
Những lý luận cơ bản về tín dụng ngân
hàng và kế toán cho vay trong hoạt động
kinh doanh ngân hàng
Biên tập bởi:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

Sự ra đời của tín dụng ngân hàng, vai trò
của tín dụng ngân hàng
Sự ra đời của tín dụng.
Lịch sử phát triển kinh tế thế giới cho thấy hình thức tín dụng đầu tiên xuất hiện trên thế
giới là tín dụng nặng lãi. Đặc điểm của tín dụng này là lãi xuất cao nhằm thoả mãn nhu
cầu chi tiêu của người cho vay tiền. Đối với các thương gia, người sản xuất, họ không
thể chấp nhận hình thức tín dụng này. Chính điều đó đẫ làm cho tín dụng nặng lãi bị thu
hẹp dần, thay vào đó là các hình thức tín dụng với lãi xuất cho vay thấp hơn, phù hợp
hơn với lợi ích kinh tế của người kinh doanh.
ở Việt Nam, sự hình thành và phát triển của quan hệ tín dụng đã trải qua các giai đoạn
lịch sử khác nhau. Trước cách mạng tháng 8/1945, ở Việt Nam tồn tại quan hệ tín dụng
tư bản chủ nghĩa và nạn cho vay nặng lãi. Sau cách mạng tháng 8 thành công, cùng với
những cải cách lớn về kinh tế xã hội, các quan hệ tín dụng trong nền kinh tế nước ta
bắt đầu mang nội dung mới. Thống nhất đất nước năm 1975, nước ta đã thi hành chính
sách tín dụng thống nhất trong phạm vi cả nước. Các nguồn vốn tín dụng huy động được
cùng với vốn viện trợ, vốn vay của nước ngoài đã được đầu tư vào việc khôi phục kinh
tế sau chiến tranh, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho khu vực kinh tế quốc doanh,
kinh tế tập trung là hai thành phần kinh tế quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
Hiện nay với việc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường
với sự quản lý điều tiết của nhà nước, chính sách tín dụng của ta thể hiện sự đối xử bình
đẳng với tất cả các thành phần kinh tế, tạo điều kiện môi trường cạnh tranh có hiệu quả
giữa các thành phần kinh tế với nhau để tạo ra nhiều hàng hoá có chất lượng cao, giá
thành hạ, mẫu mã đẹp đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Trong điều kiện kinh tế thị trường nước ta hiện nay thì các quan hệ tín dụng sẽ phát triển
ngày một đa dạng dưới các hình thức khác nhau: tín dụng thương mại, tín dụng ngân
hàng,…
Tín dụng ngân hàng.
Tín dụng có nghĩa là tín nhiệm, tin tưởng, là phạm trù kinh tế có sản xuất và traô đổi
hàng hoá nên bất cứ ở đâu có sản xuất hàng hoá thì ở đó có hoạt động tín dụng.
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử
dụng để sau một thời gian sẽ thu hồi được một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.
2/22

Quan hệ giao dịch này thể hiện ở các nôị dung:
Ngưòi cho vay chuyển giao quyền sử dụng vốn tạm thời nhàn rỗi của mình sang người
vay theo nguyên tắc có hoàn trả dựa trên cơ sở sự tin tưởng, sự tín nhiệm. Nếu có thể coi
khoản tiền cho vay là một loại “tài sản” đặc biệt thì tài sản này khi cho vay vẫn thuộc
quyền sở hữu hợp pháp của người cho vay, thực ra nó chỉ chuyển giaol cho người khác
sử dụng trong một thời gian nhất định với giá cả nhất định. Sau đó, “tài sản” này được
trả về cho chủ sở hữu đích thực của nó - đó là người cho vay.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động tín dụng không ngừng hoàn thiện và
phát triển trở thành hình thức tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng với các chủ thể kinh
tế khác trong xã hội, trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay vừa là người
cho vay.
Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế quốc dân.
Thông qua hoạt động tín dụng, các ngân hàng huy động và tập trung được các khoản
vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp, các khoản tiền nhàn rỗi chưa có nhu
cầu sử dụng của ngân sách nhà nước, của các tổ chức, của các tầng lớp dân cư trên quy
mô toàn xã hội. Do đó, ngân hàng có được một nguồn vốn tín dụng dồi dào để đầu tư
cho các ngành kinh tế, để phục vụ nhu cầu đầu tư của toàn xã hội. Như vậy, sự ra đời
của ngân hàng cùng với sự xuất hiện của tín dụng ngân hàng là hết sức cần thiết và có
vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội, nó được thể hiện trên các phưong diện:
Tín dụng ngân hàng đáp ứng vốn để duy trì quá trình tái sản xuất, đồng thời đầu
tư phát triển kinh tế.
Do quá trình tái sản xuất xã hội là thưòng xuyên và liên tục nên nhu cầu về vốn thường
xuyên ở mức độ cao. Trong khi đó lại có tổ chức, cá nhân có nguồn vốn nhàn rỗi tạm
thời trong một thời gian nhất định. Đây là một vấn đề cần giải quyết sao cho hài hoà, cả
hai bên đều có lợi. Bên cần vốn thì có thể vay được vốn với chi phí thấp và kịp thời để
hoàn thành công việc của mình, bên có vốn thì thu được khoản lợi trong thời gian mình
không dùng tới khoản vốn đó. Hoạt động tín dụng ra đời biến các nguồn vốn tiền tệ tạm
thời nhàn rỗi trong xã hội thành những nguồn vốn đưa vào hoạt động kinh doanh có hiệu
quả cho các doanh nghiệp trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh cũng như phục vụ cho
mọi tầng lớp dân cư khi cần vốn.
Cùng với nguồn lự c sẵn có, doanh nghiệp đưa vào sản xuất, phục vụ sản xuất và thúc
đẩy sản xuất, lưu thông, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng. Mặt khác, việc cung
ứng vốn kịp thời của tín dụng ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu vốn quay vòng (lưu
3/22



