ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ĐỊA LÝ
1. Nêu khái niệm phẩm chất và năng lực. Trình bày những phẩm chất và năng lực
mà môn Địa lý THPT cần góp phần hình thành và phát triển cho học sinh.
Phẩm chất: là những yếu tố về đạo đức, hành vi, niềm tin, tình cảm, giá trị sống. Ý
thức pháp luật của con người được hình thành sau một quá trình giáo dục.
Năng lực là khả năng tổng hợp kiến thức và kỹ năng để thực hiện thành công một
loại công việc trong bối cảnh nhất định.
Nhân: Trong tiếng Việt, phẩm chất được hiểu là “cái làm nên giá trị của người hay
vật”. Tâm lí học phân biệt phẩm chất tâm lí – “những đặc điểm thuộc tính tâm lí,
nói lên mặt đức (theo nghĩa rộng) của một nhân cách” với phẩm chất trí tuệ –
“những đặc điểm bảo đảm cho hoạt động nhận thức của một người đạt kết quả tốt,
bao gồm những phẩm chất của tri giác (óc quan sát), của trí nhớ (nhớ nhanh, chính
xác,…), của tưởng tượng, tư duy, ngôn ngữ và chú ý. Trí thông minh là hiệu quả
tổng hợp của phẩm chất trí tuệ” 2 . Như vậy, đặt trong sự đối sánh với năng lực,
khái niệm phẩm chất nêu trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước về đổi mới
CT, SGK GDPT có nghĩa là đạo đức (phẩm chất tâm lí). Trong giáo dục cũng như
trong đời sống, phẩm chất (đức) được đánh giá bằng hành vi, còn năng lực (tài)
được đánh giá bằng hiệu quả của hoạt động.
Năng lực: bao gồm năng lực chung và năng lực đặc thù. Năng lực chung là năng
lượng thiết yếu cơ bản mà mọi người cần để sống, học tập và làm việc. Năng lực
cụ thể được thể hiện trong từng lĩnh vực khác nhau, do sự hình thành và phát triển
của lĩnh vực đó.
Phẩm chất và năng lực môn Địa lý THPT cần góp phần hình thành và phát triển
cho học sinh
Nhân:
“
Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn
có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến
thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,...
thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong
những điều kiện cụ thể.”
1. Phẩm chất: Yêu nước, tự hào dân tộc: Giúp học sinh hiểu biết về vị trí địa lí,
lãnh thổ, chủ quyền biển đảo, tài nguyên thiên nhiên, văn hóa - xã hội của Việt
Nam. Nhân ái, yêu thương con người: Giúp học sinh hiểu biết về sự đa dạng văn
hóa, xã hội của các quốc gia, khu vực trên thế giới, từ đó rèn luyện lòng yêu thương
con người, tinh thần đoàn kết quốc tế. Chăm chỉ, sáng tạo: Giúp học sinh rèn luyện
tư duy logic, khả năng phân tích, tổng hợp thông tin, giải quyết vấn đề. Trách
nhiệm: Giúp học sinh ý thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường, tài
nguyên thiên nhiên và ứng phó với biến đổi khí hậu. Trung thực: Giúp học sinh
rèn luyện tính trung thực trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học.
2. Năng lực: Năng lực tư duy phản biện: Giúp học sinh rèn luyện khả năng phân
tích, đánh giá thông tin, giải quyết vấn đề, đưa ra quyết định. Năng lực giao tiếp:
Giúp học sinh rèn luyện khả năng trình bày, thuyết trình, trao đổi thông tin, hợp
tác với người khác. Năng lực tự học: Giúp học sinh rèn luyện khả năng tự tìm kiếm
thông tin, học tập và nghiên cứu khoa học. Năng lực giải quyết vấn đề: Giúp học
sinh rèn luyện khả năng xác định vấn đề, thu thập thông tin, phân tích, đánh giá và
đưa ra giải pháp phù hợp.
2. Phân biệt giữa khoa học Địa lý và môn Địa lý trong nhà trường
* Khoa học Địa lý: Là một hệ thống khoa học bao gồm nhiều ngành khoa học khác
nhau, nghiên cứu về các quy luật, quá trình, hiện tượng tự nhiên, kinh tế - xã hội xảy
ra trên Trái Đất, mối quan hệ giữa con người với môi trường. Có tính hàn lâm cao,
tập trung vào nghiên cứu chuyên sâu, ứng dụng trong các lĩnh vực như: quy hoạch,
dự báo, quản lý tài nguyên thiên nhiên, ...
