"Thông loại ka trình":
Chuyên san văn hóa - giáo dục đầu
tiên Vit Nam
Tên tuổi Trương Vĩnh Ký thường được gắn với vai trò tiên phong trên nhiều lĩnh
vc văn hóa, trong đó hoạt động báo chí. Trong hai tờ báo luôn được nhắc đến trong
lch sử báo chí Việt Nam và sự nghiệp Trương Vĩnh Ký là Gia Định báo và Thông loại
khóa trình thì Thông loại khóa trình dường như vẫn ở ngoài vùng khảo cứu của giới khoa
học. lẽ lý do chủ yếu là việc tiếp cận tờ báo này quá khó khăn, do nó là tờ báo tư nhân
và ch tồn tại trong vòng hai năm, trong khi Gia Định báo là t côngo của chính phủ
Pháp, được bảo trợ phát hành liên tục 44 năm, nên ít nhiều đã được các kho lưu trữ Pháp
hoặc nước ngoài quan tâm hơn. Thêm nữa, xét về tác động chính trị xã hội, Thông loại
khóa trình có thể lùi sau Gia Định báo, nhưng nhìn từ nội dung và phương thức làm báo
đây lại là một đối ng đáng chú ý, ít nhất là trong s nghiệp riêng của người chủ báo.
1. Thông loi khóa trình ra số đầu tiên vào năm 1888, do Trương Vĩnh Ký tự điều
hành, xuất bản. Trong 18 số xuất bản trong hai năm 1888-1889, tr hai số đầu tiên không
ghi ngày tháng phát hành, tsố 3 lại ghi đầy đủ (Juillet 1888 - tháng 7 năm 1888), nhưng
đến s 11 (Mars 1889, 2e année - tháng 3 năm 1889, năm thứ hai) thì chủ bút cho biết:
“Nay đã hết năm Mậu Tí sang qua năm Kỉ Sửu rồi, mà nhân vì s đầu khỉ [khởi] từ tháng
3 nên còn s 11 nầy và số sau nữa thì đủ trọn một năm rồi mới kể lại đầu”. Do số báo
không trùng với tháng ra báo nên 12 số báo đầu tiên được Trương Vĩnh Ký tính tròn mt
năm xuất bản nhưng 8 s đầu, N01 (?) đến N08 (Décembre 1888) ghi năm thứ nhất
(1re année), còn 4 số sau, N09 (Janvier 1889) đến N012 (Avril 1889) ghi năm thứ hai
(2re année); 6 số báo tiếp đó lại đánh số từ N01 (Mai 1889) đến N06 (Octobre 1889) và
cũng thuộc năm xuất bản thứ hai.
Như vy, có thể thấy sau 2 s đầu còn “chp choạng”, Thông loại khóa trình đã
thành là một tờ nguyt san - báo tháng ra đều đặn.
Về số lượng trang o: số 1 và số 2 mỗi số 11 trang, số 3 là 12 trang; còn từ số 4 trở
đi mỗi số có 16 trang. Từ số đầu đến số 5, các bài đều không ghi tên tác giả, nhưng theo
lời “Bos 1 thì có th xem tất cả các bài y đều của Trương Vĩnh Ký viết. Từ số 6 tr
đi bắt đầu có thêm một vài bài diễn Nôm của Trương Minh Ký làm để giải nghĩa các câu
chữ Nho. Từ số 7 trở đi còn có bsung thêm một số cây bút khác như Léon Trương Vĩnh
Viết, Trần Chánh Chiếu, Antoire Trần Hữu Hạnh, Nguyễn Khắc Huề (Hòa)...
Trang bìa Thông loại khóa trình luônhình thức khá thống nhất: phía trên có
hàng chữ Hán (Thông loại khóa trình), phía dưới là hàng ch
Pháp Miscellaneés ou Lectures Instructives” (Tạp văn hay những bài học giáo dục), khổ
16cmx24cm, không hình ảnh minh họa hay trang trí kèm theo.
