THẤT THOÁT HƯ HỎNG ĐỐI VI LÚA GIỐNG VÀ LƯƠNG THỰC SAU THU
HOCH VÀ GII PHÁP GIM NH
---------------
PHN 2: THC TRNG CÔNG NGH VÀ NHỮNG NGUY CƠ TIỀM N TRONG
QUÁ TRÌNH SY GING, LƯƠNG THỰC VÀ GII PHÁP
1. DẪN NHẬP
Sản lượng lúa của ĐBSCL liên tục tăng từ 4,2 triệu tấn vào năm 1975 lên đến hơn 17,4
triệu tấn vào năm 2000 21 triệu tấn năm 2010, vựa lúa y đã tăng sản lượng đến 05 lần (so
với mới giải phóng). Tuy nhiên, theo thống ĐBSCL, vụ lúa thu năm 2011 đã gieo sạ 1,6
triệu ha lúa, đến nay đã thu hoạch hơn 210.000ha, năng suất thu hoạch bình quân đạt 5 tấn/ha, số
lượng lúa gạo hao hụt sau thu hoạch bình quân 13,7%, biệt nơi lên đến 20% do mưa dầm.
Đến thời điểm hiện nay, toàn vùng ĐBSCL đã trang bị được hơn 6.435 máy sấy các loại, tương
đương hơn 9.220 quy chuẩn loại SH4 4 tấn/mẻ đang sử dụng, chỉ sấy được khoảng 31% sản
lượng lúa hè thu; trong đó, Kiên Giang hơn 1.700 lò; An Giang hơn 1.464 lò; Cần Thơ n
1.200 lò; Hậu Giang, Sóc Trăng mỗi tỉnh trên 800 lò, Mau, Bến Tre mỗi tỉnh hơn 40
lò... Cứ mỗi vụ thu, ĐBSCL lại hao hụt 13,7% của 8 triệu tấn lúa, thì gần 110.000 tấn lúa
bị thất thoát, tương đương 660 tỷ đồng, do phơi sấy không kịp. a nhiều vụ thu dẫn đến
chuyện hao hụt, chất lượng gạo xấu. Hiện tượng lúa mọc mộng gần 3 - 4 cm, ẩm vàng trên khắp
các sân phơi trong những năm 1997, 1998, 1999 các huyện Phụng Hiệp (Hậu Giang), Thốt
Nốt, Ô Môn (Cần Thơ), Tri Tôn, Thoại Sơn, Châu Phú (An Giang), Trà ôn (Vĩnh Long)... một
quá khứ đau buồn làm nông dân không thể nào quên.
Các địa phương diện tích trồng lúa lớn ĐBSCL như An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang,
thành phố Cần Thơ... vào thời điểm này nhìn con nông dân xếp hàng rồng rắn chờ đến lượt
sấy a mới thấy được giá trị của sấy. Nhiều đợt thu hoạch trong vụ Thu, đang cắt lúa lại
gặp trời áp thấp nhiệt đới mưa dầm hơn 3 ngày. Lúa vào bao vác lên bờ, đi tới đâu nước tuôn ra
đến đó. Phải mang đến sấy, chờ thêm hơn 2 ngày mới tới lượt sấy, mở bao ra lúa đã lên mộng
trắng đầy.
Tại Hội thảo về bảo quản lúa gạo cho ĐBSCL diễn ra tại thành phố Cần Thơ vào ngày
30/6/2011. Tiến Phạm Văn Tấn, Phó Giám đốc Phân viện điện nông nghiệp Công nghệ
sau thu hoạch thuộc Bộ Nông nghiệp Phát triển nông thôn cho biết, tổn thất sau thu hoạch lúa
tại ĐBSCL lên đến 635 triệu USD/năm. Tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch lúa hiện nay còn khá cao,
trong đó cao nhất khâu phơi sấy mất 4,2%; thu hoạch 3%; xay xát 3%; bảo quản 2,6%; vận
chuyển 0,9%. Nếu như tất cả các khâu thu hoạch đều khiếm khuyết thì tổn thất thể lên đến
20,6%. Ngoài ra, tổn thất các phụ phẩm khác của lúa gạo cũng lên đến 50%. Những thiệt hại về
chất cũng rất lớn, chưa được xem xét hết. Cụ thể như chất lượng, thị trường xuất khẩu gạo của
Việt Nam thuộc cấp thấp chiếm đa số, giá bán thường thấp hơn gạo của Thái Lan Mỹ từ 80 -
