HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THỨC ĂN

DÙNG TRONG CHĂN NUÔI LỢN TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN GIA LÂM

Chuyên ngành:

Chăn nuôi

Mã số:

60.62.01.05

Người hướng dẫn khoa học:

TS. Phạm Kim Đăng

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là

trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.

Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ

nguồn gốc.

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hương

i

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ tận tình

về nhiều mặt của các tổ chức và cá nhân.

Trước tiên tôi xin trân trọng các thầy cô trong Bộ môn Sinh lý –Tập tính động vật, Khoa Chăn nuôi, các thầy cô Ban quản lý đào tạo, Học Viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến TS Phạm Kim Đăng người thầy

đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.

Xin chân thành cảm ơn Phòng chăn nuôi, Sở Nông nghiệp & PTNT Hà Nội. Phòng kinh tế & PTNT, Phòng Thống kê, Trạm Thú y Huyện Gia Lâm. Các hộ, các cửa hàng kinh doanh TĂCN tại khu vực nghiên cứu đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp số liệu, tư liệu khách quan giúp tôi hoàn thành luận văn.

Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp người thân đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời

gian qua.

Xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hương

ii

MỤC LỤC

Lời cam đoan ..................................................................................................................... i

Lời cảm ơn ........................................................................................................................ ii

Mục lục ........................................................................................................................... iii

Danh mục chữ viết tắt ...................................................................................................... vi

Danh mục bảng ............................................................................................................... vii

Danh mục hình ................................................................................................................ vii

Trích yếu luận văn ......................................................................................................... viii

Thesis abstract ................................................................................................................... x

Phần 1. Mở đầu ............................................................................................................... 1

Phần 2. Tổng quan tài liệu ............................................................................................. 3

2.1.

Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện gia lâm.........................................3

2.1.1. Điều kiện tự nhiên .............................................................................................. 3

2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội .................................................................................... 4

2.2.

Khái quát chung về thức ăn trong chăn nuôi lợn ................................................ 7

2.2.1. Thức ăn chăn nuôi và thức ăn công nghiệp ........................................................ 7

2.2.2. Vai trò của thức ăn công nghiệp ......................................................................... 9

2.2.3. Đặc điểm của một số nguyên liệu chính dùng để phối trộn thức ăn

công nghiệp trong chăn nuôi lợn ...................................................................... 11

2.2.4. Các chỉ tiêu chất lượng thức ăn công nghiệp .................................................... 16

2.3.

Phương pháp đánh giá chất lượng thức ăn chăn nuôi ....................................... 26

2.3.1. Phương pháp thử cảm quan .............................................................................. 27

2.3.2. Phương pháp hóa học ....................................................................................... 27

2.3.3. Phương pháp sinh học....................................................................................... 28

2.4.

Các công đoạn thanh kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi ........................... 28

2.4.1. Kiểm tra chất lượng nguyên liệu ...................................................................... 29

2.4.2. Kiểm tra trong giai đoạn phối trộn ................................................................... 29

2.4.3. Kiểm tra chất lượng thành phẩm ...................................................................... 29

2.4.4. Kiểm tra chất lượng thức ăn trên cơ thể vật nuôi ............................................. 30

2.4.5. Quản lý chất lượng sản phẩm ........................................................................... 30

iii

Phần 3. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu ............................................................ 33

3.1.

Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu ................................................... 33

3.2.

Nội dung nghiên cứu ........................................................................................ 33

3.2.1. Thực trạng chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội ...................... 33

3.2.2. Tình hình sử dụng, kinh doanh và hệ thống quản lý chất lượng thức ăn

chăn nuôi trên địa bàn huyện ............................................................................ 33

3.2.3. Đánh giá chất lượng dinh dưỡng một số loại thức ăn công nghiệp dùng

trong chăn nuôi lợn được bán trên địa bàn huyện ............................................ 33

3.2.4. Đánh giá ô nhiễm vi sinh vật, nấm mốc, kim loại nặng và định lượng một số loại kháng sinh, hormone trong thức ăn dùng trong chăn nuôi lợn được bán trên địa bàn huyện Gia Lâm ....................................................... 33

3.3.

Phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 33

3.3.1. Phương pháp phân vùng nghiên cứu ................................................................ 33

3.3.2. Phương pháp điều tra, thu thập số liệu ............................................................. 34

3.3.3. Phương pháp phân tích đánh giá chất lượng thức ăn chăn nuôi ....................... 35

3.3.4. Phương pháp xử lý số liệu ................................................................................ 36

Phần 4. Kết quả và thảo luận ....................................................................................... 37

4.1.

Thực trạng chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện ................................................... 37

4.1.1. Tình hình chăn nuôi trên địa bàn huyện ........................................................... 37

4.1.2. Tình hình chăn nuôi lợn tại huyện Gia Lâm ..................................................... 38

4.2.

Tình hình sử dụng và kinh doanh thức ăn chăn nuôi trên địa bàn huyện Gia Lâm ............................................................................................................ 40

4.2.1. Tình hình sử dụng thức ăn hỗn hợp .................................................................. 40

4.2.2. Hệ thống phân phối và kinh doanh thức ăn chăn nuôi ..................................... 41

4.2.3. Thực trạng quản lý thức ăn chăn nuôi trên địa bàn huyện ................................ 43

4.3.

Kết quả đánh giá chất lượng dinh dưỡng một số loại thức ăn công nghiệp dùng trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Gia Lâm. .................................... 48

4.4.

Kết quả phân tích một số chỉ tiêu vi sinh vật, nấm mốc và kim loại nặng và kháng sinh trong thức ăn công nghiệp dùng trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Gia Lâm ....................................................................... 53

4.4.1. Kết quả phân tích một số chỉ tiêu vi sinh vật và độc tố nấm mốc .................... 53

4.4.2. Kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng ..................................................... 56

4.4.3. Kết quả phân tích hàm lượng kháng sinh ......................................................... 57

iv

4.4.4. Kết quả phân tích hormone Clenbuteron và Salbutamol trong thức ăn

chăn nuôi lợn .................................................................................................... 59

Phần 5. Kết luận và kiến nghị ...................................................................................... 62

Kết luận ............................................................................................................. 62

5.1.

Kiến nghị .......................................................................................................... 62

5.2.

Tài liệu tham khảo .......................................................................................................... 64

Phụ lục .......................................................................................................................... 69

v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt

Nghĩa tiếng Việt

BNN&PTNT

: Bộ nông nghiệp và phát triên nông thôn

CBNM

: Công bố nhãn mác

cs.

