Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

intTypePromotion=1
ADSENSE

Tiểu luận môn Luật Hành chính 2: Pháp luật Việt Nam về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa - Thực trạng và nhận xét, kiến nghị

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:22

12
lượt xem
5
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu và nhiệm vụ được đưa ra trong bài tiểu luận "Pháp luật Việt Nam về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa - Thực trạng và nhận xét, kiến nghị" chính là làm rõ được các mặt của quản lý Nhà nước về lĩnh vực văn hóa trên phương diện lý luận. Từ đó, xem xét trên thực trạng các vấn đề còn vướng mắc, cần được giải quyết và đưa ra các kiến nghị phù hợp để giải quyết các vấn đề đó. Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận môn Luật Hành chính 2: Pháp luật Việt Nam về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa - Thực trạng và nhận xét, kiến nghị

  1. lOMoARcPSD|16911414 TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN KHOA LUẬT MÔN: Luật Hành chính 2 TIỂU LUẬN: Pháp luật Việt Nam về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa – Thực trạng và nhận xét, kiến nghị. Họ và tên: Trần Thu Phương Mã số sinh viên: 3120430130 Lớp: DLU1201 Phòng thi: 004 Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 1 năm 2022 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com)
  2. lOMoARcPSD|16911414 MỤC LỤC MỞ ĐẦU...................................................................................................................1 1. Lý do chọn đề tài..................................................................................................1 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.......................................................................1 3. Đối tượng nghiên cứu...........................................................................................1 4. Phạm vi nghiên cứu..............................................................................................1 5. Phương pháp nghiên cứu.....................................................................................2 NỘI DUNG...............................................................................................................3 CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA.....................................................3 1.1. Khái niệm và vai trò của văn hóa.................................................................3 1.1.1. Khái niệm văn hóa...................................................................................3 1.1.2. Vai trò của văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội...........................3 1.2. Khái niệm và phương thức quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa.....4 1.2.1. Khái niệm quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa..........................4 1.2.2. Phương thức quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa......................5 1.3. Nội dung cơ bản của quản lý Nhà nước về văn hóa....................................6 1.3.1. Quản lý Nhà nước về văn hóa nghệ thuật.............................................6 1.3.2. Quản lý Nhà nước về văn hóa – xã hội..................................................7 1.3.3. Quản lý Nhà nước về di sản văn hóa......................................................8 1.4. Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa...............................10 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ NHẬN XÉT, KIẾN NGHỊ............................12 2.1. Thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa..................................................12 2.2. Kiến nghị hoàn thiện đối với các vấn đề bất cập.......................................13 KẾT LUẬN.............................................................................................................16 TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................17 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com)
