Thay đổi ở bà Bầu qua gây mê hồi sức
Trong mổ lấy thai, gây mê hồi sức (GMHS) đóng vai trò rất
quan trọng cho thành công của phẫu thuật. Những năm
trước, khi ngành GMHS chưa phát triển, mổ lấy thai là lỗi
“kinh hoàng” cho chị em.
Trong mổ lấy thai, gây mê hồi sức (GMHS) đóng vai trò r
ất
quan trọng (google image)
Để an toàn cho con, người ta gây tê từng lớp, mổ như “mổ
sống”. Sau khi lấy thai ra, mới gây mê cho mđể bóc rau,
đóng tử cung và bụng. Vì thế, tai biến cho sản ph rất
nhiều. Ngày nay, stiến bvượt bậc của chuyên nghành
GMHS đã giúp thai ph vượt qua những phút giây nguy
hiểm đ được hạnh phúc bờ, đón yêu ca mình
chào đời một cách thoải mái và an toàn nhất
Yêu cầu đặt ra của GMHS đảm bảo sức khỏe, sự an toàn
cho người mvà tính mạng cũng như sự phát triển lâu dài
cho con; đồng thời, đảm bảo thuận lợi tối đa cho phẫu thuật
viên. Để đạt được những yêu cu đó, bác sĩ GMHS phải
nắm vững và hiểu biết về những thay đổi sinh của sản
ph thể xảy ra, nhằm kết hợp với thầy thuốc tốt nhất
trong việc theo dõi chăm c sức khỏe cho bà mvà em
bé.
* Hệ tim mạch: Hệ thống tim mạch chịu sự thay đổi rất lớn
nhằm đáp ứng những đòi hỏi tăng lên người mẹ và thai
nhi. Khối lượng máu tăng dần trong quá trình mang thai,
tăng nhanh tối đa trong 3 tháng giữa, y quá tải tuần hoàn
cho chị em bị mắc bệnh lý tim mạch. Vì thế, những sản phụ
mắc bệnh này, sau mỗi lần mang thai, bệnh tim sẽ diễn biến
nặng n. Cung ợng tim tăng t30 40% trong 3 tháng
đầu, 3 tháng tiếp theo tăng ít hơn. Trong thời gian chuyển
dạ, cung lượng tim tăng do tăng nhịp tim và tăng thể tích co
bóp. Cung lượng tim tăng cao nhất ngay sau khi sổ thai
thvượt trên 80% trước chuyển dạ. Do vậy, tai biến tim
mạch thường xảy ra trong giai đoạn này. Ttuần thứ 28,
cung ợng tim phụ thuộc cả vào thế sản phụ. Nếu sản
ph nằm ngửa, tử cung chèn ép vào tĩnh mạch chủ dưới,
cản trở máu vtim gây tt huyết áp từ đó, làm giảm tưới
máu rau thai, có thgây suy thai. Nếu bhạ huyết áp nhiều
th choáng, tụt huyết áp, tái nhợt, vã m hôi, nôn
Howard gọi là “hội chứng hhuyết áp nằm ngửa”, thể
đề phòng hội chứng này bằng cách đẩy tử cung sang trái,
nằm nghiêng trái hoặc kê gối ới hông phải (cao 15
20o). Phụ nữ có thai to hoặc đa thai ở những tháng cuối thai
k thường không nằm ngửa được.
* Vhô hấp: Thtích hấp thay đổi không đáng kể, chủ
yếu thay đổi dung lượng dự trữ chức năng. Do bụng to,
hoành b đẩy lên cao nên khi thở, ngực tăng. Trong thời
gian thai, các mao mạch khí phế quản bị phù nxung
huyết, tăng tiết dịch, rất dễ b viêm nhiễm, chảy máu.
* Htiêu hóa: Gastrin rau thai làm dy tăng tiết axít.
Bên cạnh đó, do môn vị bị chèn ép, áp lực trong d dày
tăng, trương lực vòng thực quản giảm do rau tiết
progesteron, ddày lại nằm ngang nên bđọng nhiều hơn
dn, trào ngược trong khi gây mê. vậy, các sản
phkhi chỉ định mthường được dặn dò không được ăn
uống gì, đề phòng trường hợp khó gây tê, phải y mê để
m lấy thai.
* Đông cầm máu: Xu hướng tăng đông do tăng các yếu tố
đông máu (fibrinogen, yếu tố VII, VIII, X…) và giảm c
yếu tố ức chế đông máu (antithrombin III, protein S, yếu tố
hoạt hóa plasminogen…). Do đó, thai phụ dễ btắc mạch,
đặc biệt là chem béo phì. Vì thế, sau mổ sản phụ nên vận
động sớm đkhông những phòng tránh bế sản dịch mà còn
phòng tránh nguy cơ tắc mạch.
* Thay đổi gan: Các loại men gan như SGOT, SGPT,
LDH… tăng nhẹ trong thời gian thai. Albumin giảm
mặc dù nồng độ protein toàn phần tăng. Do đó, nếu phải
dùng thuốc thì nồng độ thuốc tự do trong huyết tương cao,
d gây quá liều. Cholinesterase huyết tương giảm nhưng
không làm kéo dài thi gian tác dụng của thuốc giãn cơ
succinylcholin thuốc tê.
* Thay đổi thận: Progesteron y giãn b thận và niệu
quản. Aldosteron tăng gây tăng khối lượng dịch ở nội mạch
cung lượng tim dẫn đến tăng lọc cầu thận. Nội tiết t
lactogen rau (human placental lactogen) cortisol tăng
gây tăng đường huyết dẫn đến mức lọc qua cầu thận tăng.
thế, thai phụ dễ bị tăng đường niệu.
* Hthần kinh: Nguyên nhân thay đổi là do hoạt động của
progesteron endorphin. Ngưỡng chịu đau tăng do tăng
hoạt động của endorphin. Do vậy, nếu phải gây mê thì liều
lượng thuốc mê cũng cần hạn chế, giảm xuống mức tối
thiểu. Bởi áp lực trong bụng tăng làm căng các nh mạch
khoang ngoài màng cứng gây giảm dung tích khoang và
dịch não tủy. Vì thế, nếu phải gây để m liều ợng
thuốc tê cũng giảm. Ngoài ra còn một số thay đổi các
quan b phận khác nhưng ít liên quan tới GMHS.
Nhnhững hiểu biết ngày càng đầy đủ về những thay đổi