: Cộng sự

CTV

: Cộng tác viên

CV

: Hệ số biến động

Cys

: Cyteine

HĐND

: Hội đồng nhân dân

KPH

: Không phát hiện

LMLM

: Lở mồm long móng

Lys

: Lysine

Met

: Metthione

NMBB

: Nhãn mác bao bì

QCVN

: Quy chuẩn Việt Nam

QLCLSP

: Quản lý chất lượng sản phẩm

TĂCN

: Thức ăn chăn nuôi công nghiệp

TNHH

: Trách nhiệm hữu hạn

TTCL

: Thanh tra chất lượng

UBND

: Ủy ban nhân dân

WTO

: Tổ chức thương mại thế giới

vi

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1. Tổng số Vi sinh vật tối đa cho phép trong thức ăn hỗn hợp hoàn

chỉnh cho lợn .............................................................................................................. 17

Bảng 2.2. Qui định hàm lượng Aflatoxin B1 và hàm lượng Aflatoxin tổng số

tối đa cho phép trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho lợn. ........................ 18

Bảng 2.3. Hàm lượng kháng sinh, hóa dược tối đa cho phép trong thức ăn hỗn

hợp hoàn chỉnh cho lợn ................................................................................ 22

Bảng 3.1. Dung lượng mẫu thức ăn được lấy trên địa các xã và các chỉ tiêu

kiểm tra chất lượng ...................................................................................... 34

Bảng 4.1. Tình hình phát triển chăn nuôi huyện giai đoạn 2010- 2015 ....................... 37

Bảng 4.2. Tình hình phát triển và biến động cơ cấu đàn lợn trên địa bàn huyện

Gia Lâm giai đoạn 2010 - 2015 ................................................................... 39

Bảng 4.3. Lượng tiêu thụ thức ăn công nghiệp dùng trong chăn nuôi lợn ở

huyện Gia Lâm chăn nuôi lợn ở huyện Gia Lâm ......................................... 41

Bảng 4.4. So sánh kết quả phân tích về giá trị dinh dưỡng và công bố trên bao

bì theo địa phương lấy mẫu .......................................................................... 49

Bảng 4.5. Kết quả phân tích mẫu sai phạm liên quan đến một số chỉ tiêu dinh

dưỡng quan tâm............................................................................................ 52

Bảng 4.6. Tỷ lệ mẫu vi phạm về một số chỉ tiêu vi sinh vật và độc tố nấm mốc ............... 54

Bảng 4.7. Kết quả phân tích về vi sinh vật và độc tố nấm mốc ................................... 55

Bảng 4.8. Kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng ................................................ 56

Bảng 4.9. Tỷ lệ mẫu vi phạm về hàm lượng một số loại kháng sinh được phân tích ....... 57

Bảng 4.10. Kết quả phân tích một số kháng sinh thức ăn chăn nuôi lợn ....................... 59

DANH MỤC HÌNH

Sơ đồ 4.1. Kênh phân phối thức ăn chăn nuôi ................................................................ 42

vii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Thị Thu Hương

Tên luận văn: “Tình hình quản lý chất lượng thức ăn dùng trong chăn nuôi lợn

trên địa bàn huyện Gia Lâm”.

Ngành: Chăn nuôi Mã số: 60.62.01.05

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu:

Đánh giá thực trạng sử dụng kinh doanh và quản lý chất lượng thức ăn chăn nuôi

trên địa bàn huyện Gia Lâm.

Nội dung nghiên cứu

- Thực trạng chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội.

- Thực trạng kinh doanh và quản lý chất lượng thức ăn chăn nuôi trên địa bàn

huyện Gia Lâm, Hà Nội.

- Đánh giá chất lượng dinh dưỡng và sự ô nhiễm vi sinh, kim loại nặng, một số

kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội.

Phương pháp nghiên cứu

Thực trạng chăn nuôi lợn, tình hình kinh doanh, sử dụng và chất lượng thức

ăn được tiến hành thông qua khảo sát đánh giá trên ba xã đại diện (Kim Sơn,

Dương Quang và Văn Đức) thuộc địa bàn huyện Gia Lâm từ tháng 7 năm 2015 đến

tháng 5 năm 2016.

Đối với thông tin liên quan đến thực trạng chăn nuôi, kinh doanh, sử dụng và quản lý chất lượng thức ăn chăn nuôi được tổng hợp từ số liệu thứ cấp do các cơ quan ban ngành quản lý cung cấp hoặc phỏng vấn trực tiếp. Về chất lượng thức ăn (nghiên cứu này chỉ đánh giá 5 chỉ tiêu dinh dưỡng: (Độ ẩm, Protein thô, Xơ thô, Ca), 4 chỉ tiêu vi sinh (Vi khuẩn hiếu khí tổng số, Salmonella, E.coli và Aflatoxin B1), 5 loại kháng sinh (Tylosin, Colistin, Oxytetracycline, Chlotetracycline và Chloramphenicol) và hai loại hormone nhóm Beta-Agonist (clenbuteron và Salbutamol) đã được phân tích bằng các phương pháp chuẩn.

Kết quả chính và kết luận

- Tỷ lệ mẫu thức ăn chăn nuôi không đạt yêu cầu tương đối cao không chỉ không đạt các chỉ tiêu dinh dưỡng, một số mẫu còn ô nhiễm vi sinh, kim loại và hàm lượng

viii

kháng sinh vượt giới hạn cho phép. Cụ thể 6/44 mẫu (13,63%) không đạt yêu cầu về chỉ tiêu liên quan đến dinh dưỡng (chủ yếu liên quan đến hai chỉ tiêu Protein và xơ thô của cám lợn dùng cho lợn choai và lợn thịt giai đoạn xuất chuồng). Ba mẫu ô nhiễm vi sinh vượt giới hạn, trong đó 2 mẫu vượt giới hạn vi sinh tổng số và một mẫu nhiễm độc tố nấm mốc. Đặc biệt, có 6/11 mẫu (54,5%) có chứa một trong 5 kháng sinh vượt giới hạn qui định. Không phát hiện Chloramphenicol (kháng sinh cấm) và hormone Salbutamol và Clenbuteron (hormone cấm).

ix

Master candidate: Nguyen Thi Thu Huong

Thesis title: “Quality management of commercial feed used for pig production in

Gia Lam District”.

Major: Animal Seience

Code: 60.62.01.05

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Research Objectives: Evaluation of the status of commercial, using and quality

management of feed used for pig production in Gia Lam district, Ha Noi.

Research contents:

- Pig prodution in Gia Lam district, Ha Noi.

- Business and management of feed quality in Gia Lam district, Ha Noi.

- Evaluation of the nutrition quality and contaminant of microbial, heavy metals and

several antibiotics in feed for pig production in Gia Lam district, Ha Noi.

Materials and Methods:

The research was conducted at three representative communs of Gialam district

(Kim Sơn, Dương Quang and Van Duc) from 7/2015 to 5/2016.

For the information of livestock, feed commercial, use and quality management were analyzed from the primary statistical data provided by functional units of the district or informations interviewed directly. For feed quality (in this research, just only five paramettres evaluat are dry matter, crude protein, fibre, Ca and P), 4 microbiological indicators (aerobic bacteria total, Salmonella, E.coli and Aflatoxin B1), 5 antibiotics (Tylosin, Colistin, Oxytetracycline, Chlotetracycline and Chloramphenicol) and two hormones of Beta-Agonist group (Salbutamol and Clenbuteron) were analyzed in using the standards methods.

Main findings and conclusions:

The rate of non complian feed samples was relatively high, not only did not meet the nutritional norms but also contaminant micro-organisation, heavy metals or the antibiotic concentrations exceeded in compare with regulation. Specifially, 6/44 (13.63%) samples were non compliant with nutrition paramettres (mainly related to crude protein and crude fiber for growing and fatterning pigs). Three samples were non compliant with the microbiological contamination (2 samples containt the microbial total more than limit, one sample were contaminated the microtoxin. In particular, 6/11 samples (54.5%) contained one of 5 antibiotics. Not detected Chloramphenicol (antibiotic banned) and Salbutamol and Clenbuteron (hormone banned) in the feed samples analyzed in this research.