* Môn Địa lý trong nhà trường: Là một môn học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và
nhân văn, được giảng dạy ở các cấp học từ THCS đến THPT.
Điểm khác biệt
quan trọng nhất giữa Khoa học Địa lí và môn Địa lí trong nhà trường
là về mặt mục tiêu và nhiệm vụ mà chúng nhằm đạt tới. Một bên nhằm tới chân lí
khoa học, một bên thì nhằm tới việc giáo dục thế hệ trẻ. Nếu Khoa học Địa lí có
nhiệm vụ chủ yếu là nghiên cứu, tìm ra những chân lí mới, phát hiện ra những quy
luật địa lí tự nhiên và địa lí kinh tế - xã hội, giải thích sự phân hoá lãnh thổ ở các cấp
quy mô khác nhau thì môn Địa lí trong nhà trường lại có nhiệm vụ chọn lọc và giảng
dạy những tri thức, chân lí đã được tìm ra và được thừa nhận. Đồng thời, môn Địa lí
trong nhà trường còn có nhiệm vụ phải rèn luyện cho học sinh một loạt các kĩ năng,
kĩ xảo giúp cho học sinh có khả năng vận dụng tri thức địa lí một cách có hiệu quả
vào thức tiễn cuộc sống.
Môn Địa lí trong nhà trường còn khác với Khoa học Địa lí về phạm vi và khối lượng
tri thức. Khoa học Địa lí có một phạm vi tri thức vô cùng rộng lớn và phong phú.
Khối lượng tài liệu đó không ngừng được mở rộng và tăng lên rất nhanh. Đương
nhiên, không thể đưa toàn bộ khối lượng tri thức đó vào nhà trường để giảng dạy cho
học sinh mà chỉ cần lựa chọn những kiến thức và kĩ năng cơ bản nhất, phù hợp với
mục tiêu đào tạo của nhà trường nói chung, của từng cấp học nói riêng và phù hợp
với trình độ nhận thức của từng lứa tuổi học sinh. Trong khi xác định phạm vi, khối
lượng, chiều sâu và mức độ chính xác của tri thức, phải chú ý đến tính chất phổ thông
của nhà trường và thời gian giành cho môn học trong kế hoạch giảng dạy.
Về mặt này có sự phân biệt rõ rang ranh giới việc đào tạo ở các trường phổ thông và
các trường chuyên nghiệp.
Những tri thức dạy ở các trường phổ thông, chủ yếu nhằm giúp cho học sinh học tập
có kết quả và khi trường thành, họ làm tốt nhiệm vụ của người công dân, người lao
động có văn hoá trong xã hội. Còn những kiến thức và kĩ năng dạy ở trường chuyên
nghiệp chủ yếu là giúp cho học sinh có được một trình độ hiểu biết chuyên môn nhất
định về ngành nghề được đào tạo.
Môn Địa lí trong nhà trường còn có trình tự sắp xếp các tài liệu trước sau, ngang dọc
khác với Khoa học Địa lí. Trình tự đó trong khoa học được xác định thuần tuý bởi
logic của bản thân khoa học, còn trình tự sắp xếp tài liệu trong môn học ở trường phổ
thông thì chủ yếu lại do lôgic nhận thức và đặc điểm tâm lí, sinh lí học sinh quyết
định.
Ví dụ: trong Khoa học Địa lí, hai ngành khoa học Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế -
xã hội được phân biệt rất rõ rang, nhưng trong nhà trường phổ thông, có khi sự phân
biệt quá rành rẽ đó lại không cần thiết đối với các học sinh nhỏ tuổi.
Nhân:
* Khái niệm:
- Khoa học địa lý: Địa lí học là một hệ thống các khoa học tự nhiên và xã hội nghiên
cứu các thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên, các thể tổng hợp sản xuất theo lãnh thổ và
các thành phần của chúng
- Môn Địa lý ở trường phổ thông: Là môn văn hoá cơ bản trong nhà trường, gồm 3
mảng kiến thức: Địa lí đại cương, Địa lí thế giới, Địa lí Việt Nam
* Tương đồng
- Nội dung: hệ thống nghiên cứu khoa học gồm Địa lý tự nhiên và Địa lý kinh tế- xã
hội.
- Trình tự thể hiện: đều được sắp xếp theo trình tự khoa học của địa lý: địa lý tự nhiên
học trước địa lý kinh tế xã hội, các yếu tố đại cương được cung cấp làm cơ sở cho
địa lý khu vực.
