Thuốc ức chế miễn dịch
trong ghép thận
Không th áp dụng chung một phác đồ thuốc cho tất cả bệnh
nhân ghép thận. Thật ra, nhng bệnh nhân ghép thận không những
khác nhau vnguy cơ thải ghép mà còn khác nhau v khả năng đáp ứng
thuốc ức chế miễn dịch.
Không th áp dụng chung một phác đồ thuốc cho tất cả bệnh
nhân ghép thận. Thật ra, nhng bệnh nhân ghép thận không những
khác nhau vnguy cơ thải ghép mà còn khác nhau v khả năng đáp ứng
thuốc ức chế miễn dịch.
m 1957, Getrude Elion cộng sự đã s dụng azathiopurin
(imuran), một dòng thuốc ức chế miễn dịch đầu tiên được dùng để chng
thải ghép.
Cyclosporin được tìm thy được nghiên cứu bởi BS. Jean Borel
trong thập niên 70 ca thế kXX được sdụng tn lâm ng như thuốc
ức chế min dch tnăm 1978 từ đó ngành ghép tng trên thế giới bước
sang một trang smi.
Ngun tắc chung
Thuốc điều tr ức chế miễn dịch trong ghép thn mục đích dự
phòng thải ghép cấp của tạng ghép. Một vài nguyên tắc chung được đề ra để
hướng dẫn việc chọn lựa thuốc điều trị ức chế miễn dch.
Nguy về thải ghép cấp thường xảy ra trong vòng 3 tháng đầu sau
khi ghép, t lệ cao nhất thường gặp trong tháng đầu tiên, có th do hin
tượng viêm tiếp theo thời gian thiếu máu trước và trong khi ghép của tạng
ghép m ng tính min dịch của nó. Thuốc ức chế min dịch thường được
dùng vi liều cao trong thi điểm y, và sau đó có thể giảm liều từ từ.
Tất cả bệnh nhân được ghép khi nào cũng có nguy cơ thải ghép mặc
dầu đã được ghép tạng nhiều m nếu trong trường hợp thuốc ức chế miễn
dch được giảm liều hoặc ngưng dùng thuốc. Điều này xảy ra khi bệnh nhân
t động ngưng thuốc hay đôi khi do c nghĩ rằng cần thiết giảm liều
thuốc ức chế miễn dch và cho chỉ định.
Sdụng liu cao thuốc ức chế miễn dch được áp dụng những bệnh
nhân có nguy cao về thải ghép: bệnh nhân b loại thải ghép nhanh trong
ln ghép trước, hay bệnh nhân tỷ lệ “kháng th kháng HLA” (anticorp
anti-HLA) cao trong huyết thanh. Ngược lại, một số bệnh nhân như bệnh
nhân ln tuổi hay bệnh nhân nhận thận từ người thânsự phù hp tối đa về
kháng nguyên HLA” (antigene HLA) sít có những n thải cấp và th
áp dụng phác đồ điều tr thuốc ức chế miễn dịch liều thp.
Mỗi loại thuốc ức chế miễn dịch dùng trong ghép thn sẽ làm giảm
thiu sự đề kháng vnhiễm trùng cũng như nguy phát triển ung thư.
Chai c dụng phụ trên của thuốc ức chế miễn dịch không phải là hquả
của từng loại thuốc đặc thù, nhưng lại phụ thuộc vào tng lượng thuốc dung
nạp.
Phác đồ điều trthay đổi tùy theo trung m ghép nhưng nói chung
sự kết hợp chặc chẽ những nhóm thuốc ức chế miễn dch chính:
Nhóm ức chế calcineurin: cyclosporin (neoral) và tarcolimus
(prograff).
Nhóm ức chế hoạt động của cytokine: sirolimus (rapamun) và
evralimus (certican).
Nhóm chống tăng sinh: azathiprin (imuran), mycophenolat mofetil
(cell cept) và myfortic.
Nhóm kháng nguyên kháng lymphô bào: atg và otk3.
Nhóm kháng th thể interleukine2: daclizumab (zenapax) và
basiliximab (simulect).
Nhóm steroid.
Lưu ý rằng tế bào lymphô T là tác nhân chính của sự thi ghép và mi
một nhóm thuốc sức chế một hay nhiều giai đoạn hoạt động của tế bào
lymphô T này. do nêu trên, nhng phác đồ diều trị thuốc ức chế miễn
dch thường phối hợp nhiều nhóm thuốc khác nhau để ng tác dụng chống
thải ghép.
Chọn lựa thuốc trong điều trị phối hp
Phòng chống thải ghép: Phối hp thuốc điều trị kinh điển
Sau khi ghép thận, các thuốc điu trị s dụng trong tháng đầu tiên
thường được phi hp bởi 3 loại khác nhau:
- Thuốc ức chế dòng calcineurine : cyclosporine hay tarcolimus, đây
là phần cơ bản v điều trị phòng chống thải ghép.
- Thuốc chống tăng sinh (cell-cept hay imuran), hay thuốc ức chế hoạt
động của cytokines (rapamun).
- Steroides.
Mặt khác, trong những tuần lễ đầu tiên sau ghép thn thphối hợp
thêm nhóm kháng thể kháng lympnhư OKT3/ATG hoc nhóm kháng thụ
thinterleukine2. Đây là một pơng thức điều trị được gọi là dẫn nhập”.
Điều trdẫn nhập rất hữu hiệu trong trường hp ghép có nguy cơ thải ghép
cao. Nhng nguy cơ miễn dịch kinh điển bao gồm sbất tương hợp HLA-B
HLA-DR với người cho tạng, người nhận tạng còn rất trẻ, người da đen,
nồng đkháng thể kháng HLA cao hay bệnh nhân bị loại thải ghép nhanh
trong ln ghép trước. Nhiều yếu tố nêu trên thbiu hin trên cùng một
bệnh nhân.
Nhiều loại thuốc ức chế miễn dch xuất hiện trong những năm gần đây
(tarcolimus, sirolimus, cell-cept, kháng ththể interleukine2) được phối hợp
với các thuốc đã trước đây cho phép đra nhiều chiến thuật về sdụng
thuốc ức chế miễn dch.
Điều trị thải ghép: