489
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
TCNCYH 193 (8) - 2025
Tác giả liên hệ: Lê Trung Thành
Trường Đại học Y Hà Nội
Email: thanhletrung98@gmail.com
Ngày nhận: 12/05/2025
Ngày được chấp nhận: 25/06/2025
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
TẠO HÌNH C MẮT TRONG SAU CẮT UNG THƯ TẾ BÀO ĐÁY
BẰNG NHIỀU VẠT TẠI CHỖ: LOẠT CA M NG
Dương Mạnh Chiến1,2,3 và Lê Trung Thành1,
1Trường Đại học Y Hà Nội
2Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương
3Bệnh viện K
Tái tạo vùng góc mắt trong sau cắt ung thư biểu tế bào đáy một thách thức lớn trong phẫu thuật
tạo hình do đặc điểm giải phẫu phức tạp yêu cầu cao về chức năng, thẩm mỹ. Bài viết trình bày 6 trường
hợp lâm sàng với các tổn khuyết vùng góc mắt trong kích thước mức độ xâm lấn khác nhau, được
tạo hình bằng cách kết hợp nhiều vạt tại chỗ, bao gồm vạt da mi trên, vạt da mi dưới, vạt bán nguyệt,
vạt chuyển vùng gốc mũi, vạt chuyển vùng gian mày, vạt chuyển, vạt V-Y vạt lật vùng má. Tất cả các
ca đều liền thương tốt, không biến chứng nặng sau mổ, kết quả theo dõi xa trên 6 tháng 4 bệnh nhân
cho thấy sự phục hồi tốt về mặt hình thể chức năng vận động của mi mắt, trong đó 2 bệnh nhân còn
tình trạng chảy nước mắt liên tục do tổn thương hệ thống lệ tỵ. Việc lựa chọn phối hợp nhiều vạt tại chỗ
theo từng đơn vị giải phẫu cho thấy hiệu quả rệt trong việc tái tạo các tổn khuyết rộng vùng góc mắt
trong, góp phần tối ưu hóa kết quả lâu dài cả về mặt hình thể chức năng.Top of FormBottom of Form
Từ khóa: Ung thư tế bào đáy, khuyết vùng góc mắt trong, tạo hình góc mắt trong.
Ung thư biểu tế bào đáy loại ung thư
da phổ biến nhất, thường gặp ở người lớn tuổi
xu hướng khu trú tại vùng đầu mặt cổ,
đặc biệt các vùng da tiếp xúc nhiều với ánh
nắng mặt trời. Trong số đó, vùng quanh mắt
chiếm tỷ lệ đáng kể, với góc mắt trong vị trí
phổ biến thứ hai sau mi dưới.1 Do đặc điểm
giải phẫu vùng góc mắt trong bao gồm nhiều
cấu trúc quan trọng như mi mắt trên dưới,
dây chằng góc mắt trong, hệ thống lệ tỵ, xương
chính mũi… việc tái tạo tổn khuyết sau cắt u tại
vùng này luôn đặt ra những thách thức lớn cho
phẫu thuật viên tạo hình.
Ngoài việc phục hồi chức năng nhắm mở
mắt, dẫn lưu lệ cố định góc mắt, phẫu thuật
tạo hình vùng này còn cần đạt được sự hài hòa
về hình thể, bảo tồn độ lõm tự nhiên hạn
chế tối đa biến dạng của mô mềm xung quanh.
Bên cạnh đó, đặc điểm da vùng góc mắt trong
mỏng, ít di động, liền kề với nhiều đơn vị thẩm
mỹ như mi trên, mi dưới, mũi, khiến cho
việc lựa chọn kỹ thuật tạo hình cần được cân
nhắc cẩn thận dựa trên từng thành phần tổn
thương.
Hiện nay, nhiều phương pháp được áp
dụng trong tái tạo tổn khuyết vùng góc mắt
trong như liền thương tự nhiên, ghép da, vạt tại
chỗ đơn lẻ hoặc kết hợp nhiều vạt. Tuy nhiên,
với các tổn khuyết rộng phức tạp sau cắt u
triệt căn, đặc biệt khi tổn thương phối hợp
nhiều lớp cấu trúc giải phẫu, việc sử
dụng phối hợp nhiều vạt tại chỗ mang lại hiệu
quả rệt, giúp tạo hình từng đơn vị cấu trúc
theo đúng đặc điểm giải phẫu học.2
490
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
TCNCYH 193 (8) - 2025
Trong bài viết này, chúng tôi trình bày loạt ca
lâm sàng gồm 6 bệnh nhân ung thư biểu mô tế
bào đáy vùng góc mắt trong được tạo hình sau
cắt u bằng nhiều vạt tại chỗ khác nhau, qua đó
phân tích chiến lược tạo hình theo từng mức độ
tổn thương cụ thể, nhằm đưa ra cách tiếp cận
hiệu quả linh hoạt cho loại tổn khuyết đặc
biệt vùng này.
