intTypePromotion=1
ADSENSE

Tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng trên rau ăn sống tại các chợ quận 8 thành phố Hồ Chí Minh năm 2015

Chia sẻ: ViAphrodite2711 ViAphrodite2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

44
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết trình bày việc xác định tỉ lệ nhiễm KST trên rau ăn sống (rau cải xanh, xà lách cây, xà lách xoong, rau má, rau diếp cá, rau thơm) tại các quầy bán rau ở các chợ trên địa bàn quận 8 TP.HCM, năm 2015.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng trên rau ăn sống tại các chợ quận 8 thành phố Hồ Chí Minh năm 2015

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 5 * 2016 Nghiên cứu Y học<br /> <br /> <br /> TỈ LỆ NHIỄM KÝ SINH TRÙNG TRÊN RAU ĂN SỐNG<br /> TẠI CÁC CHỢ QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2015<br /> Nguyễn Đỗ Phúc*<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Đặt vấn đề: Rau là nhu cầu không thể thiếu trong các bữa ăn hằng ngày, cung cấp chủ yếu các vitamin và<br /> khoáng chất cho cơ thể. Rau không an toàn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người, nhất là nếu có ô nhiễm<br /> ký sinh trùng (KST). Để có số liệu về mức độ ô nhiễm KST trong rau và đặc biệt là KST trong các loại rau dùng<br /> để ăn sống, nhằm cung cấp cho nhà quản lý cũng như người tiêu dùng có biện pháp và xử lý trước khi đưa vào sử<br /> dụng.<br /> Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỉ lệ nhiễm KST trên rau ăn sống (rau cải xanh, xà lách cây, xà lách xoong,<br /> rau má, rau diếp cá, rau thơm) tại các quầy bán rau ở các chợ trên địa bàn quận 8 TP.HCM, năm 2015.<br /> Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2015. Thu thập ký sinh trùng từ<br /> mẫu rau bằng phương pháp Romanenko và xác định hình thái học theo khóa phân loại của Ichiro Miyazaki,<br /> Prayong Radomyo và Johannes Kaufmann.<br /> Kết quả: Có 90,1% mẫu rau ăn sống (rau cải xanh, xà lách cây, xà lách xoong, rau má, rau diếp cá, rau<br /> thơm) bị nhiễm KST các loại. Tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng đơn bào thường gặp là amip và trùng roi, trong đó nhiễm<br /> amip ở xà lách xoong cao nhất là 24,3%, tiếp theo mẫu rau má và rau diếp cá bằng nhau 18,6%, rau thơm nhiễm<br /> thấp nhất 5,7%. Mẫu rau nhiễm trùng roi cao nhất là cải xanh 32,1%, xà lách xoong 21,4%, rau má và rau diếp<br /> cá đều là 17,9% và thấp nhất vẫn là rau thơm 3,6%. Mẫu rau nhiễm trùng lông duy nhất chỉ có trên rau cải<br /> xanh. Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đa bào: mẫu nhiễm trứng giun đũa cao nhất là rau má với tỉ lệ 35,4%, kế đến xà<br /> lách xoong có tỉ lệ 30,4% và những mẫu rau còn lại nhiễm trứng giun đũa dưới 14%. Nhiễm trứng giun tóc vẫn<br /> cao nhất ở mẫu rau má và rau diếp cá, tỉ lệ đều 54,2%, xà lách xoong cũng nhiễm ở tỉ lệ cao 37,5%. Nhiễm<br /> trứng/ấu trùng giun móc, tỉ lệ cao nhất ở rau thơm 34,7%, kế đến xà lách cây 29,2%.<br /> Kết luận: Tỉ lệ nhiễm KST trong rau ăn sống ở mức nhiễm cao, cần có biện pháp xử lý rau để rau được sạch<br /> trước khi sử dụng.<br /> Từ khóa: KST trong rau sống ăn ngay, Quận 8, Tp. Hồ Chí Minh<br /> ABSTRACT<br /> THE PROPORTION OF PARASITE CONTAMINATION OF CONSUMED RAW LEAFY VEGETABLES<br /> AT MARKETS IN DISTRICT 8, HO CHI MINH CITY, 2015<br /> Nguyen Do Phuc * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Supplement of Vol. 20 - No 5 - 2016: 305 - 309<br /> <br /> Background: Vegetables is indispensable food in daily diet because they supply vitamins and minerals.<br /> Consuming vegetables unsafe, especially contaminated by parasites, will greatly affect human health. It is crucial<br /> to have data on parasite contamination levels of vegetables, especially leafy vegetables consumed raw.<br /> Objectives: To determine the proportion of parasite contamination of leafy vegetables (mustard greens,<br /> lettuce, watercress, centella, fishy-smell herbs, herbs) consumed raw that are sold at vegetable stalls in markets in<br /> District 8, Ho Chi Minh City.<br /> Methods: A cross-sectional study was conducted from April to August 2015. Parasites were collected from<br /> <br /> <br /> *Viện Y tế Công cộng thành phố Hồ Chí Minh<br /> Tác giả liên lạc: TS. Nguyễn Đỗ Phúc ĐT: 0907669008 Email: nguyendophucihph@gmail.com<br /> Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 305<br /> Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 5 * 2016<br /> <br /> vegetable samples by Romanenko method and identified morphologically according to Ichiro Miyazaki, Prayong<br /> Radomyo, and Johannes Kaufmann classification.<br /> Results: 90.1% of the vegetable samples were contaminated by parasites. Protozoan parasites commonly<br /> detected were Amoeba (24.3% in watercress, 18.6% in centella and fishy-smell herbs, and 5.7% in herbs) and<br /> Giardia (32.1% in mustard greens, 21.4% in watercress, 17.9% in centella and fishy-smell herbs, and 3.6% in<br /> herbs). Banlatidium contamination was detected only in mustard greens. Multicellular parasites were also<br /> identified. The highest Ascaris egg form contaminated vegetable was centella (35.4%), followed by watercress<br /> (30.4%), and other vegetables (under 14%). Trichuris egg contamination was detected in centella and fishy-smell<br /> herbs (54.2%), and watercress (37.5%). The highest hookworm egg or larvae contaminated vegetable was herbs<br /> (34.7%), followed by lettuce (29.2%).<br /> Conclusion: The proportion of parasite contamination of leafy vegetables consumed raw is high. So cleaning<br /> measures should be taken before consuming.<br /> Key words: parasites, leafy vegetables consumed raw<br /> ĐẶT VẤN ĐỀ rau cho thấy có 79,3% các loại rau có nhiễm KST<br /> rau muống là loại rau nhiễm cao nhất với 46,3%,<br /> Rau tuy cung cấp ít năng lượng nhưng là trứng giun móc được phát hiện nhiều nhất<br /> nhóm thực phẩm rất cần thiết trong khẩu phần 43,4%, trứng giun đũa 35,6%(2). Nam Định khảo<br /> ăn hàng ngày. Rau là nguồn cung cấp các vi chất, sát trên 120 mẫu rau từ các nhà hàng cho thấy<br /> vitamin và khoáng chất rất cần thiết cho quá 48,3% mẫu rau nhiễm KST, trong đó chủ yếu là<br /> trình chuyển hóa trong cơ thể. Rau còn cung cấp<br /> giun sán (10,8%), mầm bệnh đơn bào (45%)(4).<br /> chất xơ giúp phòng chống một số bệnh như táo Kết quả khảo sát về nhiễm KST tại một số nước<br /> bón, cholesterol cao hay ung thư, và đặc biệt rau như Saudi Arabia năm 2010 cho thấy 76/470<br /> rất cần thiết cho người cao tuổi. Một đặc tính (16%) mẫu rau bán ở chợ có nhiễm KST, trong<br /> quan trọng trong rau là gây cho ta cảm giác thèm<br /> đó Etamoeba coli (35,5%), Giardia lamblia (31,6%),<br /> ăn và kích thích tiết dịch tiêu hóa. Rau phối hợp<br /> Ascaris sp. (26,3%)(6). Tại Nigeria năm 2013 trên<br /> với các thức ăn nhiều protid, lipid, glucid sẽ làm<br /> 150 mẫu rau cho thấy 41% mẫu nhiễm<br /> tăng kích thích tiết dịch vị ở chế độ ăn rau kết<br /> KSTđường ruột, trong đó Ascaris lumbricoides<br /> hợp với protein, lượng dịch vị tiết tăng gấp 2 lần<br /> phổ biến nhất (47,5%)(1). Bệnh do giun sán gây<br /> so với ăn protein đơn thuần. Bữa ăn có rau cũng<br /> tác động lớn đến mọi người: làm chậm sự phát<br /> tạo điều kiện thuận lợi cho sự tiêu hóa và hấp<br /> triển thể chất, tinh thần của trẻ em, ảnh hưởng<br /> thu các dưỡng chất khác(8).<br /> đến tình trạng dinh dưỡng (như thiếu máu ở trẻ<br /> Tuy nhiên rau có thể nhiễm các vi khuẩn gây em, phụ nữ có thai), cũng như ảnh hưởng đến<br /> bệnh và Ký sinh trùng (KST) do tưới bằng phân khả năng lao động, một số trường hợp có thể<br /> tươi hay nước bẩn. Các loại rau ăn tươi sống nếu ảnh hưởng đến tính mạng(3).<br /> không được rửa sạch hay khử trùng cẩn thận thì<br /> Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những<br /> có thể gây ra các bệnh đường ruột và giun sán.<br /> thành phố lớn của cả nước, dân cư tập trung<br /> Do đó, khi ăn rau sống, chúng ta có thể bị nhiễm<br /> đông với hơn 9 triệu dân. Lượng rau được tiêu<br /> một số KST đường ruột như các loại giun, sán,<br /> thụ tại TP. HCM khá lớn, ước tính hơn 1,2 triệu<br /> các loại đơn bào như bào nang amip, trùng lông<br /> tấn/năm(5). Do đó đảm bảo an toàn vệ sinh về<br /> ký sinh trên rau sống, nếu có thể nên hạn chế sử<br /> mặt ký sinh trùng trong rau sống là thách thức<br /> dụng lâu ngày. Bệnh do KST ký sinh trên rau<br /> cho các cơ quan quản lý và cần có biện pháp<br /> quả khá phổ biến trên thế giới nói chung và tại<br /> thích hợp trong vấn đề đảm bảo rau luôn được<br /> Việt Nam nói riêng. Số liệu qua các nghiên cứu<br /> an toàn. Mục đích của nghiên cứu này là khảo<br /> tại Vĩnh Phúc năm 2008, khảo sát trên 300 mẫu<br /> <br /> <br /> 306 Chuyên Đề Y Tế Công Cộng<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 5 * 2016 Nghiên cứu Y học<br /> <br /> sát thực tế về mức độ ô nhiễm ký sinh trùng trên phân loại của Ichiro Miyazaki, Prayong<br /> rau ăn sống tại các chợ quận 8 Thành phố Hồ Radomyo và Johannes Kaufman.<br /> Chí Minh trong năm 2015, để cung cấp số liệu Kỹ thuật chọn mẫu<br /> cho nhà quản lý có biện pháp quản lý tốt nguồn<br /> Áp dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên hệ<br /> rau được an toàn hơn.<br /> thống.<br /> Mục tiêu nghiên cứu Lập danh sách các quầy bán rau ăn sống của<br /> Xác định tỉ lệ nhiễm KST trên rau ăn sống tại 10 chợ ở quận 8 dựa vào danh sách ban quản lý<br /> các quầy bán rau ở các chợ trên địa bàn quận 8 các chợ cung cấp. Kết quả có tổng cộng 401 quầy<br /> thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015. bán rau ăn sống. Tiến hành đánh số thứ tự từ 1<br /> Xác định tỉ lệ nhiễm KST trên từng loại rau đến 401 quầy.<br /> ăn sống (rau cải xanh, xà lách cây, xà lách xoong, Tính khoảng cách mẫu dựa vào danh sách<br /> rau má, rau diếp cá, rau thơm) tại các quầy bán quầy bán rau ăn sống đã lập chia cho số mẫu cần<br /> rau ở chợ trên địa bàn quận 8. khảo sát là 253 mẫu k =N/n = 401/253 = 1,53 làm<br /> ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU tròn lấy k = 2, ta có khoảng cách mẫu là k= 2.<br /> Bốc thăm chọn ngẫu nhiên r = 2 (thỏa điều<br /> Đối tượng nghiên cứu<br /> kiện 1≤ r ≤ k).<br /> Rau ăn sống (rau cải xanh, xà lách cây, xà<br /> Quầy bán rau sống chọn mua mẫu đầu tiên<br /> lách xoong, rau má, rau diếp cá, rau thơm) ở<br /> là quầy số 2, quầy tiếp theo chọn mang số thứ tự<br /> các quầy bán rau sống tại các chợ trên địa bàn<br /> 2+2, quầy tiếp theo chọn mang số thứ tự 2+2*2,…<br /> quận 8 TP. Hồ Chí Minh được chọn và người<br /> chọn tiếp tục như vậy đến khi đủ 253 mẫu theo<br /> trực tiếp bán các loại rau ăn sống đó tại thời<br /> như cỡ mẫu.<br /> điểm nghiên cứu.<br /> Thời gian nghiên cứu Xử lý và phân tích số liệu<br /> Đối với mẫu rau ăn sống: sau khi thu thập,<br /> 5/2015 – 8/2015.<br /> đánh số mã số cho mẫu rau ăn sống và kiểm<br /> Phương pháp nghiên cứu tra đủ số lượng và đem đi xử lý và xét nghiệm<br /> Thiết kế nghiên cứu: điều tra cắt ngang. tìm KST.<br /> Cỡ mẫu Nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.0 và xử<br /> Cỡ mẫu được tính theo công thức: lý bằng phần mềm Stata 12.0.<br /> KẾT QUẢ - BÀN LUẬN<br /> Số mẫu rau được lấy là 253 mẫu, trong đó số<br /> Trong đó: mẫu rau cải xanh, xà lách cây xà lách xoong, rau<br /> Z1-α/2 = 1,96 là trị số của phân phối chuẩn với độ tin cậy là má, rau diếp cá, mỗi loại 42 mẫu (tỉ lệ mỗi loại<br /> 95%. rau nhiễm là 16,6%) và rau thơm là 43 mẫu<br /> d = 0,05 là độ chính xác mong muốn. (17%). Tất cả các loại rau đều thu thập tại các<br /> p=0,793 kết quả tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng trên rau ăn sống quầy bán rau tại chợ Quận 8. Kết quả tỉ lệ nhiễm<br /> của nghiên cứu ở tỉnh Vĩnh Phúc(2). cho từng loại rau như sau:<br /> Cỡ mẫu: n=253 mẫu rau. Tỉ lệ nhiễm chung ký sinh trùng ở rau sống<br /> Phương pháp tìm trứng KST trong rau: Thu tại các quầy bán rau<br /> thập ký sinh trùng bằng phương pháp Trong tổng số 253 mẫu rau ăn sống được xét<br /> Romanenko và xác định hình thái học theo khóa nghiệm thì số mẫu rau bị nhiễm ký sinh trùng là<br /> 228 mẫu chiếm tỉ lệ 90,1%.<br /> <br /> <br /> Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 307<br /> Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 5 * 2016<br /> <br /> Bảng 1: Tỉ lệ mẫu rau sống nhiễm chung ký sinh Bảng 2: Tỷ lệ nhiễm KST trên từng loại rau sống<br /> trùng (n=253) (n=253)<br /> Rau sống nhiễm ký sinh trùng Tần số Tỉ lệ (%) Mẫu rau sống nhiễm ký sinh trùng Tần số Tỷ lệ (%)<br /> Có 228 90,1 Rau cải xanh Có 37 88,1<br /> Không 25 9,9 (n=42) Không 5 11,9<br /> Theo bảng 2, trong tất cả 6 loại rau được Xà lách cây Có 37 88,1<br /> (n=42) Không 5 11,9<br /> xét nghiễm thì đa số các mẫu rau ăn sống đều<br /> Xà lách xoong Có 37 88,1<br /> bị nhiễm ký sinh trùng với tỷ lệ cao, sự chênh (n=42) Không 5 11,9<br /> lệch về tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng ở từng loại Rau má Có 39 92,9<br /> rau không nhiều, dao động trong khoảng từ (n=42) Không 3 7,1<br /> 88,1% – 95,3%. Trong đó mẫu rau bị nhiễm Rau diếp cá Có 37 88,1<br /> (n=42) Không 5 11,9<br /> nhiều nhất là rau thơm chiếm tỉ lệ 95,3%.<br /> Rau thơm Có 41 95,3<br /> (n=43) Không 2 4,7<br /> <br /> <br /> <br /> Tỉ lệ nhiễm KST trên từng loại rau ăn sống tại các quầy bán rau ở chợ<br /> Bảng 3: Tỉ lệ nhiễm từng loại KST theo từng loại rau (n=228)<br /> Ký sinh trùng đơn bào Ký sinh trùng đa bào<br /> Amip Trùng roi Trùng long Trứng giun đũa Trứng giun tóc Trứng/ấu trùng giun móc<br /> Đặc điểm<br /> (n= 70) (n= 28) (n= 1) (n=79) (n= 24) (n=144)<br /> (n, %) (n, %) (n, %) (n, %) (n, %) (n, %)<br /> Cải xanh 12 (17,1) 9 (32,1) 1 (100) 10 (12,6) 2 (8,3) 17 (11,8)<br /> Xà lách cây 11(15,7) 2 (7,1) 0 (0,0) 2 (2,5) 0 (0,0) 42 (29,2)<br /> Xà lách xoong 17 (24,3) 6 (21,4) 0 (0,0) 24 (30,4) 9 (37,5) 6 (4,2)<br /> Rau má 13 (18,6) 5 (17,9) 0 (0,0) 28 (35,4) 13 (54,2) 12 (8,3)<br /> Rau diếp cá 13 (18,6) 5 (17,9) 0 (0,0) 11 (13,9) 13 (54,2) 17 (11,8)<br /> Rau thơm 4 (5,7) 1 (3,6) 0 (0,0) 4 (5,1) 0 (0,0) 50 (34,7)<br /> Về nhiễm ký sinh trùng đơn bào, kết quả cho BÀN LUẬN<br /> thấy, ký sinh trùng đơn bào thường gặp đó là<br /> So với kết quả nghiên cứu của Lê Lợi (2), tỷ lệ<br /> amip và trùng roi, trong đó nhiễm amip ở xà<br /> nhiễm ký sinh trùng trên rau xanh trồng tại<br /> lách xoong nhiễm cao nhất 24,3%, tiếp theo mẫu<br /> ruộng tại 4 huyện thuộc tỉnh Nam Định là 66,3%,<br /> rau má và rau diếp cá bằng nhau 18,6%, rau<br /> trong đó mầm bệnh đơn bào là 51,6% (Entamoeba<br /> thơm nhiễm thấp nhất 5,7%. Mẫu rau nhiễm<br /> histolytica 3,7%, Entamoeba coli 6,8%),<br /> trùng roi cao nhất là cải xanh 32,1%, xà lách<br /> Cryptosporidium spp 14,6%, Cyclospora spp 10,3%,<br /> xoong 21,4%, rau má và rau diếp cá 17,9% và<br /> Giardia lamblia 3,9%, đơn bào khác 12,4%); mầm<br /> thấp nhất vẫn là rau thơm 3,6%. Mẫu rau nhiễm<br /> bệnh đa bào là 29,8% (giun đũa 11,9%, giun tóc<br /> trùng lông duy nhất chỉ có trên rau cải xanh.<br /> 9,2%, ấu trùng giun móc 7,6%, sán lá nhỏ 0,76%,<br /> Về nhiễm ký sinh trùng đa bào, kết quả cho sán lá lớn 0,2%). Nghiên cứu năm 2008 tại tỉnh<br /> thấy mẫu nhiễm trứng giun đũa cao nhất là rau Vĩnh Phúc, trên 300 mẫu rau cho thấy 79,3% các<br /> má với tỉ lệ 35,4%, kế đến xà lách xoong có tỉ lệ loại rau có nhiễm KST, rau muống là loại rau<br /> 30,4% và những mẫu rau còn lại nhiễm trứng nhiễm cao nhất với 46,3%, trứng giun móc được<br /> giun đũa dưới 14%. Nhiễm trứng giun tóc vẫn phát hiện nhiều nhất với 43,4%, trứng giun đũa<br /> cao nhất ở mẫu rau má và rau diếp cá, tỉ lệ đều 35,6%(4). Nghiên cứu tại xã Vĩnh Phúc thành phố<br /> 54,2%, xà lách xoong cũng nhiễm ở tỉ lệ cao Thái Bình, tỉ lệ nhiễm các loại trứng giun trong<br /> 37,5%. Nhiễm trứng/ấu trùng giun móc, tỉ lệ cao rau là 50%, trong đó giun đũa là 48,8%, giun tóc<br /> nhất ở rau thơm 34,7%, kế đến xà lách cây 29,2%.<br /> <br /> <br /> 308 Chuyên Đề Y Tế Công Cộng<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 5 * 2016 Nghiên cứu Y học<br /> <br /> là 42,2%, giun móc là 17,8%, và trong rau sống có 15,7% và 5,7%. Rau cải xanh bị nhiễm trùng roi<br /> tỉ lệ nhiễm cao nhất là 60%(1). Giun đũa được tìm cao nhất với 32,1% và rau thơm và xà lách cây có<br /> thấy tỉ lệ cao trong các nghiên cứu. Riêng tại TP. tỉ lệ nhiễm thấp nhất là 3,6% và 7,1%.<br /> HCM theo nghiên cứu của Trần Thị Hồng năm Về ký sinh trùng đa bào: mẫu nhiễm trứng<br /> 2007 về tỉ lệ rau sống bị nhiễm KST bán ở chợ và giun đũa cao nhất là rau má với tỉ lệ 35,4%, kế<br /> ở siêu thị cho thấy 101/104 mẫu rau bán ở chợ có đến xà lách xoong có tỉ lệ 30,4% và những mẫu<br /> nhiễm mầm bệnh KST (97,1%) và 85/90 mẫu rau rau còn lại nhiễm trứng giun đũa dưới 14%.<br /> tại siêu thị nhiễm KST (94,4%)(5, 6). Nhiễm trứng giun tóc vẫn cao nhất ở mẫu rau<br /> Trong kết quả của nghiên cứu này về mức má và rau diếp cá, tỉ lệ đều 54,2%, xà lách xoong<br /> độ nhiễm KST trong rau cũng tương đồng với cũng nhiễm ở tỉ lệ cao 37,5%. Nhiễm trứng/ấu<br /> nghiên cứu của Trần Thị Hồng năm 2007 tại trùng giun móc, tỉ lệ cao nhất ở rau thơm 34,7%,<br /> thành phố Hồ Chí Minh nhưng cao hơn nhiều kế đến xà lách cây 29,2%.<br /> so với các nghiên cứu tại Nam Định và Thái TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> Bình, điều này có thể do quá trình lấy mẫu tại 1. Alade G.O TOA, Adewuyi IK (2013). Prevalence of intestinal<br /> mỗi nơi có thể khác nhau, chẳng hạn lấy mẫu parasites in vegetables sold in Ilorin, Nigeria. American-Eurasian<br /> rau ngay từ đầu nguồn, tại thành phố Hồ Chí J, 13(9): pp. 1275-1282.<br /> 2. Cổng Thông tin - Giao tiếp điện tử tỉnh Vĩnh Phúc "Đánh giá<br /> Minh lấy tại các quấy bán và có thể sử dụng sự ô nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng truyền bệnh cho người<br /> nước tưới ô nhiễm và làm gia tăng sự ô nhiễm trên rau xanh tươi sống ở tỉnh Vĩnh Phúc"<br /> [http://www.vinhphuc.gov.vn].<br /> chéo.<br /> 3. Lê Lợi, Hoàng Tiến Cường, Nguyễn Văn Đề, Trần Thị Hương<br /> KẾT LUẬN (2012). Xác định ô nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng còn tồn tại<br /> trong rau ăn sống tại một số nhà hàng thuộc thành phố Nam<br /> Có 228/253 (90,1%) mẫu rau ăn sống thuộc 6 Định, tỉnh Nam Định. Tạp chí Y học thực hành, Hội nghị Khoa<br /> học An toàn Vệ sinh Thực phẩm, lần thứ 6, năm 2012. Nhà<br /> loại rau (rau cải xanh, xà lách cây, xà lách xoong,<br /> Xuất bản Bộ Y tế, số 842: Tr 135-239.<br /> rau má, rau diếp cá, rau thơm) bị nhiễm KST các 4. Lê Thị Tuyết, Nguyễn quốc Tiến và cs (2005). Tình hình ô<br /> loại, trong đó mẫu rau cải xanh, xà lách cây xà nhiễm trứng giun trong các mẫu rau tại xã Vũ Phúc, thành phố<br /> Thái Bình. Tạp chí phòng chống các bệnh sốt rét và các bệnh<br /> lách xoong, rau má, rau diếp cá, mỗi loại 42 mẫu KST, số 6.<br /> (tỉ lệ mỗi loại rau nhiễm là 16,6%) và rau thơm là 5. Tổng cục thống kê Niên giám thống kê 2012. Hà Nội: Nhà xuất<br /> bản thống kê; 2013.<br /> 43 mẫu (17%).<br /> 6. Trần Thị Hồng (2007). Khảo sát ký sinh trùng trên rau sống bán<br /> Tỉ lệ nhiễm các loại KST trong rau: tại các siêu thị trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Y học<br /> thành phố Hồ Chí Minh 2007, 11(2): pp. 82-131.<br /> Về ký sinh trùng đơn bào, số mẫu rau ăn 7. Viện thông tin thư viện Y học Trung ương (2001). Dinh dưỡng<br /> sống bị nhiễm đơn bào loại amip (E. histolytica và và an toàn thực phẩm, 2001.<br /> 8. Wafa A.I. Al-Megrin (2010). Prevalence intestinal parasites in<br /> E. coli) chiếm tỉ lệ cao nhất 30,7%, trùng roi là leafy vegetables in Riyadh, Saudi Arabia. International Journal of<br /> 12,3% và trùng lông
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2