
0
TÀI LIỆU
THÀNH LẬP BẢN ĐỒ
ĐỊA HÌNH
(TỶ LỆ 1/10.000)

LỜI NÓI ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay, việc thực hiện chiến lược công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nước của Đảng ta đề ra ngày càng đẩy mạnh trên phạm vi toàn
quốc. Bản đồ địa hình là tài liệu cần có trước tiên và cần thiết, nhất là tại các
vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp đầu mối thuỷ lợi, thuỷ điện để
khảo sát, thiết kế quy hoạch sử dụng đất. Vì vậy công tác thành lập bản đồ là
công việc mang tính cấp bách hiện nay,làm cơ sở pháp lý để củng cố an ninh
quốc phòng,quy hoạch tổng thể toàn bộ nền kinh tế đất nước. Nhu cầu đó đặt ra
nhiệm vụ to lớn đối với ngành trắc địa nước ta.
Với sự trợ giúp của công nghệ đo đạc hiện đại,mang tính khoa học cao
việc thành lập bản đồ địa hình các loại tỷ lệ với độ chính xác cao đã và đang đáp
ứng đầy đủ, kịp thời cho việc sử dụng, quản lý,quy hoạch đát đai, khảo sát thiết
kế,xây dung các khi công nghiệp,các công trình xây dung, quy hoạch đô thị,
phát triển cơ sở hạ tầng trên toàn quốc.
Để thành lập bản đồ địa hình người ta có thể sử dụng nhiều phương pháp
khác nhau, tuy nhiên phổ biến nhất hiện nay vẫn là phương pháp thành lập bản
đồ bằng ảnh hàng không. Trong quy trình công nghệ của phương pháp này thì
công tác đoán đọc điều vẽ là một công đoạn quan trọng. Kết quả của công tác
này quyết định đến tính chính xác, đầy đủ, phong phú của nội dung bản đồ, hiệu
quả kinh tế của nó quyết định đến giá thành sản phẩm làm ra và phụ thuộc vào
quy trình công nghệ đo vẽ bản đồ,đ ặc điểm điạ lý khu đo, các tài liệu bay chụp
và các tài liệu liên quan khác. Chính vì vậy việc triển khai nắm bắt các công
nghệ mới,các phương pháp đoán đọc điều vẽ là công việc rất cần thiết nhất là
đối với sinh viên sắp ra trường.
Tài liệu gồm có 3 chương, với các nội dung cơ bản như sau:
Phần mở đầu
Chương I: Khái quát về bản đồ địa hình.
Chương II: Các vấn đề chung về công tác đoán đọc điều vẽ.
Chương III: Thực nghiệm về công tác đoán đọc điều vẽ để thành lập bản
đồ địa hình bằng ảnh hàng không.
Phần kết luận và kiến nghị.
1

CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH
1.1. Khái quát về bản đồ địa hình
Bản đồ địa hình là loại bản đồ thể hiện một khu vực của bề mặt trái đất
trên đó bản đồ thể hiện những thành phần của thiên nhiên và kết quả hoạt động
của con người mà mắt ta có thể cảm nhận được.
Trên bản đồ phụ thuộc vào tỷ lệ, các đối tượng có trên bề mặt đất được
chọn lọc biểu diễn, các đối tượng này chứa đựng lượng thông tin và nó phụ
thuộc vào không gian, thời gian và mục đích sử dụng:
- Tính không gian xác định khu vực được tiến hành đo vẽ thành lập bản
đồ.
- Tính thời gian ghi nhận trên bản đồ hiện trạng của bề mặt trái đất ở thời
điểm tiến hành đo vẽ.
- Mục đích sử dụng chi phối nội dung và độ chính xác thành lập bản đồ.
1.2. Một số vấn đề chung về bản đồ địa hình
Bản đồ địa hình được xây dung dựa trên một quy luật toán học nhất định,
nó là sự biểu thị, thu nhỏ hoặc khái quát bề mặt trái đất lên trên mặt phẳng.
Trong thực tế bản đồ địa hình biểu thị một dạng thông tin bất kỳ nào đó có thể
xem được, đặc biệt là với những thông tin thể hiện tính chất,trạng thái của một
dáng đối tượng nào đó. Được tổng hợp, khái quát hoá dưới dạng biểu đồ, sơ đồ.
Song dạng bản đồ có tính khoa học nhất là dạng được xây dung trên 1 cơ sở toán
học nhất định,nó là sự tổng quát các nội dung và sự thể hiện các yếu tố nội dung
bằng ký hiệu bản đồ và căn cứ vào những đặc tính này để phân biệt giữa bản đồ
địa hình và các hình thức biểu thị bề mặt trái đất.
Tính trực quan, tính đo đạc, tính thông tin, đó là những tính chất cơ bản
của bản đồ địa hình.
Bằng bản đồ địa hình người ta có thể tìm ra quy luật của sự phân bố các
đối tượng và hiện tượng trên bề mặt trái đất,từ bản đồ ngưới ta có thể xác định
được các trị số như: toạ đồ, độ dài, độ cao… Các yếu tố quan trọng khi sử dụng
bản đồ địa hình là: Nội dung, tỷ lệ, lưới chiếu, thời gian thành lập, hay thời gian
hiệu chỉnh.
1.3. Mục đích sử dụng và các yêu cầu của BĐĐH
Bản đồ địa hình có vai trò rất quan trọng trong khoa học và trong thực tiễn
bao gồm: khảo sát, thiết kế thi công các công trình trong xây dựng công nghiệp,
dân dụng, năng lượng, giao thông và trong các công trình khác. Bản đồ có nhiều
tỷ lệ, ứng với mỗi loại tỷ lệ lại có những mục đích sử dụng khác nhau.
2

