
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN:
KĨ NĂNG GIAO TIẾP VÀ ĐÀM PHÁN KINH DOANH
ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU VỀ NỘI DUNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP VỚI ĐỒNG
NGHIỆP TRONG KINH DOANH. LẤY VÍ DỤ CỤ THỂ SINH ĐỘNG,
ĐÁNH GIÁ VÀ RÚT RA BÀI HỌC.
Hà Nội, Tháng 08/2021
Họ và Tên sinh viên
: Bùi Tấn Thành
Mã sinh viên
: 1114050078
Lớp niên chế
: D14QK02
Số thứ tự
: 49
Giảng viên hướng dẫn
: Lục Mạnh Hiển
Lớp tín chỉ
: D14QK01
lOMoARcPSD|16911414

MỤC LỤC
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ GIAO TIẾP 1
1.1. Các khái niệm cơ bản 1
1.2. Phân loại giao tiếp 1
1.3. Chức năng của giao tiếp 2
1.4. Vai trò giao tiếp với đồng nghiệp trong kinh doanh 3
CHƯƠNG II: NỘI DUNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP VỚI ĐỒNG NGHIỆP TRONG KINH DOANH 5
2.1. Kỹ năng trình bày 5
2.2. Kỹ năng giao tiếp bằng văn bản 5
2.3. Kỹ năng lắng nghe, đánh giá và nhìn nhận vấn đề 6
2.4. Kỹ năng định hướng vấn đề 6
2.5. Kỹ năng làm việc nhóm 6
2.6. Kỹ năng truyền đạt thông tin 7
2.7. Kỹ năng phản hồi 7
2.8. Kỹ năng giải quyết xung đột 7
2.9. Những lưu ý khi giao tiếp với đồng nghiệp trong kinh doanh 7
CHƯƠNG III: TÌNH HUỐNG VẬN DỤNG 10
3.1. Tình huống 1 10
3.2. Tình huống 2 11
lOMoARcPSD|16911414

LỜI NÓI ĐẦU
Xã hội thì ngày càng phát triển, con người dường như cũng vì thế mà quấn vào
luồng công việc hăng say hơn. Chính vì thế đôi lúc họ đánh mất những mối quan hệ
xung quanh, đánh mất đi những kĩ năng mềm cần thiết nhất tại nơi làm việc chẳng hạn
như kỹ năng quan sát, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng nói…
Giao tiếp có vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của
con người. Nếu tách khỏi sự giao tiếp xã hội, con người không thể hình thành và phát
triển nhân cách được. Mặt khác, giao tiếp có chức năng định hướng hoạt động, điều
khiển, điều chỉnh hành vi của con người.
Đồng nghiệp chính là những người đồng hành cùng chúng ta trong suốt quá trình
làm việc, có khi cùng thành công, có khi cùng thất bại. Đi cùng nhau trong cả quá trình
dài như vậy thì không thể tránh khỏi những cuộc cãi vã, tranh luận đến nảy lửa và những
bất hoà với nhau. Cái tôi của chúng ta rất lớn nên đôi khi sẽ bỏ lỡ cơ hội làm hoà với
đồng nghiệp. Đôi khi cũng chỉ vì tính cách nóng nảy, cái sĩ diện cao mà phá vỡ mối quan
hệ tốt với đồng nghiệp. Nhưng cũng chính vì thế mà ta thường quên mất những kỹ năng
giao tiếp với đồng nghiệp. Chính kỹ năng đó lại làm cho cuộc tranh luận của bạn và
đồng nghiệp hạ xuống, nói chính xác hơn đó chính là cái “bình chữa cháy” mà ta nên
trang bị cho mình mỗi khi giao tiếp với đồng nghiệp.
Quan tâm về tầm quan trọng đó, em xin phép lấy đề tài “Tìm hiểu về nội dung kỹ
năng giao tiếp với đồng nghiệp trong kinh doanh. Lấy ví dụ cụ thể sinh động, đánh giá
và rút ra bài học” làm đề tài tiểu luận kết thúc học phần Kỹ năng giao tiếp và đàm
phán kinh doanh.
lOMoARcPSD|16911414