  3. lOMoARcPSD|16911414 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Vấn đề quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa của pháp luật Việt Nam là một vấn đề khá rộng. Có nhiều văn bản pháp luật được ban hành để thi hành, điều chỉnh trong lĩnh vực này, bên cạnh một số mặt tích cực khi hệ thống pháp luật ngày càng chặt chẽ, tiến bộ giúp cho việc quản lý dễ dàng, minh bạch hơn thì cũng còn một số vấn đề mà pháp luật còn chưa chạm tới để giải quyết triệt để được. Văn hóa cũng là một vấn đề hấp dẫn và đa dạng bao gồm nhiều mảng, nó mang lại nhiều giá trị vật chất và tinh thần cho dân tộc Việt Nam. Việc tìm hiểu pháp luật về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa sẽ giúp nhận thức rõ và làm đúng, góp phần phát triển văn hóa dân tộc. Đó là lý do tôi chọn đề tài “Pháp luật Việt Nam về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa – Thực trạng và nhận xét, kiến nghị” làm đề tài tiểu luận. 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Mục tiêu và nhiệm vụ được đưa ra trong bài tiểu luận này chính là làm rõ được các mặt của quản lý Nhà nước về lĩnh vực văn hóa trên phương diện lý luận. Từ đó xem xét trên thực trạng các vấn đề còn vướng mắc, cần được giải quyết và đưa ra các kiến nghị phù hợp để giải quyết các vấn đề đó. 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu trong bài tiểu luận là quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn 1 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com)
  4. lOMoARcPSD|16911414 hóa của pháp luật Việt Nam, cụ thể là các mặt như văn hóa nghệ thuật, văn hóa xã hội, di sản văn hóa. 4. Phạm vi nghiên cứu Về mặt lý luận đề tài nghiên cứu dựa trên hệ thống pháp luật Việt Nam về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa với phạm vi điều chỉnh là các vấn đề về văn hóa diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam. Về mặt thực trạng, nghiên cứu về thực trạng quản lý nhà nước trong việc khai thác và sử dụng thế mạnh văn hóa của các địa phương trong giai đoạn ngành công nghiệp không khói đang phát triển. 5. Phương pháp nghiên cứu Bài tiểu luận sử dụng hai phương pháp chính là phương pháp nghiên cứu lý thuyết và phương pháp nghiên cứu thực tiễn. Trong phương pháp nghiên cứu lý thuyết sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn sử dụng phương pháp điều tra tìm kiếm, phân tích và tổng kết kinh nghiệm. 2 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com)
  5. lOMoARcPSD|16911414 NỘI DUNG CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA 1.1. Khái niệm và vai trò của văn hóa 1.1.1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là một khái niệm phức tạp và đa nghĩa, khó có thể đưa ra định nghĩa cụ thể về văn hóa nhưng có thể nói tóm gọn lại văn hóa là hệ thống các giá trị, truyền thống và thị hiếu là những yếu tố để xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc, qua thời gian được hình thành bởi tổng thể những hoạt động nhằm phát huy năng lực bản chất của con người, thể hiện khát vọng vươn tới giá trị chân, thiện, mỹ nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội. Văn hóa có tính giai cấp, tính dân tộc và tính nhân loại. Con người là sản phẩm văn hóa, đồng thời là chủ thể tạo ra văn hóa, điều kiện sinh hoạt văn hóa của các giai cấp khác nhau tạo nên tư tưởng, tình cảm khác nhau sẽ tạo nên tính giai cấp của văn hóa. Mỗi dân tộc có đặc điểm và lịch sử hình thành khác nhau sẽ tạo nên một nền văn hóa đặc trưng mang bản sắc của dân tộc đó. Vươn tới cái tốt, cái đẹp 3 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com)
