Tiểu luận: Đại Cương Mỹ Học
- 1 -
Tiểu Luận
Cái đẹp trong nghệ thuật sân
khấu chèo truyền thống và
hướng đi để giữ gìn, bảo tồn
và phát triển nghệ thuật chèo
Tiểu luận: Đại Cương Mỹ Học
- 2 -
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thái Bình là vùng đất nông thôn dân dã, tạo hóa đã ban cho nơi này
đặc trƣng riêng biệt và con ngƣời nơi đây cũng đã tạo ra nhiều nét văn hóa
nghệ thuật mang đậm nét của quê hƣơng Thái Bình. Trong đó có loại hình
sân khấu chèo. Một loại hình có từ xa xƣa trong nền văn hóa Việt Nam
mang nét tiêu biểu trong văn hóa ứng xử của dân tộc Việt Nam và môi
trƣờng xã hội. Đó la tinh hoa văn hóa dân tộc. Nghệ thuật sân khấu chèo
Việt Nam ngày nay đã đƣợc phát triển trong cả nƣớc.
Tìm hiểu về vẻ đẹp trong nghệ thuật sân khấu chèo luôn luôn là một
đề tài lớn. Cái đẹp trong nghệ thuật sân khấu chèo mang nhiều sắc thái
phong phú và đa dạng, nó luôn là nguồn cảm hứng cho các nhà nghiên
cứu.
Chính vì những điều trên đã thôi thúc em đi phân tích một số nét
đẹp tiêu biểu của nghệ thuật sân khấu chèo. Bằng việc nghiên cứu đề tài
tiểu luận “ Từ những đặc điểm phạm trù cái đẹp, thử phân tích về một cái
đẹp trong đời sống tự nhiên ở quê hƣơng em”.
2. Lịch sử vấn đề
Nói về vấn đề nét đẹp trong nghệ thuật sân khấu chèo thì đã có rất
nhiều nhà nghiên cứu vấn đề này nhƣ:
Sân khấu truyền thống bản sắc dân tộc và sự phát triển - TS Đào
Mạnh Hùng (chủ biên) - Nxb sân khấu - 2003
Những làn điệu chèo cổ và hát dân ca đồng bằng Bắc bộ (tập 1) -
Nhiều tác giả - Nhà Văn hoá trung tâm tỉnh Thái Bình - 2003.
3. Yêu cầu đạt đƣợc
Tìm hiểu cái đẹp trong nghệ thuật sân khấu chèo truyền thống.
Tìm ra hƣớng đi để gìn giữ, bảo tồn và phát triển nghệ thuật
sânkhấu chèo truyền thống.
4. Cấu trúc bài tiểu luận.
A. Phần mở đầu
B. Phần nội dung
Chƣơng I: Cái đẹp trong nghệ thuật sân khấu chèo truyền thống.
Chƣơng II: Tìm hƣớng đi để giữ gìn, bảo tồn và phát triển nghệ thuật
sân khấu truyền thống.
C. Kết luận.
Tiểu luận: Đại Cương Mỹ Học
- 3 -
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG I
CÁI ĐẸP TRONG NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU CHÈO TRUYỀN THỐNG
I. Vài nét về sự hình thành nghệ thuật sân khấu chèo
Nhiều nhà nghiên cứu thời kỳ sơ khai của sân khấu dân tộc là thời đại
Nhà Lý (triều vua Lý Thái Tổ. Bắt đầu từ những trò diễn xƣớng dân gian và các
hình thành ca múa. Vua Lý Thái Tổ lấy ngày vua sinh làm tiết Thiện Thánh, cho
làm núi bằng tre, trên núi cắm cờ xí cho ngƣời con hát ở trong núi đó đánh sênh,
thổi sáo, hát múa cho vui.Phong trào hát múa đƣợc coi trọng, phong trào sinh
hoạt nghệ thuật phát triển để thoả mãn nhu cầu của vua chúa hoàng tộc và quan
lại. Nhiều nghệ nhân bậc thầy nổi tiếng: Phạm Thị Chân, Đặng Hồng Lân, Đào
Văn Sơ, Tôn Sƣ TừĐạo Hạnh, Chính Vĩnh Căn v.v… là những vị tổ của sân
khấu truyền thống đã xuất hiện trong thời nhà Lý. Sân khấu Chèo đƣợc hình
thành và phát triển trên châu thổ sông Hồng và sông Thái Bình vùng đồng bằng
và trung du Bắc Bộ. Từ những bài hát của đạo Phật, đạo Hiếu, từ sự tín ngƣỡng,
từ âm nhạc dân gian, từ trò hát nhại, từ tiếng trống trò trong quân ngũ. Theo TS
Trần Đình Ngôn thì: “nghệ thuật chèo bắt nguồn từ trò nhại và múa hát dân gian
qua hình thức tế lễ, chèo thuyền bát nhã của đạo Phật rồi trở thành sân khấu dân
gian”.Chèo là nghệ thuật của ngƣời nông dân phía Bắc Việt Nam, đƣợc họ yêu
quý - gìn giữ và phát triển qua bao thế hệ. Chèo đáp ứng nhu cầu thâm mỹ của
ngƣời dân lao động, nó mang phong vị mà ngƣời nông dân Việt Nam ƣa thích.
