HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THỨC ĂN
DÙNG TRONG CHĂN NUÔI LỢN TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN GIA LÂM
Chuyên ngành:
Chăn nuôi
Mã số:
60.62.01.05
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Phạm Kim Đăng
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hương
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ tận tình
về nhiều mặt của các tổ chức và cá nhân.
Trước tiên tôi xin trân trọng các thầy cô trong Bộ môn Sinh lý –Tập tính động vật, Khoa Chăn nuôi, các thầy cô Ban quản lý đào tạo, Học Viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến TS Phạm Kim Đăng người thầy
đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn Phòng chăn nuôi, Sở Nông nghiệp & PTNT Hà Nội. Phòng kinh tế & PTNT, Phòng Thống kê, Trạm Thú y Huyện Gia Lâm. Các hộ, các cửa hàng kinh doanh TĂCN tại khu vực nghiên cứu đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp số liệu, tư liệu khách quan giúp tôi hoàn thành luận văn.
Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp người thân đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời
gian qua.
Xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hương
ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan ..................................................................................................................... i
Lời cảm ơn ........................................................................................................................ ii
Mục lục ........................................................................................................................... iii
Danh mục chữ viết tắt ...................................................................................................... vi
Danh mục bảng ............................................................................................................... vii
Danh mục hình ................................................................................................................ vii
Trích yếu luận văn ......................................................................................................... viii
Thesis abstract ................................................................................................................... x
Phần 1. Mở đầu ............................................................................................................... 1
Phần 2. Tổng quan tài liệu ............................................................................................. 3
2.1.
Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện gia lâm.........................................3
2.1.1. Điều kiện tự nhiên .............................................................................................. 3
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội .................................................................................... 4
2.2.
Khái quát chung về thức ăn trong chăn nuôi lợn ................................................ 7
2.2.1. Thức ăn chăn nuôi và thức ăn công nghiệp ........................................................ 7
2.2.2. Vai trò của thức ăn công nghiệp ......................................................................... 9
2.2.3. Đặc điểm của một số nguyên liệu chính dùng để phối trộn thức ăn
công nghiệp trong chăn nuôi lợn ...................................................................... 11
2.2.4. Các chỉ tiêu chất lượng thức ăn công nghiệp .................................................... 16
2.3.
Phương pháp đánh giá chất lượng thức ăn chăn nuôi ....................................... 26
2.3.1. Phương pháp thử cảm quan .............................................................................. 27
2.3.2. Phương pháp hóa học ....................................................................................... 27
2.3.3. Phương pháp sinh học....................................................................................... 28
2.4.
Các công đoạn thanh kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi ........................... 28
2.4.1. Kiểm tra chất lượng nguyên liệu ...................................................................... 29
2.4.2. Kiểm tra trong giai đoạn phối trộn ................................................................... 29
2.4.3. Kiểm tra chất lượng thành phẩm ...................................................................... 29
2.4.4. Kiểm tra chất lượng thức ăn trên cơ thể vật nuôi ............................................. 30
2.4.5. Quản lý chất lượng sản phẩm ........................................................................... 30
iii
Phần 3. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu ............................................................ 33
3.1.
Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu ................................................... 33
3.2.
Nội dung nghiên cứu ........................................................................................ 33
3.2.1. Thực trạng chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội ...................... 33
3.2.2. Tình hình sử dụng, kinh doanh và hệ thống quản lý chất lượng thức ăn
chăn nuôi trên địa bàn huyện ............................................................................ 33
3.2.3. Đánh giá chất lượng dinh dưỡng một số loại thức ăn công nghiệp dùng
trong chăn nuôi lợn được bán trên địa bàn huyện ............................................ 33
3.2.4. Đánh giá ô nhiễm vi sinh vật, nấm mốc, kim loại nặng và định lượng một số loại kháng sinh, hormone trong thức ăn dùng trong chăn nuôi lợn được bán trên địa bàn huyện Gia Lâm ....................................................... 33
3.3.
Phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 33
3.3.1. Phương pháp phân vùng nghiên cứu ................................................................ 33
3.3.2. Phương pháp điều tra, thu thập số liệu ............................................................. 34
3.3.3. Phương pháp phân tích đánh giá chất lượng thức ăn chăn nuôi ....................... 35
3.3.4. Phương pháp xử lý số liệu ................................................................................ 36
Phần 4. Kết quả và thảo luận ....................................................................................... 37
4.1.
Thực trạng chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện ................................................... 37
4.1.1. Tình hình chăn nuôi trên địa bàn huyện ........................................................... 37
4.1.2. Tình hình chăn nuôi lợn tại huyện Gia Lâm ..................................................... 38
4.2.
Tình hình sử dụng và kinh doanh thức ăn chăn nuôi trên địa bàn huyện Gia Lâm ............................................................................................................ 40
4.2.1. Tình hình sử dụng thức ăn hỗn hợp .................................................................. 40
4.2.2. Hệ thống phân phối và kinh doanh thức ăn chăn nuôi ..................................... 41
4.2.3. Thực trạng quản lý thức ăn chăn nuôi trên địa bàn huyện ................................ 43
4.3.
Kết quả đánh giá chất lượng dinh dưỡng một số loại thức ăn công nghiệp dùng trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Gia Lâm. .................................... 48
4.4.
Kết quả phân tích một số chỉ tiêu vi sinh vật, nấm mốc và kim loại nặng và kháng sinh trong thức ăn công nghiệp dùng trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Gia Lâm ....................................................................... 53
4.4.1. Kết quả phân tích một số chỉ tiêu vi sinh vật và độc tố nấm mốc .................... 53
4.4.2. Kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng ..................................................... 56
4.4.3. Kết quả phân tích hàm lượng kháng sinh ......................................................... 57
iv
4.4.4. Kết quả phân tích hormone Clenbuteron và Salbutamol trong thức ăn
chăn nuôi lợn .................................................................................................... 59
Phần 5. Kết luận và kiến nghị ...................................................................................... 62
Kết luận ............................................................................................................. 62
5.1.
Kiến nghị .......................................................................................................... 62
5.2.
Tài liệu tham khảo .......................................................................................................... 64
Phụ lục .......................................................................................................................... 69
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Nghĩa tiếng Việt
BNN&PTNT
: Bộ nông nghiệp và phát triên nông thôn
CBNM
: Công bố nhãn mác
cs.
: Cộng sự
CTV
: Cộng tác viên
CV
: Hệ số biến động
Cys
: Cyteine
HĐND
: Hội đồng nhân dân
KPH
: Không phát hiện
LMLM
: Lở mồm long móng
Lys
: Lysine
Met
: Metthione
NMBB
: Nhãn mác bao bì
QCVN
: Quy chuẩn Việt Nam
QLCLSP
: Quản lý chất lượng sản phẩm
TĂCN
: Thức ăn chăn nuôi công nghiệp
TNHH
: Trách nhiệm hữu hạn
TTCL
: Thanh tra chất lượng
UBND
: Ủy ban nhân dân
WTO
: Tổ chức thương mại thế giới
vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Tổng số Vi sinh vật tối đa cho phép trong thức ăn hỗn hợp hoàn
chỉnh cho lợn .............................................................................................................. 17
Bảng 2.2. Qui định hàm lượng Aflatoxin B1 và hàm lượng Aflatoxin tổng số
tối đa cho phép trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho lợn. ........................ 18
Bảng 2.3. Hàm lượng kháng sinh, hóa dược tối đa cho phép trong thức ăn hỗn
hợp hoàn chỉnh cho lợn ................................................................................ 22
Bảng 3.1. Dung lượng mẫu thức ăn được lấy trên địa các xã và các chỉ tiêu
kiểm tra chất lượng ...................................................................................... 34
Bảng 4.1. Tình hình phát triển chăn nuôi huyện giai đoạn 2010- 2015 ....................... 37
Bảng 4.2. Tình hình phát triển và biến động cơ cấu đàn lợn trên địa bàn huyện
Gia Lâm giai đoạn 2010 - 2015 ................................................................... 39
Bảng 4.3. Lượng tiêu thụ thức ăn công nghiệp dùng trong chăn nuôi lợn ở
huyện Gia Lâm chăn nuôi lợn ở huyện Gia Lâm ......................................... 41
Bảng 4.4. So sánh kết quả phân tích về giá trị dinh dưỡng và công bố trên bao
bì theo địa phương lấy mẫu .......................................................................... 49
Bảng 4.5. Kết quả phân tích mẫu sai phạm liên quan đến một số chỉ tiêu dinh
dưỡng quan tâm............................................................................................ 52
Bảng 4.6. Tỷ lệ mẫu vi phạm về một số chỉ tiêu vi sinh vật và độc tố nấm mốc ............... 54
Bảng 4.7. Kết quả phân tích về vi sinh vật và độc tố nấm mốc ................................... 55
Bảng 4.8. Kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng ................................................ 56
Bảng 4.9. Tỷ lệ mẫu vi phạm về hàm lượng một số loại kháng sinh được phân tích ....... 57
Bảng 4.10. Kết quả phân tích một số kháng sinh thức ăn chăn nuôi lợn ....................... 59
DANH MỤC HÌNH
Sơ đồ 4.1. Kênh phân phối thức ăn chăn nuôi ................................................................ 42
vii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Thị Thu Hương
Tên luận văn: “Tình hình quản lý chất lượng thức ăn dùng trong chăn nuôi lợn
trên địa bàn huyện Gia Lâm”.
Ngành: Chăn nuôi Mã số: 60.62.01.05
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu:
Đánh giá thực trạng sử dụng kinh doanh và quản lý chất lượng thức ăn chăn nuôi
trên địa bàn huyện Gia Lâm.
Nội dung nghiên cứu
- Thực trạng chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội.
- Thực trạng kinh doanh và quản lý chất lượng thức ăn chăn nuôi trên địa bàn
huyện Gia Lâm, Hà Nội.
- Đánh giá chất lượng dinh dưỡng và sự ô nhiễm vi sinh, kim loại nặng, một số
kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội.
Phương pháp nghiên cứu
Thực trạng chăn nuôi lợn, tình hình kinh doanh, sử dụng và chất lượng thức
ăn được tiến hành thông qua khảo sát đánh giá trên ba xã đại diện (Kim Sơn,
Dương Quang và Văn Đức) thuộc địa bàn huyện Gia Lâm từ tháng 7 năm 2015 đến
tháng 5 năm 2016.
Đối với thông tin liên quan đến thực trạng chăn nuôi, kinh doanh, sử dụng và quản lý chất lượng thức ăn chăn nuôi được tổng hợp từ số liệu thứ cấp do các cơ quan ban ngành quản lý cung cấp hoặc phỏng vấn trực tiếp. Về chất lượng thức ăn (nghiên cứu này chỉ đánh giá 5 chỉ tiêu dinh dưỡng: (Độ ẩm, Protein thô, Xơ thô, Ca), 4 chỉ tiêu vi sinh (Vi khuẩn hiếu khí tổng số, Salmonella, E.coli và Aflatoxin B1), 5 loại kháng sinh (Tylosin, Colistin, Oxytetracycline, Chlotetracycline và Chloramphenicol) và hai loại hormone nhóm Beta-Agonist (clenbuteron và Salbutamol) đã được phân tích bằng các phương pháp chuẩn.
Kết quả chính và kết luận
- Tỷ lệ mẫu thức ăn chăn nuôi không đạt yêu cầu tương đối cao không chỉ không đạt các chỉ tiêu dinh dưỡng, một số mẫu còn ô nhiễm vi sinh, kim loại và hàm lượng
viii
kháng sinh vượt giới hạn cho phép. Cụ thể 6/44 mẫu (13,63%) không đạt yêu cầu về chỉ tiêu liên quan đến dinh dưỡng (chủ yếu liên quan đến hai chỉ tiêu Protein và xơ thô của cám lợn dùng cho lợn choai và lợn thịt giai đoạn xuất chuồng). Ba mẫu ô nhiễm vi sinh vượt giới hạn, trong đó 2 mẫu vượt giới hạn vi sinh tổng số và một mẫu nhiễm độc tố nấm mốc. Đặc biệt, có 6/11 mẫu (54,5%) có chứa một trong 5 kháng sinh vượt giới hạn qui định. Không phát hiện Chloramphenicol (kháng sinh cấm) và hormone Salbutamol và Clenbuteron (hormone cấm).
ix
Master candidate: Nguyen Thi Thu Huong
Thesis title: “Quality management of commercial feed used for pig production in
Gia Lam District”.
Major: Animal Seience
Code: 60.62.01.05
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Objectives: Evaluation of the status of commercial, using and quality
management of feed used for pig production in Gia Lam district, Ha Noi.
Research contents:
- Pig prodution in Gia Lam district, Ha Noi.
- Business and management of feed quality in Gia Lam district, Ha Noi.
- Evaluation of the nutrition quality and contaminant of microbial, heavy metals and
several antibiotics in feed for pig production in Gia Lam district, Ha Noi.
Materials and Methods:
The research was conducted at three representative communs of Gialam district
(Kim Sơn, Dương Quang and Van Duc) from 7/2015 to 5/2016.
For the information of livestock, feed commercial, use and quality management were analyzed from the primary statistical data provided by functional units of the district or informations interviewed directly. For feed quality (in this research, just only five paramettres evaluat are dry matter, crude protein, fibre, Ca and P), 4 microbiological indicators (aerobic bacteria total, Salmonella, E.coli and Aflatoxin B1), 5 antibiotics (Tylosin, Colistin, Oxytetracycline, Chlotetracycline and Chloramphenicol) and two hormones of Beta-Agonist group (Salbutamol and Clenbuteron) were analyzed in using the standards methods.
Main findings and conclusions:
The rate of non complian feed samples was relatively high, not only did not meet the nutritional norms but also contaminant micro-organisation, heavy metals or the antibiotic concentrations exceeded in compare with regulation. Specifially, 6/44 (13.63%) samples were non compliant with nutrition paramettres (mainly related to crude protein and crude fiber for growing and fatterning pigs). Three samples were non compliant with the microbiological contamination (2 samples containt the microbial total more than limit, one sample were contaminated the microtoxin. In particular, 6/11 samples (54.5%) contained one of 5 antibiotics. Not detected Chloramphenicol (antibiotic banned) and Salbutamol and Clenbuteron (hormone banned) in the feed samples analyzed in this research.
THESIS ABSTRACT
x
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
Trước sức ép của người tiêu dùng và đòi hỏi của sự hội nhập về chất lượng, khả năng cạnh tranh của sản phẩm chăn nuôi nói chung và thịt lợn nói riêng, buộc ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng phải thay đổi cả về tư duy và phương thức sản xuất. Thực tế, trong những năm gần đây chăn nuôi lợn đã và đang phát triển cả về qui mô và tính chuyên hóa. Từ sản xuất nông hộ, phân tán, nhỏ lẻ và tận dụng, xuất hiện ngày càng nhiều cơ sở chăn nuôi sản
xuất theo hướng hàng hóa, tập trung và quy mô lớn.
Theo số liệu của Maps of Word, Việt Nam là một trong năm nước sản lượng thịt lợn lớn nhất Thế Giới. Định hướng phát triển đến năm 2020 chăn nuôi cơ bản chuyển sang phương thức trang trại, công nghiệp, đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu. Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đến năm 2020 đạt 42%. Chăn nuôi lợn tăng bình quân 2% và đến năm 2020 đạt 35
triệu con, trong đó đàn lợn ngoại nuôi tại các trang trại chiếm 37%.
Sự phát triển chăn nuôi lợn trong thời gian qua ngoài tác động do nhu cầu thị trường, định hướng và chính sách hỗ trợ của Chính phủ khuyến khích người chăn nuôi đầu tư sản xuất phát triển từ nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung theo hướng sản xuất hàng hóa còn có sự đóng góp của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
chăn nuôi. Từ cung cấp vật tư, thức ăn, con giống và các dịch vụ chăn nuôi.
Thực tế nghiên cứu và sản xuất đã cho thấy chất lượng thức ăn, thuốc thú y, hóa chất và các chế phẩm sinh học đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả chăn nuôi, chất lượng và sự an toàn của sản phẩm chăn nuôi. Chính vì vậy, thị trường thức ăn và các sản phẩm đầu vào khác ở nước ta trong thời gian qua phát triển mạnh và sôi động đã và đang thu hút được nhiều hãng và công ty sản xuất thức ăn trong và ngoài nước tham gia. Đây chính là động lực thúc đẩy sự cạnh tranh, thúc đẩy các công ty tích cực tìm các giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm qua đó thúc đẩy phát triển chăn nuôi. Tuy nhiên, do sự phát triển quá nhanh trong bối cảnh hệ thống giám sát quản lý chất lượng ở nước ta còn nhiều hạn chế cả về nguồn nhân lực và vật lực, đặc biệt hệ thống cơ sở còn yếu nên thực tế còn nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến chất lượng không chỉ ảnh hưởng đến vật nuôi, người chăn nuôi mà còn ảnh hưởng đến môi trường và người tiêu dùng.
1
Với vị trí thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế, văn hoá - xã hội, khoa học -
kỹ thuật với các huyện trong Thành phố và các tỉnh khác trong vùng, cùng với
nguồn nhân lực, đất đai dồi dào đã thúc đẩy huyện Gia Lâm trở thành khu đô thị
vệ tinh của Thành Phố- Hà Nội. Trong đó, tỉ trọng ngành chăn nuôi trong cơ cấu
ngành nông nghiệp đạt cao hơn so với bình quân chung của Thành phố và cả
nước. Chăn nuôi theo phương thức công nghiệp với quy mô lớn đang ngày càng
quan tâm đầu tư kéo theo sự gia tăng các dịch vụ, sử dụng và kinh doanh thức ăn
công nghiệp. Mặc dù chủ trương của UBND Thành phố cũng như huyện Gia
Lâm là định hướng qui hoạch phát triển vùng chăn nuôi trọng điểm, bền vững,
tạo thương hiệu sản phẩm sạch và an toàn cho người tiêu dùng nhưng việc kiểm
soát đầu vào đang gặp khó khăn. Đặc biệt, cho đến nay vẫn chưa có dẫn liệu một
cách khoa học và hệ thống về tình hình hoạt động kinh doanh và sử dụng thức ăn
công nghiệp, thuốc thú y trong chăn nuôi trên địa bàn huyện. Công tác quản lý
Nhà nước về chất lượng, hoạt động kinh doanh, buôn bán thức ăn công nghiệp,
thuốc thú y có đáp ứng được đòi hỏi và yêu cầu định hướng phát triển chăn nuôi
tập trung, hàng hóa hay không? Chất lượng thức ăn chăn nuôi có đảm bảo so với
yêu cầu hay chưa? Các chỉ tiêu chất lượng và an toàn có đúng như công bố hay
không? Đặc biệt các chỉ tiêu liên quan đến kháng sinh, chất cấm còn rất ít báo
cáo đánh giá…. Chính vì vậy, đây vẫn là vấn đề khó khăn đặt ra cho lãnh đạo và
phòng ban liên quan của huyện. Trước yêu cầu của thành phố về việc lập qui
hoạch phát triển vùng trọng điểm về chăn nuôi hàng hóa, cạnh tranh của huyện,
đặc biệt để có cơ sở cho việc xây dựng chuỗi sản xuất hàng hóa có truy xuất
nguồn gốc việc thực hiện đề tài “Tình hình quản lý chất lượng thức ăn dùng
trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Gia Lâm” là rất cần thiết.
Mục tiêu: nắm bắt được hiện trạng chăn nuôi lợn, thực trạng cung cấp kinh
doanh thức ăn chăn nuôi, công tác giám sát và thực trạng chất lượng thức ăn chăn
nuôi trên địa bàn huyện.
Ý nghĩa thực tiễn: kết quả đề tài sẽ là cơ sở cho việc xây dựng hệ thống
giám sát nhằm thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện ngày càng phát
triển theo hướng hàng hóa, cạnh tranh, an toàn và bền vững.
2
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI HUYỆN GIA LÂM
2.1.1. Điều kiện tự nhiên 2.1.1.1 Vị trí địa lý
Gia Lâm là huyện ngoại thành nằm ở cửa ngõ phía Đông Bắc của thành phố Hà Nội: phía Đông giáp tỉnh Hưng Yên; phía Tây giáp huyện Đông Anh, quận Long Biên và quận Hoàng Mai; phía Nam giáp huyện Thanh Trì và tỉnh Hưng Yên, phía Bắc giáp huyện Đông Anh và tỉnh Bắc Ninh.
Gia Lâm nhiều tuyến giao thông huyết mạch chạy qua như Quốc lộ 5, Quốc lộ 1, tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, các tuyến đường thủy trên sông Hồng, sông Đuống. Khi 2 tuyến giao thông huyết mạch là tuyến đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng và tuyến đường Hà Nội - Hưng Yên chạy qua huyện được hoàn thành đưa vào sử dụng thì Gia Lâm càng thuận lợi hơn trong phát triển kinh tế và giao lưu thương mại.
Huyện Gia Lâm có vị trí địa lý hết sức thuận lợi trong phát triển kinh tế-xã hội và giao lưu thương mại. Khu vực nông thôn huyện Gia Lâm là địa bàn hấp dẫn các nhà đầu tư do có những lợi thế về địa lý kinh tế. Chính vì vậy, Gia Lâm được nhận định là một trong những địa phương cấp huyện phát triển nhanh và năng động trong tương lai.
2.1.1.2. Diện tích tự nhiên và đặc điểm địa hình
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 11.472,99 ha, Huyện Gia Lâm thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, có địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam theo hướng chung của địa hình và theo hướng dòng chảy của sông Hồng. Tuy vậy, địa hình của huyện cũng khá đa dạng, làm nền tảng cho cảnh quan tự nhiên, tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế, xây dựng các công trình hạ tầng dân dụng và khu công nghiệp, đảm bảo yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của huyện.
2.1.1.3. Khí hậu, thời tiết
Huyện Gia Lâm mang các đặc điểm chung của khí hậu, thời tiết vùng
đồng bằng châu thổ sông Hồng:
- Một năm chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa nóng ẩm kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô hanh kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Giữa 2 mùa nóng ẩm và mùa khô hanh có các thời kỳ chuyển tiếp khí hậu tạo ra một dạng khí hậu 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
3
- Nhiệt độ không khí trung bình năm 23,5oC, mùa nóng nhiệt độ trung
bình tháng đạt 27,4oC.
- Lượng mưa trung bình năm 1400-1600 mm. Mưa tập trung vào mùa
nóng ẩm từ tháng 5 đến tháng 9, mưa nhiều nhất vào tháng 7 và tháng 8.
- Hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Nam và gió mùa Đông Bắc. Gió mùa Đông Nam bắt đầu vào tháng 5, kết thúc vào tháng 10 mang theo nhiều hơi nước từ biển vào gây nên những trận mưa rào, đôi khi bị ảnh hưởng của gió bão, áp thấp nhiệt đới kèm theo mưa lớn gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống. Gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thường gây ra lạnh và khô ở những tháng đầu mùa, lạnh và ẩm ướt vào tháng 2, tháng 3 do có mưa phùn. Đôi khi có sương mù, rét đậm trong các tháng 12 và tháng 1 gây ra những thiệt hại
cho sản xuất, chăn nuôi.
Các đặc điểm khí hậu, thời tiết cho phép huyện Gia Lâm phát triển một nền nông nghiệp đa dạng: Nông sản Nhiệt đới, Cận nhiệt đới có thể sản xuất vào mùa Hạ, nông sản Á nhiệt đới có thể sản xuất vào mùa Xuân, mùa Thu, nông sản Ôn đới có thể sản xuất vào mùa Đông, mùa Xuân song cũng gây ra những thiệt
hại đáng kể cho sản xuất và đời sống khi thời tiết bất thuận.
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội 2.1.2.1. Tình hình kinh tế
Huyện Gia Lâm sau khi điều chỉnh địa giới hành chính theo Nghị định số 132/2003/NĐ-CP có 22 đơn vị hành chính cấp xã gồm 2 thị trấn: và 20 xã. Trong những năm qua, kinh tế huyện Gia Lâm có những bước phát triển mạnh mẽ. Bộ mặt nông thôn có những bước phát triển khởi sắc: Chất lượng cuộc sống người dân ngày càng được nâng lên; các ngành kinh tế tăng trưởng khá; cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch tích cực; cơ giới hóa có bước tiến bộ; kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội nông thôn ngày càng hoàn thiện; đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn được cải thiện nhanh; hệ thống chính trị cơ sở được tăng cường, quyền dân chủ được phát huy, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nông thôn được giữ vững. Các mục tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế cơ bản đã hoàn thành, giá trị các ngành kinh tế tăng bình quân hàng năm 10,08%, Công nghiệp
thương mại , dịch vụ tăng 34,6%. Nông, lâm nghiệp – thủy sản tăng 13,59%.
Phát triển kinh tế xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn của Thành phố Hà Nội, đang được Thành ủy, HĐND, UBND thành phố đặc biệt quan tâm.
4
Ngày 25/05/2010 UBND thành phố đã phê duyệt đề án “Xây dựng nông thôn mới thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2020, định hướng đến năm 2030. Do vậy, việc nghiên cứu lập đề án “Xây dựng nông thôn mới huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2020, định hướng 2030” là công việc quan trọng và mang tính cấp bách. Đến nay đã có 7 xã được công nhận xã đạt chuẩn Nông thôn mới, 9 xã cơ bản đạt 15-18 tiêu trí, 4 xã đạt 10-14 tiêu trí. Thu nhập bình quân đầu người trên đại bàn đạt 32,7 triệu đồng/ năm ( chỉ tiêu 27 triệu đồng) tăng 5,7 triệu
đồng so vớ mục tiêu đề ra.
2.1.2.2. Điều kiện về xã hội.
Dân số toàn huyện đến 31/12/2010 là 237.970 người. Tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2006-2010 là 2,05%/ năm. Lực lượng lao động khá dồi dào, chất
lượng nguồn lao động tương đối khá.
* Cơ sở hạ tầng
Công tác đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng được gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và đầu tư theo hướng đô thị. Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 11.472,99 ha, trong đó 20 xã nông thôn có tổng diện tích tự nhiên
là 10.646,54 ha, chiếm 92,8% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện.
Nông thôn huyện Gia Lâm chịu ảnh hưởng rất mạnh của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nên đất sản xuất nông nghiệp giảm mạnh làm cho một bộ phận người dân nông thôn bị mất đất sản xuất. Trong điều kiện đất chưa sử dụng không còn nhiều, việc tìm kiếm các giải pháp tạo việc làm cho người dân nông thôn và thúc đẩy chuyển dịch lao động nông nghiệp sang các lĩnh vực phi
nông nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và cấp bách.
