế thị trường
với sự quản điều tiết của nhà nước, chính sách tín dụng của ta thể hiện sự đối xử bình
đẳng với tất cả các thành phần kinh tế, tạo điều kiện môi trường cạnh tranh hiệu quả
giữa các thành phần kinh tế với nhau để tạo ra nhiều hàng hoá chất ợng cao, giá
thành hạ, mẫu mã đẹp đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Trong điều kiện kinh tế thị trường nước ta hiện nay thì các quan hệ tín dụng sẽ phát triển
ngày một đa dạng dưới các hình thức khác nhau: tín dụng thương mại, tín dụng ngân
hàng,…
Tín dụng ngân hàng.
Tín dụng nghĩa tín nhiệm, tin tưởng, phạm trù kinh tế sản xuất traô đổi
hàng hoá nên bất cứ ở đâu có sản xuất hàng hoá thì ở đó có hoạt động tín dụng.
Tín dụng sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử
dụng để sau một thời gian sẽ thu hồi được một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.
2/22
Quan hệ giao dịch này thể hiện ở các nôị dung:
Ngưòi cho vay chuyển giao quyền sử dụng vốn tạm thời nhàn rỗi của mình sang người
vay theo nguyên tắc hoàn trả dựa trên sở sự tin tưởng, sự tín nhiệm. Nếu thể coi
khoản tiền cho vay một loại “tài sản” đặc biệt thì tài sản này khi cho vay vẫn thuộc
quyền sở hữu hợp pháp của người cho vay, thực ra chỉ chuyển giaol cho người khác
sử dụng trong một thời gian nhất định với giá cả nhất định. Sau đó, “tài sản” này được
trả về cho chủ sở hữu đích thực của nó - đó là người cho vay.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động tín dụng không ngừng hoàn thiện
phát triển trở thành hình thức tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng với các chủ thể kinh
tế khác trong hội, trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa người đi vay vừa người
cho vay.
Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế quốc dân.
Thông qua hoạt động tín dụng, các ngân hàng huy động tập trung được các khoản
vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp, các khoản tiền nhàn rỗi chưa nhu
cầu sử dụng của ngân sách nhà nước, của các tổ chức, của các tầng lớp dân trên quy
toàn hội. Do đó, ngân hàng được một nguồn vốn tín dụng dồi dào để đầu
cho các ngành kinh tế, để phục vụ nhu cầu đầu của toàn hội. Như vậy, sự ra đời
của ngân hàng cùng với sự xuất hiện của tín dụng ngân hàng hết sức cần thiết
vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế hội, được thể hiện trên các phưong diện:
Tín dụng ngân hàng đáp ứng vốn để duy trì quá trình tái sản xuất, đồng thời đầu
tư phát triển kinh tế.
Do quá trình tái sản xuất hội thưòng xuyên liên tục nên nhu cầu về vốn thường
xuyên mức độ cao. Trong khi đó lại tổ chức, nhân nguồn vốn nhàn rỗi tạm
thời trong một thời gian nhất định. Đây một vấn đề cần giải quyết sao cho i hoà, cả
hai bên đều lợi. Bên cần vốn thì thể vay được vốn với chi phí thấp kịp thời để
hoàn thành công việc của mình, bên vốn thì thu được khoản lợi trong thời gian mình
không dùng tới khoản vốn đó. Hoạt động tín dụng ra đời biến các nguồn vốn tiền tệ tạm
thời nhàn rỗi trong hội thành những nguồn vốn đưa vào hoạt động kinh doanh hiệu
quả cho các doanh nghiệp trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh cũng như phục vụ cho
mọi tầng lớp dân cư khi cần vốn.
Cùng với nguồn lự c sẵn có, doanh nghiệp đưa vào sản xuất, phục vụ sản xuất thúc
đẩy sản xuất, lưu thông, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng. Mặt khác, việc cung
ứng vốn kịp thời của tín dụng ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu vốn quay vòng (lưu
3/22