- Bản đồ tỷ lệ lớn: thường được sử dụng để thiết kế thi công các công
trình xây dựng, các thành phố, các điểm dân cư, để lập thiết kế kỹ thuật các xí
nghiệp công nghiệp và các trạm phát điện, dùng để tiến hành thăm dò và tìm
kiếm, thăm dò và tính toán trữ lượng các khoáng sản, dùng trong công tác quy
hoạch và cải tạo đồng ruộng.
- Bản đồ tỷ lệ trung bình; dùng trong công tác thiết kế quy hoạch ruộng
đất và làm cơ sở để đo vẽ thổ nhưỡng, thực vật, thiết kế các công trình thuỷ
nông, dùng để chọn tuyến đường giao thông, để khảo sát các phương án xây
dựng thành phố
- Bản đồ tỷ lệ nhỏ được dùng trong quy hoạch và tổ chức các vùng kinh
tế, để chọn các tuyến đường sắt, đường ôtô và kênh đào giao thông…trên phạm
vi rộng lớn.
1.4. Cơ sở toán học của bản đồ địa hình
Cơ sở toán học của BĐĐH nhằm đảm bảo độ chính xác của bản đồ trong
hệ qui chiếu và hệ toạ độ Quốc gia, đáp ứng yêu cầu sử dụng, đồng thời có thể
ghép nhiều mảnh bản đồ lại với nhau mà vẫn giữ được tính nhất quán.
1.4.1 Tỷ lệ bản đồ
Tỷ lệ bản đồ là mức độ thu nhỏ của bề mặt trái đất khi biểu thị trên bản
đồ. Trị số của tỷ lệ chung được chỉ rõ trên bản đồ. Có ba phương pháp thể hiện
tỷ lệ.
- Tỷ lệ số: thể hiện bằng một phân số mà tử là 1 còn mẫu số thay cho mức
độ thu nhỏ của mặt đất. Tỷ lệ này được viết dạng 1:10 000 hoặc 1/10 000.
- Tỷ lệ chữ nêu rõ một đơn vị trên bản đồ tương ứng với độ dài là bao
nhiêu đó ngoài thực địa.
- Thước tỷ lệ: là hình vẽ có thể dùng nó để đo tên bản đồ. Thước tỷ lệ là
thẳng hay xiên cho phép đo độ chính xác cao hơn.
Về hệ thống tỷ lệ bản đồ ở nước ta bao gồm các tỷ lệ sau: 1/1000000,
1/500000, 1/250000, 1/100000, 1/50000, 1/25000, 1/10000…, 1/2000 và lớn
hơn.
1.4.2. Phép chiếu bản đồ
Bề mặt hình cầu của trái đất chỉ có thể được biểu thị đồng dạng trên quả
địa cầu, để nghiên cứu bề mặt traí đất một cách chi tiết, vấn đề cần thiêt là phải
biểu thị bề mặt hình cầu của trái đất lên mặt phẳng. Việc chuyển từ mặt Elipxoid
lên mặt phẳng là nhờ phép chiếu bản đồ.
Phép chiếu bản đồ thể hiện quan hệ toạ độ các điểm trên bề mặt Trái đất
và toạ độ các điểm trên mặt phẳng bằng phương pháp toán học.
Tuỳ thuộc vào tính chất biểu diễn hoặc mặt phẳng phụ trợ ta có các phép
chiếu khác nhau như: phép chiếu đồng góc, đồng diện tích, phép chiếu tự do,
3

phép chiếu giữ độ dài theo một hướng nhất định, chiếu hình nón, chiếu hình trụ
giả, hình nón giả và chiếu phương vị.
1.4.2.1. Phép chiếu Gauss-Kruger và hệ toạ độ phẳng Gauss-Kruger
Hình 1.1. Phép chiếu Gauss-Kruger
* Phép chiếu Gauss-Kruger : Là phép chiếu hình trụ ngang đồng góc dùng
để tính toạ độ của mạng lưới trắc địa cũng như tính toán lưới toạ độ bản đồ dùng
cho bản đồ địa hình tỷ lệ lớn.
Bề mặt trái đất thành 60 múi mỗi múi 60 và đánh số thứ tự từ tây sang
đông tính từ kinh tuyến gốc đi qua đài thiên văn Grennwich. Mỗi múi được chia
thành hai phần đối xứng nhau qua kinh tuyến trục và được chiếu lên hình trụ và
sau đó được trải ra mặt phẳng.
Diện tích của múi chiếu lớn hơn trên mặt cầu. Hệ số biến dạng trên kinh
tuyến giữa bằng 1 và tăng từ kinh tuyến giữa về hai kinh tuyến biên giảm từ xích
đạo về hai cực.
* Hệ toạ độ vuông góc phẳng Gauss-Kruger; Hệ toạ độ này được xây
dựng trên mặt phẳng múi 60 của phép chiếu Gauss-Kruger. Trong đó nhận hình
chiếu của kinh tuyến gốc làm trục X còn nhận Xích đạo làm trục Y.
Như vậy, nếu tính từ điểm gốc về phía Bắc X mang dấu dương, về phía nam
mang dấu âm, còn Y về phía đông mang dấu dương về phía tây mang dấu âm
Để tính toán tránh trị số Y âm người ta quy ước điểm gốc có toạ độ xo=0
và y0=500 km.
4