Sở dĩ chèo vẫn trƣờng tồn và phát triển nhƣ ngày nay vì nó tôn thờ cái thiện, cái
đẹp, cái cao thƣợng, nó thấm đẫm chủ nghĩa nhân văn dân tộc, đồng thời nó
mang đậm đà tâm hồn của ngƣời nông dân Việt Nam. Những vẻ đẹp của thuần
phong mỹ tục dân tộc, những mẫu mực về đạo đức truyền thống đã thực sự tạo
nên hình hài của văn hoá ứng xử “đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam”.
II. Mấy nét đẹp trong nghệ thuật sân khấu chèo truyền thống
1. Cái đẹp trong phong vị chèo
Phong vị chèo là thuộc tính phẩm chất, một nét đẹp riêng của chèo truyền
thống. Đó chính là những tính chất, đặc biệt là sự kết hợp tài tình giữa các tính
chất để ngƣời xem cảm thụ đƣợc để rồi hứng thú nó, say mê nó. Bốn thuộc tính
phẩm chất riêng của chèo là:
1.1. Sự kết hợp giữa yếu tố hiện thực và lãng mạn
Đó là sự kết hợp những sự kiện, những tình tiết gần gũi với đời sống hiện
thực và những sự kiện, những tình tiết đã đƣợc huyền thoại hoá, lý tƣởng hoá,
giả định hoá. Nó vừa khắc hoạ đƣợc bản chất, cái thần của đời sống con ngƣời,
Tiểu luận: Đại Cương Mỹ Học
- 4 -
vừa thể hiện đƣợc ƣớc mơ - khao khát vƣơn tới cái đẹp, cái hoàn mỹ của ngƣời
nông dân lao động. Họ là những con ngƣời bình thƣờng nhƣng đã vƣơn tới
những hành vi ứng xử siêu phàm: nhƣ Dƣơng L- Châu Long (trong vở Lƣu
Bình-Dƣơng Lễ), Thị Phƣơng (trong vở Trƣơng Viên), Thị Kính (trong vở
QuanÂm Thị Kính) …
1.2 Sự kết hợp giữa dân gian và bác học
Sự kết hợp này làm cho chèo vừa giản dị, mộc mạc trong sáng vừa chứa
đựng đƣợc những ý nghĩa tinh tế, hàm xúc, mang tính chất triết lý. Trèo là sân
khấu dân gian bắt nguồn từ nghệ thuật dân gian và văn hoá dân gian . Nhƣng
trong quá trình phát triển với sự tham gia ngày càng nhiều của các tri thức phong
kiến vào khâu sáng tác tích trò, đã đem vào chèo luồng văn chƣơng bác học. Sự
kết hợp hài hoà giữa dân gian và bác học không dừng lại ở văn chƣơng chèo (đối
thoại và lời ca), mà còn thể hiện ở nghệ thuật biểu diễn. Bên cạnh lối diễn phóng
khoáng đầy chất hội hè dân dã với sự giao hào một cách hồn nhiên giữa ngƣời
diễn với ngƣời xem, là lối diễn trang nghiêm đĩnh đạc mực thƣớc nhƣ những
quy phạm cổ điển. Trong năm loại mô hình nhân vật theo cách phân định của
giáo sƣ Trần Bảng thì Hề, Lão, Mụ, thƣờng diễn theo phong cách dân gian; còn
Sinh, Đào thƣờng diễn theo phong cách gần nhƣ cổ điển, gần với hình tƣợng văn
học của văn chƣơng cổ điển.
1.3. Sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại
Sự kết hợp này vừa tiếp tục khẳng định những chuẩn mực đạo đức truyền
thống vừa đề cập đến những chuyện đời thƣờng của ngƣời đƣơng thời. Kể
chuyện xƣa mà cứ nhƣ đang nói chuyện nay. Thuộc tính này khá độc đáo vì thế
mà chèo có sức sống mãnh liệt và lâu bền. Trong quá trình phát triển của chèo,
các vở diễn ra đời sau bao giờ cũng kế thừa những thành tựu nghệ thuật của các
vở trƣớc nhất là về ca hát và trò diễn, đặc biệt là về những miếng trò ngoài tích.
Những vở chèo sau thƣờng xuất hiện thêm những lớp trò mới và theo nó là tính
cách nhân vật kiểu mới (dù vẫn là 5 mô hình: Sinh, Đào, Hề, Lão, Mụ) với
những số phận tâm trạng mới không giống các nhân vật đã gặp trong các vở cũ.