  6. lOMoARcPSD|16911414 là nét chung của văn hóa nhân loại, là cốt lõi tạo nên sự phát triển xã hội loài người, là bản chất đích thực của văn hóa. 1.1.2. Vai trò của văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội Văn hóa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Bởi con người là sản phẩm của văn hóa, những giá trị văn hóa sẽ làm nên những phẩm chất giá trị của con người. Mà con người chính là lực lượng lao động tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, quyết định sự phát triển của kinh tế - xã hội. Con người càng phát triển hiện đại, khoa học kĩ thuật cũng ngày càng được con người phát triển để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Nhận thức được điều đó, việc nâng cao dân trí và đầu tư cho giáo dục là ưu tiên hàng đầu của các quốc gia trên thế giới. Con người càng tiến bộ, kinh tế - xã hội càng phát triển thì văn hóa càng chứng tỏ được vai trò là động lực của mình. Vai trò là mục tiêu của phát triển kinh tế - xã hội. Nói văn hóa là mục tiêu của phát triển kinh tế - xã hội vì phát triển kinh tế phải hướng vào phát triển và hoàn thiện con người, hướng vào phát triển và hoàn thiện xã hội. Phải coi văn hóa là mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội thì mới có thể khắc phục được tình trạng mâu thuẫn giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Nếu để kinh tế phát triển, đời sống vật chất được nâng lên nhưng xã hội lại có sự gia tăng các tệ nạn, văn hóa, đạo đức xuống thấp thì cũng sẽ dẫn đến sự phát triển không bền vững. Cần phải phát triển song song cả hai mặt, đó mới là yêu cầu của phát triển hiện đại. 1.2. Khái niệm và phương thức quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa 1.2.1. Khái niệm quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa Quản lý Nhà nước về văn hóa là hoạt động của bộ máy nhà nước trong lĩnh vực hành pháp nhằm giữ gìn, xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam. Nhà nước đại diện cho nhân dân, đảm bảo cho mỗi công dân đều thực hiện các quyền về văn hóa 4 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com)
  7. lOMoARcPSD|16911414 như quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền học tập, sáng tác, phê bình tác phẩm nghệ thuật,… Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết các mâu thuẫn phát sinh giữa phát triển kinh tế và văn hóa. Nhà nước thực hiện quản lý bằng cách định hướng cho sự phát triển của nền văn hóa theo hướng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; hướng vào sự thống nhất tư tưởng, tuyên truyền thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, tuân thủ Hiến pháp và làm việc đúng pháp luật, tăng cường hoạt động giáo dục xây dựng đạo đức tốt đẹp, lối sống lành mạnh. Chia hoạt động quản lý Nhà nước về văn hóa thành các mảng: quản lý Nhà nước đối với văn hóa nghệ thuật, quản lý Nhà nước đối với văn hóa xã hội và quản lý Nhà nước đối với di sản văn hóa. Các cơ quan có nhiệm vụ, chức năng trong việc quản lý Nhà nước về văn hóa bao gồm: - Ở trung ương: Chính phủ thống nhất quản lý và phát triển văn hóa trên phạm vi cả nước. Chính phủ có một số quyền hạn: trình dự án luật, pháp luật về hoạt động văn hóa, quyết định quy hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển văn hóa, ban hành quyết định quản lý nhà nước và các chính sách khác về văn hóa. Bên cạnh đó, Bộ văn hóa, thể thao và du lịch là cơ quan của Chính phủ, trực tiếp thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về văn hóa có nhiệm vụ xây dựng các dự án luật, pháp lệnh và các văn bản pháp luật khác về văn hóa theo sự phân công của Chính Phủ, ban hành quyết định, thông tư, chỉ thị về các hoạt động văn hóa,… - Ở địa phương: Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương 5 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com)