2. Khảo sát toàn b 18 ấn bản, chúng tôi thấy tất cả các bài viết, dù là văn xuôi hay
văn vần đều sử dụng chữ quốc ngữ. Trừ 2 số đầu, 16 số sau đều có mục lục đặt ở trang
đầu tiên gii thiu khái quát nội dung tờ báo. Nếu đặt Thông loại khóa trình cạnh một
nguyt san văn hóa ngày nay, có nhiềuch biệt về thời gian, chất liệu và chất lượng in
ấn... vẫn có thể chỉ ra một s mục cơ bản, gn như mang tính định kỳ như: “Thơ”,
Truyện”, Trang văn hóa”, “Vui cười”... Ngoài ra, một số mục như Cho hayhoặc
“Cho ai nấy đặng hay” ging với mục “Lời tòa soạn”, “Bảo” ơng đương với “Lời nói
đầu” ca báo chí sau này. Những bài viết ở các mục này cho thy chủ bút luôn có tinh
thần cầu thị, thái độ hết sức cởi mở, chân thành: “Xin kẻ coi sách hoặc có thấy lớp lang
sắp đặt, hoặc có điều khoản nào chẳng ưng bụng thì xin cho ta hay mà sa lại” (“Cho ai
nấy đặng hay”, số 11, tháng 3 năm 1889). Việc người viết muốn đối thoại với người đọc
và mong nhận được những phản hồi từ họ như vậy thật khó tìm thấy trong không gian văn
hóa ctruyền.
Khác vi những tờ báo được bảo trợ về tài chính, Thông loại khóa trình, như đã
nói, là tập san tư nhân, nghĩa là người chủ báo đồng thời phải lo cả nội dung và việc in ấn,
phát hành báo. Tính chất hàng hóa ca Thông loại khóa trình cũng thể hin khá rõ qua lời
thông báo giá c của chủ bút kiêm chủ báo: “Đủ một năm trọn 12 số, thì sẽ phát mãi mi
bộ giá là 1 đồng bạc” (“Cho ai nấy đặng hay”, số 11, tháng 3m 1889). Hay: “12 số năm
ngi, tưởng là đóng nhập lại cho gọn, thì ra giá là 1$; mà nay ta đề 12 số vậy bao li mà
thôi thì cũng y giá trước là 0$ 60 cents vậy. Ai muốn mua thì nhn, sẽ gởi cho” (“Cho
hay”, số 1, tháng 5 năm 1889). Tuy nhiên, việc hàng hóa hóa Thông loại khóa trình cũng
như một số sản phm văn hóa khác không phải mục đích của Trương nh Ký mà ch
được coi là điu kiện tồn tại cho báo: min bán được lấy tiền mà trả tiền tổn phí mà
in, cho tiện việc học, thì toại chí, chẳng kì là có li” (“Cho hay”, s 12, tháng 4 năm
1889).
Như trên đã nói, tiêu đề chính thức của báo chỉ rõ mc đích giáo dục phổ cập. Để
nhn mạnh thêm, chủ báo còn đặt “phụ đề” tiếng Pháp:Pour Les élèves des écoles
Primaires, Communal & Cantonles” (Dành cho học sinh các trường tiểu học, làng xã, địa
phương), từ số 4 trở đi có thêm chữ “et Les Familles” (và các gia đình). Chủ đích giáo dục
này được Trương Vĩnh nói rõ t số báo đầu tiên:
Bảo
Coi sách dạy lắm, nó cũng nhàm; nên phải có cái chi vui pha vào một hai thì nó
mi thú. Vậy ta tính làm ra một tháng đôi ba kỳ, một tập mong mng nói chuyện sang
đàng, chuyện Tam Hoàng cuốc [quốc] (chú thích theo ngôn ngữ phổ biến - D.T.H) chí,
pha phách lộn lạo [nhộn nhạo] xài bần để cho học sinh coi chơi cho vui. Mà chẳng phải là
chơi không vô ích đâu; ng là những chuyện con người ta ở đời nên biết cả. Có ý, có chí
thì lâu nó cũng thấm, nhứt [nhất] là con trcòn đang sáng láng sạch sẽ, tinh thần còn minh
mn, tươi tốt, như tờ giấy bạch, như sáp mềm, vvời, uốn sa sắc nào thế nào cũng còn
đặng, tre còn măng dễ uốn, con còn nhdễ dạy.
Và ông tiếp tục khẳng định lại chủ đích này một lần nữa trong mục “Cho ai nấy
đặng hay”, số 11, tháng 3 năm 1889: “Chánh ý là thuật đạo lành l ngay các đấng tiên
thánh tiên hiền khuyên răn, truyn thun phong tục xưa nay cho đặng suy cổ nghim
kim mà bả nhứt tâm hành chánh đạo mà thôi”.