THESIS ABSTRACT

x

PHẦN 1. MỞ ĐẦU

Trước sức ép của người tiêu dùng và đòi hỏi của sự hội nhập về chất lượng, khả năng cạnh tranh của sản phẩm chăn nuôi nói chung và thịt lợn nói riêng, buộc ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng phải thay đổi cả về tư duy và phương thức sản xuất. Thực tế, trong những năm gần đây chăn nuôi lợn đã và đang phát triển cả về qui mô và tính chuyên hóa. Từ sản xuất nông hộ, phân tán, nhỏ lẻ và tận dụng, xuất hiện ngày càng nhiều cơ sở chăn nuôi sản

xuất theo hướng hàng hóa, tập trung và quy mô lớn.

Theo số liệu của Maps of Word, Việt Nam là một trong năm nước sản lượng thịt lợn lớn nhất Thế Giới. Định hướng phát triển đến năm 2020 chăn nuôi cơ bản chuyển sang phương thức trang trại, công nghiệp, đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu. Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đến năm 2020 đạt 42%. Chăn nuôi lợn tăng bình quân 2% và đến năm 2020 đạt 35

triệu con, trong đó đàn lợn ngoại nuôi tại các trang trại chiếm 37%.

Sự phát triển chăn nuôi lợn trong thời gian qua ngoài tác động do nhu cầu thị trường, định hướng và chính sách hỗ trợ của Chính phủ khuyến khích người chăn nuôi đầu tư sản xuất phát triển từ nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung theo hướng sản xuất hàng hóa còn có sự đóng góp của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực

chăn nuôi. Từ cung cấp vật tư, thức ăn, con giống và các dịch vụ chăn nuôi.

Thực tế nghiên cứu và sản xuất đã cho thấy chất lượng thức ăn, thuốc thú y, hóa chất và các chế phẩm sinh học đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả chăn nuôi, chất lượng và sự an toàn của sản phẩm chăn nuôi. Chính vì vậy, thị trường thức ăn và các sản phẩm đầu vào khác ở nước ta trong thời gian qua phát triển mạnh và sôi động đã và đang thu hút được nhiều hãng và công ty sản xuất thức ăn trong và ngoài nước tham gia. Đây chính là động lực thúc đẩy sự cạnh tranh, thúc đẩy các công ty tích cực tìm các giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm qua đó thúc đẩy phát triển chăn nuôi. Tuy nhiên, do sự phát triển quá nhanh trong bối cảnh hệ thống giám sát quản lý chất lượng ở nước ta còn nhiều hạn chế cả về nguồn nhân lực và vật lực, đặc biệt hệ thống cơ sở còn yếu nên thực tế còn nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến chất lượng không chỉ ảnh hưởng đến vật nuôi, người chăn nuôi mà còn ảnh hưởng đến môi trường và người tiêu dùng.

1

Với vị trí thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế, văn hoá - xã hội, khoa học -

kỹ thuật với các huyện trong Thành phố và các tỉnh khác trong vùng, cùng với

nguồn nhân lực, đất đai dồi dào đã thúc đẩy huyện Gia Lâm trở thành khu đô thị

vệ tinh của Thành Phố- Hà Nội. Trong đó, tỉ trọng ngành chăn nuôi trong cơ cấu

ngành nông nghiệp đạt cao hơn so với bình quân chung của Thành phố và cả

nước. Chăn nuôi theo phương thức công nghiệp với quy mô lớn đang ngày càng

quan tâm đầu tư kéo theo sự gia tăng các dịch vụ, sử dụng và kinh doanh thức ăn

công nghiệp. Mặc dù chủ trương của UBND Thành phố cũng như huyện Gia

Lâm là định hướng qui hoạch phát triển vùng chăn nuôi trọng điểm, bền vững,

tạo thương hiệu sản phẩm sạch và an toàn cho người tiêu dùng nhưng việc kiểm

soát đầu vào đang gặp khó khăn. Đặc biệt, cho đến nay vẫn chưa có dẫn liệu một

cách khoa học và hệ thống về tình hình hoạt động kinh doanh và sử dụng thức ăn

công nghiệp, thuốc thú y trong chăn nuôi trên địa bàn huyện. Công tác quản lý

Nhà nước về chất lượng, hoạt động kinh doanh, buôn bán thức ăn công nghiệp,

thuốc thú y có đáp ứng được đòi hỏi và yêu cầu định hướng phát triển chăn nuôi

tập trung, hàng hóa hay không? Chất lượng thức ăn chăn nuôi có đảm bảo so với

yêu cầu hay chưa? Các chỉ tiêu chất lượng và an toàn có đúng như công bố hay

không? Đặc biệt các chỉ tiêu liên quan đến kháng sinh, chất cấm còn rất ít báo

cáo đánh giá…. Chính vì vậy, đây vẫn là vấn đề khó khăn đặt ra cho lãnh đạo và

phòng ban liên quan của huyện. Trước yêu cầu của thành phố về việc lập qui

hoạch phát triển vùng trọng điểm về chăn nuôi hàng hóa, cạnh tranh của huyện,

đặc biệt để có cơ sở cho việc xây dựng chuỗi sản xuất hàng hóa có truy xuất

nguồn gốc việc thực hiện đề tài “Tình hình quản lý chất lượng thức ăn dùng

trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Gia Lâm” là rất cần thiết.

Mục tiêu: nắm bắt được hiện trạng chăn nuôi lợn, thực trạng cung cấp kinh

doanh thức ăn chăn nuôi, công tác giám sát và thực trạng chất lượng thức ăn chăn

nuôi trên địa bàn huyện.

Ý nghĩa thực tiễn: kết quả đề tài sẽ là cơ sở cho việc xây dựng hệ thống

giám sát nhằm thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện ngày càng phát

triển theo hướng hàng hóa, cạnh tranh, an toàn và bền vững.

2

PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI HUYỆN GIA LÂM

2.1.1. Điều kiện tự nhiên 2.1.1.1 Vị trí địa lý

Gia Lâm là huyện ngoại thành nằm ở cửa ngõ phía Đông Bắc của thành phố Hà Nội: phía Đông giáp tỉnh Hưng Yên; phía Tây giáp huyện Đông Anh, quận Long Biên và quận Hoàng Mai; phía Nam giáp huyện Thanh Trì và tỉnh Hưng Yên, phía Bắc giáp huyện Đông Anh và tỉnh Bắc Ninh.

Gia Lâm nhiều tuyến giao thông huyết mạch chạy qua như Quốc lộ 5, Quốc lộ 1, tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, các tuyến đường thủy trên sông Hồng, sông Đuống. Khi 2 tuyến giao thông huyết mạch là tuyến đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng và tuyến đường Hà Nội - Hưng Yên chạy qua huyện được hoàn thành đưa vào sử dụng thì Gia Lâm càng thuận lợi hơn trong phát triển kinh tế và giao lưu thương mại.

Huyện Gia Lâm có vị trí địa lý hết sức thuận lợi trong phát triển kinh tế-xã hội và giao lưu thương mại. Khu vực nông thôn huyện Gia Lâm là địa bàn hấp dẫn các nhà đầu tư do có những lợi thế về địa lý kinh tế. Chính vì vậy, Gia Lâm được nhận định là một trong những địa phương cấp huyện phát triển nhanh và năng động trong tương lai.

2.1.1.2. Diện tích tự nhiên và đặc điểm địa hình

Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 11.472,99 ha, Huyện Gia Lâm thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, có địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam theo hướng chung của địa hình và theo hướng dòng chảy của sông Hồng. Tuy vậy, địa hình của huyện cũng khá đa dạng, làm nền tảng cho cảnh quan tự nhiên, tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế, xây dựng các công trình hạ tầng dân dụng và khu công nghiệp, đảm bảo yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của huyện.

2.1.1.3. Khí hậu, thời tiết

Huyện Gia Lâm mang các đặc điểm chung của khí hậu, thời tiết vùng

đồng bằng châu thổ sông Hồng:

- Một năm chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa nóng ẩm kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô hanh kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Giữa 2 mùa nóng ẩm và mùa khô hanh có các thời kỳ chuyển tiếp khí hậu tạo ra một dạng khí hậu 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.

3

- Nhiệt độ không khí trung bình năm 23,5oC, mùa nóng nhiệt độ trung

bình tháng đạt 27,4oC.

- Lượng mưa trung bình năm 1400-1600 mm. Mưa tập trung vào mùa

nóng ẩm từ tháng 5 đến tháng 9, mưa nhiều nhất vào tháng 7 và tháng 8.

- Hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Nam và gió mùa Đông Bắc. Gió mùa Đông Nam bắt đầu vào tháng 5, kết thúc vào tháng 10 mang theo nhiều hơi nước từ biển vào gây nên những trận mưa rào, đôi khi bị ảnh hưởng của gió bão, áp thấp nhiệt đới kèm theo mưa lớn gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống. Gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thường gây ra lạnh và khô ở những tháng đầu mùa, lạnh và ẩm ướt vào tháng 2, tháng 3 do có mưa phùn. Đôi khi có sương mù, rét đậm trong các tháng 12 và tháng 1 gây ra những thiệt hại

cho sản xuất, chăn nuôi.

Các đặc điểm khí hậu, thời tiết cho phép huyện Gia Lâm phát triển một nền nông nghiệp đa dạng: Nông sản Nhiệt đới, Cận nhiệt đới có thể sản xuất vào mùa Hạ, nông sản Á nhiệt đới có thể sản xuất vào mùa Xuân, mùa Thu, nông sản Ôn đới có thể sản xuất vào mùa Đông, mùa Xuân song cũng gây ra những thiệt

hại đáng kể cho sản xuất và đời sống khi thời tiết bất thuận.

2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội 2.1.2.1. Tình hình kinh tế

Huyện Gia Lâm sau khi điều chỉnh địa giới hành chính theo Nghị định số 132/2003/NĐ-CP có 22 đơn vị hành chính cấp xã gồm 2 thị trấn: và 20 xã. Trong những năm qua, kinh tế huyện Gia Lâm có những bước phát triển mạnh mẽ. Bộ mặt nông thôn có những bước phát triển khởi sắc: Chất lượng cuộc sống người dân ngày càng được nâng lên; các ngành kinh tế tăng trưởng khá; cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch tích cực; cơ giới hóa có bước tiến bộ; kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội nông thôn ngày càng hoàn thiện; đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn được cải thiện nhanh; hệ thống chính trị cơ sở được tăng cường, quyền dân chủ được phát huy, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nông thôn được giữ vững. Các mục tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế cơ bản đã hoàn thành, giá trị các ngành kinh tế tăng bình quân hàng năm 10,08%, Công nghiệp

thương mại , dịch vụ tăng 34,6%. Nông, lâm nghiệp – thủy sản tăng 13,59%.

Phát triển kinh tế xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn của Thành phố Hà Nội, đang được Thành ủy, HĐND, UBND thành phố đặc biệt quan tâm.

4

Ngày 25/05/2010 UBND thành phố đã phê duyệt đề án “Xây dựng nông thôn mới thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2020, định hướng đến năm 2030. Do vậy, việc nghiên cứu lập đề án “Xây dựng nông thôn mới huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2020, định hướng 2030” là công việc quan trọng và mang tính cấp bách. Đến nay đã có 7 xã được công nhận xã đạt chuẩn Nông thôn mới, 9 xã cơ bản đạt 15-18 tiêu trí, 4 xã đạt 10-14 tiêu trí. Thu nhập bình quân đầu người trên đại bàn đạt 32,7 triệu đồng/ năm ( chỉ tiêu 27 triệu đồng) tăng 5,7 triệu

đồng so vớ mục tiêu đề ra.

2.1.2.2. Điều kiện về xã hội.

Dân số toàn huyện đến 31/12/2010 là 237.970 người. Tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2006-2010 là 2,05%/ năm. Lực lượng lao động khá dồi dào, chất

lượng nguồn lao động tương đối khá.

* Cơ sở hạ tầng

Công tác đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng được gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và đầu tư theo hướng đô thị. Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 11.472,99 ha, trong đó 20 xã nông thôn có tổng diện tích tự nhiên

là 10.646,54 ha, chiếm 92,8% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện.

Nông thôn huyện Gia Lâm chịu ảnh hưởng rất mạnh của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nên đất sản xuất nông nghiệp giảm mạnh làm cho một bộ phận người dân nông thôn bị mất đất sản xuất. Trong điều kiện đất chưa sử dụng không còn nhiều, việc tìm kiếm các giải pháp tạo việc làm cho người dân nông thôn và thúc đẩy chuyển dịch lao động nông nghiệp sang các lĩnh vực phi

nông nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và cấp bách.

* Tài nguyên nước

Gia Lâm có 2 con sông lớn chảy qua là sông Hồng và sông Đuống. Đây là 2 con sông có trữ lượng nước khá lớn, là nguồn chính đáp ứng yêu cầu về nguồn

nước ngọt phục vụ phát triển sản xuất và đời sống dân sinh.

- Giao thông

Nhìn chung, hệ thống giao thông của huyện Gia Lâm hiện nay đã cơ bản đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội hiện tại nhưng với tốc độ đô thị hóa nhanh thì hệ thống giao thông nông thôn sẽ trở nên bất cập, cần tiếp tục được đầu

tư xây dựng và cải tạo nâng cấp.

5

- Thủy lợi

Hệ thống kênh mương phục vụ sản xuất do các xã, đã kiên cố hóa .Hệ

thống kênh tiêu thoát nước, nhất là hệ thống kênh tiêu thoát nước tiểu vùng Nam

Đuống như các tuyến kênh tiêu vào sông Cầu Bây ra cống Xuân Thụy; các tuyến

kênh tiêu vào sông Kiên Thành ra cống Tân Quang; các tuyến kênh tiêu ra cống

Hoàng Xá .

+ Số trạm bơm do xã quản lý tại 20 xã hiện có 47 trạm bơm tưới, 3 trạm bơm

tiêu, kết hợp với các công trình thủy lợi do Xí nghiệp đầu tư phát triển thủy lợi đã

đảm bảo tiêu chủ động cho 3.023,2 ha gieo trồng.

- Mạng lưới điện: Hệ thống lưới điện đã từng bước được đầu tư xây dựng

mới và cải tạo, nâng cấp nên đã phát huy hiệu quả trong truyền tải và phân phối,

cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất, dân sinh và quản lý. Đến nay có 100% số xã sử

dụng điện lưới, 100% số hộ được sử dụng điện thường xuyên, an toàn.

