1
Phần 1: Cần hiểu tâm lý của học sinh dân tộc thiểu
số khi dạy học tiếng Việt
ThS. Lê Hoàng Giang
TT NC Giáo dục Phổ thông - Viện Nghiên cứu Giáo dục
Giáo dục ngôn ngữcác tỉnh miền núi luôn được Đảng Nhà nước quan tâm,
dạy học tiếng Việt cho học sinh Tiểu học người n tộc c tỉnh Tây Nguyên
luôn nhiệm vụ hàng đầu của những người đang giảng dạy tại nơi đây. Đó
việc dạy học tiếng Việt với cách ngôn ngữ thứ hai cho học sinh dân tộc
thiểu số đang cư trú tại dải đất này, các dân tộc như Jrai, Bahnar... Mục đích của
việc giáo dục ngôn ngữ này nhằm cung cấp cho các em một công cụ giao
tiếp, một phương tiện tư duy, nhanh chóng hòa nhập cộng đồng, cùng sống dưới
i nhà chung Việt Nam, ng chung tiếng nói, ng sử dụng một ngôn ngữ,
phát huy sức mạnh của toàn dân tộc trong sự nghiệpch mạng mới. Thế nhưng
t v mặt chất lượng, hiệu quả go dục ngôn ngữ hiện nay các tỉnh Tây
Nguyên, như Gia Lai, KonTum, ĐăkLăk vẫn còn thấp. Tỷ lệ tốt nghiệp THPT
của học sinh dân tộc thiểu số ở các tỉnh trên trong những năm qua vẫn chưa cao,
cụ thể, trường Phổ thông Dân tộc Nội Trú tỉnh Gia Lai, 2001 - 2002: 71,19%;
2002 - 2003: 62,50%; 2006 - 2007: 76,34%; 2007 - 2008: 71,32%... Đặc biệt,
chất lượng bài kiểm tra, bài thi các môn học thuộc ngành khoa học xã hội nói
chung, môn Tiếng Việt Tiểu học, môn Ngữ văn THCS, THPT nói riêng đều
rất thấp, học sinh không đủ vốn từ vựng để hiểu các n học khác. Nguyên
nhân của tình trạng trên năng lực ngôn ngữ, kiến thức tiếng Việt của các em
n hạn chế, việc dạy học tiếng Việt cho học sinh Tiểu học người n tộc
những tỉnh trên vẫn chưa mang lại hiệu quả mong đợi. những người m
ng tác go dục, chúng ta hãy suy ngẫm về kết quả giáo dục này!
1. Học sinh Tiểu học người dân tc trước khi đến trường.
Khác với học sinh người kinh, trước khi đến trường, đa số học sinh người dân
tộc thiểu số chưa biết sử dụng tiếng Việt. Thực tế cũng có sít các em được trải
qua sự chăm sóc của vườn trẻ, nhưng vốn kiến thức ban đầu về tiếng Việt, như
những mẫu hội thoại đơn giản mang tính bắt đầu, những knăng bản như
nghe, i mà trường Mầm Non đã trang bị cho các em, những do khách
quan khác nhau đã không n theo các em bước vào lớp1. Bởi trong sinh hoạt
gia đình, cộng đồng, người dân ở đây, cũng như các em chỉ sử dụng tiếng mẹ đ
nên khi bước ra thế giới bên ngoài, vào i trường giáo dục phổ thông, tiếng
Việt c bấy giờ ngôn ngữ thứ hai của c em. Việc giao tiếp thông thường
với thầy giáo đã khó khăn, cũng khi không thể, việc nghe giảng
những kiến thức về các môn học khác nhau bằng tiếng Việt lại càng kkhăn
hơn đối với các em. Đến trường, đến lớp c em bước đến một i trường
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
2
sinh hoạt hoàn toàn xa lạ, tâmrụt rè, e sợ luôn thường trực trong các em, làm
giảm tốc độ bước chân các em đến trường.
2. Học sinh Tiểu học dân tộc thiểu số học tiếng Việt học ngôn ngữ th
hai.
