Thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ (hàng hóa hữu hình
và hàng hóa vô hình) giữa các quốc gia, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang
giá nhằm đưa lại lợi ích cho các bên. Đối với phần lớn các nước, nó tương
đương vi một tỷ lệ lớn trong GDP. Mặc dù thương mại quốc tế đã xuất hiện
từ lâu trong lịch sử loài người (xem thêm Con đường Tơ lụa và Con đường
Hổ phách), tầm quan trọng kinh tế, xã hội và chính trị của nó mới được để ý
đến một cách chi tiết trong vài thế kỷ gần đây. Thương mại quốc tế phát triển
mạnh cùng vi sự phát triển của công nghiệp hoá, giao thông vận tải, toàn
cầu hóa, công ty đa quốc gia và xu hướng thuê nhân lực bên ngoài. Việc tăng
cường thương mại quốc tế thường được xem như ý nghĩa cơ bản của "toàn
cầu hoá".
Thương mại quốc tế với tư cách là một khoa học cũng là một nhánh của kinh
tế học. Thương mi quốc tế hợp cùng tài chính quốc tế tạo thành ngành kinh
tế học quốc tế.
Nguyên nhân ca hoạt động thương mại quốc tế
1. Điều gì là cơ sở cho thương mại? Thng dư thu được t thương mại
như thế nào? Mt quốc gia tham gia vào thương mại quc tế ch khi h
thu được li ích t thương mại, nhng li ích t thương mại đã được
hình thành ra như thế nào? Lợi ích đó lớn đến mức nào và cng được
phân b gia các nước có tham gia thương mi?
2. Dòng hàng hóa Xut nhp khẩu theo hưng nào? Nhng hàng hóa nào
được trao đổi, những hàng hóa nào được xut khu, được nhp khu
bi mt quc gia?
S khác nhau v điều kin t nhiên ca các quc gia.
S đa dạng hóa v nhu cu.
S đa dạng hóa v giá c, s thích và ngun cung cấp đầu vào gia các
quc gia.
Các lý thuyết thương mại quốc tế
Nhiều nhà kinh tế học đã đưa ra những mô hình khác nhau để dự đoán cơ cấu
trao đổi thương mại quốc tế và phân tích ảnh hưởng của các chính sách
thương mại, chẳng hạn như chính sách thuế quan.
Mô hình Ricardo
Mô hình Ricardo tập trung nghiên cứu lợi thế so sánh, một khái niệm được
coi là quan trng nhất trong lý thuyết thương mại quốc tế. Trong mô hình
Ricardo, các nước tập trung chuyên môn hóa sản xut vào mặt hàng mà họ có
thể sản xuất hiệu quả nhất. Không giống như các lý thuyết khác, hình của
Ricardo dự đoán rằng các nước sẽ chuyên môn hóa hoàn toàn vào mt loại
hàng hóa thay vì sản xuất nhiều loại hàng hóa khác nhau. Thêm vào đó, mô
hình Ricardo không xem xét trực tiếp đến các nguồn lực, chẳng hạn như quan
hệ tương đối giữa lao động và vốn trong phạm vi một nước.
Mô hình Heckscher-Ohlin
Mô hình Heckscher-Ohlin được xây dựng thay thế cho mô hình cơ bản về lợi
thế so sánh của Ricardo. Mặc dù nó phức tạp hơn và có khả năng dự đoán
chính xác n, nó vẫn có sự lý tưởng a. Đó là việc bỏ qua lý thuyết giá trị
lao động và việc gắn cơ chế giá tân cổ điển vào lý thuyết thương mại quốc tế.
Mô hình Hechscher-Ohlin lập luận rằng cơ cấu thương mại quốc tế được
quyết định bởi sự khác biệt giữa các yếu tố nguồn lực. Nó dự đoán rằng một
nước sẽ xuất khẩu những sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố nguồn lực mà nước
đó có thế mạnh, và nhập khẩu những sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố nguồn
lực mà nước đó khan hiếm. Tuy nhiên, nhiều công trình nghiên cứu nhằm
kiểm nghiệm mô hình H-O lại đưa ra nhứng kết quả mâu thuẫn, trong đó có
công trình của Wassili Leontief, còn được biết đến với tên gi Nghịch lý
Leontief. Sdụng mô hình bng cân đối liên ngành IO (input-output) của
mình với số liệu của Mỹ năm 1947, Leontief đã phát hiện Mỹ mặc dù là quốc
gia với tỉ lệ vốn/lao động cao nhưng tỉ lệ vốn/lao động của các mặt hàng
tương đương hàng nhập khẩu của Mỹ lại cao hơn tỉ lệ vốn/lao động của các
mặt hàng xuất khẩu.
Mô hình yếu t sn xuất đặc đnh
Mô hình lc hp dn
So với các hình lý thuyết trên, mô hình lực hấp dẫn nghiêng vphân tích
định lượng hơn. Ở dạng đơn giản, mô hình lực hấp dẫn dự đoán rằng trao đổi
thương mại phụ thuộc vào khong cách giữa hai nước và quy mô của hai nền
kinh tế. Mô hình phng theo định luật vạn vật hấp dẫn của Newton trong đó
nói rằng lực hút của hai vật thể phụ thuộc vào khong cách giữa chúng và
khối lượng của mỗi vật. Mô hình đã được chứng minh rằng nó có tính định
lượng tương đối mạnh thông qua các phân tích kinh tế lượng. Các dạng mở
rộng của hình này xem xét đến nhiều yếu tố khác như mức thu nhập, quan
hệ ngoại giao giữa hai nước, và chính sách thương mại của mỗi nước.
Quy tắc điều chỉnh thương mại quốc tế
Trước đây, thương mại quốc tế thường được điều chỉnh bằng các hiệp định
thương mại song phương giữa hai nước. Trước thế k 19, khi chủ nghĩa trọng
thương còn chiếm ưu thế, đa số các nước áp đặt những mức thuế cao cùng
nhiều hạn chế thương mại khác đối với hàng nhập khẩu. Kể từ thế kỷ 19, tư
tưởng vthương mại tự do dần dần nổi lên giữ vai trò chủ đạo ở các nước
phương Tây, đặc biệt là ở Anh. Trong những năm kể từ sau Chiến tranh Thế
giới lần thứ hai, các hiệp định thương mại đa phương như GATT và WTO đã
cố gắng xây dựng một cơ chế thương mại quốc tế có sự thống nhất điều chỉnh
trên phạm vi toàn cu.
Hướng tới thương mại tự do, các hiệp định thương mại không chỉ đàm phán
việc giảm thuế mà còn đàm phán cả các biện pháp phi thuế như hạn chế số
lượng nhập khẩu, cấp phép nhập khẩu, vệ sinh kiểm dịch, đầu tư nước ngoài,
mua sắm chính phủ và tạo thuận lợi cho thương mại bằng cách đơn giản hóa
các thủ tục hải quan.
Trong quá khứ, thương mại tự do thường tập trung vào các mặt hàng ng
sản, trong khi các mặt hàng chế tạo thường mong muốn được bảo hộ. Tình
hình trong hiện tại lại ngược lại, đặc biệt là ở các nước phát triển. Ở Hoa Kỳ,
châu Âu và Nhật Bản, những cuộc vận động hành lang đối với cácnh vực
nông nghiệp là nguyên nhân chính khiến cho trong đa số các hiệp định