II. GIỚI THIỆU CA BỆNH
Tác giả báo cáo 6 ca lâm sàng tổn khuyết
vùng góc mắt trong sau cắt bỏ ung thư biểu
mô tế bào đáy, được phẫu thuật tạo hình bằng
nhiều vạt tại chỗ tại bệnh viện K từ năm 2018-
2025.
Với các tổn khuyết vùng góc mắt trong,
chúng tôi tiếp cận theo các tiêu chí: Khuyết da
vùng góc mắt trong, lá trước, sau của mi mắt,
dây chằng góc mắt trong, hệ thống lệ tỵ, màng
xương xương của thành trong mắt. Với
mỗi tổn thương chúng tôi có các phương pháp
tạo hình khác nhau, theo nguyên tắc chung
là: (1) Phục hồi dây chằng góc mắt trong. (2)
Đóng kín tổn khuyết thông với khoang mũi hoặc
xoang. (3) Tạo hình đủ trước sau của mi
mắt. (4) Tạo hình khuyết da vùng góc mắt trong
theo các đơn vị giải phẫu. Dựa trên giải phẫu
vùng góc mắt trong, chúng tôi chia tổn khuyết
da thành bốn tiểu đơn vị: Vùng 1 Mi trên; Vùng
2 – Gốc mũi; Vùng 3 – Thành bên mũi; Vùng 4
Mi dưới. Với từng tiểu đơn vị, chúng tôi lập
chiến lược tái tạo riêng để đảm bảo phục hồi tốt
cả về mặt hình thể và chức năng của mi mắt.
Hình 1. Các tiểu đơn vị vùng góc mắt trong
Sau mổ, bệnh nhân được đánh giá kết quả
gần khi ra viện kết quả xa sau 6 tháng.
Trong
quá trình nằm viện, mỗi bệnh nhân đều được
theo dõi về các biến chứng sau phẫu thuật
bao gồm hoại tử vạt da, tụ máu, nhiễm trùng.
Khám lại sau 6 tháng, kết quả thẩm mỹ được
đánh giá bình thường khi không quan sát
thấy trễ mi, lệch góc mắt, sẹo xấu. Kết quả
chức năng được xác định bình thường nếu
chức năng mở đóng của mi mắt tái tạo
được bảo toàn và không có hiện tượng chảy
nước mắt quá mức.
Ca bệnh số 1
Bệnh nhân nữ, 59 tuổi. Chẩn đoán ung thư
biểu tế bào đáy góc mắt trong trái. Sau phẫu
thuật cắt u để lại tổn thương rộng kích thước
2x2cm vùng góc mắt trong không khuyết bờ
mi, độ sâu khuyết đến lớp vòng mi, không
tổn thương dây chằng góc mắt trong hệ
thống lệ tỵ. Với tổn khuyết đơn thuần này
thể sử dụng một vạt tại chỗ lấy mô từ vùng gian
mày hoặc má để che phủ tổn khuyết, tuy nhiên
phương pháp này thể làm ảnh hưởng đến
độ lõm tự nhiên của vùng góc mắt trong do mô
491
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
TCNCYH 193 (8) - 2025
vùng gian mày hay quá dày. Lựa chọn của
tác giả trong trường hợp này sử dụng hai
vạt với chất liệu da tương đương với vùng góc
mắt trong: Vạt chuyển lấy da vùng gốc mũi
để che phủ phần gốc mũi của tổn khuyết,
vạt da mi dưới để che phủ phần mi dưới của
tổn khuyết, với vị trí đóng vạt trùng với đường
langer. Kết quả theo dõi xa tốt cả về mặt hình
thể và chức năng của mi mắt.
Hình 2. Bệnh nhân nữ, 59 tuổi, ung thư biểu mô tế bào đáy góc mắt trong trái
Ca bệnh số 2
Bệnh nhân nam, 70 tuổi. Chẩn đoán ung
thư biểu mô tế bào đáy góc mắt trong trái. Sau
phẫu thuật cắt u để lại tổn khuyết rộng kích
thước 2x3 cm, bao gồm khuyết một phần gốc
mũi và thành bên mũi, đáy tổn khuyết lộ xương
chính mũi, không có tổn thương dây chằng góc
mắt trong hệ thống lệ tỵ. Trong trường hợp
này, tổn khuyết ưu thế vùng mũi, vậy yêu
cầu một chất liệu độ dày tương đương da
vùng mũi để tạo hình che phủ. Với phần tổn
khuyết vùng gốc mũi, do kích thước khuyết lớn,
tác giả đã sử dụng vạt chuyển lấy từ vùng gian
mày thay vì lấy trực tiếp từ vùng gốc mũi để tạo
hình. Với phần tổn khuyết vùng thành bên mũi,
một vạt chuyển lấy từ vùng liền được
lựa chọn để che phủ. Sau phẫu thuật vết mổ
liền tốt, không xảy ra biến chứng hoại tử vạt, tụ
máu hay nhiễm trùng.
Hình 3. Bệnh nhân nam, 70 tuổi, ung thư biểu mô tế bào đáy góc mắt trong trái
492
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
TCNCYH 193 (8) - 2025
Ca bệnh số 3
Bệnh nhân nam, 82 tuổi. Chẩn đoán ung
thư biểu tế bào đáy góc mắt trong trái.
Bệnh nhân đã được phẫu thuật cắt bỏ khối u,
để lại tổn khuyết rộng kích thước 4x3 cm bao
gồm khuyết một phần gốc mũi, thành bên mũi
má, còn bảo tồn được bờ mi, không tổn
thương dây chằng góc mắt trong hệ thống
lệ tỵ, không lộ màng xương. Chúng tôi chia tổn
khuyết thành hai phần lựa chọn hai vạt tại
chỗ để tạo hình riêng hai vùng này. Với khuyết
hổng vùng gốc mũi, chúng tôi sử dụng một vạt
chuyển lấy từ vùng gian mày với độ dày
tương đương da vùng mũi. Với tổn khuyết vùng
thành bên mũi má, do kích thước khuyết
lớn, chúng tôi huy động một lượng lớn mô bằng
cách sử dụng vạt đẩy V-Y từ vùng rãnh mũi má
để che phủ khuyết. Bệnh nhân không gặp một
biến chứng nào thời điểm ra viện. Bệnh nhân
cho kết quả xa khá tốt về sẹo chức năng của
mi mắt.
Hình 4. Bệnh nhân nam, 82 tuổi, ung thư biểu mô tế bào đáy góc mắt trong trái
Ca bệnh số 4
Bệnh nhân nam, 76 tuổi. Bệnh nhân đến
khám trong tình trạng khối ung thư tế bào đáy
lan rộng vùng mũi mi mắt. Sau cắt u để lại
tổn thương rộng kích thước 3,5x3cm bao gồm
khuyết da vùng mũi, trước của 1/2 trong mi
trên 1/4 trong mi dưới, tổn thương dây chằng
góc mắt trong hệ thống lệ tỵ, màng xương
còn nguyên vẹn. Tác giả tiến hành cố định góc
mắt trong bằng khâu treo dây chằng với màng
xương của thành trong mắt với chỉ nilon 4/0.
Sau đó phân chia tổn khuyết da thành ba vùng
tạo hình dựa trên thành phần tổn khuyết. Với
tổn khuyết vùng mũi, sử dụng một vạt chuyển
từ vùng gian mày là phù hợp do tổn khuyết kích
thước lớn và nằm gần về phía gốc mũi. Với tổn
khuyết trước của mi trên mi dưới, chúng
tôi tin rằng không một chất liệu tạo hình nào
phù hợp hơn da vùng mi cạnh tổn khuyết. Hai
vạt da cơ mi trên và mi dưới được sử dụng để
che phủ tổn khuyết trong trường hợp trên. Theo
dõi xa cho kết quả tốt về hình thể và chức năng
nhắm mở của mi mắt. Tuy nhiên do tổn thương
lỗ đổ vào của hệ thống lệ tỵ nằm phía trong
của bờ mi, bệnh nhân gặp phải tình trạng chảy
nước mắt liên tục. Bệnh nhân hài lòng với kết
quả hiện tại.
493
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
TCNCYH 193 (8) - 2025
Hình 5. Bệnh nhân nam, 76 tuổi, ung thư biểu mô tế bào đáy góc mắt trong phải
Ca bệnh số 5
Bệnh nhân nữ, 89 tuổi. Chẩn đoán ung thư
biểu tế bào đáy vùng góc mắt trong phải.
Bệnh nhân đã được cắt bỏ rộng khối u, để lại
tổn thương kích thước 3,5x2,5cm, bao gồm
khuyết toàn bộ độ dày 1/4 trong mi trên, 1/2
trong mi dưới, dây chằng góc mắt trong, hệ
thống lệ tỵ, tuy nhiên màng xương còn nguyên
vẹn. Với tổn thương này, việc tạo hình lại các
thành phần của góc mắt trong sẽ phức tạp hơn
do tổn thương cả lá trước và sau của mi mắt.
Chúng tôi tiến hành cố định góc mắt trong bằng
chỉ nilon 4/0, sau đó sử dụng các vạt da để che
phủ tổn khuyết theo các vùng giải phẫu. Với tổn
khuyết mi trên gốc mũi, chúng tôi tái tạo
trước mi trên bằng cách sử dụng vạt chuyển
vùng gian mày, tái tạo sau bằng ghép
niêm mạc miệng lên mặt sau của vạt. Trong khi
đó với tổn thương mi dưới, do khuyết vùng này
lớn, với độ rộng khoảng 1/2 chiều dài mi dưới,
chúng tôi huy động cả tổ chức mi dưới liền kề
da vùng thái dương bằng cách sử dụng vạt
bán nguyệt để tạo hình trước ghép sụn
vành tai niêm mạc miệng vào mặt sau vạt
để tạo hình lá sau của mi dưới. Sau phẫu thuật
vết mổ liền tốt, không xảy ra biến chứng hoại tử
vạt, tụ máu hay nhiễm trùng.
Hình 6. Bệnh nhân nữ, 89 tuổi, ung thư biểu mô tế bào đáy góc mắt trong trái