
LUẬN VĂN:
Thực trạng công tác kiểm toán ở
Việt Nam và một số giải pháp

Lời nói đầu
Nước ta đang trong quá trình phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá. Vì thế, cơ chế quản lý kinh tế cũng phải phù hợp với trình độ phát
triển kinh tế của đất nước. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi nguồn
vồn lớn lao tích luỹ từ trong nước và từ nước ngoài. Khi đã tạo được một nguồn
vốn nhất định, các nhà quản lý kinh tế, các chính trị gia phải đặt nhiệm vụ sử dụng
có hiệu quả nguồn vốn đó thành nhiệm vụ hàng đầu của từng cấp quản lý. Để xác
định đúng đắn hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp đã đạt được, cần phải sử
dụng tốt các công cụ quản lý sắc bén đó là kế toán. Những số liệu tài liệu kế toán
phải được kiểm tra xác nhận tính hợp pháp, hợp lệ, đúng đắn của nó mới là căn cứ
đáng tin cậy để quản lý tốt nền kinh tế đang phát triển. Trong những năm gần đây
Đảng, chính phủ, và các cơ quan quản lý Nhà nước và kế toán đã có những chủ
trương, phương hướng, biện pháp cụ thể để vận hành hệ thống kế toán theo định
hướng Xã hội chủ nghĩa, đồng thời hoà nhập với kế toán thế giới trên cơ sở vận
dụng có sáng tạo những nguyên tắc, chuẩn mực kế toán quốc tế và những mô hình
kế toán của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Song song với việc cải
cách hệ thống kế toán Đảng và chính phủ còn chủ trương phát triển hoạt động
kiểm toán Nhà nước và kiểm toán tư nhân hình thành một hệ thống các công ty,
văn phòng, trung tâm tư vấn tài chính - kế toán ở khắp đất nước. Đó là nhu cầu
không thể thiếu được và là sự cần thiết cấp bách của nước ta. Vì vậy có nhiều
công ty kiểm toán được hình thành. Với mong muốn được tìm hiểu thêm về tình
hình hiện nay của Việt Nam, em đã chọn đề tài: “Thực trạng công tác kiểm toán
ở Việt Nam và một số giải pháp”.

Nội dung
I. Những lý luận cơ bản về kiểm toán.
1. Khái niệm và phân loại kiểm toán Việt Nam.
1.1. Khái niệm về kiểm toán.
Kiểm toán đã có từ rất lâu trên thế giới nhưng ở Việt Nam mới chỉ được
quan tâm vào những năm cuối của thập kỷ 80. Đến tháng 5.1992 hai công ty
kiểm toán độc lập đầu tiên ra đời và mãi đến tháng 7/1994 cơ quan kiểm toán
nhà nước mới được thành lập (theo nghị định 70/CP).
Vậy kiểm toán là gì? Kiểm toán là một hoạt động kiểm tra tài chính, là hoạt
động quản lý và kiểm soát về tài chính do một cơ quan nhà nước lập ra,một tổ
chức, một cá nhân mà pháp luật cho phép thực hiện thông qua việc kiểm tra và xác
nhận tính trung thực hợp pháp của các chứng từ sổ sách, báo cáo tài chính của một
cơ quan, một tổ chức, một đơn vị kinh tế Nhà nước theo luật định.
1.2. Phân loại kiểm toán.
Theo chức năng, kiểm toán gồm ba loại: kiểm toán hoạt động, kiểm toán
tuân thủ và kiểm toán báo cáo tài chính. Kiểm toán hoạt động là việc kiểm toán để
đánh giá tính hữu hiệu (hiệu lực) và tính hiệu quả trong hoạt động của một bộ
phận hay toàn bộ một tổ chức, một đơn vị. Kiểm toán tuân thủ nhằm xem xét bên
được kiểm toán có tuân theo các thủ tục, các nguyên tắc, các quy chế mà cơ quan
có thẩm quyền cấp trên hoặc các cơ quan chức năng của nhà nước đã đề ra hay
không; kiểm toán này còn gọi là kiểm toán tính quy tắc. Kiểm toán các báo cáo tài
chính là việc kiểm toán để kiểm tra và xác nhận tính trung thực, hợp lý của báo
cáo tài chính cũng như việc báo cáo tài chính có phù hợp với các nguyên tắc,
chuẩn mực kế toán được thừa nhận rộng rãi hay không.