1
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ GIAO TIẾP
1.1. Các khái niệm cơ bản
Giao tiếp trước hết là nhu cầu quan trọng của con người là quá trình trao đổi thông
tin, tình cảm, suy nghĩ; là quá trình nhận biết và tác động lẫn nhau trong quan hệ giữa người
với người nhằm đạt đến một mục đích nhất định. Con người có thể giao tiếp, trong đó có
giao tiếp trong kinh doanh, dưới các hình thức sau:
Ngôn ngữ: giao tiếp dưới dạng lời nói, chữ viết.
Phi ngôn ngữ: giao tiếp bằng các cử chỉ ngôn ngữ như nét mặt, cử chỉ, trang phục,
ngôn ngữ cơ thể,…
Jhon B. HonBen cho rằng: “Giao tiếp là sự trao đổi với nhau tư duy hoặc ý tưởng
bằng lời”.
Nguyễn Văn Đáng - Chủ nhiệm bộ môn Quản trị kinh doanh, trường đại học Tài
chính- Marketing, bộ Tài chính cho rằng: “Giao tiếp là một quá trình trao đổi thông tin
giữa các chủ thể, thông qua ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết và ngôn ngữ biểu cảm. Qua đó,
mỗi chủ thể tham gia giao tiếp đều hướng tới sự đồng thuận mà mình mong muốn”.
1.2. Phân loại giao tiếp
a. Dựa vào phương tiện giao tiếp:
Giao tiếp bằng ngôn ngữ: Con người sử dụng tiếng nói và chữ viết để giao tiếp với
nhau. Đây là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người. Bằng ngôn ngữ, con người có
thể truyền đi bất cứ một loại thông tin nào, như thông báo tin tức, diễn tả tình cảm, ám chỉ,
miêu tả sự vật...
Giao tiếp phi ngôn ngữ: Con người giao tiếp với nhau bằng hành vi cử chỉ, nét mặt,
ánh mắt, nụ cười, đồ vật…
b. Dựa vào khoảng cách:
Giao tiếp trực tiếp: Là loại giao tiếp giữa các cá nhân khi họ mặt đối mặt với nhau
để trực tiếp giao tiếp.
lOMoARcPSD|16911414

2
Giao tiếp gián tiếp: Là loại giao tiếp được thực hiện thông qua một phương tiện trung
gian khác như điện thoại, email, thư tín, Fax, chat…
c. Dựa vào tính chất giao tiếp:
Giao tiếp chính thức: Là loại giao tiếp khi các cá nhân cùng thực hiện một nhiệm vụ
chung theo quy định. Ví dụ: giao tiếp giữa giảng viên và sinh viên trong giờ học. Loại giao
tiếp này có tính tổ chức, kỉ luật cao
Giao tiếp không chính thức: Là loại giao tiếp diễn ra giữa những người đã quen
biết, hiểu rõ về nhau, không bị ràng buộc bởi pháp luật, thể chế, mang nặng tính cá nhân.
Ví dụ: giao tiếp giữa các bạn sinh viên trong giờ ra chơi. Loại giao tiếp này thường tạo ra
bầu không khí đầm ấm, vui tươi, thân mật, hiểu biết lẫn nhau
d. Dựa vào số người tham dự cuộc giao tiếp:
Giao tiếp cá nhân – cá nhân: Ví dụ: giao tiếp giữa sinh viên A và sinh viên B
Giao tiếp cá nhân – nhóm: giao tiếp giữa giảng viên với lớp hoặc nhóm sinh viên
Giao tiếp nhóm – nhóm: giao tiếp trong đàm phán giữa đoàn đàm phán của công ty
A và công ty B.
1.3. Chức năng của giao tiếp
- Chức năng truyền thông tin (thông báo): Chức năng này có cả ở người và động
vật. Ở động vật, chức năng thông báo thể hiện ở điệu bộ, nét mặt, âm thanh (phi ngôn ngữ).
Còn ở người, với sự tham gia của hệ thống tín hiệu thứ 2, chức năng thông tin, thông báo
được phát huy tối đa, nó có thể truyền đi bất cứ thông tin nào.
- Chức năng nhận thức: Giao tiếp là công cụ quan trọng giúp con người nhận thức
về thế giới và về bản thân. Giao tiếp giúp cho khả năng nhận thức của con người ngày càng
mở rộng, làm cho vốn hiểu biết, tri thức của con người ngày càng phong phú.
- Chức năng phối hợp hành động: Trong một tổ chức thường có nhiều bộ phận với
các chức năng và nhiệm vụ khác nhau. Để tổ chức hoạt động một cách thống nhất, đồng
bộ, thì các bộ phận, thành viên trong tổ chức cần phải giao tiếp với nhau để phối hợp hành
động cho có hiệu quả.
- Chức năng điều khiển, điều chỉnh hành vi (chỉ có ở người): Qua giao tiếp con
người có thể nhận biết về thế giới, về người khác và về bản thân; biết được cái hay cá dở
lOMoARcPSD|16911414