Mặc dù một số ít học sinh đã trải qua các lớp ở bậc Mm non nhưng đối với các
em, trường Tiểu học vẫn một môi trường hoàn toàn mới, tiếng Việt một
ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ. Sự tồn tại của tình trạng này trong đời sống các em
do điều kiện sử dụng ngôn ngữ trong đời sống sinh hoạt cộng đng, là do tâm
sử dụng ngôn ngữ mẹ đrất tự nhiên, bản năng. Những buổi sinh hoạt cộng
đồng, những lần hội họp, người địa phương chỉ sử dụng ngôn ngữ mđẻ. H
ngại sử dụng tiếng Việt, có lẽ vì vốn kiến thức về tiếng Việt ở họ quá ít ỏi, cũng
lẽ bản ng ngôn ngữ mđẻ thường trực trong họ. Chính thế, mỗi lần
các cán bộ xã, huyện về chủ trì một cuộc họp nào đó làng, bản, họ phát biểu
bằng tiếng Việt rất khó khăn. Thói quen này trong sử dụng ngôn ngữ sẽ nh
hưởng vào trong đời sống gia đình của mỗi cá nhân, học sinh vẫn sử dụng tiếng
mẹ đẻ khi rời trường, rời lớp. Dần dà các em không thể sử dụng tiếng Việt, quên
ngay những kiến thức về tiếng Việt đã học trên lớp, từ đó, đã khiến cho các em
thụ động, thiếu linh hoạt khi i trường giao tiếp lớn hơn, vượt khỏi môi
trường cộng đồng dân cư nhỏ hẹp.
3. Mặc cảm của học sinh dân tộc thiểu số khi đến trường học tiếng Việt.
Tiếp c, quan sát học sinh dân tc thiểu số tại c tỉnh Tây Nguyên, tôi nhận
thấy rằng, các em học sinh đây đã biết ý thức về nguồn gốc của mình. Cái
nghèo luôn nhắc nhở con người sống trong cảnh khốn ng cần hiểu sâu sắc v
nguồn gốc, v điều kiện, hoàn cảnh sống của bản thân. Nghèo đã giúp con
người ta vươn n nhưng nghèo ng làm cho con người luôn mặc cảm, tự ti,
bằng lòng với cuộc sống hiện tại. Mặc cảm s phận đã khiến con người không
thể thoát khỏi những thiếu thốn vật chất, không thể ơn xa hơn không gian
sống hiện tại. Những học sinh tiểu học người dân tộc các tỉnh Tây Nguyên
không shồn nhiên của tuổi trẻ, không chỉ "ngày hai buổi đến trường",
các em còn phải miệt mài trên nương rẫy trỉa lúa, trồng ngô,...lo cho cuộc sng
vật chất của gia đình đang chật vật, thiếu thốn. Chúng i thật thương tâm khi
nghe nhưng đồng nghiệp đang giảng dạy những vùng miền núi Tây Nguyên
tâm sự, rằng "chúng em phải vào tận làng lùng sục c em, đưa c em đến
trường."; cũng có nhiều giáo viên chia sẻ, "Em phải ng tiền lương của mình
để mua qăn, đồ ng học tập cho các em, rồi mới đưa c em trở lại trường.
Nhưng lúc cũng không thành công!",... Theo i, cái gốc rễ của vấn đề
chỗ, cái nghèo truyền kiếp đã quy định trách nhiệm của các em đối với gia đình.
Cái ăn từng bữa n chưa có, chưa đủ thì học chđể làm gì, suy nghĩ của các
em gia đình của các em vậy! Họ không hiểu rằng, chính cái chữ sẽ giúp
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
3
con người thoát khỏi cuộc sống nghèo khiện tại, giúp con người hoạch định
tương lai. Cho nên vào thời điểm a màng, số lượng học sinh trên lớp học rất
ít. Cũng có những hôm thầy giáo cắp cặp tới lớp, ri quay về, tìm cách xuống
bản, tới từng gia đình học sinh, giảng giải cho các em, thuyết phục gia đình các
em rằng, cần phải dành thời gian cho c em học tập, bởi các em n trong độ
tuổi đến trường. Thế nhưng, hiệu qucủa ng việc "tuyên truyền" này không
phải lúc nào cũng như ý, lắm lúc, giáo viên còn phải nhận những câu trả lời cay
nghiệt của phụ huynh khiến cho họ có những giây phút nản lòng.
Một số học sinh có ý thức học tập, đến mùa ng, cũng xin phép giáo viên chủ
nhiệm, nhà trường nghỉ phép vài hôm, nhưng rồi các em cũng quên trở lại
trường khi a gặt kết thúc. Giáo viên lại phải nhọc công tìm đến tận bản, vận
động các em đến trường.
Con người chủ thnhận thức. Nhận biết về bản thân, về mọi vật xung quanh
là sự sống bản năng của con người. Người dân tộc thiểu số luôn ý thức về nguồn
gốc, về điều kiện sống, hoàn cảnh sng của mình. Chính điều này đã khiến cho
học sinh Tiểu học dân tộc thiểu số tiếp nhận những kiến thức về tiếng Việt k
khăn, tạo rào cản ngăn cách hoạt động sống của c em với i trường xã hội
rộng lớn, làm cho các em khó tiếp xúc, hòa nhập cộng đồng.