Theo chủ thể kiểm toán có kiểm toán nội bộ, kiểm toán nhà nước và kiểm
toán độc lập. Kiểm toán nội bộ là loại kiểm toán do các kiểm toán viên nội bộ của
đơn vị tiến hành; phạm vi của kiểm toán nội bộ xoay quanh việc kiểm tra và đánh
giá tính hiệu lực và tính hiệu quả của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội
bộ cũng như chất lượng thực thi trong những trách nhiệm được giao. Kiểm toán
nhà nước là công việc kiểm toán do các cơ quan quản lý chức năng của nhà nước
(tài chính, thuế...) và cơ quan kiểm toán nhà nước tiến hành theo luật định; kiểm
toán nhà nước thường tiến hành các cuộc kiểm toán tuân thủ, xem xét việc chấp
hành các chính sách, luật lệ và chế độ của nhà nước taị các đơn vị sử dung vốn và
kinh phí của nhà nước (ngoài ra, kiểm toán nhà nước còn thực hiện kiểm toán
hoạt động nhằm đánh giá sự hữu hiệu và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sử
dụng vốn và kinh phí của nhà nước). Kiểm toán độc lập là loại kiểm toán được
tiến hành bởi các kiểm toán viên độc lập thuộc các công ty, các văn phòng kiểm
toán chuyên nghiệp; kiểm toán độc lập là loại hoạt động dịch vụ tư vấn được pháp
luật thừa nhận và bảo hộ, được quản lý chặt chẽ bởi các hiệp hội chuyên ngành về
kiểm toán.
Các loại kiểm toán hoạt động độc lập với nhau giữa chúng cũng có những
mối quan hệ nhất định với nhau. Hoạt động của tổ chức kiểm toán nội bộ phục vụ
nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan quản lý trong nội bộ đơn vị.Đối với
các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước và những đôí tượng khác thuộc
kiểm toán nhà nước. Kiểm toán nội bộ là lực lượng hỗ trợ đắc lực và tin cậy của
kiểm toán nhà nước. chính vì lẽ đó mà ở nhiều nước trên thế giới (chẳng hạn như
Malaysia,CHLB Đức..) người ta đả trao cho kiểm toán nhà nước chức năng chỉ
đạo nhiệm vụ và có ý kiến thoả thuận trong việc bổ nhiệm, miễn nhiệm công tác
lãnh đạo của tổ chức kiểm toán nội bộ.Hằng năm các tổ chức kiểm toán nội bộ
phải báo cáo kết quả kiểm toán trong năm cho kiểm toán nhà nước. Đối với kiểm
toán độc lập thì có khác, đây là tổ chức dịch vụ tư vấn tài chính kỹ thuật, kiểm
toán được thành lập và hoạt đọng theo Luật doanh nghiệp của mỗi nước và trên cơ
sở tuân theo các nguyên tắc,chuẩn mực kiểm toán do nhà nước qui định (luật kiểm
toán, luật kinh tế, luật thương mại, luật thuế..).quan hệ của kiểm toán nhà nước với

các công ty hay văn phòng kiểm toán độc lập chỉ nảy sinh trong trường hợp các
kiểm toán viên độc lập thực hiện các hợp đồng kiểm toán đối với các đơn vị thuộc
đối tượng của kiểm toán nhà nước.
Trong bài viết này em xin đề cập tới một dạng của kiểm toán đó là kiểm toán
độc lập. Nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế muốn quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh cần phải có thông tin
chính xác kịp thời và tin cậy. Để đáp ứng được yêu cầu này đòi hỏi phải có một
bên thứ ba độc lập khách quan và có trình độ chuyên môn cao được pháp luật cho
phép cung cấp thông tin tin cậy cho các đối tượng quan tâm. Vì vậy nó đã hình
thành nên kiểm toán độc lập. Luật pháp nhiều quốc gia có nền kinh tế thi trường
phát triển qui định chỉ có các báo cáo tài chính đã được kiểm tra độc lập mới có
giá trị pháp lý và độ tin cậy.
2. Khái quát về kiểm toán độc lập.
2.1. Khái niệm kiểm toán độc lập.
Hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về kiểm toán độc lập. Kiểm toán
độc lập có thể được hiểu là sự xem xét và trình bày ý kiến một cách độc lập về các
báo cáo tài chính của một tổ chức kinh tế bởi một kiểm toán viên được chỉ định
theo nhiệm vụ được giao và tuân thủ theo đúng các qui định có liên quan. Theo”
Qui chế về kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân” ban hành kèm theo nghị
định số 07-CP ngày 21/4/1994 của Chính phủ thì kiểm toán độc lập là việc kiểm
tra và xác nhận của kiểm toán viên chuyên nghiệp thuộc các tổ chức kiểm toán
đọc lập về tính đúng dắn, hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo quyết
toán của các doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức, đoàn thể, tổ chức xã hội (gọi tắt
là các đơn vị) khi có yêu cầu của các đơn vị này. Theo định nghĩa của Liên đoàn
kinh tế thế giới (IFAC) thì đó là quá trình các kiểm toán độc lập tiến hành kiểm tra
và trình bày ý kiến của mình về báo cáo tài chính được kiểm toán.
Kiểm toán độc lập cũng như kiểm toán nói chung đều thực hiện hai chức
năng đó là kiểm toán xác nhận và trình bày ý kiến.