* Tài nguyên nước
Gia Lâm có 2 con sông lớn chảy qua là sông Hồng và sông Đuống. Đây là 2 con sông có trữ lượng nước khá lớn, là nguồn chính đáp ứng yêu cầu về nguồn
nước ngọt phục vụ phát triển sản xuất và đời sống dân sinh.
- Giao thông
Nhìn chung, hệ thống giao thông của huyện Gia Lâm hiện nay đã cơ bản đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội hiện tại nhưng với tốc độ đô thị hóa nhanh thì hệ thống giao thông nông thôn sẽ trở nên bất cập, cần tiếp tục được đầu
tư xây dựng và cải tạo nâng cấp.
5
- Thủy lợi
Hệ thống kênh mương phục vụ sản xuất do các xã, đã kiên cố hóa .Hệ
thống kênh tiêu thoát nước, nhất là hệ thống kênh tiêu thoát nước tiểu vùng Nam
Đuống như các tuyến kênh tiêu vào sông Cầu Bây ra cống Xuân Thụy; các tuyến
kênh tiêu vào sông Kiên Thành ra cống Tân Quang; các tuyến kênh tiêu ra cống
Hoàng Xá .
+ Số trạm bơm do xã quản lý tại 20 xã hiện có 47 trạm bơm tưới, 3 trạm bơm
tiêu, kết hợp với các công trình thủy lợi do Xí nghiệp đầu tư phát triển thủy lợi đã
đảm bảo tiêu chủ động cho 3.023,2 ha gieo trồng.
- Mạng lưới điện: Hệ thống lưới điện đã từng bước được đầu tư xây dựng
mới và cải tạo, nâng cấp nên đã phát huy hiệu quả trong truyền tải và phân phối,
cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất, dân sinh và quản lý. Đến nay có 100% số xã sử
dụng điện lưới, 100% số hộ được sử dụng điện thường xuyên, an toàn.
- Văn hóa- xã hội
Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tiếp tục được triển
khai có hiệu quả theo hướng nâng cao chất lượng. Thực hiện các quy ước, quy
chế các mô hình văn hóa được triển khai tích cực. Công tác quản lý lễ hội được
tăng cường chặt chẽ, các hoạt động lễ hỗi diễn ra vui tươi, an toàn có tác dụng
giáo dục truyền thống văn hóa sâu sắc. Công tác quản lý trùng, tu tôn tạo di tích
lịch sử văn hóa được đầu tư và tăng cường. Đặc biệt Lễ hội Gióng được
UNESCO công nhận là văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và di tích đền
Gióng được công nhận là cụm di tích quốc gia đặc biệt.
+Y tế: Bệnh viện đa khoa Gia Lâm mới được xây dựng đầu tư trang thiết
bị hiện đại với tiêu chuẩn là bệnh viện của khu vực,cùng với sự có mặt của ba
Phòng khám đa khoa khu vực, 22 xã đều có trạm y tế xã , 43 cơ sở tư nhân
khám chữa bệnh cơ bản đã đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân
trong huyện.
+ Giáo dục: Trong những năm qua huyện và nhân dân đã không ngừng xây
dựng đầu tư mới nhiều trường học nhiều trường học khang trang sạch sẽ, phần
lớn các trường đều đạt trường chuẩn quốc gia. Tổng số có 22 trường mầm non,
22 trường tiểu học, 20 trường trung học cơ sở, 6 trường Trung học phổ thông, 1
trường Trung học bổ túc, 1 trường Đại học, 1 Học Viện, 1 Trung tâm dạy nghề.
6
2.2. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỨC ĂN TRONG CHĂN NUÔI LỢN
2.2.1. Thức ăn chăn nuôi và thức ăn công nghiệp
- Thức ăn chăn nuôi
Đã có rất nhiều khái niệm và định nghĩa về thức ăn chăn nuôi theo Pond et al. ( 1995) đã đưa ra khái niệm về chất dinh dưỡng như sau: chất dinh dưỡng là một nguyên tố hay một hợp chất hóa học mà có thể giữ được sự sinh trưởng, sinh sản, cho sữa một cách bình thường hoặc duy trì sự sống nói chung. Theo đó, thức ăn được định nghĩa là: một vật liệu có thể ăn được nhằm cung cấp chất dinh dưỡng. Có định nghĩa cho rằng tất cả những gì mà con gia súc ăn vào hoặc có thể ăn vào được mà có tác dụng tích cực đối với quá trình trao đổi chất thì gọi là thức ăn gia súc. Một định nghĩa khác cũng được nhiều người chấp nhận đó là “ Thức ăn là sản phẩm của thực vật, động vật, khoáng vật và các chất tổng hợp khác, mà động vật có thể ăn, tiêu hóa, hấp thu để duy trì sự sống, phát triển và tạo ra sản phẩm” (Lê Đức Ngoan và cs., 2004).
Thức ăn chăn nuôi là những nguyên liệu có nguồn gốc thực vật, động vật, vi sinh vật và hóa học mà nó có chứa các chất dinh dưỡng ở dạng cơ thể hấp thụ được và không gây ra những tác động có hại đến sức khỏe vật nuôi, chất lượng sản phẩm của chúng. Những nguyên liệu này phải chứa các chất dinh dưỡng ở dạng có thể hấp thu để trong quá trình tiêu hóa sẽ được vật nuôi sử dụng cho nhu cầu duy trì, xây dựng các mô, cơ quan và điều hòa trao đổi chất. Những nguyên liệu có chứa các chất độc, các chất có hại cũng có thể được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi sau khi đã khử hoặc làm vô hoạt hoàn toàn các yếu tố gây độc, gây hại cho sức khoẻ vật nuôi, cho thế hệ sau và cho sản phẩm
của chúng (Bùi Quang Tuấn, 2010).
Nghị định số 08/NĐ-CP ngày 5 tháng 2 năm 2010 của Chính phủ thì thức ăn chăn nuôi là những sản phẩm mà vật nuôi ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản, bao gồm: nguyên liệu thức ăn chăn nuôi hay thức ăn đơn, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh, thức ăn đậm đặc, thức ăn bổ sung, phụ gia thức ăn
chăn nuôi, premix, hoạt chất và chất mang.
Theo Qui chuẩn Việt Nam (QCVN 01-104: 2012/BNNPTNT) thì thức ăn chăn nuôi là những sản phẩm mà vật nuôi ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản. Bao gồm: nguyên liệu thức ăn chăn nuôi hay thức ăn đơn, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh, thức ăn đậm đặc, thức ăn bổ sung và phụ gia
thức ăn chăn nuôi.
7
- Thức ăn chăn nuôi công nghiệp
Thức ăn chăn nuôi công nghiệp (TĂCN) là thức ăn chăn nuôi được chế biến và sản xuất bằng các phương pháp công nghiệp. Thuật ngữ “công nghiệp” nhằm ám chỉ phương pháp sản xuất công nghiệp có liên quan đến máy móc, thiết bị,
dây chuyền sản xuất theo quy mô công nghiệp.
Thức ăn công nghiệp chủ yếu là thức ăn hỗn hợp, là loại thức ăn đã được
chế biến sẵn, do một số loại thức ăn phối hợp với nhau tạo thành. Thức ăn hỗn
hợp hoặc có đầy đủ tất cả các chất dinh dưỡng thỏa mãn nhu cầu của con vật,
hoặc chỉ có một số chất dinh dưỡng nhất định để bổ sung cho con vật. Thức ăn
hỗn hợp gồm có 2 loại chính: thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn hỗn hợp
đậm đặc và ngoài ra còn có thức ăn hỗn hợp bổ sung (Lê Hồng Mận và Bùi Đức
Lũng, 2003).
Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh là hỗn hợp của nhiều loại nguyên liệu thức ăn,
được phối chế theo công thức nhằm đảm bảo có đủ các chất dinh dưỡng để duy
trì khả năng sống và khả năng sản xuất của vật nuôi theo từng giai đoạn sinh
trưởng hoặc chu kỳ sản xuất mà không cần thêm bất kì loại thức ăn nào khác
ngoài nước uống. Loại thức ăn này có 2 dạng là dạng bột hoặc dạng viên.
Vũ Duy Giảng và cs. (1997) cho rằng “ Khi gia súc, gia cầm sử dụng thức
ăn hỗn hợp dạng viên sẽ có nhiều ưu thế hơn khi sử dụng thức ăn hỗn hợp dạng
bột. Thứ nhất, khi ăn thức ăn dạng viên sẽ giảm được lượng thức ăn rơi vãi tới
10-15% so với thức ăn hỗn hợp dạng bột. Thứ hai là giảm được thời gian cho ăn,
dễ cho ăn. Thứ ba thức ăn viên còn tránh được sự lựa chọn thức ăn ép con vật ăn
theo nhu cầu dinh dưỡng đã định. Thứ tư thức ăn viên còn làm giảm được không
gian dự trữ, giảm dung tích máng ăn, dễ bao gói, dễ vận chuyển và bảo quản lâu
không hỏng. Thứ năm thức ăn viên khi cho gia súc ăn không bụi, tránh được
những triệu chứng bụi mắt, bệnh đường hô hấp. Thứ sáu dưới tác dụng cơ giới
nhiệt độ và áp suất trong khi ép viên kết cấu ligin và cellulosen có trong thức ăn
sẽ bị phá vỡ, từ đó làm tăng khả năng tiêu hóa tinh bột và chất sơ ở vật nuôi. Ép
viên còn làm chậm khả năng oxy hóa của các Vitamin tan trong dầu mỡ và tiêu
diệt phần lớn các vi sinh vật, nấm mốc và một số mầm bệnh…”.
Theo Denixov (1971) cho rằng “ Thức ăn hỗn hợp dạng viên có lợi cả về quy trình chế biến và hiệu qủa kinh tế. Thức ăn hỗn hợp dạng viên dễ bảo quản hơn, dùng bể vỗ béo cho gia súc, gia cầm thì khả năng khối lượng cơ thể cũng cao hơn”.
8
Chính nhờ những ưu điểm trên mà hiện nay trên thế giới thức ăn hỗn hợp dạng
viên chiếm 60-70% tổng lượng thức ăn hỗn hợp (Vũ Duy Giảng và cs., 1997).
Bên cạnh những ưu điểm trên thức ăn hỗn hợp dạng viên cũng có các nhược
điểm mà chúng ta cấn lưu ý khi sử dụng: Thứ nhất là giá thành của thức ăn dạng
viên cao hơn thức ăn dạng bột do phải tốn chi phí cho quá trình ép viên. Thứ hai
nhiệt trong quá trình ép viên cao cũng làm phân hủy một số Vitamin từ nguyên
liệu” (Vũ Duy Giảng và cs., 1997). Thức ăn đậm đặc là hỗn hợp các nguyên liệu
thức ăn chăn nuôi có hàm lượng các chất dinh dưỡng cao hơn nhu cầu vật nuôi
và để pha trộn với các nguyên liệu khác tạo thành thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh.
Thức ăn đậm đặc là hỗn hợp thức ăn giàu dinh dưỡng, đặc biệt là protein,
khoáng chất và các vitamin. Ngoài ra thức ăn còn được bổ sung thêm kháng sinh,
thuốc phòng bệnh. Nồng độ các chất dinh dưỡng trong thức ăn hỗn hợp đậm đặc
thường cao hơn so với nhu cầu vật nuôi. Khi sử dụng thức ăn hỗn hợp đậm đặc
phải tuân theo hướng dẫn ghi trên nhãn mác hàng hóa. Người chăn nuôi khi mua
thức ăn hỗn hợp đậm đặc về đem trộn với các nguồn thức ăn tinh bột như ngô,
cám gạo, tấm… để tạo thành thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh. Thức ăn hỗn hợp đậm
đặc rất tiện lợi cho việc chế biến thủ công, chăn nuôi gia đình với quy mô nhỏ,
tận dụng các nguồn nguyên liệu phế phụ phẩm sẵn có tại địa phương để giảm chi
phí về thức ăn.
2.2.2. Vai trò của thức ăn công nghiệp
Thức ăn là vật chất chứa đựng chất dinh dưỡng mà động vật có thể ăn và hấp thu được các chất dinh dưỡng đó để duy trì sự sống, xây dựng cấu trúc cơ thể. Thức ăn là cơ sở để cung cấp chất dinh dưỡng cho quá trình trao đổi chất của động vật. Nếu không có thức ăn thì không có trao đổi chất, khi đó động vật sẽ chết. Thức ăn có vai trò quyết định đến năng suất, sản lượng, hiệu quả của nghề
chăn nuôi (Trịnh Khắc Vịnh, 2010).
TĂCN ra đời đã tạo bước ngoặt lớn, góp phần tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công cuộc nâng cao hiệu quả năng suất cho ngành chăn nuôi. Vai trò của
nó đã được thể hiện ở các điểm sau:
TĂCN dù là dạng bột hay dạng viên đều đã mang lại hiệu quả rõ rệt cho người chăn nuôi, nhất là đối với các trang trại có quy mô chăn nuôi trung bình và lớn. Ngay cả các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ khi sử dụng TĂCN cũng đã mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Bởi vì thức ăn này không những được phối trộn và cân đối
9
đầy đủ các chất dinh dưỡng, vitamin và chất khoáng, thích hợp cho từng giai đoạn phát triển của con lợn mà còn được bổ sung các chất hấp phụ độc tố nấm mốc, các chất chống oxy hóa, các men tiêu hóa và các chất phòng bệnh... (Nguyễn Thiện và cs, 2005). Kết quả thu được trong chăn nuôi trên thế giới và trong nước đã cho thấy việc sử dụng TĂCN hoàn chỉnh và thức ăn bổ sung đã tăng năng suất các sản phẩm chăn nuôi đồng thời hạ mức chi phí thức ăn trên một đơn vị sản phẩm. Chăn nuôi bằng TĂCN sản xuất theo các công thức được tính toán có căn cứ khoa học là đưa các thành tựu phát minh về dinh dưỡng động vật vào thực tiễn sản xuất một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất (Lê Hồng Mận và
Bùi Đức Lũng, 2003).
- Góp phần thay đổi tập quán chăn nuôi: từ khi TĂCN ra đời đã làm cho
hình thức chăn nuôi truyền thống nhỏ lẻ (tận dụng các nguồn thức ăn sẵn có, phế
phẩm nông nghiệp, chế biến, sinh hoạt…để chăn nuôi) đã giảm xuống đáng kể.
Thay vào đó là hình thành ngày càng nhiều hơn các trang trại, gia trại, các hộ
chăn nuôi có quy mô lớn, đảm bảo được đúng quy trình kỹ thuật mang lại hiệu
quả cao nhất trong chăn nuôi.
- Thúc đẩy năng suất trong chăn nuôi: Trước đây, chăn nuôi nông hộ truyền
thống, phân tán, nhỏ lẻ, thủ công chủ yếu tận dụng nguồn thức ăn sẵn có từ phụ
phẩm nông nghiệp, chế biến hoặc trong sinh hoạt… nên sự phát triển vật nuôi
không ổn định, năng suất chăn nuôi thấp. Ngày nay, trên cơ sở các nghiên cứu
chuyên sâu về dinh dưỡng không chỉ cho từng loại vật nuôi và còn có các thông
tin về nhu cầu từng giai đoạn phát triển phục vụ thiết kế, phối hợp khẩu phần phù
hợp, chính xác giúp nâng cao năng suất chăn nuôi tạo một bước chuyển biến đột
phá cho sự phát triển của ngành chăn nuôi.
Sử dụng TĂCN thuận tiện, giảm chi phí sản xuất trong các khâu cho ăn,
chế biến, bảo quản và giảm lao động, sử dụng ít thức ăn nhưng mà cho năng suất
cao đem lại hiệu quả cao trong chăn nuôi.
Ngoài việc góp phần thúc đẩy tăng trưởng của vật nuôi mà nó còn đóng
vai trò quan trọng trong việc làm tăng hiệu quả cho ngành chăn nuôi, cụ thể là
giảm công lao động chăn nuôi trên một khối lượng sản phẩm chăn nuôi nhất
định. Vì theo phương thức chăn nuôi truyền thống thì nguồn thức ăn của vật nuôi
phải được nấu chín, lượng thức ăn tiêu tốn nhiều nên mất nhiều thời gian cho
việc phục vụ chăn nuôi. Thay vào đó, ngày nay khi sử dụng TĂCN thì các công
10
đoạn đó đã được loại bỏ cho nên lượng lao động được sử dụng ít hơn. Như vậy,
năng suất lao động đã tăng lên cả về số lượng sản phẩm tạo ra và hiệu quả của
việc sử dụng lao động.
TĂCN có giá trị dinh dưỡng phù hợp với tuổi gia súc, phù hợp với hướng
sản xuất của gia súc thỏa mãn các yêu cầu về quản lý và kinh tế chăn nuôi góp
phần thay đổi cơ cấu nông nghiệp, hiện đại hóa nền sản xuất nông nghiệp (Lê
Đức Ngoan và cs., 2004)
Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Nhờ có TĂCN mà lượng lao động
được sử dụng trong ngành chăn nuôi đã giảm đi rất nhiều, từ đây đã tạo ra một
nguồn lực lớn cho các ngành khác. Như đã biết, ngành nông nghiệp nói chung có
tính đặc thù là phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, nó chiếm một diện tích
rộng cho nên khả năng gặp rủi ro là rất lớn và đây chính là nguyên nhân dẫn đến
lao động chỉ mang tính thời vụ và không đảm bảo ổn định. Cho nên, việc phát
triển chăn nuôi có vai trò rất lớn để đảm bảo ổn định lao động, tránh được thời
gian nông nhàn và nâng cao mức thu nhập cho người lao động.
- Giảm sức nặng cung cầu: Trước đây, khi còn trong giai đoạn chăn nuôi
nhỏ lẻ thì hàng hoá là các sản phẩm chăn nuôi luôn ở mức cung không đủ cầu
nên giá cả trong sử dụng là không phù hợp và thường xuyên biến động chưa có
tính ổn định. Ngày nay, khi chăn nuôi đã có định hướng quy hoạch và đang trên
đà phát triển thì sản phẩm chăn nuôi có nhiều hơn, phong phú và đa dạng hơn
trên thị trường giúp cho người tiêu dùng sử dụng thoải mái, luôn có nhiều sự lựa
chọn hơn nữa người chăn nuôi đã tập trung đầu tư sản xuất loại sản phẩm mà thị
trường có nhu cầu. Nhưng cơ bản nhất, là nó thúc đẩy phát triển chăn nuôi mạnh
để tạo ra năng suất của sản phẩm, nhằm mục đích làm giảm sức nặng cung cầu
cho thị trường.
2.2.3. Đặc điểm của một số nguyên liệu chính dùng để phối trộn thức ăn công nghiệp trong chăn nuôi lợn
Dinh dưỡng thức ăn công nghiệp là một trong những yếu tố quyết định tới năng suất chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng. Muốn thức ăn có chất lượng tốt thì cần phải có các loại nguyên liệu đảm bảo các chỉ tiêu dinh dưỡng theo quy định. Trong phạm vi của đề tài này chúng tôi chỉ đề cập tới một số nguyên liệu chính sử dụng phối trộn thức ăn chăn nuôi lợn là nhóm các nguyên
liệu giàu năng lượng và nhóm các nguyên liệu giàu Protein.
11
Nhóm thức ăn giàu năng lượng
Tất cả các loại thức ăn có hàm lượng protein dưới 20% và xơ thô dưới 18% được xếp vào nhóm thức ăn giàu năng lượng (Irma, 1983; Kellem and Church, 1998). Nhóm thức ăn giàu năng lượng bao gồm các loại hạt ngũ cốc như ngô, lúa mỳ, cao lương..., các phụ phẩm của ngành xay xát như: tấm, cám, gạo..., các loại thức ăn củ như sắn, khoai lang, khoai tây...và các chất dầu mỡ.
Dưới đây là một số nguyên liệu chính:
* Ngô
Ngô là loại hạt quan trọng nhất dùng trong thức ăn chăn nuôi. So với các loại
thức ăn ngũ cốc khác thì ngô là loại thức ăn giàu năng lượng (1kg hạt ngô có từ 3200 -
3300 Kcal ME). Ngô chứa 65% tinh bột, hàm lượng xơ thấp từ 2- 6%, protein thô dao
động từ 8 - 13% tính theo vật chất khô (Vũ Duy Giảng và cs., 1997).
Axit amin hạn chế nhất trong ngô là Lysine. Gần đây người ta đã tạo ra được
một số giống ngô mới giàu axit amin hơn, như giống Oparque-2 có hàm lượng Lysine
cao hơn nhiều so với ngô bình thường, song vẫn nghèo Metthione .Một giống ngô
mới nữa là Floury - 2 có hàm lượng Lysine và Metthione cao hơn giống ngô Oparque
- 2. Nếu dùng loại ngô này thì không cần bổ sung thêm Metthione (NRC, 1994).
Hàm lượng Lipit của ngô có từ 3 - 6%, chủ yếu là các loại axit béo chưa
no, ngoài ra ngô còn chứa một hàm lượng đáng kể carotene (tiền vitamin A) và
sắc tố màu xantophyll.
Nhược điểm chính khi dùng ngô là nguy cơ nhiễm aflatoxin từ nấm mốc Aspergillus flavus, Aspergillus parasiticus, nhất là với ngô tại các vùng được thu hoạch trong mùa mưa không đủ điều kiện phơi hoặc sấy khô đúng mức. Theo nghiên cứu của Nguyễn Chí Hanh (1996) thì khi bắt đầu đưa ngô vào bảo quản, ngô đã bị nhiễm nấm mốc (100.003 khuẩn lạc/gam) nhưng chưa xuất hiện aflatoxin. Sau 2 tháng bảo quản đã xuất hiện aflatoxin ở mức thấp (40mg/kg). Mức độ nhiễm nấm mốc, độc tố tăng dần và đạt mức cao sau 5 tháng bảo quản (200.103 khuẩn lạc/gam và 553,2 mg aflatoxin/1 kg hạt). Trong vụ hè thu, khi bảo quản ngô hạt thì sự biến đổi thành phần hóa học và sự sản sinh aflatoxin thấp hơn khi bảo quản trong vụ đông xuân. Bên cạnh đó, trong ngô còn chứa hàm lượng bột đường và mỡ cao nên ngô rất dễ bị mọt phá hoại. Mọt xuất hiện nhiều nhất trong ngô ở giai đoạn chuyển từ khô hanh sang nóng ẩm. Trong 10 -15 ngày, mọt có thể ăn
hỏng toàn bộ kho ngô hàng chục tấn (Đào Văn Huyên, 1995).
12
Với những đặc tính như trên, nếu ngô không bị nhiễm nấm mốc thì có thể được sử dụng tối đa làm nguồn cung cấp năng lượng trong khẩu phần thức ăn
cho lợn cho đến khi nào giá cả còn chấp nhận được.
* Cám gạo
Cám gạo là ngành thực phẩm của ngành xay xát gạo. Lượng cám thu được
bình quân là 10% khối lượng lúa (Dương Thanh Liêm, 2005). Việt Nam hiện có sản
lượng gạo xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới nên nguồn cám gạo rất dồi dào.
Cám gạo là sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Trong cám gạo có chứa khoảng 10 - 13% protein thô, 10 - 15% lipit thô, 8 - 9% xơ thô và 9 - 10% khoáng tổng số. Ngoài ra, trong cám gạo còn rất giàu vitamin nhóm B1. Trong 1kg cám gạo có 22,2 mg vitamin B1; 13,1 mg vitamin B6 và 0,43 mg Biotin (Vũ Duy Giảng, 1996).
Cám gạo chứa khoảng 14 - 18% là dầu. Vì vậy cám gạo có mùi thơm ngon
và lợn rất thích ăn. Nhưng đây cũng chính là nhược điểm của cám, bởi vì trong
dầu cám có men Lipaza làm phân giải các axit béo không no nên dễ làm cho mỡ
bị ôi thiu, giảm chất lượng của cám, khi đó cám sẽ trở nên đắng và khét. Trong
cám gạo hàm lượng photpho cao hơn hàm lượng canxi gấp 10 lần nhưng lại có
tới 70% photpho ở dạng phytin không hấp thu được.
* Hạt mì và cám mì
Lúa mì là loại cây lương thực trồng phổ biến ở các vùng ôn đới. Tùy theo
màu sắc của hạt có các màu đỏ nâu, trắng và tía. Các loại hạt hoặc cám của hạt
lúa mì có thể dùng trong thức ăn chăn nuôi. Hạt mì và cám mì có hàm lượng đạm
thô khoảng 14 - 16% (Dương Thanh Liêm, 2005). Hạt mì và cám mì có hàm
lượng NSP cao nên khó tiêu hóa, nhất là với gà. Khi sử dụng cần kèm theo các
enzyme tiêu hóa NSP để làm tăng giá trị dinh dưỡng.
Nhóm thức ăn giàu protein
Theo Irma (1983), Kellems and Church (1998), thức ăn giàu protein là tất
cả các loại thức ăn có hàm lượng protein trên 20%, xơ thô dưới 18%. Thức ăn
giàu protein gồm hai loại là thức ăn giàu protein có nguồn gốc động vật như: bột
cá, bột thịt xương, bột máu…và thức ăn giàu protein có nguồn gốc từ thực vật
như: hạt đỗ tương, hạt lạc, hạt vừng, hạt đậu xanh, khô dầu đỗ tương, khô dầu
lạc, khô dầu dừa, khô dầu hướng dương…
13
a, Nhóm thức ăn giàu protein có nguồn gốc động vật
Thức ăn giàu protein có nguồn gốc động vật thường có giá trị sinh học cao,
khả năng tiêu hóa và hấp thu tốt hơn so với thức ăn protein có nguồn gốc thực vật.
Phần lớn chúng là những nguồn protein khá cân đối các axit amin cần thiết.
* Bột cá
Việt Nam có bờ biển dài trên 3000 km nên có vùng biển đánh bắt cá rộng
lớn cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến bột cá. Cùng với hàm lượng
và chất lượng protein cao, bột cá còn là nguồn cung cấp rất tốt các chất khoáng
(canxi, photpho, khoáng vi lượng) và vitamin. Bột cá cũng tạo độ ngon miệng
cao cho thức ăn lợn, gà (Dương Thanh Liêm, 2005).
Bột cá rất giàu protein, chất lượng protein cao. Loại bột cá tốt chứa không
thấp hơn 60% protein, tỷ lệ axit amin cân đối, có nhiều axit amin chứa lưu huỳnh.
Trong 1kg bột cá có chứa 52g Lysine, 15 - 20g Metthione, 8- 10g
Cysteine, giàu canxi, photpho với tỷ lệ tương đối cân đối (canxi khoảng 6 - 7%, photpho khoảng 4%), giàu vitamin B12, B1 ngoài ra còn có cả vitamin A và D.
Từ nhiều kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học nhận định protein trong
bột cá có giá trị sinh học cao. Trong bột cá có đủ các axit amin không thay thế,
dễ tiêu hóa như Metthione, Cystein, Lysine, Threonine, Tryptophan. Theo Fin
(2000), hàm lượng Lysine trong bột cá trích (herring) là 6,1%, gần gấp đôi so với
hàm lượng Lysine có trong bột đỗ tương (3,1%) và gần gấp ba so với hàm lượng
Lysine có trong bột sữa (2,5%). Tác giả cũng cho biết hàm lượng Metthione và
Cysteine trong bột cá (2,6 - 2,9%) cao hơn trong đỗ tương (1,5%). Sự có mặt của
bột cá trong khẩu phần sẽ khắc phục được sự thiếu hụt các axit amin này khi sử
dụng khẩu phần có nguồn gốc protein thực vật là chính.
Khi so sánh protein bột cá với một số nguồn protein khác, Fin (2000) cho
biết: hàm lượng protein thô của bột cá cao hơn hẳn các loại thức ăn khác, bột cá
Chile có hàm lượng protein thô là 73%, bột cá trích là 77%; trong khi đỗ tương
chỉ ở mức 35% protein thô, bột sữa là 37% protein thô. Không chỉ có thế, hàm
lượng protein dễ tiêu hóa ở bột cá cũng tương đối cao (69 - 72%), đỗ tương là
32%, bột sữa là 33%. Như vậy, cả về lượng và chất, protein của bột cá đều hơn
hẳn protein của các loại thức ăn khác.
14
Chất lượng bột cá phụ thuộc rất nhiều vào loại cá và các bộ phận của cá
đem chế biến. Nếu bột cá chế biến từ loại cá nhỏ hoặc đầu cá, vây cá thì hàm
lượng protein rất thấp (20 - 25%), trong khi đó bột cá được chế biến từ cá lớn thì
hàm lượng protein trên 60%. Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN, 2005 về TACN)
thì bột cá loại 1 không thấp hơn 60% protein, loại 2: không thấp hơn 50% protein
và loại 3: không thấp hơn 40% protein.
Ở nước ta chất lượng của bột cá đang là vấn đề cần được quan tâm. Do
phương tiện đánh bắt cá khác nhau nên chất lượng bột cá cũng bị ảnh hưởng. Với
những tàu thuyền nhỏ không có hầm lạnh bảo quản cá trong thời gian dài đánh
bắt cá ngoài khơi nên ngư dân phải bảo quản bằng cách ướp muối. Điều này làm
cho hàm lượng muối ăn trong các loại bột cá này thường rất cao, có khi lên đến
20 -30%. Do đó nếu cho lợn sử dụng loại bột cá này thì không những không có
lợi mà còn làm cho chúng bị ngộ độc. Vì vậy trước khi dùng bột cá để xây dựng
khẩu phần cần phải tiến hành phân tích thành phần dinh dưỡng của nó, nhất là
hàm lượng muối.
* Bột thịt, bột thịt xương
Đây là sản phẩm từ lò mổ gia súc bao gồm tất cả phần còn lại của động vật
không dùng làm thức ăn cho người được như: phổi, ruột già, gân, móng, lông và có
thể cả xương. Nếu có cả xương thì được gọi là bột thịt xương (Dương Thanh Liêm,
2005). Bột thịt và bột thịt xương có thể sản xuất ở hai dạng là khô và ẩm. Ở dạng
khô, các nguyên liệu được đun nóng trong một bếp hơi để tách mỡ, phần còn lại là
bã. Ở dạng ẩm, các nguyên liệu được đun nóng bằng hơi nước có dòng điện chạy
qua, sau đó rút nước, ép để tách mỡ và sấy khô.
Bột thịt chứa 60 - 70% protein thô, bột thịt xương chứa 45 - 55% protein
thô. Chất lượng protein của hai loại này đều cao, axit amin hạn chế là Metthione
và Tryptophan. Hàm lượng lipit dao động trong khoảng 3 - 13%, trung bình là
9%, bột thịt xương giàu khoáng hơn bột thịt, đặc biệt là hàm lượng Caxi, Photpho, Magie. Tuy nhiên cả hai loại này đều rất giàu vitamin B1.
Hai loại thức ăn này thường được bổ sung vào khẩu phần ăn của gia súc,
gia cầm để làm cân bằng axit amin. Điểm lưu ý khi sử dụng là phải bảo quản bột
thịt và bột thịt xương trong điều kiện thích hợp để tránh làm thất thoát vitamin
và mỡ khỏi bị ôi thiu. Và điều quan trọng cần nhớ là bột thịt cũng như các
15
loại sản phẩm chế biến từ động vật cần phải xử lý nhiệt kỹ lưỡng để tránh các
mầm bệnh còn hiện diện. Trước đây mầm bệnh được quan tâm nhiều là
Salmonella, nhưng ngày nay vi khuẩn gây thương hàn đã trở thành mối quan tâm
thứ hai sau bệnh bò điên vốn rất dễ lây lan qua các sản phẩm động vật, nhất là từ
thức ăn gia súc có nguồn gốc động vật. Vì vậy hiện nay xu hướng các nước châu
Âu hạn chế hoặc ngưng hẳn việc sử dụng bột thịt, bột thịt xương trong khẩu phần
ăn động vật, nhất là trên gia súc nhai lại.
b, Nhóm thức ăn giàu protein có nguồn gốc thực vật
* Đỗ tương
Nếu như ngô được xem là loại hạt chủ lực trong thức ăn cho lợn để cung
cấp năng lượng thì đỗ tương là loại hạt chủ lực được sử dụng để cung cấp protein
trong thức ăn chăn nuôi. Trong đỗ tương có khoảng 38 - 42% protein thô, 18 -
22% dầu. Protein của đỗ tương có chứa đầy đủ các axitamin cần thiết như
Cysteine, Lysine nhưng Metthione là axit amin hạn chế thứ nhất trong hạt đỗ
tương. Trong đỗ tương có chất ức chế men trypsin, chymotrysin. Sự có mặt của
các chất này đã làm giảm đi giá trị sinh học protein của đỗ tương, giảm khả năng
tiêu hóa của peptit, nhưng các chất này có thể bị phá hủy bởi nhiệt độ. Vì vậy cần
phải có biện pháp xử lý nhiệt độ thích hợp như rang, hấp, luộc chín hoặc dùng tia
hồng ngoại để nâng cao tỷ lệ tiêu hóa và khử các chất độc có trong hạt đỗ tương.
* Khô dầu và đỗ tương
Khô dầu đỗ tương là phụ phẩm của ngành ép dầu đỗ tương. Đây là một
trong những nguồn thức ăn protein thực vật có giá trị nhất. Thành phần cơ cấu
axit amin của nó có thể ngang với protein động vật, trừ Metthione. Bởi vì trong
khô dầu đỗ tương có hàm lượng protein cao (42 - 44,7%) nhưng năng lượng chỉ ở
mức thấp 2.400 – 2.530 kcal/kg ở thể khô không khí (Smith, 1991). Hàng năm
nước ta nhập trên 400.000 tấn cả đỗ tương nguyên dầu. Chúng ta cần chú ý rằng,
công nghệ ép dầu (ép máy hoặc ép thủ công) có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng
của khô dầu đỗ tương.
2.2.4. Các chỉ tiêu chất lượng thức ăn công nghiệp
Bên cạnh các yếu tố chất lượng dinh dưỡng chất lượng thức ăn chăn nuôi còn được xem xét các yếu tố an toàn như chất ô nhiễm (kim loại nặng, độc tố nấm
mốc …), các loại kháng sinh, hóa dược, hormone….
16
2.2.4.1. Vi sinh vật trong thức ăn chăn nuôi
Nước ta nằm trong điều kiện nhiệt đới nóng ẩm, đặc biệt là miền Bắc vào
mùa xuân và những ngày mưa ngâu của mùa hè - thu độ ẩm không khí đôi khi lên
đến 90-98% đây là môi trường thuận lợi cho các vi sinh vật phát triển là nguyên
nhân gây ô nhiễm thức ăn chăn nuôi. Vi sinh vật có thể dễ dàng xâm nhập vào thức
ăn chăn nuôi bởi chúng có mặt ở khắp mọi nơi trong đất, nước, không khí…. là
nguyên nhân gây ra sự dối loạn tiêu hóa, thậm chí gây bệnh cho vật nuôi, gây thiệt
hại lớn về kinh tế đối với người chăn nuôi.
Vì vậy, việc bảo quản thức ăn chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trong
việc giảm thiểu những tác hại đối với vật nuôi. Các hãng sản xuất thức ăn chăn
nuôi công nghệp đã sử dụng nhiều biện pháp, giải pháp khác nhau để có nguồn
nguyên liệu sạch, an toàn mà còn kết hợp các giải pháp bảo quản đóng gói hoặc
sử dụng các chất kháng khuẩn.
Các cơ quan quản lý nhà nước đã đưa ra các tiêu chuẩn về số lượng vi sinh vật tối đa cho phép trong thức ăn chăn nuôi để bảo vệ đàn vật nuôi và người chăn nuôi. Đối với thức ăn chăn nuôi lợn, chỉ tiêu vi sinh vật trong thức ăn chăn nuôi được quy định trong bảng 2 của QCVN 01-12:2009 (Qui chuẩn kỹ thuật quốc gia về thức ăn chăn nuôi- Hàm lượng kháng sinh, hóa dược, vi sinh vật và kim loại nặng
tối đa cho phép trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho lợn). Bảng 2.1.
Tổng số vi khuẩn (CFU/g) tối đa cho phép
TT
Loại Vi khuẩn
Lợn con 1-60 ngày tuổi Nhóm lợn còn lại
Tổng số vi khuẩn hiếu khí
1
1x 105
1x 105
Coliforms
2
1x 102
1x 102
E.coli (Escherichia coli)
Không có
Không có
3
Salmonella*
Không có
Không có
4
Staphylococus aureus
5
1x 102
1x 102
Clostridium perfringens
6
1x 104
1x 105
* Không có trong 25 g mẫu
Bảng 2.1. Tổng số Vi sinh vật tối đa cho phép trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho lợn
17
2.2.4.2. Độc tố nấm mốc (Mycotoxin)
Độc tố nấm mốc do các loại nấm mốc phát triển trên thức ăn sản sinh ra,
gây độc cho vật nuôi và làm giảm năng suất, hiệu quả chăn nuôi. Khi độ ẩm không khí cao hơn 70% và nhiệt độ môi trường 35 - 400C là điều kiện rất thuận lợi cho nấm mốc phát triển (Cockerell et al., 1971). Nấm mốc phân hủy chất dinh dưỡng trong thức ăn tạo ra nhiệt năng, nước và CO2,... Do đó càng làm cho độ ẩm và nhiệt độ của nguyên liệu cũng như thức ăn hỗn hợp tăng lên, kích thích
nấm mốc phát triển mạnh mẽ hơn. Độc tố nấm mốc có độc lực mạnh nhất thuộc
nhóm Aflatoxin (Dương Thanh Liêm, 2003) chúng không chỉ làm suy giảm miễn
dịch mà còn phá hủy tế bào gan và là nguyên nhân gây ra ung thư cho gia súc,
gia cầm làm cho vật nuôi chậm lớn và gây sảy thai ở lợn nái, do đó làm giảm rõ
rệt năng suất chăn nuôi, gây thiệt hại lớn về kinh tế nhưng lại khó nhận ra
(Miller, 1991). Người ta ví độc tố nấm mốc như một tên “kẻ cắp” vô hình và là
kẻ thù số một của thức ăn chăn nuôi (Dương Thanh Liêm, 2003). Nhiều nghiên
cứu ở Châu Á đã nhận định rằng phần lớn nguyên liệu thức ăn ở vùng nóng ẩm
này đều ít nhiều bị nhiễm độc tố nấm mốc (Dawson, 1991). Do đó việc kiểm soát
và khống chế tác hại của Aflatoxin trong thức ăn hỗn hợp là một vấn đề rất cần
được quan tâm. Người ta cũng sử dụng một số chế phẩm trộn vào thức ăn hỗn
hợp để chúng có thể hấp thụ Aflatoxin tạo thành các phần tử có kích thước lớn
không thể đi qua thành ruột non theo cơ chế hấp thụ và sau đó chúng được thải ra
cùng với phân (Edwards, 2002). Ngoài tác hại nêu ở trên, nấm mốc còn làm giảm
giá trị dinh dưỡng của thức ăn và gây ra vị đắng, làm giảm tính ngon miệng khi
chúng phân hủy chất béo trong thức ăn. Rõ ràng nấm mốc là một tác nhân có hại,
do đó các biện pháp kiểm tra độ ẩm của thức ăn và đảm bảo các điều kiện tốt của
kho tàng, cũng như thực hiện tốt các quy trình bảo quản và thời gian dự trữ nguyên
liệu hợp lý là những vấn đề cực kỳ quan trọng.
Hàm lượng Aflatoxin tối đa cho phép (ppb)
TT
Độc tố nấm mốc
Lợn con từ 1-28 ngày tuổi
Nhóm lợn còn lại
1 Aflatoxin B1
Tổng số các aflatoxin B1+B2+G1+G2
10 30
50 100
Bảng 2.2. Qui định hàm lượng Aflatoxin B1 và hàm lượng Aflatoxin tổng số tối đa cho phép trong thức ăn hỗ hợp hoàn chỉnh cho lợn.
18
2.2.4.3. Kháng sinh và chất kích thích sinh trưởng trong thức ăn chăn nuôi
Việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi
Kháng sinh trong chăn nuôi thường được sử dụng cho 3 mục đích chính:
điều trị, phòng các bệnh nhiễm trùng và kích thích tăng trọng.
- Sử dụng kháng sinh trong điều trị
Dùng kháng sinh để điều trị thường là cho cá thể bị bệnh hơn là đàn. Đôi khi trong chăn nuôi tập trung, kháng sinh có thể cho vào thức ăn hoặc nước uống để điều trị cho cả đàn hoặc tất cả động vật nuôi trong một ô chuồng (Barton, 2000). Kháng sinh được sử dụng trong thời gian ngắn ở liều cao hơn nồng độ ức chế tối thiểu đối với vi khuẩn gây bệnh. Chương trình điều trị dựa vào sự nhạy cảm của vi khuẩn đối với kháng sinh và nồng độ ức chế tối thiểu của kháng sinh (Friedship, 2000).
Nhiều nước và các hiệp hội nghề đã đưa ra các hướng dẫn sử dụng kháng sinh . Các hướng dẫn này bắt buộc phải có các chẩn đoán chính xác và có liệu trình điều trị cụ thể. Ở một số nước, kháng sinh dùng điều trị cho vật nuôi được đăng ký rất giới hạn. Chẳng hạn ở Úc, fluoroquinolone, chloramphenicol, colistin và gentamicin không được đăng ký sử dụng cho vật nuôi làm thực phẩm. Các kháng sinh thế hệ thứ ba như cephalosporin cũng bị giới hạn nghiêm ngặt (FSIS, 2007).
Kháng sinh điều trị cho vật nuôi thường được cấp qua đường miệng bằng cách trộn vào thức ăn hoặc nước uống. Tuy nhiên, đường tiêm thường có đáp ứng tốt nhất, đặc biệt là trong trường hợp bị bệnh hô hấp cấp hoặc nhiễm trùng (Friedship , 2000). Cấp kháng sinh qua đường miệng bằng cách trộn vào thức ăn hoặc nước uống ít gây căng thẳng cho gia súc hơn, dễ hơn khi áp dụng cho toàn đàn. Tuy nhiên cách này bị nghi ngờ là kém hiệu quả, vì động vật bị bệnh thường bỏ ăn và uống (Friedship, 2000) (Barton, 2000).
- Sử dụng kháng sinh với mục đích phòng bệnh:
Để phòng bệnh, kháng sinh được trộn vào thức ăn, nước uống cho cả đàn với liều từ trung bình đến liều cao. Điều quan trọng là liều sử dụng, thời gian sử dụng phải được áp dụng đúng theo khuyến cáo. Sử dụng kháng sinh phòng bệnh không đúng liệu trình và lạm dụng kháng sinh sẽ gây tồn dư kháng sinh trong mô động vật (Berwal , 1999). Chẳn hạn ở Úc, bằng chứng từ việc giám sát dư lượng tetracycline trong nước tiểu cho thấy đôi khi kháng sinh được sử dụng liều cao hơn trong thời gian dài hơn so với mục đích phòng bệnh đường hô hấp trong chăn nuôi lợn thịt (Barton, 2000).
- Sử dụng kháng sinh với mục đích tăng trọng:
19
Sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi không chỉ ở các nước đang phát triển mà còn được sử dụng ở các nước phát triển không chỉ nhằm để phòng bệnh, trị bệnh mà còn dùng để kích thích sinh trưởng (Phạm Kim Đăng và cs., 2012).
Sử dụng kháng sinh với mục đích kích thích tăng trọng đã xuất hiện từ lâu. Hiệu quả của việc sử dụng kháng sinh ở liều thấp trong thức ăn cho động vật được mô tả đầu tiên vào cuối những năm 1940 khi gà ăn thức ăn từ chất thải của quá trình lên men tetracycline. Người ta, nhận thấy gà phát triển nhanh hơn so với gà đối chứng. Sự cải thiện về tốc độ tăng trưởng và chỉ số tiêu tốn thức ăn ở lợn con là 9,3% và 6,12%; ở gà là 3,9% và 2,9% (Barton, 2000).
Ngày nay, người ta cũng thấy được vai trò của các kháng sinh ngoài mục đích dùng như chất kích thích tăng trọng còn có vai trò kiểm soát một số bệnh mãn tính thường xảy ra ở vật nuôi. Kiểm soát bệnh không chỉ cải thiện được năng suất sản xuất và có lợi về kinh tế mà còn đảm bảo tốt cho sức khỏe đàn vật nuôi (Nguyễn Hữu Hồng và cs.,1996). Các kháng sinh như avoparcin, virginiamycin, zincbacitracin, lincomycin và avilamycin kiểm soát tốt bệnh mãn tính do Clostridium perfringens trên gà, lợn (Barton, 2000).
Kháng sinh sử dụng dưới dạng chất kích thích tăng trưởng cho vật nuôi đã được sử dụng rộng rãi ở Châu Âu, Mỹ và Úc lần lượt là 15%, 40% và 55,8% (Barton, 2000). Kháng sinh dùng cho mục đích tăng trọng thường không dùng trong điều trị, được dùng liên tục trong thức ăn với nồng độ thấp (1 – 50g/tấn thức ăn) và sử dụng trong một thời gian dài cho cả đàn (Đậu Ngọc Hào, 1996). Các loại kháng sinh khác nhau cho những kết quả kích thích tăng trọng khác nhau.
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy có mối liên hệ giữa việc sử dụng kháng sinh với mục đích kích thích tăng trưởng với sự phát triển tính đề kháng của vi khuẩn, nhất là sự đề kháng chéo với vancomycin, loại kháng sinh dự phòng trong nhân y, của các chủng Enterococcus spp phân lập từ gia súc, gia cầm nuôi với avoparcin (Bradley, 2003). Tại một số nước thuộc Châu Âu, bacitracin, carbadox, olaquindox, tylosin và virginiamycin đã bị cấm sử dụng như chất kích thích tăng trưởng ở vật nuôi từ năm 2001. Đến năm 2006, avilamycin, flavophospholipol, lasalosid, monensin và salinomycin cũng bị cấm (Võ Thị Trà An, 2007) .
- Ở Việt nam việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi cũng đang trở lên phổ biến. Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Kim Đăng và cs. cho thấy có ít nhất 45 loại kháng sinh thuộc hơn 10 nhóm khác nhau được sử dụng trong chăn nuôi lợn gà ở Đồng bằng sông Hồng (Phạm Kim Đăng và cs, 2013). Tồn dư kháng sinh trong thực phẩm.
20
Trong chăn nuôi hiện nay, vấn đề sử dụng thuốc kháng sinh là rất phổ biến và được coi là một tiến bộ của công nghệ sinh học, nhằm phòng trị bệnh và làm vật nuôi mau lớn. Thế nhưng, việc tùy tiện sử dụng thuốc kháng sinh dễ dẫn đến hậu quả: lượng thuốc kháng sinh tồn dư trong sản phẩm vượt ngưỡng cho phép, người sử dụng loại thực phẩm này trong thời gian dài có thể gây nguy hại cho sức khỏe.
Sử dụng thuốc thú y với liều lượng nhỏ tuy không gây ngộ độc cấp tính
nhưng nếu tích lũy lâu trong cơ thể sẽ gây ngộ độc mãn tính. Nếu loại bỏ hoàn
toàn kháng sinh trong điều trị, trong thức ăn thì chắc chắn sẽ làm tăng chi phí cho
nhà sản xuất và người tiêu dùng. Một minh chứng là kết quả của việc cấm sử
dụng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi ở Đan Mạch và Thụy Điển đã làm tăng
vòng đời nuôi ở lợn thịt lên từ 2 - 3 ngày, giảm trọng khoảng 3 - 4%, tăng lượng
thức ăn tiêu thụ khoảng 2kg/con, tăng tỷ lệ chết từ 7 - 10% và giảm 10% lợi
nhuận của nhà chăn nuôi. Chính vì vậy, cho đến nay, chưa ai dám phủ nhận hiệu
quả của việc sử dụng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi. Song, một trong những
nguyên nhân gây ra sức đề kháng ngày càng mạnh của vi khuẩn gây bệnh trên
người lại chính là việc sử dụng kháng sinh một cách không khoa học trong việc
phòng và trị bệnh cho gia súc. Kháng sinh sử dụng trong thức ăn, điều trị gia súc
và những tồn dư của nó trong thực phẩm chăn nuôi sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm
bệnh của con người khi sử dụng các sản phẩm này. Xa hơn nữa, sẽ tạo ra sự
kháng thuốc của các dòng vi khuẩn gây bệnh ở động vật và chúng có khả năng
lan truyền sang cho con người. Kết quả là khi con người bị nhiễm bệnh sẽ làm
khả năng chữa trị trở lên khó, lâu dài và phức tạp hơn. Chính vì những lý do trên
mà lượng kháng sinh tồn dư trong thực phẩm sẽ là yếu tố chính để dùng làm căn
cứ cho phép loại kháng sinh đó có được lưu hành trên thị trường hay không, cũng
như liều tối đa cho phép trong thức ăn gia súc, đường đưa vào cơ thể và thời gian
ngưng thuốc trước khi giết mổ.
Theo kết quả điều tra sơ bộ của Viện khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, có tới 75% số mẫu thịt và 66,7 số mẫu gan của gia súc, gia cầm bán tại các chợ có mức tồn dư kháng sinh vượt ngưỡng cho phép.
Khoa Chăn nuôi Thú y, Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh xét nghiệm các mẫu thịt được lấy trực tiếp tại các chợ cho thấy có 26 loại kháng sinh được phát hiện. Trong đó loại được sử dụng nhiều nhất chloramphenicol (chiếm 15,35%), tylosin (15%), colistin (13,24%), norfloxacin (10%), gentamycin
21
tetracylin (7,95%), ampicillin
(8,35%), nhóm (7,24%)... Trong đó, chloramphenicol là kháng sinh hiện đã bị cấm sử dụng. Trong 149 mẫu thịt gà được kiểm tra, phân tích có đến 44,96% số mẫu có dư kháng sinh vượt quá mức quy định cho phép từ 2,5 đến 1.100 lần so với tiêu chuẩn ngành. Trong đó, loại kháng sinh chloramphenicol chiếm tỷ lệ cao nhất đến 87,50%, flumequin chiếm 83,33%, chlortetracyline chiếm 62,50%, amoxyllin chiếm 60%...
Việc tồn dư kháng sinh trong thực phẩm không chỉ ảnh hưởng lâu dài tới người sử dụng trong nước mà còn ảnh hưởng trực tiếp việc xuất khẩu nông sản. Đặc biệt, khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO, nhiều yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm theo hiệp định về vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật phải được thực hiện. Các nước nhập khẩu cũng ngày càng yêu cầu khắt khe hơn đối với sản phẩm động vật, nhất là chất tồn dư. Một số nước đã buộc phải tái xuất các lô mật ong, tôm có kháng sinh tồn dư vượt quá giới hạn cho phép. Vì vậy, việc sử dụng kháng sinh đúng loại, đúng chỉ định trong chăn nuôi có ý nghĩa quan trọng nhằm cung cấp
thực phẩm sạch trong tiêu dùng và xuất khẩu.
Số TT
Tên kháng sinh, hóa dược
Hàm lượng tối đa cho phép (g/tấn)
Thời gian ngừng sử dụng thức ăn có kháng sinh, hóa dược trước khi giết mổ (ngày) 5
1
90
2
30
5
Axit Arsanilic BMD (Bacitracin Methylene- Disalicylate)
3
Bacitracin Zinc
0
4 5
Chlotetracyline Lincomycin
0 0
6
Oxytetracyline
0
7 8 9
Roxarsone Tylosin phosphate Virginiamycin
80 (cho lợn < 3 tháng tuổi) 50 (cho lợn <4 tháng tuổi) 20 (cho lợn <6 tháng tuổi) 50 20 50 (liều phòng chỉ dùng cho lợn con) 34 40 10 (cho lợn <60kg)
5 0 0
Bảng 2.3. Hàm lượng kháng sinh, hóa dược tối đa cho phép trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho lợn
22
2.2.4.4. Tình hình sử dụng hormone sinh trưởng trong chăn nuôi
- Trong thú y, việc sử dụng beta - agonists chỉ cho phép trong trường hợp
của Clenbuterol dùng để điều trị bệnh viêm phế quản ngựa, bê và cho điều trị
bệnh sản khoa ở bò cái. Tại Mỹ và Canada, clenbuterol chỉ được sử dụng trong
thú y để điều trị bệnh đường hô hấp ở loài ngựa. Nó bị cấm sử dụng trong chăn
nuôi gia súc để lấy thịt (bò , heo, dê, cừu…).
- Tại thị trường chợ đen Clenbuterol vẫn có chiều hướng phát triển. Beta-
agonists được chứng minh là chất chuyển đổi khá hiệu quả, làm giảm tỷ lệ mỡ, tỷ
lệ nạc ở gia súc, gia cầm. Lợi dụng đặc tính này nên một số người đã sử dụng
beta-agonists như một chất bổ sung trong thức ăn để kích thích cho heo bung đùi,
nở vai, tạo nạc chỉ trong thời gian rất ngắn để bán giá cao hơn. Để đạt được mục
đích kích thích tăng trưởng, tạo thịt nạc chủ nuôi thường dùng β-agonists gấp 5-
10 lần điều trị. Đây chính là lý do của việc sử dụng trái phép chất β-agonists
trong thức ăn chăn nuôi (đặc biệt là chăn nuôi lợn) dẫn đến tồn dư chất này trong
sản phẩm động vật. Do β-agonists tồn dư trong sản phẩm động vật ảnh hưởng
không tốt cho sức khỏe người tiêu dùng nên từ thập kỷ 90 của thế kỷ 20 trên thế
giới không cho phép sử dụng chúng trong chăn nuôi.