Nhìn ra được cái hạn chế, điều tốt đẹp của bản thân con người đã phát triển
một mức nào đó về nhận thức. Nghĩa con người đã biết đặt mình trong nhiều
mối quan hệ trong xã hội. Ý thức là nguồn động viên cho sự vươn lên thoát khỏi
hoàn cảnh thực tại nhưng cũng có ý thức tạo cho con người tính mặc cảm, tự ty
thân thế, số phận, làm thui chột hao mòn năng lực, tri thức bản thân. Học sinh
Tiểu học dân tộc thiểu số tại c tỉnh Tây Nguyên đến trường trong m thế
"hèn mọn" đó. Các em ng đã biết nhìn ngắm những trang phục của c bạn
học sinh người Kinh, nhìn lại trang phục của mình. những trường Nội trú,
tình trạng trên ít xảy ra, nhưng đối với các trường cả hai đối tượng học sinh,
người Kinh người dân tộc thiểu số, tình trạng trên luôn ngầm diễn ra trong
các em. Nếu số lượng học sinh thiểu số nhiều hơn học sinh Kinh thì tình trạng
trên ít xảy ra, còn nếu số lượng học sinh thiểu số ít hơn số lượng học sinh người
Kinh thì tình trạng trên càng diễn ra nặng nề. Trong lớp chắc chắn sẽ có sự phân
biệt, k thị hai đối tượng học sinh trên. Một bquần áo, một đôi dép hay
những phụ kiện đơn giản khác của các bạn khi đến trường cũng làm cho c em
n khoăn, suy nghĩ về nhau, so sánh lẫn nhau. Nhiều em học sinh người n
tộc thiểu số chân đất đến trường, hoặc trong trang phục cũ kỹ, hay với những
đồng phục bắt buộc nhàu nát các em không chỉ dành cho đến trường, hay
ng với những cuốn tập bị bỏ quên ngay sau khi rời lớp. Tâm ấy cũng phần
nào làm cho tinh thần học tiếng Việt của c em học sinh Tiểu học người dân
tộc thiểu số b suy giảm.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
4
Như đã phân tích trên, chính điều kiện sống như thế đã không tạo cho các em
một môi trường học tập, một góc học tập nhân, lại càng không thể xây dựng
trong các em ý thức học tập, rèn luyện. Vốn kiến thức về tiếng Việt các em
hạn chế, ít ỏi điều hiển nhiên. Chính vì thế, c em rất ngại phải giao tiếp
bằng tiếng Việt, lo sợ phải phát biểu xây dựng bài trong giờ học, lo ngại phải
giao tiếp với giáo viên ngoài giờ học, đặc biệt các em rất khó tiếp thu bài
những n học khác. Điều này đồng nga với việc kiềm m sự phát triển
duy các em, khó tạo ra một môi trường giáo dục thân thiện! Học sinh đã bắt
đầu lo lắng cho mi giờ đến lớp, "sợ" phải đến trường. Học tập c này là công
việc quá khó khăn đối với các em.
Đối với người dân tộc y Nguyên, không gian sống của họ rất đặc trưng,
không có ranh giới giữa không gian sinh hoạt gia đình và đương nhiên sẽ không
gian sống nhân. Đây chính đặc trưng văn hóa của người dân tc Tây
Nguyên. Không gian sống đặc thù y của người Tây Nguyên khắc sâu trong
các em về truyền thống văn hóa, về cội nguồn. Chúng ta nhận biết không gian
sống đc biệt ấy qua kiến trúc nhà của họ, một không gian chung cho tất c
những người trong gia đình. Chính vậy, việc tạo một không gian học tập cho
học sinh điều không thể. Hoạt động sống này đã không tạo điều kiện học tập
cho các em, mà còn làm cho chất lượng học tập của các em ngày càng giảm sút.
Đối với các em, tự học chủ yếu, bởi anh chị, cha mẹ, người thân trong gia
đình hoặc không có khả năng hướng dẫn, hoặc không có ý thức trách nhiệm đôn
đốc nhắc nhở quản lý, hay do hoàn cảnh sống khó khăn mà gia đình đã không
chú trọng tới việc học của con, em mình. Điều này cho thấy đa số các em không
được nằm trên một cái nền học vấn nhất định nào đó của gia đình. Việc học tập
của các em phải nhờ đến sự tận tâm của giáo viên, nhờ vào kế hoạch giáo dục
của nhà trường. Cho nên ý thức học tập đc tính rất cần được chúng ta y
dựng cho các em.