100 USD/tấn (trích nguồn: Báo Đảng CSVN số thứ 4 ngày 6 tháng 7 năm 2011).
Trong khi đó đối với lúa giống, việc sản xuất thu hoạch thường được nhưng nhà hoạch
định chuẩn bị trước công tác sau thu hoạch bao gồm đầu tư trang bị các hệ thống sấy, phân loại
làm sạch đóng gói như một phần tất yếu trong công tác sản xuất giống. Tuy nhiên trong xu thế
chung của toàn vùng nói riêng toàn quốc nói chung, công nghệ sấy, chế biến thường khác
biệt tương đối giữa hai nhóm giống lương thực, từ đó đòi hỏi phải thiết bị riêng cho
nhóm giống. Tuy nhiên do sản lượng giống những năm trước 2010 không quá lớn nên chưa đủ
hấp dẫn để lôi kéo các nthiết kế chế tạoy riêng cho ngành giống nên vào công đoạn giữa
hai nhóm ngành thường dùng chung thiết bị như y sấy nhưng chính điều này làm cho chất
2
lượng lúa giống luôn tiềm ẩm nhiều rủi ro trong công tác bảo quản chất lượng hạt giống
không cao cũng như tỷ lệ thất thoát khá cao.
2. NHỮNG HẠN CHẾ VỀ CÔNG NGHỆ
Như đã nêu trên, hiện tại đến 95-98% tổng sản lượng lúa kể cả lúa lượng thực a
giống tại ĐBSCL được sấy khô sau khi thu hoạch thông qua các y sấy được trang bị trong
toàn vùng, trong đó đa phần y sấy Vỉ ngang theo mẫu của Philippin được ĐHNL chép mẫu
thiết kế lại rồi được các nhà thiết kế chế tạo Việt Nam cải tiến giới a dần, chỉ một
phần sản lượng lúa lương thực được sấy trên các hệ thống sấy tháp hiện đại được các Nhà xuất
khẩu gạo hàng đầu đầu mua sắm.
Đối với những nhân đơn vị đã từng lắp đặt vận hành các y sấy tỉnh sẽ hiểu
sao giai đoạn đầu máy sấy vỉ ngang phát triển rất chậm ĐBSCL. thể nêu ra những hạn
chế về công nghệ và giá thành sản phẩm sau sấy như sau:
- Giai đoạn đầu từ những năm 1992-2000 đa số các máy sấy vỉ ngang đều công suất
không q 10 tấn/mẻ, chủ yếu sử dụng động cơ diesel để kéo quạt chính nên áp suấtlưu lượng
quạt không n định do đó chênh lệch ẩm giữa các lớp trên dưới, giữa các vùng trên bin sấy
khá cao nên buộc các nhà sản xuất thường khuyến o chủ đầu phải đảo trộn giữa giai đoạn
sấy nhằm giảm bớt chênh lệch ẩm giữa các lớp vật liệu sấy, chính đều này đã làm tăng chi phí
sấy, ngoài ra việc đảo trộn ra sấy tốn khá nhiều công lao động công nhân phải làm việc
rất vất vã, từ đó khiến chủ đầu tư e ngại làm chậm tốc độ phát triển máy sấy trên toàn vùng
trong giai đoạn đó.
- Giai đoạn sau những năm 2000 đến nay, giai đoạn này sản lượng lương thực ĐBSCL
tăng vọt, kéo theo nhu cầu y sấy tăng cao chưa từng thấy, tuy nhiên máy sấy chủ đạo trong
giai đoạn này cũng đa phần là máy sấy v ngang một phần là máy sấy tháp.
Hình 1: Hệ thống sấy tháp kết hợp sấy tầng sôi giải đoạn những năm 2000-2010
+ Máy sấy Tháp: Do những hạn chế v công nghệ tính chất của nguyên liệu sấy như m
độ nguyên liệu sấy quá cao, thu hoạch gặp mưa bão kéo dài nên y sấy tháp ngày càng tục hậu
do nguyên liệu bếch chặt vào thành bin khiến dòng chảy b tắc nghẽn t đó lúa sấy không đều
mọc mầm hoặc thối rữa ngay trong q trình sấy, hạn chế tiếp theo của các máy sấy tháp lớn
trong giai đoạn đầu năng suất sấy lớn trong khi lúa nguyên liệu thu hoạch không đồng bộ
thu nhiều ngày khiến cho máy sấy tháp không thể sấy khi khối lượng sấy quá nhỏ hoặc không đạt
công suất thiết kế.