Hiện nay β-agonists là chất hóa học được xếp vào loại chất độc cấm sử
dụng trong chăn nuôi trên toàn thế giới, nhưng người chăn nuôi vẫn lén lút sử dụng
các chất cấm trong chăn nuôi. Vì lợi nhuận trước mắt, người chăn nuôi đã và đang
gây nên mối nguy hại khôn lường đối với sức khỏe cộng đồng và toàn xã hội. Ví
dụ với lợn siêu nạc giống tốt nhất trong nước hiện nay người dân phải mất 5 tháng
mới đạt trọng lượng 95-100 kg/con nhưng cho thêm 1 thìa ( bằng thìa cà phê) thần
dược β-agonists vào thức ăn (cho 10 con lợn loại 70-80 kg/ con), thời gian xuất
chuồng rút ngắn chỉ còn 3 tháng (Phạm Nho và Huỳnh Hồng Quang, 2012).
Trong những năm của thập kỷ 80, Mỹ đã cấm sử dụng Clenbuterol và thức
ăn gia súc. Cơ quan thuốc và thực phẩm FDA (Food and Drug Administration)
và FSIS (2007) thuộc bộ nông nghiệp Mỹ cho là Clenbuterol hoàn toàn có thể
gây chết nếu người ăn phải thịt ngộ độc vốn nhạy cảm hay đang được điều trị
bằng một loại thuốc có tác dụng tương tự. FDA cũng công bố khả năng gây hại
cho hệ tim mạch khi vào cơ thể bằng đường tiêu hóa hơn là đường hít. Từ năm
2006, Clenbuterol đã bị cơ quan thuốc và thực phẩm Mỹ cấm sử dụng kể cả trong
điều trị cho người.
23
Ở Châu Âu đã cấm dùng Clenbuterol trong chăn nuôi từ năm 1988. Đến năm
1991, Cơ quan quản lý thực phẩm và Dược phẩm FDA đã khuyến cáo người dân
nên cảnh giác với Clenbuterol và tháng 3 năm 1996, cộng đồng Châu Âu chính thức
cấm sử dụng các chất hormone kích thích tăng trưởng thuộc nhóm β-agonists (chỉ
thị 96/22/EC). Ngày 23 tháng 7 năm 2003, Ủy ban an toàn thực phẩm EU chính
thức khẳng định việc ban bố lệnh cấm sử dụng tất cả các loại kích thích sinh trưởng
trong thức ăn chăn nuôi và lệnh cấm này đã có hiệu lực từ ngày 1/1/2006.
Năm 1992-1993 theo chương trình giám sát β-agonists của khối EU trên
các mẫu thịt gia súc được lấy một các ngẫu nhiên, với khoảng 30.000 con. Kết
quả cho thấy có từ 0% đến 7% mẫu thịt thu thập từ trại heo hay từ cơ sở giết mổ
có tồn dư Clenbuterol (Kuiper et al., 1998).
Trên thế giới đã có nhiều báo cáo về tình hình ngộ độc Clenbuterol xảy ra
trên người (Van Vyncht et al., 1996; Peter Natjoens et al., 1996). Năm 1990, tại
Tây ba Nha người ta nghi ngờ ăn phải gan bò bị nhiễm độc làm 135 người nhập
viện. Năm 1994, Hội người tiêu dùng châu Âu đã tiến hành phân tích thử nghiệm
trên các mẫu gan heo thì phát hiện các mẫu dương tính với Clenbuterol rất cao tại
một vài nước trong cộng đồng EU: Tây Ba Nha 36%, Thụy Sỹ 25%. Ở Italy đã
có 16 người ngộ độc thực phẩm ăn thịt bò Fillet và thịt mông bò có chứa trên 0,5
pmm Clenbuterol. Tại Pháp, ngày 24/9/1990 có 22 bệnh nhân từ 8 gia đình tại
khác khu vực khác nhau sau khi ăn thịt bê bị nhiễm Clenbuterol bị các triệu trứng
như cơ bắp run, đau đầu, tim đập nhanh (Pulce et al., 1991)
Ở Tây Ba Nha vào năm 1994 có 140 người đã nhập viện sau khi ăn phải
thịt heo nhiễm Clenbuterol. Họ bị chóng mặt, tim đập nhanh, khó thở, run tay và
nhức đầu (Lê Quốc Thịnh, 2012). 43 gia đình ở Tây Ba Nha đã bị nhiễm
Clenbuterol và Sulbutamol sau khi ăn gan heo. Triệu chứng xảy ra trong vòng
30- 360 phút. Kết quả kiểm tra nước tiểu của các bệnh nhân cho thấy hàm lượng
Clenbuterol là 160- 291 ppb.
Theo báo cáo đầu tháng 4/2012 của Cục Chăn nuôi, kết quả phân tích mẫu
thức ăn chăn nuôi, nước tiểu lợn và mẫu thực phẩm chăn nuôi từ các tỉnh, thành
phố gửi về cho thấy có 13/168 mẫu thức ăn chăn nuôi dương tính với β - agonist
(chiếm 8%), 8/119 mẫu thịt, gan lợn dương tính (chiếm 6,7%), 7/58 mẫu nước
tiểu được kiểm tra có β - agonist (chiếm 12,1%).
24
Một trường hợp ngộ độc Clenbuterol khác được ghi nhận tại Bồ Đào Nha
gồm 4 người bị ngộ độc cấp tính trong số 50 người ăn thịt bò và cừu tồn dư
Clenbuterol. Triệu chứng được ghi nhận ở bệnh viện này là run tứ chi, tim đập
nhanh, buồn nôn, đau đầu và choáng váng (Taylor and Francis Issue, 2005).
Vào năm 1990, Trung Quốc cũng đã cấm sử dụng Clenbuterol trong chăn
nuôi gia súc. Tuy nhiên, theo báo Thanh Niên ngày 2/11/2005 ở Trung Quốc
hàng nghìn người dân đã bị ngộ độc do ăn thịt heo có tồn dư Clenbuterol. Tháng
5/1998, đã có 17 người Hồng Kông ăn thịt heo bị trúng độc, chân tay run rẩy, đau
đầu, tim đập nhanh, miệng khô, mắt bị trợn. Trung tâm khống chế và dự phòng
Triết Giang đã lấy mẫu thịt tiến hành kiểm tra, phân tích phát hiện “ Shou rou
Jing” chứa hàm lượng Clenbuterol trong các mẫu từ 80- 1.020 microgam/kg.
Tháng 9/2006 ở Trung Quốc có 336 người bị ngộ độc do ăn thịt heo chứa chất Clenbtuterol. Tháng 2/2009 trên 70 người ở Quảng Đông bị ngộ độc khi ăn lòng heo có chứa Clenbuterol. Tháng 3/ 2011, Bộ Nông nghiệp Trung Quốc mở một chiến dịch kéo dài 1 năm để truy quét thức ăn chăn nuôi có chứa Clenbuterol, sau khi một công ty con của tập đoàn Shuanghui (sản xuất thịt lớn nhất Trung Quốc) bị phát hiện Clenbuterol trong thịt heo của công ty. Tổng cộng có 72 người bị bắt và bị cảnh sát giam giữ vì bị cáo buộc sản xuất, bán hoặc sử
dụng thịt heo nhiễm Clenbuterol (Lê Tấn Lam Anh, 2012).
Từ tháng 6 năm 2002 ở Việt Nam Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã có văn bản chính thức cấm sử dụng các hoạt chất thuộc nhóm β - agonists trong chăn nuôi (Bộ NN& PTNT, 2002) và thông tư số 57/2012/TT- BNN&PTNT quy định việc kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm các chất cấm
thuộc nhóm β – agonists trong chăn nuôi (Bộ NN&PTNT, 2012).
Chất tạo nạc cho lợn tìm thấy ở Việt Nam thường là Salbutamol và Clenbuterol. Tuy nhiên Salbutamol ,Clenbuterol là những chất được xếp vào danh mục 18 kháng sinh, hóa chất bị cấm sử dụng trong chăn nuôi ở Việt Nam do Bộ
Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành năm 2002 (Bộ NN&PTNN, 2002).
Theo báo tuổi trẻ ra ngày 30/1/2005 tại trại chăn nuôi của Nguyễn Thị Đẹp ở Quận Cái Răng- TP Cần thơ đã xảy ra hiện tượng hơn 1000 co gà chết sạch khi ăn phải thức ăn gia súc New Hope. Chị Đẹp đã đem mẫu thức ăn trên tới Trung tâm dịch vị phân tích Thí Nghiệm, qua kiểm tra các mẫu thức ăn trên cho thấy hàm lượng clenbuterol rất cao, lên đến 149,76Mg/kg. Cũng theo Chi
25
cục thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 17/6/2006 qua xét nghiệm gần 500 mẫu thịt heo tại TP. Hồ Chí Minh Chi cục thú y phát hiện gần 30% mẫu dương tính với Clenbuterol (Lê Thanh Hà, 2006). Theo Phạm Thị Kiều Nga (2008), không chỉ ở Thành phố Hồ Hồ Minh, một số tỉnh cũng có tình trạng sử dụng Clenbuterol ở heo, gà, bò. Qua phân tích trên 54 mẫu thịt cho thấy tỉ lệ các mẫu thịt tồn dư Clenbuterol khá cao (hơn 46%). Hàm lượng tồn dư từ 0,13-2,46 ppb
(Lê Thanh Hà, 2006).
Cục chăn nuôi đã lấy 295 mẫu của 114 đơn vị sản xuất thức ăn gia súc
trên 25 tỉnh thành trong cả nước để kiểm tra và phát hiện 6 công ty có sản phẩm
TACN cho heo có chất cấm Clenbuterol (chiếm 5%) (Đỗ Ngọc Chính, 2006). 5
năm sau Nguyễn Đức Cường (2011) phát hiện tình hình chất cấm bị các doanh
nghiệp lạm dụng trộn lẫn vào thức ăn chăn nuôi để thu lời bất chính không
thuyên giảm mà còn tăng lên 17%. Mặc dù, chính phủ đã ban hành Nghị định
08/2010/NĐ-CP về quản lý TĂCN, trong đó quy định rõ trách nhiệm của người
sản xuất, kinh doanh TĂCN, sau đó Bộ NN&PTNT ban hành thông tư
57/2012/TT-BNN&PTNT quy định việc kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm các
chất cấm thuộc nhóm β- agonists trong chăn nuôi, thế nhưng nghị định và thông
tư trên còn hạn chế.
Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Miền Nam phát hiện thấy 1/12 mẫu
thức ăn chăn nuôi và 6% mẫu thịt đều dương tính với clenbuterol; Gần đây, tháng
11/2009 Chi cục Thú y Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Sở Y tế Thành phố
Hồ Chí Minh kiểm tra định kỳ thịt heo đã phát hiện có đến 10% của 500 mẫu thịt
dương tính với clenbuterol. Qua nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy rằng
dư lượng của clenbuterol tồn tại trong võng mạc mắt và trong tóc lâu tới vài tháng.
2.3. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG THỨC ĂN CHĂN NUÔI
Trong xu thế phát triển chăn nuôi hiện đại, văn minh, khi đánh giá chất lượng thức ăn chăn nuôi thường xem xét chất lượng trên 3 khía cạnh, thân thiện với môi trường, an toàn thực phẩm đối với người tiêu dùng và tất nhiên phải đáp
ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng đồng thời an toàn đối với vật nuôi.
Có nhiều phương pháp để đánh giá chất lượng của một loại thức ăn. Mỗi phương pháp có những ưu, nhược điểm riêng. Vì vậy, để đánh giá chất lượng thức ăn một cách chính xác nhất, người ta thường áp dụng kết hợp các phương
pháp với nhau.
26
2.3.1. Phương pháp thử cảm quan
Thử cảm quan là phương pháp dùng các giác quan (thị giác, khứu giác, vị
giác, xúc giác…) của con người để kiểm tra nhanh chất lượng của thức ăn thông
qua màu sắc, mùi, vị, độ nghiền, độ nhiễm mốc, mọt, tạp chất…
Một loại thức ăn được đánh giá là tốt phải có dạng đồng nhất màu sắc, mùi,
vị đặc trưng, độ nghiền phù hợp, không bị ướt, vón cục, không bị mốc, mọt, lẫn
tạp chất gây ảnh hưởng đến chất lượng của thức ăn.
Thức ăn kém phẩm chất là những loại thức ăn không đảm bảo các điều kiện
trên. Thức ăn đã bị mất màu hay biến đổi màu sắc (xanh, vàng, nâu…) có thể do
sự phát triển của độc tố nấm mốc hoặc do để quá lâu. Thức ăn có mùi lạ (ôi,
chua, thối…) do bảo quản lâu ngày, quá trình oxy hóa xảy ra làm mất mùi đặc
trưng. Các loại thức ăn này không những đã bị giảm chất lượng mà còn có khả
năng gây hại tới vật nuôi, cụ thể làm mất tính ngon miệng, giảm khả năng sinh
trưởng, phát triển, từ đó làm giảm năng suất của vật nuôi. Trường hợp vật nuôi,
đặc biệt là gia cầm ăn phải thức ăn bị nhiễm mốc lâu ngày có thể gây ngộ độc
dẫn đến chết.
Phương pháp thử cảm quan cho phép đánh giá nhanh chất lượng của thức
ăn nhưng thiếu chính xác do kết quả không mang tính khách quan, phụ thuộc
nhiều vào kinh nghiệm của người đánh giá.
2.3.2. Phương pháp hóa học
Phương pháp sử dụng các hóa chất hoặc thiết bị máy móc để phân tích
thành phần hóa học của các loại thức ăn như hàm lượng nước, protein thô, xơ
thô, lipit thô, canxi, photpho, muối ăn, axit amin, độc tố…Thông qua đó, ta có
thể đánh giá chất lượng thức ăn theo giá trị dinh dưỡng và chất lượng vệ sinh an
toàn của thức ăn.
Các chỉ tiêu liên quan đến an toàn vệ sinh đối với thức ăn chăn nuôi cho lợn
phải tuân thủ QCVN 01 - 12: 2009/BNNPTNT thức ăn chăn nuôi - hàm lượng
kháng sinh, hóa dược, vi sinh vật và kim loại nặng tối đa cho phép trong thức ăn
hỗn hợp hoàn chỉnh cho lợn, được quy định tại Bảng 2 đến Bảng 8 của Quy
chuẩn này.
Hiệp hội hạt ngũ cốc Hoa Kỳ (USGC) quy định các chỉ tiêu phân tích theo
từng nhóm nguyên liệu như sau:
27
- Hạt ngũ cốc và phụ phẩm hạt: độ ẩm, protein thô, tro thô;
- Bột cỏ: độ ẩm, protein thô, tro thô, xơ thô;
- Thức ăn bổ sung protein: độ ẩm, protein thô, nitơ phi protein.
Trong thực tế phương pháp này được áp dụng khá phổ biến. Ngày nay, với
sự trợ giúp của khoa học kỹ thuật, nhiều máy móc hiện đại ra đời đã làm cho việc
đánh giá chất lượng thức ăn nhanh, chính xác và có thể phân tích cả các thành
phần quan trọng cũng như các nguyên tố vi lượng. Tuy nhiên, phương pháp hóa
học có hạn chế là không phát hiện được chất dinh dưỡng đó có nguồn gốc từ đâu,
từ thức ăn hay từ các tạp chất lẫn trong thức ăn. Do đó, để có kết quả chính xác,
cần kết hợp với phương pháp thử cảm quan nói trên.
2.3.3. Phương pháp sinh học
Là phương pháp đánh giá chất lượng thức ăn trực tiếp trên cơ thể vật nuôi. Động vật thí nghiệm được chia làm hai lô: lô thí nghiệm và lô đối chứng. Lô thí nghiệm sử dụng thức ăn cần đánh giá chất lượng, lô đối chứng sử dụng thức ăn hiện có trên điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng ở hai lô là như nhau. Sau một thời gian nuôi nhất định, tiến hành khảo sát, so sánh năng suất, cũng như chất lượng sản phẩm của vật nuôi ở hai lô. Nếu lô thí nghiệm cho kết quả khảo sát tốt hơn lô đối chứng thì có thể kết luận, thức ăn đem thí nghiệm có kết quả tốt hơn so với
thức ăn ở lô đối chứng, và ngược lại.
Phương pháp sinh học cho phép đánh giá chất lượng thức ăn một cách chính xác và tổng quát nhất. Chất lượng của thức ăn được phản ánh đầy đủ thông qua sức sản xuất của vật nuôi. Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là cần thời gian dài, đầu tư công sức và vật chất khá lớn. Do đó, thường chỉ áp dụng để
đánh giá chất lượng của một loại thức ăn.
2.4. CÁC CÔNG ĐOẠN THANH KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG THỨC ĂN CHĂN NUÔI
Theo Jones (1995) thì một chương trình kiểm tra chất lượng thức ăn tốt bao
gồm 4 công đoạn:
- Kiểm tra chất lượng nguyên liệu;
- Kiểm tra trong quá trình sản xuất thức ăn hỗn hợp (phối trộn);
- Kiểm tra chất lượng thành phẩm;
- Kiểm tra chất lượng thức ăn hỗn hợp trên cơ thể động vật nuôi.
28
2.4.1. Kiểm tra chất lượng nguyên liệu
Jones (1989) cho biết, chi phí cho nguyên liệu chiếm 70-90% giá thành của
thức ăn hỗn hợp. Để thu lợi nhuận cao ta phải chú ý đến chất lượng và giá thành
của nguyên liệu. Kiểm tra nguyên liệu sản xuất thức ăn gia súc giúp ta đánh giá
được chất lượng của thức ăn hỗn hợp, thức ăn bổ sung hay premix. Phần lớn sự
biến động của thành phần dinh dưỡng trong thức ăn hỗn hợp sản xuất ra liên
quan đến nguyên liệu. Đối với gia cầm thì 40-70% sự biến động thành phần dinh
dưỡng của thức ăn hỗn hợp liên quan đến nguyên liệu.
2.4.2. Kiểm tra trong giai đoạn phối trộn
Kết quả điều tra của Wicker and Poole (1991) cho biết, hơn một nửa
trong tổng số 145 mẫu thức ăn hỗn hợp kiểm tra là trộn không đều. Nguyên
nhân có thể do:
- Thời gian trộn chưa đủ
- Nạp nguyên liệu vào máy trộn quá nhiều, vượt công suất của máy
- Các chi tiết của máy trộn bị mòn, vỡ….
Theo Jones (1991), nếu hệ số biến động (CV) của các lần kiểm tra dưới
hoặc bằng 10% thì thức ăn được trộn đều, Wicker and Poole (1991) cũng cho
biết nếu thiết bị hoạt động tốt thì CV có thể đạt được 4-7%.
2.4.3. Kiểm tra chất lượng thành phẩm
Thức ăn hỗn hợp sau khi sản xuất ra có khi được sử dụng ngay cho gia súc
mà không phải qua khâu kiểm tra chất lượng. Tuy nhiên tại các nhà máy sản xuất
thức ăn chăn nuôi, thức ăn hỗn hợp được sản xuất ở các ca khác nhau nên cần
được lấy mẫu và lưu lại. Nên lấy bao nhiêu mẫu để kiểm tra? Câu trả lời này do
nhà máy sản xuất thức ăn gia súc quyết định. Thông thường ta lấy một mẫu/ 1
công thức / 1 tuần (USGC).
Trường hợp phát hiện một chỉ tiêu dinh dưỡng nào đó có vấn đề thì cần
phải giải quyết ngay trong thời gian sớm nhất. Trình tự kiểm tra như sau:
- Kiểm tra lại kết quả phân tích;
- Mẫu phân tích đã được lấy đúng chưa ? Mẫu đã đại diện chưa ? Ta có
thể lấy lại mẫu phân tích nếu lô hàng còn;
- Chỉ một chất lượng dinh dưỡng có vấn đề hay nhiều chất dinh dưỡng ?
Có thể có nguyên liệu nào đó có trong công thức;
29
- Kiểm tra sự hoạt động của máy trộn;
- Kiểm tra lại thời gian trộn và công thức phối chế;
- Kiểm tra chất lượng nguyên liệu trước đó, nếu không đúng nguyên liệu
thì phải yêu cầu người cung cấp nguyên liệu cấp lại;
- Ngoài ra cần kiểm tra kỹ bao bì, trọng lượng bao thành phẩm….
2.4.4. Kiểm tra chất lượng thức ăn trên cơ thể vật nuôi
Đây là công đoạn cuối cùng trong quy trình kiểm tra chất lượng của thức ăn
hỗn hợp. Qua đó, ta có thể kiểm tra được sự thích hợp của thức ăn hỗn hợp (mùi
vị, màu sắc, kích thước viên hay bột hạt…) đối với từng loại gia súc. Điều này
được phản ánh bởi sự ngon miệng hay khả năng sử dụng thức ăn của vật nuôi.
Tóm lại, chất lượng nguyên liệu có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng
của thức ăn hỗn hợp, từ đó ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của gia súc. Đánh
giá chất lượng nguyên liệu và chất lượng của thức ăn hỗn hợp là một việc làm
cần thiết đối với tất cả các cơ sở sản xuất và chế biến TĂCN. Đặc biệt trong tình
hình hiện nay, sự biến động và sự phong phú về chủng loại nguyên liệu cũng như
chất lượng nguyên liệu trên thị trường thì việc làm đó lại càng quan trọng. Chất
lượng thức ăn được đảm bảo và ổn định mới nâng cao được năng xuất và hiệu
quả kinh tế từ chăn nuôi trước khi ra sản xuất đại trà.
2.4.5. Quản lý chất lượng sản phẩm
* Quản lý chất lượng sản phẩm (QLCLSP): Được định nghĩa là phương pháp và hoạt động tác nghiệp được sử dụng để thoả mãn những yêu cầu đối với chất lượng. QLCLSP bao gồm việc tạo lập và duy trì một trình độ cần thiết về chất lượng sản phẩm khi nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, vận hành hoặc sử dụng sản phẩm đó. Những công việc trên được thực hiện bằng cách kiểm tra chất lượng và tác động có định hướng tới những điều kiện và yếu tố có ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm; QLCLSP được thực hiện ở các giai đoạn sản xuất sản
phẩm và ở các cấp quản lí.
* Các nguyên tắc của quản lý chất lượng
Muốn tác động đồng bộ đến các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng, hoạt
động quản lý chất lượng phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 1: Định hướng vào khách hàng. Chất lượng là sự thỏa mãn khách hàng, chính vì vậy việc quản lý chất lượng nhằm đáp ứng mục tiêu đó.
30
Quản lý chất lượng là không ngừng tìm hiểu các nhu cầu của khách hàng và xây
dựng nguồn lực để đáp ứng các nhu cầu đó một cách tốt nhất.
Nguyên tắc 2: Lãnh đạo công ty thống nhất mục đích, định hướng và môi trường nội bộ của công ty, huy động toàn bộ nguồn lực để đạt được mục tiêu của
công ty.
Nguyên tắc 3: Con người là yếu tố quan trọng nhất cho sự phát triển. Việc huy động con người một cách đầy đủ sẽ tạo cho họ kiến thức và kinh nghiệm
thực hiện công việc, đóng góp cho sự phát triển của công ty.
Nguyên tắc 4: Quan điểm quá trình. Hoạt động sẽ hiệu quả hơn nếu các
nguồn lực và hoạt động có liên quan được quản lý như một quá trình.
Nguyên tắc 5: Quan điểm hệ thống quản lý. Việc quản lý một cách có hệ
thống sẽ làm tăng hiệu quả và hiệu lực hoạt động của công ty.
Nguyên tắc 6: Cải tiến liên tục. Cải tiến liên tục là mục tiêu của mọi công ty và điều này càng trở nên đặc biệt quan trong trong sự biến động không ngừng
của môi trường kinh doanh như hiện nay.
Nguyên tắc 7: Quyết định dựa trên sự kiện. Các quyết định và hành động
có hiệu lực dựa trên sự phân tích dữ liệu và thông tin.
Nguyên tắc 8: Quan hệ cùng có lợi với bên cung ứng. Thiết lập mối quan hệ
cùng có lợi với bên cung ứng sẽ nâng cao khả năng tạo ra giá trị của cả hai bên.
* Thanh tra chất lượng
Nhằm xem xét tính độc lập và có hệ thống nhằm xác định các hoạt động và kết quả liên quan đến chất lượng có đáp ứng được các quy định đã đề ra, và các quy định này có được thực hiện một cách hiệu quả và thích hợp để đạt được các mục tiêu hay không. TTCL được áp dụng chủ yếu nhưng không hạn chế đối với một hệ chất lượng hoặc các yếu tố của nó, cho các quá trình, sản phẩm, hoặc dịch vụ. Ở Việt Nam, hệ thống TTCL là một bộ phận trực thuộc Tổng cục Tiêu
chuẩn hoá - Đo lường - Chất lượng.
* Công tác quản lý thức ăn chăn nuôi
Quản lý chất lượng TĂCN là vấn đề cần thiết, có tác động trực tiếp đến chất lượng, số lượng của vật nuôi. Để tăng cường giá trị chăn nuôi trong giá trị nông nghiệp nói chung, thì việc quản lý chất lượng TĂCN để phục vụ chăn nuôi
cần phải thực hiện triệt để, quyết liệt.
31
Trong những năm gần đây hệ thống văn bản pháp luật quy định công tác
quản lý tình hình sản xuất, kinh doanh và chất lượng thức ăn đã tương đối hoàn
thiện. Tuy nhiên, thực tế những năm qua, chưa hình thành được hệ thống kiểm
tra, giám sát đến địa phương .Hệ thống quản lý còn mỏng chưa đủ mạnh, ở địa
phương tại cấp Sở mới có cán bộ chuyên trách để quản lý ngành hàng này và
chưa tạo được hệ thống mạng lưới đến cấp huyện, xã để nắm bắt tình hình và
phản ánh kịp thời chất lượng thức ăn chăn nuôi. Chưa có mối liên hệ chặt chẽ,
kịp thời giữa Trung ương với các địa phương một cách thường xuyên, định kỳ về
quản lý TĂCN.
Bên cạnh đó, hệ thống phòng phân tích giám định chất lượng đã hình
thành nhưng còn ít về mặt số lượng, thiếu các trang thiết bị cần thiết, đội ngũ
phân tích hạn chế về trình độ chuyên môn chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng
cao và khắt khe trong lĩnh vực phân tích đánh giá chất lượng TĂCN.
- Nghị định 08/2010/NĐ-CP ban hành ngày 05 tháng 2 năm 2010 về quản
lý thức ăn chăn nuôi.