- Văn hóa- xã hội

Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tiếp tục được triển

khai có hiệu quả theo hướng nâng cao chất lượng. Thực hiện các quy ước, quy

chế các mô hình văn hóa được triển khai tích cực. Công tác quản lý lễ hội được

tăng cường chặt chẽ, các hoạt động lễ hỗi diễn ra vui tươi, an toàn có tác dụng

giáo dục truyền thống văn hóa sâu sắc. Công tác quản lý trùng, tu tôn tạo di tích

lịch sử văn hóa được đầu tư và tăng cường. Đặc biệt Lễ hội Gióng được

UNESCO công nhận là văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và di tích đền

Gióng được công nhận là cụm di tích quốc gia đặc biệt.

+Y tế: Bệnh viện đa khoa Gia Lâm mới được xây dựng đầu tư trang thiết

bị hiện đại với tiêu chuẩn là bệnh viện của khu vực,cùng với sự có mặt của ba

Phòng khám đa khoa khu vực, 22 xã đều có trạm y tế xã , 43 cơ sở tư nhân

khám chữa bệnh cơ bản đã đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân

trong huyện.

+ Giáo dục: Trong những năm qua huyện và nhân dân đã không ngừng xây

dựng đầu tư mới nhiều trường học nhiều trường học khang trang sạch sẽ, phần

lớn các trường đều đạt trường chuẩn quốc gia. Tổng số có 22 trường mầm non,

22 trường tiểu học, 20 trường trung học cơ sở, 6 trường Trung học phổ thông, 1

trường Trung học bổ túc, 1 trường Đại học, 1 Học Viện, 1 Trung tâm dạy nghề.

6

2.2. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỨC ĂN TRONG CHĂN NUÔI LỢN

2.2.1. Thức ăn chăn nuôi và thức ăn công nghiệp

- Thức ăn chăn nuôi

Đã có rất nhiều khái niệm và định nghĩa về thức ăn chăn nuôi theo Pond et al. ( 1995) đã đưa ra khái niệm về chất dinh dưỡng như sau: chất dinh dưỡng là một nguyên tố hay một hợp chất hóa học mà có thể giữ được sự sinh trưởng, sinh sản, cho sữa một cách bình thường hoặc duy trì sự sống nói chung. Theo đó, thức ăn được định nghĩa là: một vật liệu có thể ăn được nhằm cung cấp chất dinh dưỡng. Có định nghĩa cho rằng tất cả những gì mà con gia súc ăn vào hoặc có thể ăn vào được mà có tác dụng tích cực đối với quá trình trao đổi chất thì gọi là thức ăn gia súc. Một định nghĩa khác cũng được nhiều người chấp nhận đó là “ Thức ăn là sản phẩm của thực vật, động vật, khoáng vật và các chất tổng hợp khác, mà động vật có thể ăn, tiêu hóa, hấp thu để duy trì sự sống, phát triển và tạo ra sản phẩm” (Lê Đức Ngoan và cs., 2004).

Thức ăn chăn nuôi là những nguyên liệu có nguồn gốc thực vật, động vật, vi sinh vật và hóa học mà nó có chứa các chất dinh dưỡng ở dạng cơ thể hấp thụ được và không gây ra những tác động có hại đến sức khỏe vật nuôi, chất lượng sản phẩm của chúng. Những nguyên liệu này phải chứa các chất dinh dưỡng ở dạng có thể hấp thu để trong quá trình tiêu hóa sẽ được vật nuôi sử dụng cho nhu cầu duy trì, xây dựng các mô, cơ quan và điều hòa trao đổi chất. Những nguyên liệu có chứa các chất độc, các chất có hại cũng có thể được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi sau khi đã khử hoặc làm vô hoạt hoàn toàn các yếu tố gây độc, gây hại cho sức khoẻ vật nuôi, cho thế hệ sau và cho sản phẩm

của chúng (Bùi Quang Tuấn, 2010).

Nghị định số 08/NĐ-CP ngày 5 tháng 2 năm 2010 của Chính phủ thì thức ăn chăn nuôi là những sản phẩm mà vật nuôi ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản, bao gồm: nguyên liệu thức ăn chăn nuôi hay thức ăn đơn, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh, thức ăn đậm đặc, thức ăn bổ sung, phụ gia thức ăn

chăn nuôi, premix, hoạt chất và chất mang.

Theo Qui chuẩn Việt Nam (QCVN 01-104: 2012/BNNPTNT) thì thức ăn chăn nuôi là những sản phẩm mà vật nuôi ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản. Bao gồm: nguyên liệu thức ăn chăn nuôi hay thức ăn đơn, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh, thức ăn đậm đặc, thức ăn bổ sung và phụ gia

thức ăn chăn nuôi.

7

- Thức ăn chăn nuôi công nghiệp

Thức ăn chăn nuôi công nghiệp (TĂCN) là thức ăn chăn nuôi được chế biến và sản xuất bằng các phương pháp công nghiệp. Thuật ngữ “công nghiệp” nhằm ám chỉ phương pháp sản xuất công nghiệp có liên quan đến máy móc, thiết bị,

dây chuyền sản xuất theo quy mô công nghiệp.

Thức ăn công nghiệp chủ yếu là thức ăn hỗn hợp, là loại thức ăn đã được

chế biến sẵn, do một số loại thức ăn phối hợp với nhau tạo thành. Thức ăn hỗn

hợp hoặc có đầy đủ tất cả các chất dinh dưỡng thỏa mãn nhu cầu của con vật,

hoặc chỉ có một số chất dinh dưỡng nhất định để bổ sung cho con vật. Thức ăn

hỗn hợp gồm có 2 loại chính: thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn hỗn hợp

đậm đặc và ngoài ra còn có thức ăn hỗn hợp bổ sung (Lê Hồng Mận và Bùi Đức

Lũng, 2003).

Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh là hỗn hợp của nhiều loại nguyên liệu thức ăn,

được phối chế theo công thức nhằm đảm bảo có đủ các chất dinh dưỡng để duy

trì khả năng sống và khả năng sản xuất của vật nuôi theo từng giai đoạn sinh

trưởng hoặc chu kỳ sản xuất mà không cần thêm bất kì loại thức ăn nào khác

ngoài nước uống. Loại thức ăn này có 2 dạng là dạng bột hoặc dạng viên.

Vũ Duy Giảng và cs. (1997) cho rằng “ Khi gia súc, gia cầm sử dụng thức

ăn hỗn hợp dạng viên sẽ có nhiều ưu thế hơn khi sử dụng thức ăn hỗn hợp dạng

bột. Thứ nhất, khi ăn thức ăn dạng viên sẽ giảm được lượng thức ăn rơi vãi tới

10-15% so với thức ăn hỗn hợp dạng bột. Thứ hai là giảm được thời gian cho ăn,

dễ cho ăn. Thứ ba thức ăn viên còn tránh được sự lựa chọn thức ăn ép con vật ăn

theo nhu cầu dinh dưỡng đã định. Thứ tư thức ăn viên còn làm giảm được không

gian dự trữ, giảm dung tích máng ăn, dễ bao gói, dễ vận chuyển và bảo quản lâu

không hỏng. Thứ năm thức ăn viên khi cho gia súc ăn không bụi, tránh được

những triệu chứng bụi mắt, bệnh đường hô hấp. Thứ sáu dưới tác dụng cơ giới

nhiệt độ và áp suất trong khi ép viên kết cấu ligin và cellulosen có trong thức ăn

sẽ bị phá vỡ, từ đó làm tăng khả năng tiêu hóa tinh bột và chất sơ ở vật nuôi. Ép

viên còn làm chậm khả năng oxy hóa của các Vitamin tan trong dầu mỡ và tiêu

diệt phần lớn các vi sinh vật, nấm mốc và một số mầm bệnh…”.