  8. lOMoARcPSD|16911414 thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, nhận nhiệm vụ thiết chế trực tiếp thực hiện các hoạt động văn hóa gồm nhiều cơ quan, tổ chức. 1.2.2. Phương thức quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa Nhà nước tiến hành quản lý văn hóa bằng chính sách và pháp luật về văn hóa.  Chính sách văn hóa được hiểu là tổng thể những nguyên tắc thể hiện tư tưởng chủ đạo của Nhà nước về đường lối, phương hướng xây dựng và phát triển nền văn hóa. Mục tiêu của chính sách văn hóa là nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành; huy động sức mạnh của toàn xã hội vào sự nghiệp phát triển văn hóa, để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, động lực, là nhân tố góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; ngăn chặn nguy cơ mai một văn hóa, bảo tồn các di tích; phát huy việc thông tin với các dân tộc vùng sâu vùng xa. Và nội dung của chính sách văn hóa phải thể hiện được những đặc điểm cơ bản sau: - Chính sách kinh tế trong văn hóa nhằm gắn với hoạt động kinh tế, khai thác tiềm năng kinh tế, tài chính hỗ trợ cho phát triển văn hóa đồng thời bảo đảm yêu cầu chính trị, tư tưởng của hoạt động văn hóa, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. - Chính sách văn hóa trong kinh tế, đảm bảo cho văn hóa thể hiện rõ nét trong các hoạt động kinh tế, đồng thời thúc đẩy các hoạt động kinh tế, tạo điều kiện nhiều hơn cho sự nghiệp phát triển văn hóa. 6 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com)
  9. lOMoARcPSD|16911414 - Phát huy và bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, hướng vào văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể. - Khuyến khích sáng tạo trong các hoạt động văn hóa, tăng nguồn đầu tư thích đáng cho khu vực sáng tạo văn hóa, văn học nghệ thuật, đầu tư cho lực lượng hoạt động văn hóa chuyên nghiệp và cho các phong trào văn hóa, văn nghệ quần chúng. - Xây dựng, ban hành chính sách đặc thù, hợp lý, hợp tình cho những đối tượng xã hội cần được ưu đãi tham gia và hưởng thụ văn hóa. - Ban hành các chính sách cụ thể về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn hóa. Đa dạng hóa, đa phương hóa các mối quan hệ về văn hóa, nhằm tiếp thu những tinh hoa, kinh nghiệm phát triển của các nước, ngăn ngừa, hạn chế những tác động tiêu cực.  Chính sách pháp luật trong quản lý văn hóa là không thể thiếu. Pháp luật đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển văn hóa. Nhà nước ban hành nhiều văn bản pháp luật về văn hóa nhằm phát huy những văn hóa chất lượng, tiến bộ, loại bỏ những hủ tục lạc hậu, kiềm hãm sự phát triển kinh tế. Nhà nước đã tạo ra một hành lang pháp lý an toàn để bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc. Đã có rất nhiều văn bản pháp luật về văn hóa được ban hành và thực hiện như Luật báo chí, Luật di sản văn hoá, Luật sở hữu trí tuệ, Luật điện ảnh,… Bên cạnh đó, Nhà nước còn kí các hiệp ước quốc tế trong lĩnh vực văn hóa như Công ước về việc sản xuất băng, đĩa, … nhằm phát triển văn hóa Việt Nam lên một tầm cao hơn, xa hơn, nhiều người biết đến hơn. 7 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com)
  10. lOMoARcPSD|16911414 1.3. Nội dung cơ bản của quản lý Nhà nước về văn hóa 1.3.1. Quản lý Nhà nước về văn hóa nghệ thuật Văn hóa nghệ thuật là một bộ phận của văn hóa bao gồm âm nhạc, hội họa, văn học, sân khấu, điện ảnh, và một số lĩnh vực khác. Văn hóa nghệ thuật thuộc loại hình văn hóa tinh thần. Văn hóa nghệ thuật không chỉ bao gồm những giá trị nghệ thuật được kết tinh qua các bản nhạc, bộ phim, cuốn sách,… mà còn là tổng thể những mối quan hệ tạo nên được những tác phẩm đó chẳng hạn như đội ngũ văn nghệ sĩ, người cảm thụ nghệ thuật, những người phê bình, đánh giá nghệ thuật. Như vậy, trong hoạt động quản lý Nhà nước về văn hóa, nhà nước phải quan tâm đến tất cả các yếu tố tạo nên văn hóa nghệ thuật, nhằm mục đích phát huy khả năng sáng tạo, khai thác mạnh mẽ tiềm năng sáng tạo, đưa văn hóa nghệ thuật phát triển lên một bước mới. Để đảm bảo quyền và lợi ích của những tác giả sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật, tránh tạo sự ăn cắp chất xám của người khác, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến vấn đề sở hữu trí tuệ, ban hành Luật sở hữu trí tuệ và gần đây nhất là Luật sở hữu trí tuệ 2019. Luật sở hữu trí tuệ được ban hành nhằm mục đích tạo điều kiện cho tác giả được có quyền đối với chính tác phẩm của mình, gắn với các giá trị nhân thân và giá trị tài sản, không ai có quyền đạo nhái, sao chép mà không có sự đồng ý của tác giả, đảm bảo sự công bằng, khuyến khích mọi người ai cũng có thể sáng tác, tạo nên những tác phẩm có ý nghĩa, giá trị. Bộ khoa học và công nghệ chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc chủ trì, phối hợp với Bộ văn hóa, thể thao và du lịch, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ. Ngoài ra, Nhà nước còn khuyến khích việc phát triển các loại hình điện ảnh. Thông qua những tác phẩm điện ảnh thực hiện giáo dục chính trị, tư tưởng, tình 8 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com)