Thông tư số 66/2010/TT- BNNPTNT ngày 10/10/2011 của Bộ nông
nghiệp Quy định chi tiết một số điều Nghị định 08/2010/NĐ-CP ban hành ngày
05 tháng 2 năm 2010 về quản lý thức ăn chăn nuôi.
Thông tư số 45/2014/TT- BNNPTNT ngày 03/12/2014 của Bộ nông
nghiệp Quy định việc kiểm tra cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp và
kiểm tra, chứng nhận cơ sở sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản đủ điều kiện
an toàn thực phẩm.
Thông tư số 50/2014/TT- BNNPTNT ngày 24/12/2014 của Bộ nông
nghiệp và Phát triển nông thôn sửa đổi, bổ sung một số điều Thông tư
66/2011/TT-BNNPTNT ngày 10/10/2011 Quy định chi tiết một số điều Nghị
định 08/2010/NĐ-CP ban hành ngày 05 tháng 2 năm 2010 về quản lý thức ăn
chăn nuôi.
32
PHẦN 3. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Đối tượng:
- Hộ chăn nuôi, các cơ sở kinh doanh và thức ăn công nghiệp tại 3 xã đại
diện của Huyện Gia Lâm (Kim Sơn, Dương Quang, Văn Đức) thành phố Hà Nội.
Địa điểm và thời gian: Nghiên cứu thực địa tiến hành tại Huyện Gia Lâm,
phân tích đánh giá chất lượng tại Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm - Thủy
sản thành phố Hà Nội và Phòng thí nghiệm trung tâm khoa Chăn nuôi, Học viện
Nông nghiệp Việt Nam Hà Nội từ tháng 07/2015 đến tháng 5/2016.
3.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.2.1. Thực trạng chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội
- Tình hình chăn nuôi trên địa bàn huyện Gia Lâm giai đoạn 2010-2015;
- Tình hình chăn nuôi lợn tại huyện Gia Lâm giai đoạn 2010-2015.
3.2.2. Tình hình sử dụng, kinh doanh và hệ thống quản lý chất lượng thức ăn chăn nuôi trên địa bàn huyện
- Tình hình sử dụng và tiêu thụ thức ăn công nghiệp trong chăn nuôi năm
2015;
- Hệ thống phân phối thức ăn chăn nuôi;
- Thực trạng quản l ý thức ăn chăn nuôi trên địa bàn huyện.
3.2.3. Đánh giá chất lượng dinh dưỡng một số loại thức ăn công nghiệp dùng trong chăn nuôi lợn được bán trên địa bàn huyện 3.2.4. Đánh giá ô nhiễm vi sinh vật, nấm mốc, kim loại nặng và định lượng một số loại kháng sinh, hormone trong thức ăn dùng trong chăn nuôi lợn được bán trên địa bàn huyện Gia Lâm
3.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3.1. Phương pháp phân vùng nghiên cứu
Thu thập số liệu thứ cấp từ số liệu thống kê Phòng Kinh tế Huyện, Chi
cục Thống kê huyện, Trạm Thú Y huyện, Phòng Chăn nuôi Sở Nông nghiệp và
PTNT , Chi cục quản lý chất lượng nông lâm- Thủy sản.
Điều tra từ cơ sở kinh doanh và đại diện cơ sở chăn nuôi trên địa bàn
huyện Gia Lâm.
33
3.3.2. Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
- Phương pháp điều tra thông qua các báo cáo, số liệu thống kê của các cơ
quan, ban ngành liên quan.
- Phương pháp điều tra chính thức: Tình hình hoạt động kinh doanh và sử dụng thức ăn công nghiệp trong chăn nuôi lợn được điều tra bằng hai bộ câu hỏi được thiết kế trước (một bộ câu hỏi dùng điều tra đánh giá tình hình kinh doanh, một bộ câu hỏi dùng đánh giá tình hình chăn nuôi và sử dụng thức ăn công nghiệp trong chăn nuôi lợn) tại 3 xã đại diện cả về mặt địa lý và mức độ phát
triển chăn nuôi lợn (Kim Sơn, Văn Đức, Dương Quang).
- Phương pháp lấy mẫu:
+ Đối với các chỉ tiêu lý hóa mẫu thức ăn được lấy theo TCVN 4325: 2007
(ISO 06497:2002).
+ Đối với các chỉ tiêu vi sinh vật, mẫu được lấy theo TCVN 8129: 2009.
Số mẫu kiểm tra theo các chỉ tiêu kiểm tra (mẫu)
Địa điểm lấy mẫu
Số đại lý thức ăn
Số mẫu được lấy (mẫu)
Chất lượng dinh dưỡng
Hàm lượng kháng sinh
Clenbuteron và Salbutamol
Ô nhiễm vsv, nấm mốc, kim loại nặng 4 8 8 20
Xã Kim Sơn Xã Dương Quang Xã Văn Đức Tổng
3 4 4 11
12 16 16 44
12 16 16 44
4 8 8 20
2 4 4 10
Bảng 3.1. Dung lượng mẫu thức ăn được lấy trên địa các xã và các chỉ tiêu kiểm tra chất lượng
Trên cơ sở qui mô, số lượng đại lý kinh doanh thức ăn chăn nuôi trên địa bàn các xã điều tra để quyết định số lượng mẫu. Khu vực xã Văn Đức và xã Dương Quang có nhiều đại lý được lấy nhiều nhất (16 mẫu), xã Kim Sơm ít đại lý nên số mẫu lấy ít hơn (Bảng 3.1). Mẫu được lấy 4 đợt khác nhau từ tháng 8 năm 2015 đến tháng 2 năm 2016, mỗi mẫu được chia làm hai gói khác nhau (một gói dùng phân tích các chỉ tiêu lý hóa, một gói dùng phân tích các chỉ tiêu vi sinh và nấm mốc). Mẫu được lấy từ các mã thức ăn dạng nguyên bao hoặc tại các cơ
sở kinh doanh hoặc kho chứa cơ sở chăn nuôi.
Riêng 10 mẫu thức ăn chăn nuôi lợn để phân tích kiểm tra hormone sinh trưởng Clenbuterol và Salbutamol có 5 mẫu được lấy từ bao thức ăn nguyên tại kho các cơ sở kinh doanh và cơ sở chăn nuôi và 5 mẫu được lấy từ máng ăn (chỉ
lấy cám dùng cho lợn thịt giai đoạn cuối xuất chuồng).
34
3.3.3. Phương pháp phân tích đánh giá chất lượng thức ăn chăn nuôi
Tất cả các chỉ tiêu đều được phân tích theo tiêu chuẩn hiện hành, các
phương pháp phân tích được chuẩn hóa và đảm bảo độ tin cậy theo quy định.
Mỗi một chỉ tiêu đều được phân tích lặp lại 2 lần, giá trị đánh giá là giá trị trung
bình của 2 lần phân tích. Các tính độ giao động phân tích cho phép và đánh giá
các chỉ tiêu dinh dưỡng cơ bản (Trong nghiên cứu này áp dụng theo độ ẩm,
protein thô, Xơ thô, Ca và Phốt pho được thực hiện theo hướng dẫn của tiêu
chuẩn ngành 10TCN 860: 2006 Ban hành kèm theo quyết định số 4099
/QĐ/BNN-KHCN ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Bộ Nông nghiệp và phát
triển nông thôn.
- Xác định độ ẩm theo TCVN 4326: 2001
- Xác định hàm lượng protein thô theo TCVN 4328-1: 2007
- Xác định hàm lượng xơ thô theo TCVN 4329: 2007
- Định lượng hàm lượng canxi (phương pháp thể tích) theo tiêu chuẩn Việt
Nam TCVN 1526-1:2007
- Định lượng hàm lượng photpho (phương pháp quang phổ) theo TCVN
1525:2001.
- Kháng sinh nhóm Clotertracyclin, tetracycline được định lượng theo TCVN
8544: 2010 (AOAC 995.09) bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao.
- Phân tích tylosin được định lượng theo TCVN 8543: 2010 bằng phương
pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao.
- Phân tích Chloramphenicol trong thức ăn chăn nuôi theo phương pháp Sắc
ký lỏng khối phổ.
- Phân tích Oxytetracylin được định lượng theo TCVN 8544: 2010 (AOAC
995.09) bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao.
- Vi khuẩn hiếu khí tổng số (CUF/g) được phân tích theo TCVN 5165-90
- E.coli được phân tích theo TCVN 6846: 2007
- Salmonella được phân tích theo TCVN 4829: 2005 Phương pháp phát hiện
salmonella trên đĩa thạch.
- Aflatoxin B1 được phân tích theo TCVN 6953: 2001 Phương pháp sắc ký
lỏng hiệu năng cao.
35
- Asen được phân tích theo AOAC 957.22 bằng phương pháp so màu.
- Cadimi được phân tích theo TCVN 7603: 2007 bằng phương pháp Quang
phổ hấp thụ nguyên tử.
- Thủy ngân được phân tích theo TCVN 7604: 2007 bằng phương pháp
Quang phổ hấp thụ nguyên tử.
- Chì được phân tích theo TCVN 7602: 2007 bằng phương pháp Quang phổ
hấp thụ nguyên tử.
- Hormone beta- agonist trong nghiên cứu này chỉ kiểm tra Clenbuteron và
Salbutamol bằng chiến lược phân tích hai bước theo hướng dẫn của thông tư
số 01/2016/TT-BNNPTNT của bộ NN&PTNT (sàng lọc bằng ELISA sử dụng kít
hãng Biooscientific và khẳng định bằng phương pháp sắc khối phổ). Kít ELISA
sử dụng là kít do hãng MaxSignalTM sản xuất (MaxSignalTM Clenbuterol
ELISA Test Kit - Biooscientific (Cat No: 1021) và MaxSignalTM Salbutamol
ELISA Test Kit - Biooscientific (Cat No: 1022) đều có giới hạn phát hiện (LOD
là 0,1 ppb).
3.3.4. Phương pháp xử lý số liệu
- Thông tin từ các báo cáo, thống kê cũng như số liệu đã công bố khác
được tổng hợp, sau đó phân loại chọn lọc ra những thông tin cần thiết theo
nội dung nghiên cứu.
- Số liệu điều tra trực tiếp và kết quả phân tích trong phòng thí nghiệm được
xử lý bằng thống kê mô tả trên phần mền thống kê Minitab 14.
36
PHẦN 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. THỰC TRẠNG CHĂN NUÔI LỢN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
4.1.1. Tình hình chăn nuôi trên địa bàn huyện
Từ năm 2010 đến nay ngành chăn nuôi luôn được Huyện ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện xác định là một trong những ngành mũi nhọn, quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của địa phương. Chủ trương của huyện là phát triển chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng thành chăn
nuôi cạnh tranh, hàng hóa và bền vững.
Chính những chủ trương và chiến lược đó đã giúp ngành chăn nuôi trên địa bàn phát triển ổn định theo hướng chuyên canh, hàng hóa và bền vững. Hình
thành những vùng chăn nuôi trọng điểm khác nhau.
Đối với đàn trâu bò, mặc dù quá trình phát triển cơ giới hóa nông nghiệp nên nhu cầu làm sức kéo giảm, nhưng nhu cầu thịt trâu bò, sữa tăng mạnh cùng với địa lý, tiềm năng đất tự nhiên lớn nên đàn bò sữa, bò thịt phát triển mạnh trong các năm gần đây hình thành vùng chăn nuôi trọng điểm của huyện, từ 7.355 con vào năm 2010, sau năm năm phát triển tổng đàn trâu bò năm 2015 đạt 7.917 con. Trong khi đó, chủ trương của huyện tiếp tục triển khai thực hiện dự án lai tạo giống bò thịt trên nền đàn bò cái lai Sind tại các xã trong quy hoạch phát triển chăn nuôi, tiếp tục thực hiện đề án chăn nuôi bò sữa và bò thịt đã nâng cao
chất lượng đàn bò trên địa bàn huyện.
Chỉ tiêu
2010
2011
2012
2013
2014
Đơn vị: con 2015
Trâu, Bò Lợn
7.355 40.932
7.677 40.985
7288 44.242
7.346 52114
7.831 55.013
7.917 58.907
Gia cầm
212.572 233.395
253.048
243.409
275.404
254.855
Nguồn: Trạm thú y huyện Gia Lâm (2015) - Đối với chăn nuôi lợn do ảnh hưởng rất lớn của dịch bệnh đặc biệt là dịch Tai xanh xảy ra vào năm 2010, biến động thị trường, cùng với sự tăng giá thức ăn chăn nuôi đã tác động làm cho tổng đàn lợn giảm mạnh. Những hộ chăn nuôi lợn quy mô trang trại và chăn nuôi lợn nái ngoại do tuân thủ quy trình kỹ thuật và thực hiện tốt công tác phòng bệnh nên số lượng lợn nái ngoại có xu hướng tăng, trong
Bảng 4.1. Tình hình phát triển chăn nuôi huyện giai đoạn 2010- 2015
37
số 58 trang trại đủ tiêu chí theo Thông tư 27 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp. Nhìn chung chăn nuôi lợn tuy chịu tác động rất lớn bởi dịch bệnh, giá đầu vào và thị
trường song hiện nay vẫn chiếm tỉ trọng trên 60% giá trị ngành chăn nuôi.
- Chăn nuôi gia cầm, thủy cầm: Chăn nuôi gia cầm ngày càng được quan
tâm hơn, phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại, gia trại tập trung, nên công
tác phòng dịch đã được thực hiện tốt. Mặc dù chịu ảnh hưởng rất lớn của dịch
cúm gia cầm nhưng đàn gia cầm vẫn ổn định và tăng qua các năm.
Thực hiện chủ trương của Thành phố xây dựng các cơ sở giết mổ tập trung
.Trên địa bàn huyện có 05 cơ sở giết mổ gia cầm tập trung, trong đó tại xã Yên
Thường có 03 cơ sở: Cơ sở Lan Vinh, cơ sở Thành Lợi, cơ sở Luyện Hà, cơ sở
Trần Văn Đát - xã Phú Thị và cơ sở Út Bạch - xã Dương Quang.
Thực hiện chỉ đạo của UBND Huyện về chiến lược phát triển chăn nuôi
hàng hóa, cạnh tranh trở thành ngành chủ lực trong phát triển nông nghiệp trong
thời gian tới, huyện Gia Lâm đã xây dựng định hướng quy hoạch vùng chăn nuôi
trọng điểm, hình thành các khu chăn nuôi với quy mô lớn, đưa chăn nuôi vào sản
xuất theo hướng hàng hóa, cạnh tranh, công nghiệp hoá hiện đại hoá, đồng thời
đảm bảo vệ sinh môi trường.
4.1.2. Tình hình chăn nuôi lợn tại huyện Gia Lâm 4.1.2.1. Tình hình phát triển đàn lợn tại huyện Gia Lâm giai đoạn 2010 - 2015
Huyện Gia Lâm là huyện có điều kiện rất thuận lợi cho phát triển chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng, nhưng do nhiều yếu tố tình hình chăn nuôi lợn chung của toàn Huyện cũng như cả nước tác động nên đã có những biến động
qua các năm Bảng 4.2.
Qua số liệu Bảng 4.2 cho thấy tổng đàn lợn từ năm 2010,đến năm 2015 tăng 17.975 con. Nguyên nhân chính để đàn lợn năm 2010 có tổng đàn giảm là do trên địa bàn huyện xảy ra dịch Tai Xanh (Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản PRRS.) tại 14 xã trong huyện số lượng lợn bệnh phải tiêu hủy 153 tấn nên người chăn nuôi đã thu hẹp tổng đàn do tâm lý sợ dịch bệnh. Đến năm 2011, năm 2012 đàn lợn trên địa bàn huyện tăng chậm là do năm 2011 tình hình thời tiết khắc nghiệt rét đậm kéo dài và các thay đổi thời tiết bất thường gây ảnh hưởng đến sức khỏe đàn gia súc đó là dịch bệnh có điều kiện bùng phát trở lại nhất là dịch LMLM trên đàn trâu bò và dịch Tai Xanh trên đàn lợn. Bên cạnh đó giá cả của yếu tố đầu vào trong chăn nuôi lợn thịt tăng như giá lợn gống, giá thức ăn,
38
thuốc thú y… Trong khi đó giá lợn thịt không tăng hoặc có tăng nhưng rất ít không bù được chi phí đầu vào dẫn đến người chăn nuôi bị thua lỗ hoặc lợi nhuận thấp, nhiều hộ chăn nuôi bị vỡ đàn không đủ vốn để đầu tư tái đàn, nhiều hộ chăn nuôi lợn với quy mô lớn đã thu hẹp quy mô sản xuất hoặc không chăn nuôi bỏ sang ngành nghề khác. Nhưng trong những năm gần đây, cùng với chính sách phát triển vùng chăn nuôi tập trung theo hướng nâng cao năng suất và chất lượng thịt lợn của thành phố Hà Nội cũng như định hướng của huyện Gia Lâm. Đồng thời để đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng đòi hỏi sản phẩm thịt lợn phải có chất lượng tốt, tỷ lệ nạc cao, nên quy mô đàn lợn nội và F1, F2 có xu hướng giảm dần, thay vào đó là đàn lợn ngoại ngày càng tăng hình thành vùng trọng
điển chăn nuôi lợn nạc tại xã Văn Đức.
Qua bảng 4.2 cho thấy theo thống kê thời điểm T.5.2014 đàn lợn đực giống năm 2014 tăng so với năm 2013. Do nó liên quan đến trại giống gốc của Khoa chăn nuôi. Đây là trại giống gốc chuyên cung cấp tinh và cung cấp lợn đực
giống cho các tỉnh.
- Năm 2015 giảm do số lượng lợn đực của Trại được bán đi trong giai đoạn chưa được khai thác. Số lượng này giảm là do giảm ở trang trại cơ sở cuung cấp giống.
- Do các hộ chủ yếu nhập tinh từ các cơ sở trang trại khác chủ yếu nuôi lợn
đực để kích thích con cái.
Chỉ tiêu
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Năm 2014
Năm 2015
40.932
40.985
44.242
52114
55.013
58.907
Tổng đàn lợn (con)
4.019
Lợn nái (con)
2.625
2.543
2.541
3.315
3.746
54.802
Lợn thịt (con)
38.266
38.399
41.644
48.707
51.088
Lợn đực giống (con)
41
43
57
92
179
86
Nguồn: Trạm thú y huyện Gia Lâm (2015)
Bảng 4.2. Tình hình phát triển và biến động cơ cấu đàn lợn trên địa bàn huyện Gia Lâm giai đoạn 2010 - 2015
4.1.2.2. Các hình thức chăn nuôi lợn
Trong điều kiện hiện nay cùng với sự tăng trưởng kinh tế - xã hội khi khoa
học ngày càng phát triển, nhu cầu thực phẩm của xã hội đòi hỏi ngày càng cao cả
về số lượng và chất lượng. Vì vậy, trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn
39
nói riêng đã hình thành và phát triển các hình thức và quy mô chăn nuôi khác
nhau. Tùy vào điều kiện cụ thể của từng hộ. Từ chăn nuôi nhỏ lẻ, nông hộ, phân
tán theo hướng tận dụng và tự cung tự cấp nay đã hình thành nhiều hình thức
chăn nuôi khác nhau như chăn nuôi trang trại, gia trại theo hướng chuyên canh,
hàng hóa. Qua quá trình điều tra thấy các cơ sở chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện
có 3 hình thức chăn nuôi lợn:
HT1 (hình thức 1): chỉ nuôi lợn nái
HT2 (hình thức 2) : chỉ nuôi lợn thịt
HT3 ((hình thức 3). Chăn nuôi kết hợp cả lợn thịt và lợn nái
Ở hình thức 1 và hình thức 3 các hộ đều nuôi lợn con từ khi sơ sinh đến
khi cai sữa, nhưng ở HT1 khi các hộ nuôi lợn con đến khi cai sữa thì xuất bán,
còn ở HT3 các hộ nuôi tiếp đến khi xuất chuồng, các hộ này có thể không hoặc
mua thêm lợn sau cai sữa ở các cơ sở khác để nuôi vỗ béo hình thức này hiện nay
đang được nhiều hộ chăn nuôi quy mô trang trại áp dụng. Ở HT2 các hộ mua lợn
sau cai sữa ở các cơ sở chăn nuôi khác về để nuôi vỗ béo (hoặc nuôi gia công).
4.2. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VÀ KINH DOANH THỨC ĂN CHĂN NUÔI
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM
4.2.1. Tình hình sử dụng thức ăn hỗn hợp
Gia Lâm là huyện có tốc độ đô thị hóa nhanh diện tích đất nông nghiệp
ngày càng bị thu hẹp do vậy sản lượng các loại cây trồng là nguồn thức ăn cho
gia súc nói chung, chăn nuôi lợn riêng ngày càng hạn chế không đáp ứng được
nhu cầu chăn nuôi lợn của huyện. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, do áp
dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nên đã và đang thúc đẩy các phương thức
chăn nuôi tiên tiến (chăn nuôi công nghiệp và chăn nuôi bán công nghiệp) phát
triển kéo theo nhu cầu về thức ăn công nghiệp ngày càng cao.
Thực tế, từ phương thức chăn nuôi nông hộ mang tính tận dụng, các hộ
chăn nuôi chỉ sử dụng, tận dụng nguồn thức ăn sẵn có đến nay đại đa số các hộ
chăn nuôi sử dụng thức ăn công nghiệp theo hai phương thức, hoặc hoàn toàn sử
dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho ăn theo khẩu phần, hoặc sử dụng thức ăn
đậm đặc pha trộn với nguyên liệu sẵn có của địa phương. Hiện nay, rất ít hộ chăn
nuôi lợn chỉ tận dụng sử dụng thức ăn sẵn có.
40
Một số loại TĂCN trong chăn nuôi lợn đang được người chăn nuôi sử
dụng phổ biến trên địa bàn là các sản phẩm của các công ty có thương hiệu như
sản phẩm của công ty: Charoen Pokphand (CP), Cargill, Japfa, AF, Proconco
Hà Việt, Lái Thiêu, Đồng Hới….
(Con cò), GreenFeed, Con heo vàng, De Heus , Dabaco, Newhop, Thái Dương ,
Bảng 4.3. Lượng tiêu thụ thức ăn công nghiệp dùng trong
Nội dung
Số lượng (cơ sở)
Lượng thức ăn bán/tiêu thụ hàng ngày (kg)
Lượng thức ăn bán/ tiêu thụ năm (kg)
Đại lý cấp 1
25
2000
18.250.000
Đại lý cấp 2
23
600
5.037.000
Trang trại mua trực tiếp của nhà máy
17
600
3.723.000
Cộng tổng
65
3.200
27.010.000
chăn nuôi lợn ở huyện Gia Lâm
Từ số liệu ở Bảng 4.3 và Sơ đồ 4.1 cho thấy trên địa bàn huyện hiện có 3
hình thức phân phối thức ăn chăn nuôi chính là thông qua đại lý cấp 1, đại lý cấp
2, và trang trại chăn nuôi. Lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp tiêu thụ trung
bình hàng ngày lên gần 3,5 tấn/ngày. Trong đó, lượng tiêu thụ hàng ngày từ đại
lý cấp 1 là 2 tấn (chiếm 52,6% trong tổng số TĂCN tiêu thụ hàng ngày), đại lý
cấp 2 là 600kg (chiếm 18,4% trong tổng số TĂCN tiêu thụ hàng ngày), Các trang
trại mua trực tiếp từ nhà máy 600kg/ ngày.
Hàng năm, trên địa bàn huyện tiêu thụ hơn 27 ngàn tấn thức ăn dùng trong
chăn nuôi lợn, điều này đã khẳng định ngành chăn nuôi lợn tại huyện đang phát
triển và trở thành một trong những ngành trọng điểm trong phát triển kinh tế
của huyện.
4.2.2. Hệ thống phân phối và kinh doanh thức ăn chăn nuôi
Thức ăn chăn nuôi từ các công ty, doanh nghiệp sản xuất được phân phối
đến người chăn nuôi theo kênh gián tiếp qua hệ thống đại lý cấp 1, cấp 2, hoặc
trực tiếp cho các hộ chăn nuôi trang trại (Sơ đồ 4.1). Hệ thống kênh phân phối
sản phẩm thức ăn chăn nuôi trên địa bàn huyện được thể hiện theo Sơ đồ 4.1.
41
Các công ty sản xuất thức ăn
Đại lý cấp 1
Đại lý cấp 2
Hộ chăn nuôi nhỏ lẻ
Hộ chăn nuôi trang trại
Sơ đồ 4.1. Kênh phân phối thức ăn chăn nuôi
Qua khảo sát cho thấy đại đa số các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ mua thức ăn từ các
hệ thống đại lý cấp 1 hoặc cấp 2. Cụ thể 90% người chăn nuôi phụ thuộc vào các
đại lý cung cấp thức ăn đóng trên địa bàn huyện - thường là đại lý cấp 1, 2. Gần
đây, trên địa bàn huyện xuất hiện ngày càng nhiều trang trại chăn nuôi lợn đã trực
tiếp mua TĂCN từ nhà phân phối và có xu hướng phát triển mạnh hơn hình thức
tiêu thụ TĂCN này. Thực tế điều tra thấy một số hộ chăn nuôi đồng thời lại làm
đại lý thức ăn chăn nuôi để cung cấp cho các hộ chăn nuôi khác. Tuy nhiên, số này
chỉ chiếm khoảng 10% lượng thức ăn tiêu thụ trên thị trường và đại đa số tập trung
ở các trang trại lớn. Mặc dù, ít hộ mua trực tiếp nhưng là tín hiệu tốt cho sự phát
triển chăn nuôi hàng hóa cạnh tranh. Giảm bớt các khâu trung gian là một giải
pháp hạ giá thành chăn nuôi nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
Một dấu hiệu khác phản ánh sự phát triển và sự coi trọng chất lượng là sự
hợp tác giữa người chăn nuôi và các công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi. Một số
công ty sản xuất thức ăn thuyết phục người mua thông qua hình thức dùng thử tại
các trang trai. Các hộ tự thử nghiệm, tự đánh giá chất lượng theo kết quả chăn
nuôi là cơ sở cho việc chọn thức ăn cho trang trại.
Giá đầu vào thức ăn theo Sơ đồ 4.1 và Bảng 4.3 trên cho thấy nếu người
chăn nuôi càng rút ngắn kênh phân phối thì giá thành thức ăn càng thấp. Tuy
nhiên, thực tế điều tra cho thấy các hộ chăn nuôi với quy mô càng lớn hệ thống
kênh phân phối càng ngắn, càng thấp, do đó hiệu quả chăn nuôi càng cao.