3
Giống lúa
Nhiệt độ sấy, oC
Ẩm độ Đầu--Cuối
Tăng %Nứt
Không
Tăng %Nứt
CL XL745
65
18--12,5
51,0
21,7
65
14--12,5
4,7
1,5
45
18--12,5
37,7
17,5
45
14--12,5
5,9
4,1
Diamond
65
18--12,5
17,0
6,8
65
14--12,5
2,5
1,1
45
18--12,5
8,7
3,0
45
14--12,5
1,3
0,9
Bng 1: nh ng ca công đoạn sy- đến độ gim m và t l b v ht
(Trích bn tin Khí và Công nghệ Nông Nghip do ĐHNL thc hin)
Ngoài ra, khi sấy tháp nhiệt độ sấy thường rất cao nên tỷ lệ hạt b rạn gẫy thường lớn hơn
10% làm cho t lệ thu hồi gạo nguyên giảm thảm hại, chất lượng gạo không cao nên khó xuất
khẩu vào các thị trường cao cấp.
TT
Tên
ging
Ngày nhp sy
Sau sấy (phơi)
T l
dp v
(%)
T l
go
(%)
T l sau
sy/ht
tươi (%)
Ngày nhp
sy
Tng Thi
gian sy
(gi)
KL nhp
(kg)
m đ
Tp
cht
Rn
Gãy
KL ra
m đ
Rn
Gãy
(%)
(%)
(%)
(%)
(%)
(%)
1
Lài Cam
28/11/19
87.45
30,191
24.9
3.6
4.0
24,840
9.7
11.0
1.7
1.6
82.28
28/11/19
89.20
29,980
24.2
3.3
4,15
25,041
9.5
12.0
83.53
28/11/19
89.20
30,662
24.6
3.4
4,35
24,547
9.8
11.0
80.06
29/11/19
74.00
29,704
24.5
3.4
4,55
25,302
9.7
11.0
85.18
2
RVT
1/12/19
39.00
29,767
26.2
6.3
1,0
24,957
13.9
3,0
1,7
0,3
83.84
2/12/19
32.10
29,433
26.2
4.1
1,0
25,575
13.9
3,0
86.89
2/12/19
32.00
29,482
26.3
4.1
2,0
25,485
14.0
4,0
86.44
06/12/19
31.40
28,621
26.1
6.0
1.0
24,709
13.9
3.0
2.0
0,5
86.33
6/12/19
31.00
28,512
25.7
5.3
1.0
24,685
13.9
3.0
86.58
6/12/19
34.00
27,284
25.5
4.5
1.0
23,452
13.9
3.0
85.96
TNG
293,636
248,593
84.66
Bng 2: T l ht rn gy, bong võ, dp ht và t l thu hồi khô/tươi của 2 ging lúa sy trên
máy sy tháp hiện đại
Từ những hạn chế về kỹ thuật công nghệ y sấy tháp dần được các nhà đầu nâng cấp
theo hướng dầu thêm máy sấy tầng sôi để khắc chế các loại nguyên liệu ẩm độ quá cao
hoặc bị ướt hẵn trong quá trình thu hoạch gặp mưa bão hoặc ngập úng, máy sấy tầng sôi đã góp
phần làm giảm tỷ lệ hạt ẩm vàng hạt mốc đen do thời gian sấy nhanh, tuy nhiên máy sy tầng
sôi không hẵn làm giải pháp tốt nhất để giúp cải thiện hiện trạng chung của hạt gạo Việt Nam, tỷ
lệ hạt rạn gẫy tăng rất cao do nhiệt sấy quá lớn nhược điểm lớn nhất của máy sấy tầng sôi
4
tiêu thụ điện năng quá nhiều, làm giảm hiệu suất làm tăng chi phí sấy rất cao, từ đó máy sấy
tầng sôi kết hợp y sấy tháp không còn được các nhà đầu chú trọng khi đầu mới thiết bị
sấy nhưng máy sấy tháp vẫn tiếp tục tồn tạiđược cải tiến dần.