  11. lOMoARcPSD|16911414 cảm, nâng cao dân trí. Chính sách cụ thể về quản lý hoạt động điện ảnh được xác định cụ thể trong Luật điện ảnh năm 2020. Nhà nước khuyến khích việc mở rộng giao lưu quốc tế về điện ảnh, khuyến khích đội ngũ văn nghệ sĩ tìm tòi, sáng tạo trong lĩnh vực của mình. Tạo điều kiện xây dựng các phim trường, rạp chiếu phim, … Các cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép phổ biến phim gồm Bộ văn hóa, thể thao và du lịch, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Tổng giám đốc đài truyền hình Việt Nam và Giám đốc đài phát thanh truyền hình cấp tỉnh. 1.3.2. Quản lý Nhà nước về văn hóa – xã hội Để đánh giá một xã hội có phát triển hay không, không chỉ dựa vào những con số cụ thể, chỉ số thu nhập bình quân đầu người, những con số tăng trưởng kinh tế mà còn phải nhìn nhận, đánh giá cả về vấn đề trật tự an toàn xã hội, lối sống, đạo đức, mối quan hệ giữa con người với nhau, chất lượng cuộc sống có ổn định không, sống có vui vẻ, an toàn không. Nhà nước quản lý về văn hóa xã hội là thực hiện những hoạt động quản lý nhằm ổn định trật tự xã hội, giữ gìn những nét đẹp văn hóa truyền thống, xây dựng nếp sống văn hóa mới. Mục đích của quản lý Nhà nước về văn hóa xã hội là xây dựng nếp sống đẹp, văn minh, hiện đại, hòa nhập. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định những khuôn mẫu ứng xử trong giao tiếp, hưởng thụ, trong sinh hoạt cộng đồng, đồng thời cũng nghiêm cấm, bài trừ những hành động bị xem là vô văn hóa, sai lệch chuẩn mực xã hội. Để thực hiện tốt những điều này, các chủ thể quản lý cần nhận thức đúng đắn về những vấn đề cơ bản của lối sống, nếp sống gắn liền với tình hình diễn biến trên phạm vi trong và ngoài nước; nâng cao năng suất lao động; phát huy tính tích cực chính trị - xã hội trong mỗi con người đều có ý thức về một lối sống đẹp, sống đạo đức; khôi 9 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com)
  12. lOMoARcPSD|16911414 phục những thuần phong mỹ tục và xây dựng nếp sống mới, phân biệt được cái gì là lễ giáo phong kiến, cái gì là nét truyền thống đẹp về lối sống đạo đức. 1.3.3. Quản lý Nhà nước về di sản văn hóa Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại. Vì vậy, nhằm để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về văn hóa của nhân dân, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và nâng cao trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, Nhà nước đã ban hành Luật di sản văn hóa 2013. Các cơ quan có chức năng quản lý Nhà nước về di sản văn hóa bao gồm: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về văn hóa; Bộ văn hóa, thể thao và du lịch chịu trách nhiệm trước chính phủ trong việc thực hiện quản lý Nhà nước về di sản văn hóa; Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về di sản ở địa phương theo sự phân công của Chính phủ. Nội dung quản lý Nhà nước về di sản văn hóa bao gồm: - Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa - Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa - Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về si sản văn hóa 10 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com)