4. Chế độ xã hội
Hiện nay, xã hội vẫn chưa squan tâm sâu sát đến điều kiện học tập của học
sinh dân tộc thiểu số. Nhà nước ta chỉ chú ý đến sở vật chất của Trường học,
chứ chưa chú trọng đến đời sống của học sinh một cách đúng mức. Kinh phí h
trợ học sinh nghèo vẫn chưa đến kịp thời, chẳng hạn như, kinh p hỗ trợ học
sinh nghèo tỉnh Gia Lai năm học 2008 - 2009 đến nay (15/ 07/ 2010) vẫn tắc
nghẽn, "chưa về được". Sự thiếu quan m này của các cấp chính quyền địa
phương đã gieo trong các em tâm chán nản, gây trong phhuynh tâm nghi
ngờ. Việc nhiều cán bộ xã đã ăn bớt tiền hỗ trợ n nghèo ăn tết hằng năm đã b
luận hội lên án. Hiện tượng tham ô trên xảy ra khắp c xã vùng k
trên cả nước đã chứng minh rằng, Nhà nước ta nghĩ, lo cho dân chỉ được một
bước, nên đời sống của những người dân những vùng khó khăn vẫn chưa thể
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
5
an toàn được, vấn đ a đói, giảm nghèo các tỉnh miền núi vẫn chưa thực
hiện. Những tồn tại trên đã gây mất niềm tin trong ng n đối với các cấp
chính quyền, trẻ đối với trường, lớp. Cái đói, kiếp nghèo cả bọn "địa chủ"
thời nay luôn rình rập, đeo bám họ thì làm sao tất cả họ đều suy nghĩ cần
cho con đến trường.
5 Về phía giáo viên
Đa số giáo viên người Kinh nơi khác đến giảng dạy các tỉnh Tây Nguyên
đều không biết ngôn ngữ Dân tc, nếu biết thì cũng chỉ dừng ở mức độ rất ít nên
họ không thể so sánh, đối chiếu, liên hệ khi gặp những tình huống cần thiết
trong dạy học tiếng Việt cho đối tượng học sinh đc biệt này. Mặt khác, v
phong tục tập quán, họ lại càng không điều kiện tìm hiểu, cho nên họ khó có
thể tiếp cận với phhuynh, gia đình c em, k thtiếp xúc gần gũi, rút
ngắn khoảng cách, xóa ranh giới không cần thiết giữa thầy trò, để dạy tiếng
Việt hiệu quả.
Dạy học cho người dân tộc thiểu số phải do chính giáo viên người địa phương
đảm nhiệm mới mang lại hiệu quả cao được. Nhưng ngặt nỗi, trình độ chuyên
n của giáo viên địa phương chưa được chuẩn, đa số giáo viên địa pơng
đây chỉ trải qua những lớp đào tạo ngắn hạn, rồi bù vào đó tấm bằng Đại học
Từ Xa, hoặc nhà trường phạm phải tạo điều kiện ra trường cho họ để đáp
ứng nhu cầu về giáo viên của địa phương những năm trước đây. Tồn tại
những trường Tiểu học trên địa bàn Tây Nguyên một số giáo viên trình độ
cấp (họ chỉ mới học hết lớp 5, rồi chính quyền địa phương cho đi học 3 tháng
nghiệp vụ, rồi họ lên bục giảng làm thầy), nên công việc giảng dạy của hkhó
mang lại được hiệu quả mong muốn. Bản thân họ cũng chưa nắm vững những
kiến thức về tiếng Việt nên htruyền tải những kiến thức này đến cho học sinh
rất kkhăn. Nvậy, hiệu quả dạy học của giáo viên người dân tộc khó có
thể!
Quan m đến việc học tập của học sinh, đặc biệt lại học sinh Tiểu học dân
tộc thiểu số cũng không có được mấy người trong số tất cả những người đang
trên bục giảng vùng khó khăn. trước m thế đến trường của học sinh như
vậy, thiết nghĩ, giảng dạy cho học sinh những vùng khó, chúng ta cần hiểu
được những vấn đề về tâm của học sinh, về điều kiện, hoàn cảnh sống của gia
đình c em đtìm ra những biện pháp go dục, dạy học các em hiệu quả hơn,
đưa các em đến với ánh sáng của tri thức. Giáo viên cũng cần tự bồi dưỡng
chuyên môn nghiệp vụ, học ngôn ngữ địa phương, thâm nhập đời sống văn a
cộng đồng, đặc biệt hằng năm, các sở Go dục - Đào tạo, phòng Giáo dục
cần chương trình, kế hoạch bồi dưỡng giáo viên người dân tộc dài ngày
thường xuyên hơn đviệc dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số hiệu
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.