42
4.2.3. Thực trạng quản lý thức ăn chăn nuôi trên địa bàn huyện 4.2.3.1. Hệ thống tổ chức các cơ quan quản l ý về chất lượng TACN
Hiện nay, trên địa bàn Thành phố Hà Nội, Sở nông nghiệp và PTNT là cơ quan chuyên môn thực hiện công tác quản lý chất lượng TĂCN trên địa bàn Thành phố, với chức năng được phân công thì hàng năm Sở thành lập từ 01 đến 02 đoàn kiểm tra liên ngành. Thành phần của đoàn kiểm tra bao gồm: Phòng chăn nuôi - Sở Nông nghiệp và PTNT; Phòng Thanh tra - Sở Nông nghiệp và PTNT; Chi cục quản lý thị trường; Công an; Chi cục quản lý chất lượng nông
lâm sản và thuỷ sản.
Theo đó, đoàn kiểm tra của Sở phải thực hiện kiểm tra chất lượng TĂCN của các nhà máy hiện đang đăng ký sản xuất TĂCN trên địa bàn Thành phố. Ngoài ra, đoàn cũng tiến hành kiểm tra, đánh giá chất lượng của các đại lý lớn hiện đang kinh doanh TĂCN trên địa bàn một số huyện. Theo kết quả kiểm tra năm 2015, đoàn kiểm tra đã kiểm tra được 74 công ty sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi đã lấy 40 mẫu ( trong đó 6 mẫu đậm đặc, 34 mẫu thức ăn hỗn hợp) để phân tích các chỉ tiêu chất lượng và những chỉ tiêu an toàn vệ sinh thực phẩm, các chỉ tiêu kiểm tra, đánh giá chất lượng thức ăn chăn nuôi được quy định tại Phụ lục 19 của Thông tư 66/2011/TT-BNNPTNT của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định chi tiết một số điều Nghị định số 08/2010/NĐ- CP ngày 05/02/2010 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi. Kết quả phân
tích cụ thể như sau:
+ Chỉ tiêu về chất lượng: Gồm các chỉ tiêu: độ ẩm, prôtein, nitơ phi prôtein, khoáng tổng số, xơ thô, Lysin, Methionine, Cystine, Threonin đều đạt so
với chỉ tiêu công bố của các công ty ghi trên bao bì.
+ Chỉ tiêu Độ ẩm phân tích 40 mẫu cho kết quả đạt 100% so với công bố.
+ Chỉ tiêu kháng sinh: Gồm các loại: Tetracycline, Furazolidone, Tylosine,
Cloramphenicol. Số mẫu phân tích 40 mẫu kết quả 4 loại kháng sinh không phát hiện.
+ Kết quả phân tích chỉ tiêu Vi sinh vật: Gồm các loại: Coliform tổng số và
E.coli: Số mẫu phân tích 40 kết quả 100% không phát hiện.
+ Kết quả phân tích chỉ tiêu độc tố nấm mốc:
Gồm 2 loại: Aflatoxin tổng số và Aflatoxin B1. Số mẫu phân tích 40 mẫu
kết quả 100% số mẫu đều cho kết quả phù hợp với quy chuẩn cho phép.
43
+ Kết quả phân tích chỉ tiêu Hormone: Gồm 3 loại: Ractopamin,
Clenbuterol, Salbutamol. Số mẫu phân tích 40 kết quả 100% âm tính.
+ Kết quả phân tích chỉ tiêu kim loại nặng: Gồm 4 loại: As, Pb, Cd, Hg. Số
mẫu phân tích 40 mẫu kết quả 100% số mẫu đều cho kết quả phù hợp với Quy
chuẩn cho phép. (báo cáo Sở NNPTNT Hà Nội, 2015).
Nhưng trên thực tế, đoàn kiểm tra liên ngành của Thành phố không thể thực
hiện việc kiểm tra đồng bộ tất cả các đơn vị kinh doanh trên địa bàn các huyện.
Để tăng cường và chủ động trong công tác quản lý chất lượng vật tư, hàng
hóa nông nghiệp, Sở NN&PTNT giao cho các huyện phải chủ động phối hợp với cơ
quan chuyên môn có thẩm quyền để thực hiện việc kiểm soát chất lượng vật tư, hàng
hóa nông nghiệp trong đó có TĂCN trên địa bàn được giao quản lý. Tuy nhiên, đây
là nhiệm vụ mà các huyện mới được giao để thực hiện nên trong quá trình thực hiện
đang gặp không ít khó khăn, cụ thể như: Trên địa bàn số lượng cơ sở sản xuất
TĂCN lớn, cơ sở sản xuất TĂCN nhỏ nằm xen kẽ với khu dân cư, địa điểm sản xuất
thay đổi thường xuyên, số cơ sở ngừng sản xuất, cơ sở mới thành lập hàng năm luôn
biến động gây ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý.
- Nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh TĂCN có văn phòng tại Hà Nội
nhưng lại thuê gia công ở các tỉnh khác nên cũng gặp nhiều khó khăn trong
quá trình quản lý.
- Cán bộ làm công tác quản lý thức ăn chăn nuôi số lượng ít, nhất là ở các
Quận, Huyện, thị xã không có cán bộ chuyên trách làm công tác quản lý thức ăn
chăn nuôi, các quận, huyện, thị xã chưa quan tâm đến việc quản lý TĂCN. Cán
bộ của đa số các huyện tham gia thanh kiểm tra chưa được đào tạo, tập huấn nên
trong quá trình thực hiện thanh, kiểm tra chưa phổ biến được hết các yêu cầu của
công tác quản lý đến các đại lý; công tác tuyên truyền văn bản quy phạm pháp
luật cho các đại lý chưa được thực hiện thường xuyên nên đang còn xuất hiện
tượng chống đối.
Nhìn chung, hệ thống tổ chức quản lý chất lượng TĂCN của huyện còn
mỏng và thiếu, đa phần là kiêm nhiệm, kinh nghiệm thực tế trong quản lý TĂCN
không có nhiều nên trong quá trình thực hiện còn gặp nhiều bất cập.
44
4.2.3.2. Thực trạng quản lý thức ăn chăn nuôi trên địa bàn huyện
* Khung pháp lý
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về chất lượng thức
ăn đã và đang được bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện, một số luật và văn bản dưới
luật liên quan đến chất lượng đã được xây dựng và sửa đổi như như Luật Chất
lượng sản phẩm hàng hóa (năm 2007), Luật Tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thật (2006)
và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thực hiện, các Thông tư liên ngành về
phân công trách nhiện quản lý nhà nước về chất lượng vật tư, hàng hóa nông
nghiệp trong đó có thức ăn chăn nuôi.
Trên địa bàn huyện các cơ quan chuyên môn đã quan tâm đến vấn đề chất
lượng, cụ thể như UBND huyện đã chỉ đạo các đơn vị có liên quan và phối hợp
với các ngành chức năng tham mưu thực hiện tốt việc quản lý chất lượng vật tư,
nông nghiệp trong đó có thức ăn chăn nuôi. Đây chính là điều kiện pháp lý thuận
lợi để cơ quan quản lý các cấp tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chất lượng
nhằm làm giảm vật tư, nông nghiệp kém chất lượng tiêu thụ trên thị trường.
Nhìn chung, với hệ thống khung pháp lý đang ngày càng hoàn thiện sẽ tạo
điều kiện để các cơ quan quản lý trên địa bàn huyện phát huy được vai trò thực
hiện quản lý chất lượng vật tư, nông nghiệp nói chung và thức ăn chăn nuôi nói
riêng. Tuy nhiên tại thời điểm hiện tại, công tác quản lý thức ăn chăn nuôi vẫn
còn gặp nhiều khó khăn, do các văn bản chưa đồng bộ, cụ thể như hệ thống công
bố, chứng nhận hợp quy, hợp chuẩn cho thức ăn đang còn trong tiến trình xây
dựng, các quy định về điều kiện sản xuất, điều kiện kinh doanh còn thiếu, nên
các mặt hàng không được kiểm soát chất lượng vẫn còn bán khá nhiều trên thị
trường; các văn bản quy định xử lý còn chưa đủ mạnh chưa đủ sức răn đe nên
không ít các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh vẫn chấp nhận nộp phạt để lưu
thông hàng hóa kém chất lượng. Từ đó, đã tạo ra không ít khó khăn cho công tác
quản lý của các cơ quan chuyên môn và chính quyền cơ sở trên địa bàn huyện.
* Hệ thống các cơ quan quản lý về chất lượng thức ăn chăn nuôi
- Ở Thành phố: Hiện nay, trên địa bàn thành phố Sở Nông nghiệp &
PTNT là cơ quan chuyên môn thực hiện công tác quản lý chất lượng TĂCN trên
địa bàn toàn thành phố,với chức năng được phân công thì hàng năm Sở thành lập
45
đoàn kiểm tra liên ngành thành phần của đoàn gồm: Phòng Chăn nuôi sở NN &
PTNT, Thanh tra sở, Chi cục Quản lý thị trường ,Công an, Chi cục quản lý chất
lượng nông lâm sản và thủy sản. Theo đó, đoàn kiểm tra của Sở phải thực hiện
kiểm tra chất lượng TĂCN của các nhà máy đang sản xuất TĂCN trên địa bàn
thành phố. Ngoài ra đoàn cũng tiến hành kiểm tra, đánh giá chất lượng của các
đại lý lớn hiện đang kinh doanh TĂCN trên địa bàn một số huyện.
- Ở huyện : Để là tốt hơn nữa trong công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng
thức ăn chăn nuôi trên địa bàn. UBND Huyện đã ban giao cho các cơ quan
chuyên môn có thẩm quyền để kiểm soát chất lượng TĂCN trên địa bàn huyện.
Tuy nhiên, đây là nhiệm vụ mới nên việc tổ chức thực hiện gặp không ít khó
khăn, cụ thể như cán bộ được giao thực hiện nhiệm vụ ít về số lượng lại chưa
được tập huấn nên trong quá trình thực hiện thanh, kiểm tra chưa phổ biến hết
được các yêu cầu của công tác quản lý đến các đại lý, công tác tuyên truyền các
văn bản quy phạm pháp luật cho các đại lý chưa được thực hiện thường xuyên.
Việc kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi ở cấp huyện chủ yếu mới dừng lại ở
các khâu như : đăng ký kinh doanh, thời hạn sử dụng của các loại thức ăn thông
qua công bố trên bao bì nhãn mác, điều kiện kho tàng, niêm ít giá và các loại hóa
đơn chứng minh đầu vào. Việc lấy mẫu để phân tích các chi tiêu chính của
TĂCN chưa thực hiện được mà chủ yếu dựa vào kết quả kiểm tra của Sở.
Hệ thống tổ chức quản lý chất lượng TĂCN trên địa bàn thành phố nói
chung và địa bàn huyện nói riêng còn rất mỏng và thiếu, chủ yếu là kiêm nhiệm
nên kinh nghiệm thực tế trong quản lý TĂCN không có nhiều nên trong quá trình
tổ chức thực hiện gặp rất nhiều khó khăn.
4.2.3.3. Định hướng và giải pháp quản lý thức ăn chăn nuôi trên địa bàn huyện
TĂCN công nghiệp có vai trò quan trọng để phát triển chăn nuôi, định
hướng phát triển chăn nuôi của huyện theo hướng hàng hoá là dựa trên phương
thức áp dụng chăn nuôi công nghiệp tập trung, hạn chế việc chăn nuôi nhỏ lẻ. Để
xây dựng được nền tảng chăn nuôi phát triển mạnh, có chiều sâu, một trong
những quan điểm chủ đạo của huyện trong thời gian tới là phải đứng trên quan
điểm bảo đảm chất lượng TĂCN công nghiệp được tiêu thụ trên địa bàn.
46
Xuất phát từ quan điểm trên, phát triển TĂCN của huyện phải hướng tới
các vấn đề sau:
- Phát triển TĂCN công nghiệp trên cơ sở khuyến khích mọi thành phần
kinh tế tham gia tiêu thụ trên thị trường.
Để phát triển TĂCN bền vững và lâu dài với tốc độ vững chắc, cần có
định hướng thích hợp về chính sách Nhà nước đối với công việc kinh doanh thức
ăn chăn nuôi trên địa bàn huyện. Đó là cải thiện những vấn đề còn yếu kém trong
công tác quản lý chất lượng thức ăn chăn nuôi trên địa bàn.
- Định hướng công tác đảm bảo chất lượng TĂCN trên địa bàn.
Qua thực tế điều tra, đánh giá chất lượng cho thấy, TĂCN đang tiêu thụ
trên địa bàn huyện rất đa dạng, tuy nhiên chất lượng TĂCN nói chung trên thị
trường đang còn tồn tại nhiều loại có chất lượng không đảm bảo theo công bố
chất lượng. Các cơ quan quản lý của huyện cần tập trung tăng cường kiểm soát
chất lượng các loại sản phẩm TĂCN tại các cơ sở sản xuất trên địa bàn thành phố
và các đại lý trên địa bàn các huyện, đồng thời UBND huyện chỉ đạo các bộ phân
chuyên môn của huyện chủ động phối hợp với các cơ quan chuyên môn có thẩm
quyền để kiểm soát chất lượng TĂCN trên địa bàn huyện. Bên cạnh đó, cần phải
thường xuyên tuyên truyền để các hộ kinh doanh, người chăn nuôi hiểu được
mức độ thiệt hại kinh tế khi tiêu thụ, sử dụng mặt hàng TĂCN kém chất lượng.
Nhằm hướng đến việc chất lượng TĂCN cung cấp trên địa bàn huyện luôn đảm
bảo chất lượng theo đúng công bố.
Giải pháp đảm bảo chất lượng TĂCN trên địa bàn
Từ định hướng phát triển TĂCN và thực trạng công tác quản lý chất lượng
sản phẩm TĂCN trên địa bàn huyện. Để chất lượng TĂCN trên thị trường luôn
đảm bảo chất lượng, nhằm bảo vệ quyền lợi cho người chăn nuôi và nâng cao ý
thức về chất lượng cho các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Chúng tôi xin
đề xuất các giải pháp cụ thể sau:
* Đối với cơ quan quản lý các cấp :
Cần phải thực hiện việc kiểm soát chất lượng hàng hoá TĂCN tiêu thụ
trên thị trường thông qua việc kiểm tra các đại lý lấy mẫu phân tích chất lượng
của các mặt hàng TĂCN hiện đang kinh doanh.
47
Cần phải thực hiện các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, ngăn chặn
và xử lý nghiêm theo qui định pháp luật việc các đại lý kinh doanh TĂCN không
đảm bảo chất lượng.
- Nâng cao năng lực, cơ sở vật chất, thiết bị và con người cho đơn vị kiểm
nghiệm chất lượng TĂCN (tập trung đào tạo con người, bổ sung thiết bị để thay
thế cho các thiết bị thường xuyên bị hư hỏng, các thiết bị mới để kiểm tra các chỉ
tiêu khác có ảnh hưởng đến chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm) để phục vụ
quản lý nhà nước có hiệu quả hơn.
- Thực hiện thông tin, tuyên truyền, tập huấn về chất lượng TĂCN cho cơ
quan quản lý của xã, các đại lý kinh doanh, nhằm tạo sự chuyển biến đồng bộ
trong nhận thức, tổ chức quản lý, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và thói quen tiêu
dùng của người dân.
* Đối với các cơ sở kinh doanh:
- Bổ sung, nâng cấp kho tàng, dụng cụ bảo quản cần thiết theo quy định để
duy trì chất lượng TĂCN trong quá trình kinh doanh.
- Thực hiện việc nhập hàng hoá TĂCN từ các cơ sở sản xuất có kèm theo công
bố chất lượng sản phẩm và phiếu kết quả kiểm tra chất lượng trước khi xuất xưởng.
4.3. KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG DINH DƯỠNG MỘT SỐ LOẠI
THỨC ĂN CÔNG NGHIỆP DÙNG TRONG CHĂN NUÔI LỢN TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN GIA LÂM.
Để đánh giá được một loại thức ăn công nghiệp có đạt tiêu chuẩn về chất
lượng dinh dưỡng hay không thì ngoài việc lấy mẫu phân tích thực tế các chỉ tiêu
dinh dưỡng để so sánh với công bố trên bao bì còn phải dựa trên quy định về kết
quả phân tích các chỉ tiêu dinh dưỡng so với công bố trên nhã mác bao bì
(CBNM) (Thông tư số 66/2011/TT-BNNPTNT ngày 10 tháng 10 năm 2011) và
độ giao động phân tích cho phép đối với các chỉ tiêu chất lượng (Tiêu chuẩn
ngành 10TCN 860:2006 Thức ăn chăn nuôi – Độ giao động phân tích cho phép
đối với các chỉ tiêu chất lượng, ban hành kèm theo Quyết định số
4099/QĐ/BNN-KHCN ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn).
48
Địa điểm lấy mẫu
Tỷ Lệ %
Đối tượng sử dụng
Số mẫu kiểm tra (mẫu)
Số không đạt yêu cầu so với công bố (mẫu)
Xã Kim Sơn
Lợn con tập ăn Sau cai sữa Lợn choai Xuất chuồng
3 3 3 3
0 0 1 1
0 0 33,3 33.3
Xã Dương Quang
Lợn con tập ăn Sau cai sữa Lợn choai Xuất chuồng
4 4 4 4
0 0 1 1
0 0 25,0 25,0
Xã Văn Đức
Lợn con tập ăn Sau cai sữa Lợn choai Xuất chuồng
4 4 4 4
0 0 2 0
0 0 50,0 0
Tính chung cho từng giai đoạn
Lợn con tập ăn Sau cai sữa Lợn choai Xuất chuồng
11 11 11 11
0 0 4 2
0 0 36,36 18,18
Tổng chung cho các loại
44
6
13,64
Bảng 4.4. So sánh kết quả phân tích về giá trị dinh dưỡng và công bố trên bao bì theo địa phương lấy mẫu
Nếu mẫu thức ăn phân tích có chỉ tiêu dinh dưỡng nào đó vượt mức công
bố trên bao bì nhưng lại nằm trong quy định về độ dao động phân tích cho phép
thì mẫu thức ăn đó vẫn được coi là đạt tiêu chuẩn về chất lượng và vẫn được
phép lưu hành trên thị trường.
Tiến hành lấy mẫu thức ăn công nghiệp của một số cơ sở cung cấp thức ăn
cho lợn trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội theo phương pháp lấy
mẫu đại diện theo TCVN 4325:2007 để kiểm tra một số chỉ tiêu dinh dưỡng.
Trong khuôn khổ nghiên cứu về dinh dưỡng chỉ tiến hành khảo sát 5 chỉ tiêu (độ
ẩm, protein thô, xơ thô, canxi, photpho).
Kết quả phân tích cho thấy, mẫu lấy ở các xã của các công ty khác nhau đều có sai phạm về một trong năm chỉ tiêu dinh dưỡng phân tích thực tế khi được so sánh với công bố trên bao bì và dựa trên Thông tư số 66/2011/TT-BNNPTNT ngày 10 tháng 10 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT, cũng như
49
Tiêu chuẩn ngành 10TCN 860:2006 Thức ăn chăn nuôi – Độ giao động phân tích cho phép đối với các chỉ tiêu chất lượng, ban hành kèm theo Quyết định số 4099/QĐ/BNN-KHCN ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Các mẫu vi phạm về chỉ tiêu dinh dưỡng chỉ tập trung ở các loại cám dùng cho lợn choai và lợn nuôi giai đoạn cuối trước khi xuất chuồng. Cụ thể, có 6 trên 44 mẫu kiểm tra có một trong năm chỉ tiêu dinh dưỡng phân tích vượt giới hạn giao động cho phép, vi phạm nghị định 08/2011/NĐ-CP, không đáp ứng yêu cầu so với công bố (chiếm 13,64%), trong đó 4 mẫu cám dùng cho lợn choai (15 đến 30 kg) và 2 mẫu cám dùng cho lợn giai đoạn cuối trước khi xuất chuồng.
Trong 22 mẫu cám dùng cho lợn con tập ăn và lợn con giai đoạn sau cai sữa, không có mẫu nào không đạt chỉ tiêu về dinh dưỡng. Có thể do lợn con và lợn con sau cai sữa là hai giai đoạn rất mẫn cảm với thức ăn và điều kiện vệ sinh nên được các các nhà sản xuất chú trọng và sản xuất trong điều kiện giám sát chặt chẽ hơn.
Kết quả nghiên cứu này thấp hơn so với kết quả của Trịnh Khắc Vịnh (2010) khi nghiên cứu về chất lượng TĂCN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa (số mẫu không đạt yêu cầu chiếm tỷ lệ 44,4%). Tương đương kết quả khảo sát chất lượng thức ăn công nghiệp trong chăn nuôi lợn tại tỉnh Hà Nam của Phạm Thị Thu Hà (2011) cho rằng số mẫu không đạt yêu cầu chiếm tỷ lệ 30%. Có sự sai khác này có thể do sự khác nhau về số lượng mẫu, hãng cám, chủng loại,... Hơn nữa, có thể do thời gian qua sự giám sát chặt chẽ hơn cùng với điều kiện của Gia Lâm người chăn nuôi chủ yếu chọn các loại cám của các hãng sản xuất lớn có uy tín.
Chi tiết về các chỉ tiêu liên quan đến dinh dưỡng kiểm tra, các mẫu vi phạm chủ yếu liên quan đến hai chỉ tiêu Protein thô và hàm lượng xơ trong sản phẩm (Bảng 4.5).
+ Không có mẫu nào không đạt tiêu chuẩn về độ ẩm. Qua đánh giá có thể nhận thấy các sản phẩm đều được bao gói bằng bao bì có lớp nilon nên có thể giữ ẩm rất tốt. Trong điều kiện của nước ta, sự đảm bảo độ ẩm rất quan trọng. Nếu độ ẩm quá cao sẽ là điều kiện thuận lợi để cho nấm mốc phát triển, làm giảm giá trị dinh dưỡng của thức ăn, gây bệnh cho gia súc.
+ Protein là thành phần dinh dưỡng quan trọng nhất với chức năng
chính là xây dựng nên cấu trúc cơ thể. Quá trình sống là sự thoái hóa và tân
tạo thường xuyên của protein. Protein trong thức ăn cung cấp các axit amin
nhờ quá trình tiêu hóa và thủy phân. Trong ống tiêu hóa, các axit amin được
50
hấp thu vào máu và đi đến các mô, cơ quan, tham gia vào quá trình sinh tổng
hợp protein của cơ thể, phục vụ cho quá trình sinh trưởng, sinh sản và duy trì
của cơ thể. Do đó, nếu thức ăn không cung cấp đầy đủ nhu cầu protein cho
gia súc sẽ dẫn đến vật nuôi chậm lớn hoặc ngừng tăng trưởng, thậm chí có
thể giảm trọng lượng. Đặc biệt, hàm lượng protein ảnh hưởng rất lớn đến giá
thành thức ăn, nên việc tính toán và tiết kiệm protein để giảm giá thành là rất
có thể xảy ra. Kết quả phân tích cho thấy 3/44 mẫu vi phạm về các chỉ tiêu
dinh dưỡng có hàm lượng protein thô không đáp ứng được quy định về kết
quả phân tích các chỉ tiêu dinh dưỡng so với công bố trên nhãn mác và
ngưỡng tối thiểu công bố trên bao bì.
Cụ thể, ba mẫu KSC1 kết quả phân tích là 17,05% trong khi bao bì công bố
là 18% mẫu VDC1 và VDC4 kết quả phân tích lần lượt là 16,98% và 17,01%
trong khi công bố trên bao bì lần lượt là 18%. Như vậy 3 mẫu có thành phần
Protein thấp hơn so với công bố trên bao bì từ 0,95% đến 1,02%.
+ Chất xơ được xem là thức ăn thô. Xơ là một thành phần không có nhiều
giá trị dinh dưỡng, tuy nhiên xơ lại có vai trò quan trọng trong cấu tạo tế bào, tạo
khuôn phân… Xơ là phần không tiêu hóa được của thực phẩm từ thực vật mà được
đẩy đi ngang qua đường tiêu hóa, hấp thu nước khi di chuyển qua đường ruột. Chất
xơ được tạo thành từ polysaccharides không phải tinh bột, như cellulose, dextrin,
inulin, lignin, chitin, pectin, beta-glucan, sáp và oligosaccharide.
Hàm lượng chất xơ cao sẽ làm giảm hoạt động của một số enzyme,
đặc biệt là lignin liên kết với protein làm giảm khả năng tiêu hóa protein một
cách có ý nghĩa. Sự gia tăng chất xơ đến một mức nào đó sẽ làm giảm khả
năng tiêu hóa thức ăn và có mối tương quan ngược giữa hàm lượng chất xơ
và năng lượng thức ăn. Chất xơ làm giảm tỉ lệ tiêu hóa thức ăn bằng cách
ngăn giữ dưỡng chất bên trong các tế bào tiếp xúc trực tiếp với các men tiêu
hóa của đường ruột.
51
Các chỉ tiêu dinh dưỡng được kiểm tra
Canxi (%)
Phốt pho (%)
TT
mã mẫu
Tham số kỹ thuật phân tích
Độ ẩm (%) (max)
Xơ thô (%) (max)
min
max
min
max
1
KSC1
0,5 0,17 0,33
1,8 0,25 2,05
0,4 0,062 0,338
1,2 0,126 1,326
1,01
0,68
2
KSXC3
Protein thô (%) (min) 18 0,56 ≥17,44 17,05* 16 0,52 ≥15,48
0,5 0,17 0,33
1,8 0,25 2,05
0,4 0,062 0,338
1,4 0,142 1,542
1,05
0,82
3
DQC2
0,6 0,176 0,424
1,2 0,21 1,41
0,4 0,062 0,338
0,9 0,102 1,002
1,03
0,75
4
DQXC4
0,5 0,17 0,33
1,8 0,25 2,05
0,4 0,062 0,338
1,4 0,142 1,542
1,24
0,91
5
VDC1
0,5 0,17 0,33
1,8 0,25 2,05
0,4 0,062 0,338
1,2 0,126 1,326
1,13
0,75
6
VDC4
0,5 0,17 0,33
1,8 0,25 2,05
0,4 0,062 0,338
1,2 0,126 1,326
Công bố trên nhãn mác Độ giao động phân tích cho phép Giới hạn cho phép Kết quả phân tích Công bố trên nhãn mác Độ giao động phân tích cho phép Giới hạn cho phép Kết quả phân tích Công bố trên nhãn mác Độ giao động phân tích cho phép Giới hạn cho phép Kết quả phân tích Công bố trên nhãn mác Độ giao động phân tích cho phép Giới hạn cho phép Kết quả phân tích Công bố trên nhãn mác Độ giao động phân tích cho phép Giới hạn cho phép Kết quả phân tích Công bố trên nhãn mác Độ giao động phân tích cho phép Giới hạn cho phép Kết quả phân tích
16,01 20 0,6 19,4 19,98 16 0,52 ≥15,48 16,11 18 0,56 ≥17,44 16,98* 18 0,56 ≥17,44 17,01*
14 1,4 ≤15,4 12,4 14 1,4 ≤15,4 13,12 14 1,4 15,4 12,84 14 1,4 ≤15,4 12,92 14 1,4 ≤15,4 12,92 14 1,4 15,4 12,08
6 0,66 ≤6,66 5,54 9 0,84 ≤9,84 10,12* 5 0,6 5,6 6,25** 9 0,84 ≤9,84 10,07** 6 0,66 ≤6,66 7,25** 6 0,66 ≤6,66 6,24
1,14
0,69
Chú thích: * : Thiếu so với ngưỡng tối thiểu công bố trên bao bì và **: Thừa so với ngưỡng tối đa công bố trên bao bì (Theo qui định 10TCN 860:2006 và Nghị định 08/2011/NĐ- CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính về thức ăn chăn nuôi)
Bảng 4.5. Kết quả phân tích mẫu sai phạm liên quan đến một số chỉ tiêu dinh dưỡng quan tâm
52
Kết quả của Bảng 4.5 cho thấy các mẫu phân tích có 4 mẫu không đạt yêu
cầu về chỉ tiêu xơ thô. Cụ thể mẫu KSXC3, DQC2,DQXC4, VDC1 có giá trị
hàm lượng xơ cao hơn so với thực tế ghi trên nhãn mác bao bì từ 1,07%-1,25%.