Theo Denixov (1971) cho rằng “ Thức ăn hỗn hợp dạng viên có lợi cả về quy trình chế biến và hiệu qủa kinh tế. Thức ăn hỗn hợp dạng viên dễ bảo quản hơn, dùng bể vỗ béo cho gia súc, gia cầm thì khả năng khối lượng cơ thể cũng cao hơn”.

8

Chính nhờ những ưu điểm trên mà hiện nay trên thế giới thức ăn hỗn hợp dạng

viên chiếm 60-70% tổng lượng thức ăn hỗn hợp (Vũ Duy Giảng và cs., 1997).

Bên cạnh những ưu điểm trên thức ăn hỗn hợp dạng viên cũng có các nhược

điểm mà chúng ta cấn lưu ý khi sử dụng: Thứ nhất là giá thành của thức ăn dạng

viên cao hơn thức ăn dạng bột do phải tốn chi phí cho quá trình ép viên. Thứ hai

nhiệt trong quá trình ép viên cao cũng làm phân hủy một số Vitamin từ nguyên

liệu” (Vũ Duy Giảng và cs., 1997). Thức ăn đậm đặc là hỗn hợp các nguyên liệu

thức ăn chăn nuôi có hàm lượng các chất dinh dưỡng cao hơn nhu cầu vật nuôi

và để pha trộn với các nguyên liệu khác tạo thành thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh.

Thức ăn đậm đặc là hỗn hợp thức ăn giàu dinh dưỡng, đặc biệt là protein,

khoáng chất và các vitamin. Ngoài ra thức ăn còn được bổ sung thêm kháng sinh,

thuốc phòng bệnh. Nồng độ các chất dinh dưỡng trong thức ăn hỗn hợp đậm đặc

thường cao hơn so với nhu cầu vật nuôi. Khi sử dụng thức ăn hỗn hợp đậm đặc

phải tuân theo hướng dẫn ghi trên nhãn mác hàng hóa. Người chăn nuôi khi mua

thức ăn hỗn hợp đậm đặc về đem trộn với các nguồn thức ăn tinh bột như ngô,

cám gạo, tấm… để tạo thành thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh. Thức ăn hỗn hợp đậm

đặc rất tiện lợi cho việc chế biến thủ công, chăn nuôi gia đình với quy mô nhỏ,

tận dụng các nguồn nguyên liệu phế phụ phẩm sẵn có tại địa phương để giảm chi

phí về thức ăn.

2.2.2. Vai trò của thức ăn công nghiệp

Thức ăn là vật chất chứa đựng chất dinh dưỡng mà động vật có thể ăn và hấp thu được các chất dinh dưỡng đó để duy trì sự sống, xây dựng cấu trúc cơ thể. Thức ăn là cơ sở để cung cấp chất dinh dưỡng cho quá trình trao đổi chất của động vật. Nếu không có thức ăn thì không có trao đổi chất, khi đó động vật sẽ chết. Thức ăn có vai trò quyết định đến năng suất, sản lượng, hiệu quả của nghề

chăn nuôi (Trịnh Khắc Vịnh, 2010).

TĂCN ra đời đã tạo bước ngoặt lớn, góp phần tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công cuộc nâng cao hiệu quả năng suất cho ngành chăn nuôi. Vai trò của

nó đã được thể hiện ở các điểm sau:

TĂCN dù là dạng bột hay dạng viên đều đã mang lại hiệu quả rõ rệt cho người chăn nuôi, nhất là đối với các trang trại có quy mô chăn nuôi trung bình và lớn. Ngay cả các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ khi sử dụng TĂCN cũng đã mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Bởi vì thức ăn này không những được phối trộn và cân đối

9

đầy đủ các chất dinh dưỡng, vitamin và chất khoáng, thích hợp cho từng giai đoạn phát triển của con lợn mà còn được bổ sung các chất hấp phụ độc tố nấm mốc, các chất chống oxy hóa, các men tiêu hóa và các chất phòng bệnh... (Nguyễn Thiện và cs, 2005). Kết quả thu được trong chăn nuôi trên thế giới và trong nước đã cho thấy việc sử dụng TĂCN hoàn chỉnh và thức ăn bổ sung đã tăng năng suất các sản phẩm chăn nuôi đồng thời hạ mức chi phí thức ăn trên một đơn vị sản phẩm. Chăn nuôi bằng TĂCN sản xuất theo các công thức được tính toán có căn cứ khoa học là đưa các thành tựu phát minh về dinh dưỡng động vật vào thực tiễn sản xuất một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất (Lê Hồng Mận và

Bùi Đức Lũng, 2003).

- Góp phần thay đổi tập quán chăn nuôi: từ khi TĂCN ra đời đã làm cho

hình thức chăn nuôi truyền thống nhỏ lẻ (tận dụng các nguồn thức ăn sẵn có, phế

phẩm nông nghiệp, chế biến, sinh hoạt…để chăn nuôi) đã giảm xuống đáng kể.

Thay vào đó là hình thành ngày càng nhiều hơn các trang trại, gia trại, các hộ

chăn nuôi có quy mô lớn, đảm bảo được đúng quy trình kỹ thuật mang lại hiệu

quả cao nhất trong chăn nuôi.

- Thúc đẩy năng suất trong chăn nuôi: Trước đây, chăn nuôi nông hộ truyền

thống, phân tán, nhỏ lẻ, thủ công chủ yếu tận dụng nguồn thức ăn sẵn có từ phụ

phẩm nông nghiệp, chế biến hoặc trong sinh hoạt… nên sự phát triển vật nuôi

không ổn định, năng suất chăn nuôi thấp. Ngày nay, trên cơ sở các nghiên cứu

chuyên sâu về dinh dưỡng không chỉ cho từng loại vật nuôi và còn có các thông

tin về nhu cầu từng giai đoạn phát triển phục vụ thiết kế, phối hợp khẩu phần phù

hợp, chính xác giúp nâng cao năng suất chăn nuôi tạo một bước chuyển biến đột

phá cho sự phát triển của ngành chăn nuôi.

Sử dụng TĂCN thuận tiện, giảm chi phí sản xuất trong các khâu cho ăn,

chế biến, bảo quản và giảm lao động, sử dụng ít thức ăn nhưng mà cho năng suất

cao đem lại hiệu quả cao trong chăn nuôi.

Ngoài việc góp phần thúc đẩy tăng trưởng của vật nuôi mà nó còn đóng

vai trò quan trọng trong việc làm tăng hiệu quả cho ngành chăn nuôi, cụ thể là

giảm công lao động chăn nuôi trên một khối lượng sản phẩm chăn nuôi nhất

định. Vì theo phương thức chăn nuôi truyền thống thì nguồn thức ăn của vật nuôi

phải được nấu chín, lượng thức ăn tiêu tốn nhiều nên mất nhiều thời gian cho

việc phục vụ chăn nuôi. Thay vào đó, ngày nay khi sử dụng TĂCN thì các công

10

đoạn đó đã được loại bỏ cho nên lượng lao động được sử dụng ít hơn. Như vậy,

năng suất lao động đã tăng lên cả về số lượng sản phẩm tạo ra và hiệu quả của

việc sử dụng lao động.