- Quan điểm, học thuyết, phương pháp: những quan điểm, học thuyết đúng đắn trong
KHĐL cũng được đưa vào chương trình học. Phương pháp nghiên cứu của KHĐL
cũng được sử dụng: phương pháp bản đồ, pp phân tích các số liệu thống kê,pp so
sánh, pp thực địa,…
Khác biệt
Đặc điểm Khoa học địa lý Địa lý trong nhà trường phổ
thông
Mục tiêu, nhiệm
vụ
- Phát hiện chân lí
Quy luật TN, KTXH
- Giải thích: phân hóa lãnh
thổ ở các cấp có quy mô
khác nhau.
- Chọn lọc và giảng dạy chân
lý đã được tìm ra.
- Rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo
Vận dụng vào cuộc sống
Phạm vi và khối
lượng tri thức
Rộng, luôn thay đổi hẹp hơn, chọn lọc hơn phù
hợp đối tượng, thời gian
Sắp xếp Logic khoa học Phù hợp với nhận thức, tâm
sinh lí
Phân chia rõ: TN, KTXH Không rõ
3. Nêu vị trí, chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu của môn Địa lý ở THPT theo chương
trình giáo dục phổ thông 2018.
- Vị trí: Môn Địa lý thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, được giảng dạy ở
các cấp học từ THCS đến THPT.
- Chức năng: Cung cấp kiến thức cơ bản về các thành phần tự nhiên, kinh tế - xã
hội, môi trường của Trái Đất: Giúp học sinh hiểu biết về thế giới xung quanh, hình
thành cơ sở khoa học để học tập các môn học khác và tham gia vào các hoạt động
thực tiễn. Rèn luyện các kỹ năng tư duy, giải quyết vấn đề: Giúp học sinh rèn luyện
khả năng phân tích, tổng hợp thông tin, tư duy logic, lập luận, giải quyết vấn
đề, ... Hình thành ý thức bảo vệ môi trường: Giúp học sinh hiểu được tầm quan
trọng của việc bảo vệ môi trường, từ đó hình thành ý thức và hành động bảo vệ
môi trường sống.
- Nhiệm vụ: Cung cấp cho học sinh kiến thức cơ bản về các thành phần tự nhiên,
kinh tế - xã hội, môi trường của Trái Đất: bao gồm vị trí địa lí, lãnh thổ, khí hậu,
địa hình, sông ngòi, biển đảo, tài nguyên thiên nhiên, dân cư, kinh tế, văn hóa, xã
hội, ... Rèn luyện các kỹ năng tư duy, giải quyết vấn đề: Giúp học sinh rèn luyện
khả năng phân tích, tổng hợp thông tin, tư duy logic, lập luận, giải quyết vấn
đề, ... Hình thành ý thức bảo vệ môi trường: Giúp học sinh hiểu được tầm quan
trọng của việc bảo vệ môi trường, từ đó hình thành ý thức và hành động bảo vệ
môi trường sống.
- Mục tiêu: Trên nền tảng những kiến thức cơ bản và phương pháp giáo dục đề cao
hoạt động chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh, Chương trình môn Địa lí giúp
học sinh hình thành, phát triển năng lực địa lí - một biểu hiện của năng lực khoa học;
đồng thời góp phần cùng các môn học và hoạt động giáo dục khác phát triển ở học
sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung đã được hình thành trong giai đoạn
giáo dục cơ bản, đặc biệt là tình yêu quê hương, đất nước; thái độ ứng xử đúng đắn
với môi trường tự nhiên, xã hội; khả năng định hướng nghề nghiệp; để hình thành
nhân cách công dân, sẵn sàng đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
4. Phân tích các năng lực đặc thù của môn Địa lý THPT.
Thành phần năng
lực Biểu hiện
NHẬN THỨC KHOA HỌC ĐỊA LÍ
Nhận thức thế giới
theo quan điểm
không gian
- Sử dụng được bản đồ địa hình kết hợp với địa bàn để xác định
vị trí của một điểm trên thực địa; xác định được vị trí của một
sự vật, hiện tượng địa lí trên bản đồ.
- Phân tích được ý nghĩa của vị trí địa lí đối với tự nhiên, phát
triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng.
- Xác định và lí giải được sự phân bố các đối tượng địa lí.
- Sử dụng được lược đồ trí nhớ để mô tả nhận thức về không
gian; sử dụng bản đồ hoặc lược đồ để trình bày về mối quan hệ
không gian của các đối tượng địa lí; phát hiện, chọn lọc, tổng