Bng 3: T l thu hồi lúa khô/ tươi N2020 ca mt s ging lúa xut khu
+ Máy sấy vỉ ngang cải tiến: khác với giai đoạn đầu mới phát triển, giai đoạny các máy sấy
vỉ ngang được cải tiến rất nhiều với mục đích tăng năng suất sấy, tăng khả năng giới hóa
giảm chi phí sấy để phù hợp với nhu cầu sấy, do máy sấy tháp nhiều nhược điềm do đặc
điểm nguyên liệu sấy tại ĐBSCL khác biệt rất lớn so với các tỉnh phía bắc Trung bộ hoặc đồng
bằng Bắc bộ nên các đơn vị xuất khẩu gạo đã được các đơn vị thiết kế tư vấn kết hợp sấy tỉnh Vỉ
ngang hạ m đến 20-22% sau đó s chuyển sang sấy tháp sấy tiếp cho đến khô hoàn toàn đạt ẩm
độ từ 12-13,5%, ưu điểm của phương án y độ đồng đều m độ của nguyên liệu sau sấy cao
nhưng nhược điểm chi phí sấy cũng rất lớn do phải sấy 2 giai đoạn khả năng giới hóa
khi đó cũng chưa cao nên tốn rất nhiều công lao động, phương án này cũng mai một dần, đặc biệt
các tháp sấy b thế chỗ bởi các máy sấy vỉ ngang khả năng giới hóa cao hơn rất nhiều,
năng suất sấy lớn hơn. C thể lúa nguyên liệu được đổ xuống ghe được vít tải bến rút lên
qua hệ thống băng tải nạp vào bin được cang phẵng bởi hệ thống vít tải di động trên bin.
Phương án cơ giới này bắt đầu phát triển từ những năm 2008 đến nay gần n hoàn thiện, nhiều
nhà thiết kế còn lắp thêm c h thống đảo trộn lúa tự động nhằm khắc phục nhược điểm ẩm độ
chênh lệch cao giữa lớp mặtlớp đáy giữa các vùng với nhau.
Tuy nhiên, chênh lệch ẩm độ giữa các vùng trên bin sấy giữa đáy lớp mặt thường rất
cao từ 1,8 -2,5% tùy theo chiều dày lớp liệu và không thiết b nào thể cải thiện hiệu quả.
Sự sai lệch ẩm làm cho lúa nguyên liệu chỉ bảo quản từ 2-4 tháng đã phát sinh mọt tăng ẩm
cục bộ, việc tăng m cục b thường xảy ra một cách âm thầm, lặng lẻ trong các silo chứa hoặc
các bồn chứa thể tích lớn, đây chính nguy thường gây tổn thất rất lớn cho các nhà
xuất khẩu gạo, làm chất lượng gạo Việt Nam luôn mức thấp, ảnh hưởng trực tiếp đến t lệ thu
hồi gạo nguyên. Song song với s chênh lệch m cao, y sấy vỉ ngang còn tồn tại một nhược
điểm rất lớn đó bụi phát sinh trong quá trình ra nhập sấy rất lớn, tiêu tốn nhiều không
gian kho, n đầu tư thường phải mất rất nhiều chi phí cho diện tích nhà xưởng suất đầu
cho nhà xưởngmặt bằng cho xây dựng thường rất cao.
5
Hình 2: Một trong các máy sấy vỉ ngang hiện đại bật nhất ĐBSCL thời điểm 2020
Cùng với sự phát triển của máy sấy vỉ ngang, công nghệ sấy lúa giống cũng phát triển theo
nhu cầu tăng trưởng của gạo xuất khẩu, trong giai đoạn đầu các y sấy vỉ ngang cho giống
cũng chỉ năng suất sấy không cao, giao động quanh 4-12 tấn/bin, nhiều đơn vị sản xuất giống
lớn phải đầu tư khá nhiều máy. Các máy sấy này chủ yếu khả năng giới hóa rất kém, hầu
như tất c đều phải làm thủ công từ khâu nhập hạt đến khi đảo trộn, trở m rồi ra sấy tất cả đều
do người lao động thực hiện bằng tay, ngoài ra các máy sấy loại này gần như không hệ thống
kiểm soát nhiệt sấy tự động nên chất lượng lúa giống sấy trong giai đoạn thường không nhiều
năng suất thấp do phải sấy chậm.
Bng 4: Tương quan giữa vùng sn xut, tháng thu và t l thu hi ca go
Đài thơm 8