TĂCN có giá trị dinh dưỡng phù hợp với tuổi gia súc, phù hợp với hướng

sản xuất của gia súc thỏa mãn các yêu cầu về quản lý và kinh tế chăn nuôi góp

phần thay đổi cơ cấu nông nghiệp, hiện đại hóa nền sản xuất nông nghiệp (Lê

Đức Ngoan và cs., 2004)

Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Nhờ có TĂCN mà lượng lao động

được sử dụng trong ngành chăn nuôi đã giảm đi rất nhiều, từ đây đã tạo ra một

nguồn lực lớn cho các ngành khác. Như đã biết, ngành nông nghiệp nói chung có

tính đặc thù là phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, nó chiếm một diện tích

rộng cho nên khả năng gặp rủi ro là rất lớn và đây chính là nguyên nhân dẫn đến

lao động chỉ mang tính thời vụ và không đảm bảo ổn định. Cho nên, việc phát

triển chăn nuôi có vai trò rất lớn để đảm bảo ổn định lao động, tránh được thời

gian nông nhàn và nâng cao mức thu nhập cho người lao động.

- Giảm sức nặng cung cầu: Trước đây, khi còn trong giai đoạn chăn nuôi

nhỏ lẻ thì hàng hoá là các sản phẩm chăn nuôi luôn ở mức cung không đủ cầu

nên giá cả trong sử dụng là không phù hợp và thường xuyên biến động chưa có

tính ổn định. Ngày nay, khi chăn nuôi đã có định hướng quy hoạch và đang trên

đà phát triển thì sản phẩm chăn nuôi có nhiều hơn, phong phú và đa dạng hơn

trên thị trường giúp cho người tiêu dùng sử dụng thoải mái, luôn có nhiều sự lựa

chọn hơn nữa người chăn nuôi đã tập trung đầu tư sản xuất loại sản phẩm mà thị

trường có nhu cầu. Nhưng cơ bản nhất, là nó thúc đẩy phát triển chăn nuôi mạnh

để tạo ra năng suất của sản phẩm, nhằm mục đích làm giảm sức nặng cung cầu

cho thị trường.

2.2.3. Đặc điểm của một số nguyên liệu chính dùng để phối trộn thức ăn công nghiệp trong chăn nuôi lợn

Dinh dưỡng thức ăn công nghiệp là một trong những yếu tố quyết định tới năng suất chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng. Muốn thức ăn có chất lượng tốt thì cần phải có các loại nguyên liệu đảm bảo các chỉ tiêu dinh dưỡng theo quy định. Trong phạm vi của đề tài này chúng tôi chỉ đề cập tới một số nguyên liệu chính sử dụng phối trộn thức ăn chăn nuôi lợn là nhóm các nguyên

liệu giàu năng lượng và nhóm các nguyên liệu giàu Protein.

11

Nhóm thức ăn giàu năng lượng

Tất cả các loại thức ăn có hàm lượng protein dưới 20% và xơ thô dưới 18% được xếp vào nhóm thức ăn giàu năng lượng (Irma, 1983; Kellem and Church, 1998). Nhóm thức ăn giàu năng lượng bao gồm các loại hạt ngũ cốc như ngô, lúa mỳ, cao lương..., các phụ phẩm của ngành xay xát như: tấm, cám, gạo..., các loại thức ăn củ như sắn, khoai lang, khoai tây...và các chất dầu mỡ.

Dưới đây là một số nguyên liệu chính:

* Ngô

Ngô là loại hạt quan trọng nhất dùng trong thức ăn chăn nuôi. So với các loại

thức ăn ngũ cốc khác thì ngô là loại thức ăn giàu năng lượng (1kg hạt ngô có từ 3200 -

3300 Kcal ME). Ngô chứa 65% tinh bột, hàm lượng xơ thấp từ 2- 6%, protein thô dao

động từ 8 - 13% tính theo vật chất khô (Vũ Duy Giảng và cs., 1997).

Axit amin hạn chế nhất trong ngô là Lysine. Gần đây người ta đã tạo ra được

một số giống ngô mới giàu axit amin hơn, như giống Oparque-2 có hàm lượng Lysine

cao hơn nhiều so với ngô bình thường, song vẫn nghèo Metthione .Một giống ngô

mới nữa là Floury - 2 có hàm lượng Lysine và Metthione cao hơn giống ngô Oparque

- 2. Nếu dùng loại ngô này thì không cần bổ sung thêm Metthione (NRC, 1994).

Hàm lượng Lipit của ngô có từ 3 - 6%, chủ yếu là các loại axit béo chưa

no, ngoài ra ngô còn chứa một hàm lượng đáng kể carotene (tiền vitamin A) và

sắc tố màu xantophyll.

Nhược điểm chính khi dùng ngô là nguy cơ nhiễm aflatoxin từ nấm mốc Aspergillus flavus, Aspergillus parasiticus, nhất là với ngô tại các vùng được thu hoạch trong mùa mưa không đủ điều kiện phơi hoặc sấy khô đúng mức. Theo nghiên cứu của Nguyễn Chí Hanh (1996) thì khi bắt đầu đưa ngô vào bảo quản, ngô đã bị nhiễm nấm mốc (100.003 khuẩn lạc/gam) nhưng chưa xuất hiện aflatoxin. Sau 2 tháng bảo quản đã xuất hiện aflatoxin ở mức thấp (40mg/kg). Mức độ nhiễm nấm mốc, độc tố tăng dần và đạt mức cao sau 5 tháng bảo quản (200.103 khuẩn lạc/gam và 553,2 mg aflatoxin/1 kg hạt). Trong vụ hè thu, khi bảo quản ngô hạt thì sự biến đổi thành phần hóa học và sự sản sinh aflatoxin thấp hơn khi bảo quản trong vụ đông xuân. Bên cạnh đó, trong ngô còn chứa hàm lượng bột đường và mỡ cao nên ngô rất dễ bị mọt phá hoại. Mọt xuất hiện nhiều nhất trong ngô ở giai đoạn chuyển từ khô hanh sang nóng ẩm. Trong 10 -15 ngày, mọt có thể ăn

hỏng toàn bộ kho ngô hàng chục tấn (Đào Văn Huyên, 1995).

12

Với những đặc tính như trên, nếu ngô không bị nhiễm nấm mốc thì có thể được sử dụng tối đa làm nguồn cung cấp năng lượng trong khẩu phần thức ăn

cho lợn cho đến khi nào giá cả còn chấp nhận được.

* Cám gạo

Cám gạo là ngành thực phẩm của ngành xay xát gạo. Lượng cám thu được

bình quân là 10% khối lượng lúa (Dương Thanh Liêm, 2005). Việt Nam hiện có sản

lượng gạo xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới nên nguồn cám gạo rất dồi dào.

Cám gạo là sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Trong cám gạo có chứa khoảng 10 - 13% protein thô, 10 - 15% lipit thô, 8 - 9% xơ thô và 9 - 10% khoáng tổng số. Ngoài ra, trong cám gạo còn rất giàu vitamin nhóm B1. Trong 1kg cám gạo có 22,2 mg vitamin B1; 13,1 mg vitamin B6 và 0,43 mg Biotin (Vũ Duy Giảng, 1996).

Cám gạo chứa khoảng 14 - 18% là dầu. Vì vậy cám gạo có mùi thơm ngon

và lợn rất thích ăn. Nhưng đây cũng chính là nhược điểm của cám, bởi vì trong

dầu cám có men Lipaza làm phân giải các axit béo không no nên dễ làm cho mỡ

bị ôi thiu, giảm chất lượng của cám, khi đó cám sẽ trở nên đắng và khét. Trong

cám gạo hàm lượng photpho cao hơn hàm lượng canxi gấp 10 lần nhưng lại có

tới 70% photpho ở dạng phytin không hấp thu được.