  13. lOMoARcPSD|16911414 - Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ các bộ chuyên môn về di sản văn hóa - Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa - Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa - Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa - Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa. Quản lý nhà nước về di sản văn hóa bao gồm đối với di sản văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể và di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. - Đối với di sản văn hóa phi vật thể. Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và làm giàu kho tàng di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ văn hóa, thể thao và du lịch, và Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là 11 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com)
  14. lOMoARcPSD|16911414 những người có nhiệm vụ trực tiếp trong việc quản lý đối với di sản phi vật thể. - Đối với di sản văn hóa vật thể. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia. Căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được chi thành: di tích cấp tỉnh, di tích cấp quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt. Thẩm quyền quyết định xếp hạng di tích thuộc về Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ trưởng Bộ văn hóa, thể thao và du lịch, Thủ tướng Chính phủ. Trong trường hợp di tích đã được xếp hạng mà sau đó có đủ căn cứ xác định là không đủ tiêu chuẩn hoặc bị hủy hoại không có khả năng phục hồi thì người có thẩm quyền quyết định xếp hạng di tích nào có quyền ra quyết định hủy bỏ xếp hạng đối với di tích đó. - Đối với di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên. Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học. Việc mang cổ vật, di vật ra nước ngoài phải có giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa. Nhà nước được ưu tiên mua di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Nhà nước khuyến khích các chủ sở hữu đăng ký di vật, cổ vật của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa. Di sản văn hóa phải được bảo vệ và phát huy giá trị, đó là mục đích của quản lý Nhà nước về di sản văn hóa. Hoạt động trực tiếp bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa chính là bảo tồn, bảo tàng. Thẩm quyền quyết định thành lập bảo tàng được quy định tại Điều 50 Luật di sản văn hóa. 1.4. Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa 12 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com)
  15. lOMoARcPSD|16911414 Vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa là hành vi do cá nhân hoặc tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hay vô ý vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, được pháp luật hành chính quy định là vi phạm hành chính và phải bị xử phạt hành chính. Việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa phải tuân theo các quy định chung của Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, Nghị định số 24 ngày 20/6/2012 củ Chính phủ, Nghị định 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013, Nghị định 159/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản, Nghị định 158/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo, Nghị định 131/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan. Cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa thông tin bao gồm: Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan thanh tra chuyên ngành, cơ quan hải quan, cơ quan thuế, bộ đội biên phòng, cơ quan công an, cảnh sát biển, cơ quan quản lý thị trường. Tuy nhiên mỗi cơ quan chỉ có thẩm quyền xử phạt đối với những loại vi phạm được pháp luật quy định. Khi xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, người có thẩm quyền xử phạt được áp dụng những hình thức xử phạt và biện pháp được pháp luật quy định đối với hành vi đó. Các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khác được áp dụng kèm theo hình thức phạt chính nhằm xử lý triệt để vi phạm, loại trừ nguyên nhân, điều kiện tái phạm và khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra. Việc xử lý tang vật, phương tiện vi phạm trong lĩnh vực văn hóa phải tuân theo quy định tại Điều 82 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày có quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, cơ 13 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com)