Tính chất văn hóa - giáo dc của Thông loại khóa trình được thhiện rõ qua các đề
mc thường kỳ khá đa dạng trong 18 số báo: 1. Nguyên tắc đạo đức trong xã hội cũ; 2.
Giải thích câu chữ; 3. Thơ, vịnh, ca; 4. Truyện về danh nhân (có từ số 3 trở đi); 5. Gii
thích lễ tiết; 6. Tên gọi sự vật theo tiếng địa phương; 7. Những sáng tác đương thời; 8.
Giới thiệu văn hóa phương Tây; 9. Văn nghệ dân gian. Bao chứa trong các đề mục đó là
các bài viết với nội dung phong phú, từ giải thíchu chữ trên báo như: “Giải những câu
chữ Nho”, “Giải những tiếng tục Nôm, Giải tiếng nói An Nam...; chú gii những bài
thơ cổ n T thì khúc vịnh, Tích Vọng phu, Di T...; đăng tải các bài vịnh, ca và đặc biệt
là những bài thơ của tác giả đương thi n Thơ đưa bạn, Nhớ song thân, Thơ gởi cho
v, Thơ nói về trường Chasseloup-Laupat... cho đến nhng bài viết ngắn với mục đích
giới thiệu và giải thích những khái nim về đạo đức hay kiến thức phổ thông như “Tiền
bạc”, “Tam cang”, Lễ mng năm tháng năm...; rồi nhng câu chuyện về các danh nhân
lch sử như Nguyễn Trãi, Lý Thường Kiệt, Mạc Đĩnh Chi, Phùng Khắc Hoan, Nguyễn
Hin...; hay một số truyện ngụ ngôn phương Tây như Cây lê, Thằng ăn cướp cạn... bên
cạnh Quan Âm truyện,Cương Từ Thức truyện...
Với cách sắp xếp nội dung n vy, Thông loại khóa trình không phải là một tờ
báo đăng tải tin tức, cũng không phải là một tuyển tập thơ văn theo lối cổ điển, mà được
tổ chức như một tp san văn hóa - giáo dục. Với chủ bút Trương Vĩnh Ký, giáo dục là tiêu
đích, còn văn hóa là chất liệu.
3. nh văn hóa - giáo dục ca Thông loại khóa trình đã được c thhóa qua các
mc gii thíchu chữ, lời nói và chú giải văn bản được làm rất chu đáo và chiếm một
phần quan trọng của tập san. Tất cả các mục: Câu chữ”, “Câu chữ nhu/ nho”, “Giải ít
nghĩa chữ nho”,ít tiếng tục nôm...(1) đều có phần chữ Hán được phiên âm rồi diễn nghĩa
xuôi, và có th kèm theo các thành ngữ/ kiểu diễn đạt ơng đương.
Hơn thế, với chủ trương gp học trò biết chữ nghĩa văn chương”, ngay cc u
t, tiếng tục, phương ngôn, tiếng i Annam, nghĩa tiếng nói, tiếng nói đôi, tục ngữ, tiếng
i trại... cũng đều được Trương Vĩnh Ký giải nghĩa rất cụ thể, kỹ cặn: một câu hát theo
thể lục bát (2 dòng) được giải nghĩa bằng một đon văn 8 dòng và ch rõ câu hát đó thuộc
thể loại gì, ý nghĩa ra sao (xem số 2, năm 1888, tr.10). Hay một từ “vuông trònđược dành
đến một trang giải nghĩa, luận bàn và dn giảic câu thành ng liên quan (xem s 3, tháng
7, năm 1888, tr.6-7) không phải là hiếm trong Thông loi khóa trình(2).
Loạt bài “Tên cây trái tùy xmà kêu” số 4, năm 1888 hay Vật tùy xứ mà kêu” s
5, năm 1888... chứng tỏ tác giđã có ý thức về tính đa dạng trong văn học và văn hóa
Việt Nam. Đó là nn văn hóa nhiều vùng miền, đa dạng mà thống nhất. Điều này ch
thể có được ở một tác giđi nhiều hiểu rộng, nhất là sau chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi
(1876). Trên thực tế, Trương nh Ký dành nhiều “đt” cho việc giới thiệu văn hóa Việt
Nam, con người Việt Nam. Bằng hình thức văn xuôi quốc ngữ mi mẻ, tự nhiên,
mc Nhơn vật nước Annam đã kể những câu chuyện lí thú vcác danh nhân, các nhân