Nhân vật với tính cách, số phận và trạng thái tâm lý mới đã kéo theo những tích
trò mới và làn hát mới đƣợc sáng tạo. Đây là sự kết hợp ngẫu nhiên của truyền
thống và hiện đại.
2. Nét đẹp trong cách sử dụng văn học chèo
2.1. Sử dụng văn học dân gian và văn học bác học
Bắt nguồn từ văn học dân gian và chịu ảnh hƣởng sâu sắc của văn học bác
học. Văn học chèo chủ yếu sáng tác theo phƣơng pháp nghệ thuật của ca dao,
tục ngữ. Bên cạnh đó cũng khá nhiều câu phô diễn theo lối văn chƣơng bác học.
Bình dị mộc mạc trong sáng và duyên dáng nhƣ ca dao:
“Thầy nhƣ táo rụng sân đình.
Em nhƣ gái dở đi tìm của chua”
Hay: “Ta đi chợ Dốc - ngồi gốc cây đa, thấy cô yếm thắm mặc áo nâu già,
Tiểu luận: Đại Cương Mỹ Học
- 5 -
thắt dây lƣng xanh”…
Lại có những lời hát rất hàm xúc và khái quát cao:
“Lác đã mƣa ngâu - xình xịch mƣa ngâu.
Lá ngâu rụng xuống - bông lau phất cờ
Nƣớc xanh phẳng lặng nhƣ tờ
Một đàn cá lớn nhấp nhô đầu gềnh
Kìa ai than khóc đầu gềnh”.
Một bức tranh phong cảnh mùa thu đƣợc vẽ lên, nhƣng thấy thấp thoáng
trong đó là một bức tranh xã hội hiện ra. Bọn phong kiến của thời đại này thay
bọn phong kiến của triều đại khác (lá ngâu - phất cờ) để cuối cùng ngƣời dân là
nạn nhân đau thƣơng nhất (Kìa ai than khóc đầu gềnh.
Và những câu thơ ảnh hƣởng đến văn chƣơng bác học:
“Mộng tàn bán chẩm mê hồ điệp
Xuân tận tàn canh, oán tử quy”.
Đây là lời than thở của Lƣu Bình khi ăn cùng mâm, ở cùng nhà với nàng
Châu Long nhƣng vẫn phải giữ khoảng cách chƣa đƣợc “gặp nhau”.
2.2. Sử dụng chất liệu thƣ pháp
Ngôn ngữ đối thoại của chèo thể hiện đậm đà nhất trong ca từ, với thể thơ
dân tộc và độc đáo nhất là thể thơ lục bát. Thơ lục bát sử dụng trong chèo khi
các nhân vật ngâm - vỉa - hát - nói đều có cả.
“Đêm rằm gió mát trăng thanh
Bầu tiên chúc rƣợu câu thần ngân nga
Vui chơi chén rƣợu cuộc cờ
Sớm xem hoa nở tối chờ trăng lên”…
Với thể thơ lục bát trên có thể sử dụng hát với rất nhiều làn điệu: xẩm
xoan, lới lơ, sa lệch chênh, sắp…Song thất lục bát cũng là một thể thơ dân tộc
đƣợc sử dụng rất nhiều trongsân khấu chèo với các làn điệu: quân thừa, hoàng
chiếu, chinh phụ …Từ những câu nói lên bổng xuống trầm với các thành huyền,
sắc, hỏi, ngã, nặng. Đối thoại trong sân khấu chèo đã tiến tới chỗ cách điệu và
thể hiện bằng những câu thơ mang tính biến ngẫu, đổi ý, đổi thanh, ngắn, dài
khác nhau rất linh hoạt bao nhiều thể thơ khác nhau: thể 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ, 6
chữ v.v…; đảo lên đảo xuống rất nhịp nhàng. Nói mà nhƣ hát, nhƣ đọc thơ, ngâm
thơ.
3. Nét đẹp của nội dung và hình thức
Trong bất kỳ lĩnh vực nào thì con ngƣời cũng đều hƣớng tới cái đẹp, khát
vọng vƣơn tới cái đẹp, cái hoàn hảo, hƣớng tới chân-thiện-mỹ. Trong đời sống
con ngƣời, cái đẹp làm chuẩn mực cho mọi giá trị. Trong nghệ thuật nói chung
cái đẹp là linh hồn, là mẫu số chung cho mọi tác phẩm. Trên sân khấu chèo, cái
đẹp cũng mang một tính chất chung nhƣ vậy. Đẹp từ hình thức đến nội dung, từ
ngôn ngữ lời thoại , từ cách thức dùng từ ngữ trong văn chƣơng, đến cách biểu
đạt trên sân khấu. Từ cái đẹp trong phục trang, đạo cụ cảnh trí, âm nhạc, lối hát,