  16. lOMoARcPSD|16911414 quan có thẩm quyền phải xử lý theo quy định của pháp luật. Nếu để quá thời hạn này mà không thực hiện thì cơ quan có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ NHẬN XÉT, KIẾN NGHỊ 2.1. Thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa Thứ nhất, hệ thống pháp luật Việt Nam về di sản văn hóa cũng còn tồn tại nhiều hạn chế cần có những biện pháp khắc phục kịp thời, cần giải thích rõ các điều kiện để một loại hình văn hóa được công nhận là một di sản văn hóa phi vật thể. Các di sản cần được chuyển qua bao thế hệ thì sẽ được coi là phù hợp với tiêu chí di sản văn hóa phi vật thể được lưu truyền từ đời này qua đời khác. Hiện tại, việc để xác định số thế hệ được chuyển giao các giá trị văn hóa về cơ bản là không dễ dàng, nó dựa trên kí ức của cộng đồng, những người lưu giữ và truyền lại di sản cho con cháu cũng chỉ có tính chất tương đối. Và các quy định về việc di sản hóa phi vật thể đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể mà sau đó có cơ sở xác định không đủ tiêu chuẩn thì quyết định đưa ra khỏi danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Việc một di sản văn hóa phi vật thể không còn đủ các điều kiện để đáp ứng được sự phát triển của cộng đồng, không được cộng đồng lưu truyền và không thể tồn 14 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com)
  17. lOMoARcPSD|16911414 tại trong đời sống văn hóa thì cần được rút ra và bổ sung các di sản văn hóa phi vật thể đáp ứng đủ điều kiện vào. Thứ hai, mặt trái của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đã làm xuất hiện tâm lý sùng ngoại, thực dụng và làm phai nhạt những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Cộng với sự phát triển mạnh mẽ của các lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội, nhiều công trình nhân tạo được xây dựng nên, hiện đại hơn, đẹp đẽ hơn, nhưng vì vậy mà những công trình văn hóa xưa cũ, có giá trị văn hóa bị mai một dần, ngày càng ít người biết đến hơn. Việc du lịch ngày càng phát triển, nhưng di tích lịch sử ngày một xuống cấp, không đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch trong và ngoài nước. Việc quản lý nhà nước về cải tạo, nâng cấp các di tích văn hóa lịch sử còn gặp nhiều khó khăn. Một số di tích nằm trong các khu dân cư làm cho các cơ quan nhà nước có nhiệm vụ quản lý chưa có điều kiện thuận lợi nhất để trông coi, bảo quản. Thứ ba, công tác bảo tồn và phát triển di sản văn hóa chưa thực sự khoa học. Hiện nay, công tác bảo tồn và phát triển di sản văn hóa là một vấn đề dù được quan tâm nhiều nhưng cách thức tiến hành chưa thực sự hiệu quả, khoa học. Việc lập các kế hoạch tu bổ, sửa chữa, nâng cấp gặp nhiều vấn đề trở ngại do thiếu kinh phí, thủ tục hành chính rườm rà. Việc quản lý di sản tại một số địa phương chưa hiệu quả, chưa xứng tầm với quy mô của di sản văn hóa. Ngoài ra, hệ thống lực lượng nhân công, những người tham gia giữ gìn, bảo tồn, phục dựng ở các cấp địa phương còn non nớt kinh nghiệm, những khu bảo tàng còn chậm đổi mới hình thức trưng bày, không thu hút được sự chú ý của mọi người. Thứ tư, vấn đề đặt ra trong việc quản lý và tổ chức hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch trên địa bàn các địa phương miền núi, trung du của các đồng bào dân tộc còn gặp phải nhiều bất tiện, khó khăn. Những người có trách nhiệm quản lý văn 15 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com)