+ Chỉ tiêu Ca và Photpho:
Ca là thành phần cấu tạo xương, răng; tham gia điều hòa quá trình đông
máu và giảm tính kích thích thần kinh cơ. Qua các thử nghiệm trên động vật cũng
như quan sát trên người, người ta nhận thấy khẩu phần canxi thấp có thể không
hạn chế sự phát triển chiều dài hay bề rộng của xương. Tuy nhiên, điều này sẽ
dẫn đến kết quả vỏ xương mỏng và ít hơn, độ đậm chất khoáng trong xương giảm
đi, khiến xương giòn và dễ gãy.
Còn P là thành phần của một số men quan trọng tham gia chuyển hóa protein,
lipit, gluxit, hô hấp tế bào và mô, cơ và thần kinh. Để đốt cháy các chất hữu cơ trong
cơ thể mọi phân tử hữu cơ đều phải qua giai đoạn liên kết với photpho (ATP).
Photpho là thành phần quan trọng của thức ăn gia súc, nó rất cần thiết cho sự phát
triển khỏe mạnh, tốc độ cứng của xương và tác động tốt đến các quá trình trao đổi
chất, duy trì độ PH tương đối hằng định của nội mô.
Theo quy định về kết quả phân tích các chỉ tiêu dinh dưỡng so với công bố
trên NMBB theo Thông tư số 66/2011/TT-BNNPTNT ngày 10 tháng 10 năm
2011, cũng như Tiêu chuẩn ngành 10TCN 860:2006 Thức ăn chăn nuôi – Độ
giao động phân tích cho phép đối với các chỉ tiêu chất lượng, ban hành kèm theo
Quyết định số 4099/QĐ/BNN-KHCN ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kết quả nghiên cứu này không phát hiện
mẫu vi phạm về Ca và P.
Như vậy, dựa trên TCVN 1525:2001, quy định về kết quả phân tích các chỉ
tiêu dinh dưỡng so với công bố trên NMBB và độ giao động phân tích cho phép
đối với các chỉ tiêu chất lượng có 6 mẫu không đạt yêu cầu về chất lượng, chủ
yếu tập trung vào hai chỉ tiêu Protein và xơ thô.
4.4. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH MỘT SỐ CHỈ TIÊU VI SINH VẬT, NẤM MỐC VÀ KIM LOẠI NẶNG VÀ KHÁNG SINH TRONG THỨC ĂN CÔNG NGHIỆP DÙNG TRONG CHĂN NUÔI LỢN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM
4.4.1. Kết quả phân tích một số chỉ tiêu vi sinh vật và độc tố nấm mốc
Vi sinh vật có kích thước rất nhỏ mà mắt thường không thể nhìn thấy
53
được, chỉ có thể quan sát chúng bằng kính hiển vi. Vi sinh vật gồm rất nhiều
nhóm khác nhau: virus, vi khuẩn, nấm men, nấm mốc…có thể có ích hoặc có
hại cho môi trường và động vật và nếu sinh độc tố có thể tồn dư vào sản phẩm
chăn nuôi sẽ ảnh hưởng đến cả người tiêu dùng. Vì thế nếu hàm lượng vi sinh
vật tồn tại trong thức ăn chăn nuôi vượt ngưỡng cho phép sẽ có hại, thậm chí
gây bệnh cho con vật.
So với qui định trong quy chuẩn quốc gia QCVN 01-12:2009/BNNPTNT
về hàm lượng vi sinh vật và độc tố nấm mốc cho phép trong thức ăn chăn nuôi,
kết quả phân tích mẫu cho thấy, trong số 20 mẫu kiểm tra có 3 mẫu có hàm lượng
vi sinh vật hoặc độc tố nấm mốc vượt quá tiêu chuẩn cho phép (chiếm 15,00 %).
Tỷ lệ
Địa điểm lấy mẫu
Số mẫu kiểm tra (mẫu)
Số mẫu vi phạm (mẫu)
(%)
Xã Kim Sơn
4
01
25,00
Xã Dương Quang
02
25,00
8
Xã Văn Đức
8
0
0
Tổng cộng
20
03
15,00
Bảng 4.6. Tỷ lệ mẫu vi phạm về một số chỉ tiêu vi sinh vật và độc tố nấm mốc
Trong số 3 mẫu không đạt tiêu chuẩn về chỉ tiêu vi sinh, có 2 mẫu có số
lượng vi sinh vật (chiếm 10,00 % số mẫu kiểm tra) và 1 mẫu nhiễm độc tố nấm
mốc với hàm lượng Aflatoxin B1 vượt quá hàm lượng cho phép) (chiếm 5,00%
số mẫu kiểm tra).
Cụ thể, tại Kim Sơn phát hiện 1 mẫu thức ăn cho lợn giai đoạn cuối trước
khi xuất chuồng ( KSXC 1) có hàm lượng độc tố nấm mốc aflatoxin là 57,71 ppb
cao hơn so với qui định 7,71 ppb. Tại Dương Quang phát hiện 02 mẫu vi phạm
về chỉ số vi khuẩn hiếu khí tổng số. Cụ thể, mẫu DQC2 (thức ăn dành cho lợn
choai từ 15 đến 30 kg) và mẫu DQXC7 (thức ăn dành cho lợn giai đoạn cuối trước khi xuất chuồng ) có hàm lượng vi sinh lần lượt là 1,15 x 106 và 1,61 x 106 vi khuẩn. Không có mẫu nào nhiễm E.coli và Salmonella.
54
Tổng số vi khuẩn (CFU/g)
Nấm mốc (ppb)
Ký hiệu
E.coli
Salmonella
Aflatoxin B1
Không có
QCVN01-12 : 2009/BNNPTNT
VK hiếu khí tổng số ≤105 (lợn con <60 ngày tuổi) và ≤106 (nhóm khác)
Không có trong 25g mẫu
≤10 (lợn con <28 ngày tuổi) và ≤50 (nhóm khác)
≤105
KPH
KPH
57,71
1,15x106
KPH
KPH
KPH
1,61 x 106
KPH
KPH
KPH
Mẫu KSXCS1 (thức ăn lợn giai đoạn cuối xuất chuồng) Mẫu DQC2 (thức ăn lợn choai) Mẫu DQXC7 (thức ăn giai đoạn cuối xuất chuồng)
Bảng 4.7. Kết quả phân tích về vi sinh vật và độc tố nấm mốc
Tại tỉnh Thanh Hóa được sự tài trợ của Ngân hàng thế giới (WB), Dự án
Cạnh tranh ngành chăn nuôi và ATTP tỉnh Thanh Hóa từ năm 2012 đến năm
2015 đã phối hợp với Trung tâm kiểm nghiệm và Chứng nhận chất lượng nông,
lâm, thủy sản Thanh Hóa và các Phòng phân tích thức ăn do Cục Chăn nuôi chỉ
định tiến hành giám sát 5 đợt và lấy 120 mẫu thức ăn tại các cửa hàng đại lý và hộ
chăn nuôi áp dụng quy trình thực hành chăn nuôi tốt (GAHP) của 5 vùng chăn
nuôi ưu tiên thuộc các huyện Hoằng Hóa, Quảng Xương, Triệu Sơn, Thọ Xuân và
Yên Định để phân tích các chỉ tiêu về chất lượng, độ ẩm, độc tố nấm mốc,tồn dư
kháng sinh, vi sinh vật và kim loại nặng đặc biệt là các chất cấm như: Salbutamol,
Clenbuterol, Ractopamine.
Salmonella, colifom tổng số: Kết quả thu được không phát hiện thấy các nhóm vi sinh
Các chỉ tiêu nhóm vi sinh vật gây hại trong mẫu thức ăn chăn nuôi (gồm: E.coli,
vật Salmonella, colifom tổng số trong mẫu thử nghiệm; 01/125 mẫu phát hiện E.coli
tại các hộ trang trại trong đợt giám sát năm 2012, trong các đợt giám sát của các
năm tiếp theo không phát hiện có E.coli điều này có thể cho thấy qua các cảnh báo
của chương trình các hộ gia đình đã chấp hành tốt việc bảo quản mẫu; các hộ chăn
nuôi và đại lý đều bảo quản thức ăn đúng quy định do đó đã tránh được tình trạng
lây nhiễm các vi sinh vật độc hại từ môi trường vào thức ăn chăn nuôi.
55
- Nhóm chỉ tiêu độc tố nấm mốc (Aflatoxin tổng số, Aflatoxin B1): có 72/125
mẫu thử nghiệm phát hiện có Aflatoxin tổng số và 73/125 mẫu thử nghiệm phát
hiện có Aflatoxin B1, trong đó chỉ tiêu Aflatoxin tổng số cao nhất là 47,0 µg/kg
và Aflatoxin B1 cao nhất là 27,0 µg/kg nhưng tất cả đều nằm dưới ngưỡng tối đa
cho phép. So với các đợt giám sát trước kết quả về hàm lượng Aflatoxin tổng số
và Aflatoxin B1 trong các mẫu năm 2015 thấp hơn hàm lượng Aflatoxin tổng số
số cao nhất là 17µg/kg) và giảm đáng kể so với 03 đợt giám sát trước đó (năm
2012 và 02 đợt năm 2013). Như vậy có thể nói các đơn vị sản xuất thức ăn chăn
và Aflatoxin B1 trong mẫu giám sát năm 2014 (năm 2014 hàm lượng Aflatoxin tổng
nuôi đã chú trọng hơn đến khâu lựa chọn nguyên liệu, đã hạn chế được các
nguyên liệu kém chất lượng khi đưa vào sản xuất. Hàm lượng Aflatoxin thấp sẽ
làm chất lượng thức ăn tốt hơn; vật nuôi hấp thụ tốt các chất dinh dưỡng hơn từ
đó giúp vật nuôi phát triển tốt, tăng sức đề kháng.
4.4.2. Kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng
Trong 20 mẫu phân tích có 2 mẫu nhiễm kim loại nặng vượt quá quy định cho phép (chiếm 10%). Trong đó, 1 mẫu (KSC10 dùng cho lợn choai giai đoạn 15-30 kg) nhiễm Asen ở nồng độ gấp 3 lần giá trị cho phép (6ppb/2ppb) và 1 mẫu
(VDXC10) nhiễm chì ở nồng độ ở nồng độ 6,15 ppb vượt qui định TCVN (5 ppb).
Địa điểm lấy mẫu
Số mẫu kiểm tra (mẫu)
Số mẫu vi phạm (mẫu)
Tỷ lệ (%)
Xã Kim Sơn
4
25,0
01
Xã Dương Quang
8
0
0
Xã Văn Đức
8
12,50
01
Tổng cộng
20
10,0
02
Bảng 4.8. Kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng
Sự tồn dư kim loại nặng trong thịt lợn có thể do nguồn nguyên liệu chế biến thức ăn hoặc nguồn nước chăn nuôi bị ô nhiễm. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tài Lương (1999) khi phân tích kiểm tra kim loại nặng trong các mẫu thức ăn gia
súc trên thị trường đã phát hiện 15 mẫu nhiễm.
56
Theo Phạm Văn Tự và Vũ Duy Giảng (1996) chính sự ô nhiễm kim loại nặng thuốc bảo vệ thực vật trong đất, nước không khí sẽ theo chu trình của chuỗi thức ăn. Khi hàm lượng kim loại nặng cao trong đất, nước và không khí sẽ di chuyển vào sản phẩm nông nghiệp, được chế biến thành thức ăn cho người và gia súc. Khi người tiêu dùng sử dụng thức ăn có dư lượng kim loại nặng sẽ tích lũy ở hầu hết các mô bào trong cơ thể.
Việc phát hiện mẫu thức ăn có chứa asen có thể là do nhà sản xuất sử dụng
các hợp chất chứa asen hưu cơ.
4.4.3. Kết quả phân tích hàm lượng kháng sinh
Trong chăn nuôi, kháng sinh đóng vai trò quan trọng trong phòng trị bệnh,
kích thích tăng trưởng, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn cho gia súc, gia cầm. Tuy
nhiên, việc lạm dụng và sử dụng bất hợp pháp kháng sinh trong chăn nuôi đang
là vấn đề được dư luận và xã hội quan tâm. Không chỉ liên quan đến vấn đề an
toàn thực phẩm mà còn là vấn đề liên quan đến kháng kháng sinh.
Bảng 4.9. Tỷ lệ mẫu vi phạm về hàm lượng một số loại kháng sinh
Địa điểm lấy mẫu
Số mẫu kiểm tra (mẫu)
Số mẫu có sử dụng kháng sinh (mẫu)
Số mẫu có hàm lượng kháng sinh vượt qui định
Tỷ lệ trên tổng số mẫu kiểm tra (%)
Xã Kim Sơn
4
2
1
25,00
Xã Dương Quang
8
4
3
37,50
Xã Văn Đức
8
5
2
25,50
Tổng cộng
20
11
6
30,00
được phân tích
Kháng sinh tích lũy trong sản phẩm chăn nuôi không những gây độc mà
có thể gây dị ứng cho người tiêu dùng, dư lượng kháng sinh trong sản phẩm
chăn nuôi còn là rào cản xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam. Điều đáng
lo ngại là việc sử dụng kháng sinh phổ biến và không đúng cách trong chăn
nuôi thú y đã dẫn đến sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn và nguy hiểm
57
hơn là khả năng truyền gen đề kháng kháng sinh cho vi khuẩn gây bệnh ở
người cũng như vi khuẩn trong môi trường, ảnh hưởng đến việc sử dụng
thuốc điều trị cho người và vật nuôi. Do đó, hiện nay trên thế giới nói chung
và Việt Nam nói riêng, đã và đang tìm cách giảm sử dụng kháng sinh trên
gia súc, gia cầm và dần dần thay thế bằng dược thảo thân thiện với môi
trường, phát triển sản xuất theo hướng an toàn. Mặc dù rất nhiều nước trên
Thế giới đã cấm sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi nói chung và
chăn nuôi lợn nói riêng nhưng ở Việt Nam vẫn cho phép sử dụng một số loại
kháng sinh có qui nồng độ giới hạn tối đa (QCVN 01-12:2009/BNNPTNT).
Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chỉ quan tâm đến ba loại kháng sinh được
sử dụng phổ biến là nhóm Tetracycline, Colistin và Tylosin được phép sử dụng
và Chloramphenicol (kháng sinh cấm) cho thấy các mẫu thức ăn hỗn hợp trên địa
bàn huyện có hàm lượng kháng sinh vượt mức cho phép (so với QCVN 01-
12:2009/BNNPTNT) chiếm tỷ lệ rất cao (54,00%). Cụ thể trong 3 xã lấy mẫu
đều có mẫu chứa dư lượng kháng sinh vượt quá giới hạn cho phép.
Qua đây, nhận thấy sự quản lý của các cơ quan chức năng về VSATTP của
huyện vẫn chưa được chặt chẽ, khắt khe, việc phối hợp giữa cơ quan chuyên môn
cấp huyện với các ngành chức năng còn thiếu đồng bộ và không thường xuyên
nên vẫn còn một số loại thức ăn chăn nuôi hỗn hợp còn tình trạng có hàm lượng
kháng sinh vượt mức cho phép được bán trên địa bàn huyện.
Bảng 4.10 cho thấy có nhiều loại mẫu cám có hàm lượng kháng sinh đã
vượt quá ngưỡng cho phép (so với QCVN 01-12:2009/BNNPTNT) được sử dụng
trong chăn nuôi. Đối với mẫu KSTA3, DQTA4 có hàm lượng Colistin vượt mức
cho phép đặc biệt mẫu VDC6, hàm lượng Colistin phân tích được là 151,2 µg/kg
(mức cho phép là 50 µg/kg định lượng theo AOAC 995.09).Đối với mẫu
DQSCS5 tuy không phát hiện ra hàm lượng Oxytetracyline, Chloramphenicol
nhưng hàm lượng Chlotetracyline, Tylosin lại vượt hàm lượng cho phép (định
lượng theo AOAC 962.26) rất nhiều (Chlotetracyline: 102/50 µg/kg; Tylosin:
81/40µg/kg). Mẫu VDXC8 chỉ vi phạm về hàm lượng Tylosin 79,4/40µg/kg).
Không có mẫu nào sử dụng Chloramphenicol.
58
Ký hiệu/QC (loại thức ăn)
Hàm lượng kháng sinh trong mẫu (mg/kg) Colistin Oxytetracylin Chlotetracylin Tylosin Chloramphenicol
120
50
40
Cấm
50 (chỉ dùng lợn con)
138
KPH
KPH
KPH
KPH
KPH
Vết
KPH
KPH
KPH
KPH
KPH
Vết
74
KPH
147
KPH
KPH
KPH
KPH
KPH
KPH
102
81
KPH
KPH
Vết
KPH
38,4
KPH
KPH
45,7
KPH
KPH
KPH
KPH
Vết
KPH
KPH
KPH
98,5
KPH
Vết
KPH
KPH
151,2
KPH
KPH
KPH
KPH
KPH
KPH
Vết
79,4
KPH
QCVN01-12 : 2009/BNNPTNT KSTA3 (thức ăn tập ăn) KSSCS (thức ăn lợn con sau cai sữa) DQTA2 (thức ăn lợn con tập ăn) DQTA4 (thức ăn lợn con sau cai sữa) DQSCS 5 (thức ăn lợn thịt) DQC8 (Thức ăn lợn choai) VDTA1 (thức ăn lợn con tập ăn) VDSCS3 (thức ăn lợn con sau cai sữa) VDSCS4 (thức ăn lợn con sau cai sữa) VDC6 (thức ăn lợn choai) VDXC8 (thức ăn lợn con tập ăn)
Chú thích: KPH: không phát hiện
Bảng 4.10. Kết quả phân tích một số kháng sinh thức ăn chăn nuôi lợn
4.4.4. Kết quả phân tích hormone Clenbuteron và Salbutamol trong thức ăn chăn nuôi lợn
Hormone nhóm β-agonist là nhóm được dư luận đặc biệt quan tâm trong thời gian gần đây. Cũng như nhiều nước trên khác thế giới tháng 06 năm 2002, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đã có văn bản chính thức cấm sử dụng các hoạt chất thuộc nhóm β-agonists trong chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2002). Tuy nhiên, từ đó đến nay vẫn có hiện tượng sử dụng bất hợp pháp. Đỉnh điểm là những năm gần đây và đặc biệt là giai đoạn cuối 2015 vầu năm 2016. Chính vì vậy, đã có nhiều văn bản hướng dẫn giám sát sử dụng, đặc biệt thông tư số 57/2012/TT-BNNPTNT quy định việc kiểm tra, giám sát và sử lý vi phạm các
59
chất cấm thuộc nhóm Beta-agonist trong chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2012). Nhưng vì lợi nhuận trước mắt, người chăn nuôi vẫn đã và đang sử dụng gây nên những mối nguy hại cho sức khoẻ cộng đồng và xã hội. Ví dụ, với loại lợn siêu nạc giống tốt nhất trong nước hiện nay, người dân phải mất 5 tháng mới đạt trọng lượng 95-100 kg/con nhưng cho thêm 1 thìa cà phê thần dược Beta-Agonist vào thức (cho 10 con lợn loại 70-80 kg/con), thời gian xuất chuồng rút ngắn chỉ
còn ba tháng (Phạm Nho và Huỳnh Hồng Quang, 2012).
Do nhóm beta agonist ở nước ta thường là Salbutamol và Clenbuterol nên
trong khuôn khổ nghiên cứu này đã bước đầu tập trung phân tích kiểm tra hai
hormone này trong thức ăn chăn nuôi lợn. Trong khi, kết quả các khảo sát những
năm gần đây cho thấy việc sử dụng hai loại hormone này vẫn diễn ra thì kết quả
phân tích 10 mẫu thức ăn chăn nuôi lấy từ các cơ sở kinh doanh và tại máng ăn
lợn trong nghiên cứu này đều không phát hiện mẫu nào nhiễm một trong hai loại
hormone được kiểm tra.
Theo Nguyễn Đức Cường (2011) tình hình chất cấm bị các doanh nghiệp
lạm dụng trộn lẫn vào TĂCN để thu lời bất chính không thuyên giảm mà còn
tăng lên tới 17%. Mặc dù Chính phủ đã ban hành Nghị định số 08/2010/NĐ-CP
về quản lý TĂCN, trong đó quy định rõ trách nhiệm của người sản xuất và kinh
doanh TĂCN, sau đó Bộ NN-PTNT ban hành Thông tư số 57/2012/TT-
BNNPTNT quy định việc kiểm tra, giám sát và sử lý vi phạm các chất cấm thuộc
nhóm Beta-agonist trong chăn nuôi thế nhưng việc thực thi Nghị định và Thông
tư trên còn rất hạn chế.
Ở Đồng Nai, ngày 12/3/2011, Đội Quản lý thị trường cơ động (thuộc Chi
cục Quản lý thị trường Đồng Nai) kiểm tra đột xuất Công ty TNHH Nhân Lộc,
tại xã Bình Lợi, huyện Vĩnh Cửu (Đồng Nai) và phát hiện gần 2,5 tấn chất tăng
trưởng và tạo nạc trong chăn nuôi lợn. Lượng hàng này được chứa 110 bao
nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, loại có trọng lượng 20kg, có nhãn mác HT04,
HT02, ghi công dụng tạo nạc, tạo màu nạc đỏ, giảm mỡ lưng, tăng tiết hormone
tăng trưởng, cải thiện tăng trọng, giảm tiêu tốn thức ăn cho lợn.
Như vậy, mặc dù các nghiên cứu khác có phát hiện beta-Agonist trong thức ăn chăn nuôi lợn nhưng kết quả nghiên cứu này không có mẫu thức ăn nào chứa hormone Salbutamol và Clenbuteron. Kết quả này phù hợp với báo cáo
giám sát của thành phố Hà Nội trong thời gian gần đây.
60
Theo đó, kết quả kiểm tra nhanh, lấy mẫu mẫu kiểm tra giám sát chất cấm
trước Tết Nguyên đán từ 2/2/2016 đến ngày 5/2, cụ thể: Kiểm tra chất cấm bằng
Test nhanh clenbutarol, salbutanol tại các cơ sở giết mổ, cơ sở chăn nuôi tập
trung là 3 buổi; hình thức kiểm tra lấy mẫu nước tiểu kiểm tra, phát hiện hai chất
salbutamol và Clenbuterol; các cơ sở giết mổ được kiểm tra gồm Vạn Phúc
(Thanh Trì), La Phù (Hoài Đức); các cơ sở chăn nuôi được kiểm tra gồm khu
chăn nuôi tập trung xã Cấn Hữu (Quốc Oai); kết quả kiểm tra đều âm tính.
Tương tự, Chi cục đã lấy mẫu thịt kiểm tra chất cấm tại một số chợ đầu
mối kinh doanh sản phẩm động vật. Qua kiểm tra 16 mẫu thịt lợn tại 3 chợ đầu
mối kinh doanh sản phẩm động vật (Chợ Đền Lừ, Chợ Phùng Khoang, Chợ Minh
Khai, Chợ Thanh Xuân Bắc) gửi Trung tâm Kiểm tra vệ sinh thú y trung ương I
để xét nghiệm chất cấm (clenbutarol, salbutanol) bằng phương pháp định lượng.
Kết quả kiểm tra, giám sát, không phát hiện chất cấm (clenbutaroi, salbutanol)
trên 16 mẫu thịt lợn.
Kết quả kiểm tra chất cấm sau Tết Nguyên đán từ ngày 18/2/2016 đến
ngày 25/2/2016, cụ thể: Kiểm tra chất cấm bằng Test nhanh clsnbutaroi,
salbutanol tại các cơ sở giết mổ tập trung gồm 4 buổi tại 4 cơ sở giết mổ lợn tập
trung; hình thức kiểm tra định kỳ bằng cách lấy mẫu nước tiểu kiểm tra nhằm
phát hiện chất salbutamol và clenbuterol; các cơ sở giết mổ được kiểm tra Vạn
Phúc (Thanh Trì), Vinh Anh (Thường Tín) Hữu Văn (Chương Mỹ) và Tân Hội
(Đan Phượng); kết quả đều âm tính.
Ngoài ra, Chi cục Thú y lấy mẫu thịt kiểm tra chất cấm tại các chợ đầu
mối kinh doanh sản phẩm động vật. Qua kiểm tra 20 mẫu thịt lợn tại 5 chợ kinh
doanh sản phẩm động vật gửi Trung tâm Kiểm tra vệ sinh thú y Trung ương I để
xét nghiệm chất cấm bằng phương pháp định lượng. Kết quả kiểm tra, giám sát,
không phát hiện chất cấm trên 20 mẫu thịt lợn.
61
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1. KẾT LUẬN
- Tỷ lệ mẫu thức ăn chăn nuôi không đạt yêu cầu tương đối cao không chỉ không đạt các chỉ tiêu dinh dưỡng, một số mẫu còn ô nhiễm vi sinh, kim loại và hàm lượng kháng sinh vượt giới hạn cho phép. Cụ thể 6/44 mẫu (13,63%) không đạt yêu cầu về chỉ tiêu liên quan đến dinh dưỡng (chủ yếu liên quan đến hai chỉ tiêu Protein và xơ thô của cám lợn dùng cho lợn choai và lợn thịt giai đoạn cuối xuất chuồng). Ba mẫu ô nhiễm vi sinh vượt giới hạn, trong đó 2 mẫu vượt giới hạn vi sinh tổng số và một mẫu nhiễm độc tố nấm mốc. Đặc biệt, có 6/11 mẫu (54,5%) có chứa một trong 5 kháng sinh vượt giới hạn qui định. Không phát hiện Chloramphenicol (kháng sinh cấm) và hormone Salbutamol và Clenbuteron
(hormone cấm).