  18. lOMoARcPSD|16911414 hóa còn e ngại việc di chuyển lên những khu vực vùng sâu vùng xa, không đồng điệu về văn hóa, gây nhiều bất tiện trong khi đội ngũ quản lý ở địa phương thì chưa thực sự chất lượng lắm. Thứ năm, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về di sản văn hóa còn chưa thực hiện đầy đủ và nghiêm túc. Công tác thanh tra, kiểm tra ở một số lĩnh vực của di sản văn hóa chưa thật sự đạt hiệu quả do lực lượng thanh tra, hậu cần còn ít, chế tài xử lý vi phạm còn thiếu hoặc chưa đủ sức răng đe. Công tác thanh tra, kiểm tra mặc dù đã thực hiện, nhưng tổng thể còn chưa đồng bộ, nhất quán. Việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa còn thụ động, tính chủ động chưa cao, chủ yếu là nhờ vào sự tố giác của nhân dân. 2.2. Kiến nghị hoàn thiện đối với các vấn đề bất cập Thứ nhất, ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về các điều kiện để một di sản văn hóa được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể, giá trị văn hóa phải trải qua bao nhiều thời gian mới được xem là di sản. Và một di sản văn hóa phi vật thể bị mất đi những giá trị gì, những điều kiện gì, tiêu chuẩn gì thì bị quyết định đưa ra khỏi danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Quy định rõ ràng sẽ giúp việc tiến hành thực hiện được rõ ràng, minh bạch, không gây tranh cãi. Thứ hai, phát triển kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa để tạo nên được giá trị bền vững vì văn hóa chính là động lực, mục tiêu của phát triển kinh tế. Không thể không phát triển kinh tế, nhưng kèm theo đó, các giá trị văn hóa dân tộc cũng cần phải được phát triển. Việc nền công nghiệp không khói ngày càng phát triển, nhu cầu khách du lịch ngày càng cao, các giá trị văn hóa dường như bị bỏ quên sẽ được hồi sinh dựa vào những chính sách quản lý hợp lý của các cấp các ngành. Tạo điều kiện cho quản lý địa phương tiếp cận gần hơn, thường xuyên hơn với những di tích văn hóa nằm trong các khu dân cư để quản lý dễ dàng, kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh. 16 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com)
  19. lOMoARcPSD|16911414 Thứ ba, xây dựng, đổi mới các khu bảo tồn di sản văn hóa. Nâng cấp chất lượng đội ngũ nhân công, những người có kinh nghiệm, tay nghề cao trong việc sửa chữa, tu bổ các di sản văn hóa. Nhà nước tạo điều kiện về kinh tế để các cơ quan quản lý ở địa phương có thể hoàn thiện các công việc tu bổ lại nhưng vẫn đảm bảo giữ nguyên được những nét đẹp vốn có, những giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam. Thứ tư, tăng cường công tác đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa từ những cấp cơ sở. Tiến hành những đãi ngộ hợp lý để khuyến khích tinh thần làm việc của các đội ngũ chuyên môn. Đào tạo ra được những đội ngũ tâm huyết, nhiệt tình, có niềm đam mê với di sản văn hóa dân tộc, chịu cống hiến, đầu tư chất xám cho sự phát triển văn hóa, xây dựng vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng cao. Thứ năm, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa. Tổ chức kiểm tra thường xuyên, đột xuất việc quản lý các di sản văn hóa để chủ động phát hiện ra các hành vi vi phạm, và xử phạt kịp thời. Chế tài đối với những người vi phạm hành chính cần được nâng nên để đảm bảo tính răn đe. Nâng cao ý thức bảo vệ di sản văn hóa, giữ gìn những giá trị truyền thống quý báu, phát huy nó ngày càng phát triển, thu hút được nhiều khách tham quan hơn, như vậy, đời sống của người dân ở xung quan các di tích đó cũng khá giả hơn. Đồng thời, cũng phải có những đãi ngộ hợp lý cho những người có thành tích tốt trong công tác quản lý Nhà nước về văn hóa, tạo ra động lực để hăng hái làm việc. Công tác thi đua, khen thưởng, động viên kịp thời các tổ chức, cá nhân có công cần được mở rộng. Việc trao tặng các danh hiệu cho những nghệ sĩ, nghệ nhân tài năng, tạo ra nhiều giá trị văn hóa về mảng phim ảnh, văn học cũng cần được thúc đẩy. 17 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com)
  20. lOMoARcPSD|16911414 Bên cạnh đó, cần phải có những biện pháp bảo vệ môi trường, không vì chú trọng phát triển kinh tế, văn hóa và quên đi việc giữ gìn môi trường xanh sạch. Cần nâng cao ý thức về việc giữ gìn vệ sinh trong các buổi tổ chức lễ hội, hay xung quanh những khu di tích hay có khách du lịch tham quan vid một sự phát triển bền vững. KẾT LUẬN 18 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com)
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2