5.2. KIẾN NGHỊ
- Thực hiện tốt các giải pháp về công tác quản lý của các cấp quản lý, các cơ sở sản xuất và tại các đại lý để đảm bảo chất lượng TĂCN sản xuất, tiêu thụ
trên địa bàn huyện.
- Tiếp tục thực hiện nghiên cứu trên với quy mô rộng hơn. Khảo sát các loại kháng sinh có trong TĂCN từ nơi sản xuất tới nơi sử dụng để đánh giá được tình hình sử dụng kháng sinh, chất cấm trong thức ăn chăn nuôi xác thực
hơn để từ đó đưa đó đưa ra các biện pháp kiểm soát chất lượng thức ăn tốt hơn.
62
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt:
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2002). Thông tư 57/2012/TT- BNN&PTNT ngày 07 tháng 11 năm 2012 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn về quy định việc kiểm tra, giám sát các chất thuộc nhóm Beta-agonist trong chăn nuôi.
2. Bùi Quang Tuấn (2010). Bài giảng Thức ăn chăn nuôi. Trường Đại học nông nghiệp
I. Hà Nội.
3. Bùi Thị Phương Hòa (2008). Thực trạng công tác vệ sinh an toàn thực phẩm trong ngành chăn nuôi thú y và giải pháp khắc phục, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập15 (2). tr XV, số 2-2008. tr. 293-299.
4. Bùi Thị Tho ( 2003). Giáo trình thuốc kháng sinh và nguyên tắc sử dụng trong chăn nuôi
.Trường Đại học nông nghiệp I. Hà Nội.
5. Chính Phủ (2010), Nghị định số 08/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 02 năm 2010 của
Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi. Hà Nội.
6. Denixov N.I (1971). Sản xuất và sử dụng thức ăn hỗn hợp cho gia súc, Nhà xuất
bản Khoa học và kỹ thuật,. Hà Nội.
7. Dương Thanh Liêm (2003). “Ảnh hưởng của thời gian và cách bảo quản đến chất lượng một số nguyên liệu thức ăn cơ bản của gia súc, gia cầm.”, Tập san Thức ăn chăn nuôi., Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam, Hà Nội. tr.14-17.
8. Dương Thanh Liêm, Bùi Huy Như Phúc và, Dương Duy Đồng (2005). Thức ăn và
dinh dưỡng động vật, Nhà xuất bản Nông nghiệp,. Hà Nội.
9. Đào Văn Huyên (1995). Chế biến thức ăn hỗn hợp cho gia súc, gia cầm, Nhà xuất
bản Nông nghiệp. Hà Nội. tr. 4-170.
10. Đậu Ngọc Hào (1996). “Sử dụng kháng sinh bổ sung trong thức ăn chăn nuôi.”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y tập 12 số 3 năm 1996, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr 35-39
11. Lê Đức Ngoan, Nguyễn Thị Hoa Lý và, Dư Thị Thanh Hằng (2004). Giáo trình thức
ăn gia súc, Trường đại học Nông Lâm Huế.
12. Lê Hồng Mận và, Bùi Đức Lũng (2003),. Thức ăn và nuôi dưỡng lợn. Nhà xuất bản
Nông nghiệp Hà Nội.
13. Lê Quốc Thịnh ( 2012). Hiểu thêm về chất cấm trong chăn nuôi, truy cập ngày tại http://suckhoedoisong.vn/20123210243p44c116/hieu-them-ve-
từ
21/1/2013 thuoc-bi-cam-trong-chan-nuoi.htm.
63
14. Lê Tấn Lam Anh ( 2012). Kinh hoàng thịt lợn tạo nạc bằng Clenbuterol. Truy cập ngày 13/12/2012 tại ừ http://vnxpress.net/gl/ban-doc-viet/2013/kinh- hoang-thit- lon-tao-nac-bang-clenbuterol.
15. Lê Thanh Hà ( 2006). Dùng clenbuterol để tăng trọng heo, bò, gà: thịt chín thuốc
vẫn còn, Truy cập ngày 22/4/2013 tại từ http://www.vcn.vnn.vn
16. Lê Thị Ngọc Diệp ( 2003). Một số kết quả khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh
trong chăn nuôi gà và tồn dư kháng sinh trong thịt trứng gà trên địa bàn Hà Nội.
17. Nghị định của chính phủ số 15-CP ngày 19 tháng 3 năm 1996 về việc quản lý thức
ăn chăn nuôi.
18. Nghị định số 08/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 02 năm 2010 của chính phủ về quản lý
thức ăn chăn nuôi. Hà Nội.
19. Nghị định số 08/2011/NĐ-CP ngày 25/01/2011 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính về thức ăn chăn nuôi và ngưỡng tối thiểu công bố trên bao bì.
20. Nguyễn Chí Hanh (1996). Nghiên cứu đánh giá chất lượng phần nguyên liệu thức ăn
gia súc., Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp.
21. Nguyễn Đức Cường ( 2011). 17% mẫu TĂCN heo chứa Salbutamol., Báo nông
nghiệp Việt nam. 23/06/2011.
22. Nguyễn Hữu Hồng, Lê Đăng Hà, Phạm Văn Ca, Lê Văn Phụng và cộng sự (1996). “Tình hình kháng sinh ở Việt Nam năm 1996.”, Một số công trình nghiên cứu về độ nhạy cảm của vi khuẩn đối với thuốc kháng sinh 1996, Nxb Y học. Hà Nội. tr. 4-23.
23. Nguyễn Thiện, Trần Đinh Miên, Võ Trọng Hốt (2005). Con lợn Việt Nam. Nhà xuất
bản Nông nghiệp. Hà Nội.
24. Phạm Kim Đăng, Nguyễn Tú Nam, Bùi Thị Tho, Phạm Hồng Ngân ( 2012). Điều tra tình hình sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi gà ở Hải Phòng. Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y. Hội thú y Việt Nam. 09 Vol.XIX, No.(5). tr. 92-98.
25. Phạm Nho và Huỳnh Hồng Quang ( 2012). Beta-agonist: Ứng dụng và nguy cơ ảnh
hưởng đến sức khỏe con người, Truy cập tại từ http://www.impe-pn.org.vn.
26. Phạm Thị Kiều Nga ( 2008). Bước đầu khảo sát dư lượng Dexamethasome và Clenbuterol trong thịt bò, heo, gà tại TP.HCM, Luận văn Đại học Nông lâm TP.HCM.
27. Phạm Thị Thu Hà (2011). Đánh giá tình hình sử dụng và chất lượng thức ăn công nghiệp trong chăn nuôi lợn tại tỉnh Hà Nam. Luận văn thạc sĩ Nông nghiệp. Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
28. Phòng Kinh tế Huyện Gia Lâm (2013). Báo cáo tổng kết về tình hình chăn nuôi năm
2012 và 6 tháng đầu năm 2013.
64
29. Phòng Nông nghiệp huyện Gia Lâm (2012). Báo cáo tổng kết tình hình chăn nuôi
trên địa bàn huyện Gia Lâm giai đoạn 2007-2012.
30. QCVN 01 - 12: 2009/BNNPTNT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thức ăn chăn nuôi – hàm lượng kháng sinh, hóa dược, vi sinh vật và kim loại nặng tối đa cho phép trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho lợn.
31. Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 01-104:2012/BNNPTNT về khảo nghiệm, kiểm
định thức ăn chăn nuôi lợn do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành.
32. Quy chuẩn quốc gia QCVN 01-12:2009. Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia thức ăn chăn nuôi- hàm lượng kháng sinh, hóa dược, vi sinh vật và kim loại nặng tối đa cho phép trong thức ăn hỗ hợp hoàn chỉnh cho lợn.
33. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội, Báo cáo tổng kết về tình hình chăn
nuôi năm 2013 và 6 tháng đầu năm 2014.
34. TCVN 6952:2001 (ISO 14718:1998). Thức ăn chăn nuôi - Chuẩn bị mẫu.
35. TCVN 8544: 2010 (AOAC 995.09). Thức ăn chăn nuôi – Xác định hàm lượng Clotetracyclin, Oxytetracyclin và Tetracyclin bằng phương pháp sắc kí lỏng hiệu năng cao.
36. Tiêu chuẩn ngành 10TCN 860:2006 .Thức ăn chăn nuôi – Độ giao động phân tích cho phép đối với các chỉ tiêu chất lượng, ban hành kèm theo Quyết định số 4099/QĐ/BNN-KHCN ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
37. Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 1525: 2001. Thức ăn chăn nuôi. Xác định hàm lương
phopho. Phương pháp quang phổ.
38. Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 4326: 2001. Thức ăn chăn nuôi. Xác định độ ẩm và
hàm lượng chất bay hơi khác.
39. Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 6953:2001. Thức ăn chăn nuôi – Xác định hàm lượng Aflatoxin B1 trong thức ăn hỗn hợp – Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao.
40. Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8129 : 2009 ISO 18593: 2004 .Vi sinh vật trong thực phẩm và thức ăn chăn nuôi – Phương pháp lấy mẫu bề mặt sử dụng đĩa tiếp xúc và lau bề mặt.
41. Tiêu chuẩn Việt Nam (2005), Tiêu chuẩn Việt Nam về thức ăn chăn nuôi, Tổng cục
Tiêu chuẩn đo lường chất lượng.
42. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1526-1:2007 về thức ăn chăn nuôi - xác định hàm
lượng canxi - phần 1: phương pháp chuẩn độ.
43. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4327:2007 về thức ăn chăn nuôi - xác định tro thô.
44. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4328-1:2007 về thức ăn chăn nuôi - xác định hàm
lượng nitơ và tính hàm lượng protein thô - Phần 1: Phương pháp Kjeldahl.
65
45. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4329:2007 về thức ăn chăn nuôi - xác định hàm lượng
xơ thô - phương pháp có lọc trung gian.
46. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4829: 2005 (ISO 6579: 2002). Vi sinh vật trong thực
phẩm và thức ăn chăn nuôi. Phương pháp phát hiện salmonella trên đĩa thạch.
47. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5165-90. Sản phẩm thực phẩm. Phương pháp xác định
tổng số vi khuẩn hiếu khí.
48. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6846:2007 về Vi sinh vật trong thực phẩm và thức ăn chăn nuôi - Phương pháp phát hiện và định lượng Escherichia coli giả định - Kỹ thuật đếm số có xác suất lớn nhất.
49. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7602:2007 (AOAC 972.25). Thực phẩm. Xác định
hàm lượng chì bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử.
50. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7603:2007 (AOAC 973.34). Thực phẩm. Xác định
hàm lượng cadimi bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử.
51. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7603:2007 AOAC 957.22. Arsenic (total) in Feeds.
Colorimetric Test (Asen trong thức ăn chăn nuôi. Phương pháp so màu).
52. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7604:2007 (AOAC 971.21). Thực phẩm. Xác định
hàm lượng thuỷ ngân theo phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử.
53. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8543:2010 về thức ăn chăn nuôi - Xác định hàm lượng
tylosin bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao.
54. Thanh Bình ( 2016). Hà Nội chưa phát hiện chất cấm trong thịt lợn. Truy cập ngày
06/03/2016 tại từ www.hanoi.gov.vn./web/guest/30/-/...
55. Thông tư số 66/2011/TT-BNNPTNT ngày 10 tháng 10 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ
Nông nghiệp và PTNT.
56. Trạm thú y Huyện Gia Lâm ( 2015). Số liệu tình hình chăn nuôi lợn trên địa bàn
huyện 2010- 2015.
57. Trịnh Khắc Vịnh (2010). Đánh giá thực trạng chất lượng một số loại thức ăn chăn nuôi và đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo ổn định chất lượng thức ăn chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Luận văn thạc sĩ Nông nghiệp. Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội..
58. Võ Thị Trà An (2007). Kháng sinh cho vật nuôi. Nhà xuất bản Đà Nẵng.
59. Vũ Duy Giảng (1996). Dinh dưỡng và thức ăn gia súc. Nhà xuất bản Nông nghiệp.
Hà Nội.
60. Vũ Duy Giảng, Nguyễn Thị Lương Hồng và, Tôn Thất Sơn (1997). Dinh dưỡng và
thức ăn gia súc. Nhà xuất bản Nông nghiệp. Hà Nội.
66
61. Wiliam G. L và cs (1996). “Các khẩu phần ăn của lợn.”, Cẩm nang chăn nuôi lợn
công nghiệp, Nhà xuất bản Bản đồ, Hà Nội. tr. 203.
Tiếng nước ngoài:
62. Barton D. M. (2000). Antibiotic use in animal feed and its impact on human health,
Nutrition Research Reviews. Vol 13. pp. 279 – 299.
63. Berwal J. (1999). Interactive lesson page for Meat Science & Muscle Biology, at
retrieved
FAO,
May
16,
on
by
developed 2004 http://labs.ansci.uiuc.edu/meatscience/lessons/lesson1.html.
64. Bradley G. (2003). High level of antibiotic recistance in bacteria that cause food
poisoning”, Innovation report, serial on line, cited 2004 May 10, Screen Available from: URL: http://w.w.w.innovations- report.com/html/reports/medicine_health/report-23946.html.
65. Cockerell I, B Francis anh D Halliday (1971). Changes in nutritive value of concentrate feed stuffs during storage. Proceedings: Development of fees resources and improvement of animal feeding methods. Tropical products Institute, London. pp.181-192.
66. Dawson R. J. (1991). Global view of the mycotoxin problem. Proceedings: Fungi
and mycotoxins stored products. pp. 22-28.
67. Edwards A. (2002). Ingredient quality and performance. Proceedings: Southeast
Asian feed technology and nutrition workshop, 10th Annual ASA, Thailand.
68. Fin (2000). Fishmeal for Pourtry – A feed with a very healthy future.
69. Friedship. R. M. (2000). Chapter 25 Antimicrobiol drug use in swine In Antimicrobial therapy in veterinary medicine, 3rd Iowa State University Press, Iowa, USA. pp. 796.
70. FSIS - (Food Safety Inspection Service (2007). Procedure for residue sampling, testing and otrer resposibilities for the national residue program, United States Department of Agriculture, Washington, DC.
71. Huang and M. S Bergdoll . (1970). Jounal of Biologycal Chemistry. Vol 14. pp.
3518-3525.
72. Irma .T (1983). Manual de laboratorio para analysis de Ingredientes utilizados en la
alimentacion animal – INIP – SARH – MEXICO.
73. Jones F. T. (1989). Feed quality control in poultry troduction, Korean Journal
Animer. Nutrition Feedstuffs .vol 13 (1): 25-37.
74. Jones F. T. (1995). Quality control feedstuff, July 19. pp. 135-139.
67
75. Kellem R. O and D.C Church.(1998). Livestock feeds and feeding, 4th edition,
Prentice Hall – New Jersey – USA.
76. Miller J. D (1991). Significance of grain mycotoxins for health and nutrition.
Proceedings: Fungi and mycotoxins in stored products. pp.126- 135.
77. NRC (1994). Nutrient requirements of Pourtry. 9th edition, National Academy
press, Washington D.C, 1994.
78. Peter Natjoens, Dirk Courtheyn, Hubert F. De Brabander, Jan Vercam men, Katia. De Wasch and Maureen Logghe (1996). Gas chromatography _ tandem mass spectrometry analysis of clenbuterol residue in faeces. Journal of chromatography A.pp. 133-139.
79. Pond W. G. D. C., Church and R. O. Kellems (1995). Basic Animal Nutrition and
Feeding. John Wiley & Sons. 4th Edition.
80. Pulce C., D Lamaison, G. Keck, C. Bostvironnois, J. Nicola and J. Descotes. Collective human food poisonings by clenbuterol residues in veal liver. Vet Hum Toxicol. Vol. 33 (5). pp. 480-481.
81. Taylor and Francis Issue (2005). Food Additives & Contaminants, Publisher. Vol 22
(6). pp. 563-566.
β-agonist
82. Van Vyncht, G. S. Preece, P. Gaspar, G.Maghuin-Rogister and E. Depauw (1996). Gas and liquid chromatography coupledto tandem mass spectrometry for the multiresidue analysis of in biological matrices. Journal of chromatography A .Vol. pp. 43-49.
83. Wicker, D. L. and D. R. Poole (1991). Hows your mixen performing, Feed
management .
68
Phụ lục 1: PHIẾU ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN Họ và tên chủ hộ:……………………………………………………. Địa chỉ:……….Thôn:……….. xã………… Huyện Gia Lâm – Hà Nội.
A.THÔNG TIN VỀ NÔNG HỘ 1.Tuổi của chủ hộ:………. 2.Trình độ văn hóa của chủ hộ: ……../10………/12 3.Tham dự lớp đào tạo, tập huấn chuyên môn: Có……. Không….. 4.Các tổ chức cá nhân đào tạo, tập huấn chuyên môn:
PHỤ LỤC
Công ty thuốc thú y Trung tâm khuyến nông Trường đại học, cao đẳng, trung cấp Khác B.THÔNG TIN CHUNG VỀ TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI I.CON GIỐNG 1.Quy mô chăn nuôi lợn
Hộ gia đình Trang trại
2. Anh ( chị) nuôi loại lợn nào sau đây?
Lợn đực
Lợn nái
Lợn thịt
Số lượng
F1( Ng x Ng) F1( Ng x Nội) ……… …….. ……….. ………
Số lượng Giống
Số lượng Giống
Giống Landrace Pietrain Yorkshire Duroc Móng cái Pidu Lợn lai ( Ng x Ng) Landrace Lợn lai( Ng x Nội) ….. …… …. 3. Năng xuất sinh sản& sinh trưởng trung bình của hộ : - Số lợn con sơ sinh/ lứa :……………………………………………..……. - Số lợn con để lại nuôi trên lứa :……………………………………..……. - Khối lượng sơ sinh trên con :……………………………………….……. - Thời gian cai sữa :……………………………………………………..…. - Số con cai sữa/ lứa :………………………………………………..…….. - Khối lượng cai sữa/ con ( Khối lượng lợn con khi mua)……………..…. - Khối lượng xuất chuồng :……………………………………………..…. - Thời gia xuất chuồng :………………………………………………..….. 4. Anh ( chị ) mua giống tại cơ sở sản xuất nào ?
Loại lợn Lợn thịt
Lợn nái
Lợn đực
Giống Ông bà ( GP) Bố mẹ ( PS)
Tên giống
Số lượng Cơ sở sản xuất
Giá mua
69
II.THỨC ĂN VÀ NƯỚC UỐNG
1 Nguồn nguyên liệu và thức ăn chăn nuôi lợn a. Các loại nguyên liệu thức ăn dùng trong chăn nuôi lợn tại cơ sở (
nếu có)
Tự sản xuất
Mua ngoài thị trường
Tên nguyên liệu
Số lượng Giá bán( đ/ kg) Số lượng Giá mua ( đ/ kg)
Cám gạo Bột ngô Bột sắn Khác
b. Cách sử dụng thức ăn
Thức ăn
Tỉ lệ kết hợp
Thức ăn hỗn hợp
Kết hợp thức ăn hỗn hợp + trộn
Lợn con theo mẹ( tập ăn – 7 kg) Lợn con sau cai sữa ( 7 kg)- 40 kg Lợn 40 kg- xuất chuồng Lợn nái đẻ nuôi con
c. Công thức phối hợp khẩu phần thức ăn của anh (chị) ( nếu có) :
Tỉ lệ các thành phần trộn trong khẩu phần ( %)
Tên thức ăn cho từng loại lợn
Cám gạo Bột ngô
Khác
Cám đậm đặc
Khoáng+ Vitamin
Lợn nái chửa+ Chờ phối Lợn nái nuôi con Lợn con theo mẹ Lợn con cai sữa
d. Loại thức ăn công nghiệp dùng trong chăn nuôi lợn :
Tên hãng
Cơ sở sản xuất Nơi mua
Giá
Tên thức ăn cho từng loại lợn Lợn con theo mẹ( tập ăn – 7 kg) Lợn con sau cai sữa ( 7 kg)- 15 kg Lợn 15-40 kg Lợn từ 40 kg-xuất chuồng
2. Anh ( chị) có ghi chép thức ăn khi mua về không : Có không Nếu có anh ( chị) ghi các thông tin nào sau đây khi mua thức ăn về : Tên hàng……Số lượng……Ngày sản xuất…. Hạn sử dụng…….. Khác…
70
3. Bạn có dùng thức ăn bổ sung trong khẩu phần ăn của lợn trong 12 tháng vừa rồi không ? Có…… không…..Nếu có :
Thức ăn bổ sung
(1) +(2)
Khoáng Vitamin Enzym/men Thảo dược Kháng sinh Khác
Phương thức bổ sung Trộn vào thức ăn( 1) Hòa nước uồng( 2)
1. Anh ( chị) có dùng chất kích thích inh trưởng trong chăn nuôi không.
Có Không
2. Đánh giá chất lượng thức ăn công nghiệp của hãng náo tốt. Thức ăn hỗn hợp : Nước ngoài Nội địa Thức ăn đậm đặc : Nước ngoài Nội địa Nhận xét của anh ( chị) chất lượng thức ăn trên thị trường : ……………………………………………………………………..…….. …………………………………………………………………….……… 3. Đối tượng cung cấp thức ăn công nghiệp cho anh chị : Thương nhân trong xã Thương nhân trong huyện Thương nhân trong tỉnh Công ty sản xuất thức ăn IV : VỆ SINH THÚ Y 1.Bệnh tật có xảy ra với trang trại trong 12 tháng qua không ? Có….. không ……. Chi tiết ( Nếu có) Tên bệnh
Biện pháp điều trị
Triệu chứng
Loại lợn
Không
2.Anh chị thường dùng biện pháp nào để phòng bệnh ?................... 3. Loại lợn có được tiêm vắc xin không ? Có Nếu có thường phòng bệnh gì ? loại thuốc ? Công ty sản xuất ? Tên bệnh
Cơ sở sản xuất
Đối tượng lợn
Loại thuốc
71
Không
Phòng và điều trị
Kinh nghiệm
Kinh nghiệm
V. SỬ DỤNG KHÁNG SINH 1. Sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi : Có 2. Mục đích sử dụng : tăng trọng 3. Loại kháng sinh thường sử dụng :……………………………. 4. Lựa chọn kháng sinh dựa vào Bác sĩ thú y Nhãn mác bao bì thuốc 5. Liều lượng kháng sinh dựa vào Bác sĩ thú y Nhãn mác bao bì thuốc 6. Ngừng sử dụng thuốc trước khi xuất thịt dựa vào Bác sĩ thú y……. Nhãn mác bao bì thuốc…. Kinh nghiệm…. VI. CHI PHÍ - Con giống………………………………………………………. - Thức ăn :……………………………………………………….. - Thuốc thú y :…………………………………………………… - Điện, nước :……………………………………………………. - Nhân công :…………………………………………………….. - Khác :………………………………………………………….. - Giá bán lợn :…………………………………………………..
………. Ngày ….tháng…. năm…..
Người được điều tra
Người điều tra
72
Phụ lục 2 : ĐIỀU TRA CÔNG BỐ THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG TRÊN
NHÃN MÁC BAO BÌ THỨC ĂN CHĂN NUÔI LỢN.
Đại lý cấp 1……….. Đại lý cấp 2………….. Cửa hàng nhỏ lẻ……………….... Ngày phỏng vấn :…../……./…..20… Tên đại lý……………………………….…. Thôn………………….………. Xã…………….………Huyện Gia Lâm- Hà Nội.
A. THÔNG TIN CHUNG
1. Họ tên người được phỏng vấn :…………………….……………… 2. Trình độ của người được phỏng vấn :………………..………………. 3. Giới tính : Nam………..….Nữ………..…… 4. Dân tộc :………………… 5. Điện thoại :…………………………… 6. Ông (bà) bắt đầu kinh doanh TACN từ năm
nào ?.....................................
B. TÌNH HÌNH BÁN THỨC ĂN CHĂN NUÔI CÔNG NGHIỆP Khối lượng bán cho các đối tượng khách hàng trong 3 năm qua.
2016
2. Không
Tên thức ăn Thức ăn hỗn hợp Thức ăn đậm đặc Thức ăn bổ sung Khác……. C. DỤNG CỤ BẢO QUẢN 1. Cửa hàng/ đại lí có kho chứa hàng không ? 1.Có 2. Nếu có thì diện tích là bao nhiêu ?.............; Dạng kho………….…..……… 2.Không 3. Đại lý có kệ gỗ/nhựa đựng TACNCN không ?........... 1.Có
2.Không Tần suất ?....................
D. CÔNG BỐ VÀ PHIẾU KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG TRƯỚC KHI XUẤT XƯỞNG CỦA CÁC SẢN PHẨM HIỆN ĐANG KINH DOANH 1. Số lượng TĂCN………………………………………………..………………… 2. Số lượng công bố của các loại TĂCN……………………………..……….......... 3. Số lượng phiếu kiểm nghiệm trước khi xuất xưởng của các loại TĂCN…………….. 4. Hàng năm có cơ quan nào kiểm tra/thanh tra đại lý không ? 1.Có 5. Ông bà cho biết ? Ông bà có được tập huấn hoặc tìm hiểu các quy định của pháp luật về kinh doanh thức ăn chăn nuôi chưa ? Có ; Không Nếu có là những văn bản nào ?.....................................................................
73
E. KẾ HOẠCH KINH DOANH Xin ông (bà) cho biết kế hoạch kinh doanh của ông bà trong thời gian tới
Lý do
Kế hoạch
1 Giữ nguyên quy mô như hiện nay
2 Mở rộng hoạt động
3 Thu hẹp hoạt động
4 Chuyển hoàn toàn sang hoạt động khác
5 Khác………………
……., Ngày….. tháng……năm…….
Người điều tra
- Nếu được đề xuất, xin ông bà cho biết những kiến nghị tới nhà nước để hoạt động kinh doanh TACNCN được tốt hơn …………………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………..…….... ( chính sách thuế, nhập khẩu, giao thông, ….) -. Công bố thành phần dinh dưỡng trên nhã mác bao bì thức ăn chăn nuôi lợn : 1. Tên nhãn hiệu hàng hóa :……………………………….………………………….. 2. Công ty sản xuất :………………………………………….……………………..... 3. Ngày sản xuất : ……………………………………………..……………………… 4. Giai đoạn sử dụng :…………………………………………….…………………... 5. Thành phần dinh dưỡng : - Độ ẩm :…………………………………………………………….………………... - Protein thô :…………………………………………………………….…………… - Xơ thô : ……………………………………………………………….…………….. - Ca :………………………………………………………………………..…………. - P :……………………………………………………………………..……………... - Kháng sinh, chất kích thích sinh trưởng nếu có :………………………….………... Người được điều tra
74