* Hạt mì và cám mì

Lúa mì là loại cây lương thực trồng phổ biến ở các vùng ôn đới. Tùy theo

màu sắc của hạt có các màu đỏ nâu, trắng và tía. Các loại hạt hoặc cám của hạt

lúa mì có thể dùng trong thức ăn chăn nuôi. Hạt mì và cám mì có hàm lượng đạm

thô khoảng 14 - 16% (Dương Thanh Liêm, 2005). Hạt mì và cám mì có hàm

lượng NSP cao nên khó tiêu hóa, nhất là với gà. Khi sử dụng cần kèm theo các

enzyme tiêu hóa NSP để làm tăng giá trị dinh dưỡng.

Nhóm thức ăn giàu protein

Theo Irma (1983), Kellems and Church (1998), thức ăn giàu protein là tất

cả các loại thức ăn có hàm lượng protein trên 20%, xơ thô dưới 18%. Thức ăn

giàu protein gồm hai loại là thức ăn giàu protein có nguồn gốc động vật như: bột

cá, bột thịt xương, bột máu…và thức ăn giàu protein có nguồn gốc từ thực vật

như: hạt đỗ tương, hạt lạc, hạt vừng, hạt đậu xanh, khô dầu đỗ tương, khô dầu

lạc, khô dầu dừa, khô dầu hướng dương…

13

a, Nhóm thức ăn giàu protein có nguồn gốc động vật

Thức ăn giàu protein có nguồn gốc động vật thường có giá trị sinh học cao,

khả năng tiêu hóa và hấp thu tốt hơn so với thức ăn protein có nguồn gốc thực vật.

Phần lớn chúng là những nguồn protein khá cân đối các axit amin cần thiết.

* Bột cá

Việt Nam có bờ biển dài trên 3000 km nên có vùng biển đánh bắt cá rộng

lớn cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến bột cá. Cùng với hàm lượng

và chất lượng protein cao, bột cá còn là nguồn cung cấp rất tốt các chất khoáng

(canxi, photpho, khoáng vi lượng) và vitamin. Bột cá cũng tạo độ ngon miệng

cao cho thức ăn lợn, gà (Dương Thanh Liêm, 2005).

Bột cá rất giàu protein, chất lượng protein cao. Loại bột cá tốt chứa không

thấp hơn 60% protein, tỷ lệ axit amin cân đối, có nhiều axit amin chứa lưu huỳnh.

Trong 1kg bột cá có chứa 52g Lysine, 15 - 20g Metthione, 8- 10g

Cysteine, giàu canxi, photpho với tỷ lệ tương đối cân đối (canxi khoảng 6 - 7%, photpho khoảng 4%), giàu vitamin B12, B1 ngoài ra còn có cả vitamin A và D.

Từ nhiều kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học nhận định protein trong

bột cá có giá trị sinh học cao. Trong bột cá có đủ các axit amin không thay thế,

dễ tiêu hóa như Metthione, Cystein, Lysine, Threonine, Tryptophan. Theo Fin

(2000), hàm lượng Lysine trong bột cá trích (herring) là 6,1%, gần gấp đôi so với

hàm lượng Lysine có trong bột đỗ tương (3,1%) và gần gấp ba so với hàm lượng

Lysine có trong bột sữa (2,5%). Tác giả cũng cho biết hàm lượng Metthione và

Cysteine trong bột cá (2,6 - 2,9%) cao hơn trong đỗ tương (1,5%). Sự có mặt của

bột cá trong khẩu phần sẽ khắc phục được sự thiếu hụt các axit amin này khi sử

dụng khẩu phần có nguồn gốc protein thực vật là chính.

Khi so sánh protein bột cá với một số nguồn protein khác, Fin (2000) cho

biết: hàm lượng protein thô của bột cá cao hơn hẳn các loại thức ăn khác, bột cá

Chile có hàm lượng protein thô là 73%, bột cá trích là 77%; trong khi đỗ tương

chỉ ở mức 35% protein thô, bột sữa là 37% protein thô. Không chỉ có thế, hàm

lượng protein dễ tiêu hóa ở bột cá cũng tương đối cao (69 - 72%), đỗ tương là

32%, bột sữa là 33%. Như vậy, cả về lượng và chất, protein của bột cá đều hơn

hẳn protein của các loại thức ăn khác.

14

Chất lượng bột cá phụ thuộc rất nhiều vào loại cá và các bộ phận của cá

đem chế biến. Nếu bột cá chế biến từ loại cá nhỏ hoặc đầu cá, vây cá thì hàm

lượng protein rất thấp (20 - 25%), trong khi đó bột cá được chế biến từ cá lớn thì

hàm lượng protein trên 60%. Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN, 2005 về TACN)

thì bột cá loại 1 không thấp hơn 60% protein, loại 2: không thấp hơn 50% protein

và loại 3: không thấp hơn 40% protein.

Ở nước ta chất lượng của bột cá đang là vấn đề cần được quan tâm. Do

phương tiện đánh bắt cá khác nhau nên chất lượng bột cá cũng bị ảnh hưởng. Với

những tàu thuyền nhỏ không có hầm lạnh bảo quản cá trong thời gian dài đánh

bắt cá ngoài khơi nên ngư dân phải bảo quản bằng cách ướp muối. Điều này làm

cho hàm lượng muối ăn trong các loại bột cá này thường rất cao, có khi lên đến

20 -30%. Do đó nếu cho lợn sử dụng loại bột cá này thì không những không có

lợi mà còn làm cho chúng bị ngộ độc. Vì vậy trước khi dùng bột cá để xây dựng

khẩu phần cần phải tiến hành phân tích thành phần dinh dưỡng của nó, nhất là

hàm lượng muối.

* Bột thịt, bột thịt xương

Đây là sản phẩm từ lò mổ gia súc bao gồm tất cả phần còn lại của động vật

không dùng làm thức ăn cho người được như: phổi, ruột già, gân, móng, lông và có

thể cả xương. Nếu có cả xương thì được gọi là bột thịt xương (Dương Thanh Liêm,

2005). Bột thịt và bột thịt xương có thể sản xuất ở hai dạng là khô và ẩm. Ở dạng

khô, các nguyên liệu được đun nóng trong một bếp hơi để tách mỡ, phần còn lại là

bã. Ở dạng ẩm, các nguyên liệu được đun nóng bằng hơi nước có dòng điện chạy

qua, sau đó rút nước, ép để tách mỡ và sấy khô.

Bột thịt chứa 60 - 70% protein thô, bột thịt xương chứa 45 - 55% protein

thô. Chất lượng protein của hai loại này đều cao, axit amin hạn chế là Metthione

và Tryptophan. Hàm lượng lipit dao động trong khoảng 3 - 13%, trung bình là

9%, bột thịt xương giàu khoáng hơn bột thịt, đặc biệt là hàm lượng Caxi, Photpho, Magie. Tuy nhiên cả hai loại này đều rất giàu vitamin B1.

Hai loại thức ăn này thường được bổ sung vào khẩu phần ăn của gia súc,

gia cầm để làm cân bằng axit amin. Điểm lưu ý khi sử dụng là phải bảo quản bột

thịt và bột thịt xương trong điều kiện thích hợp để tránh làm thất thoát vitamin

và mỡ khỏi bị ôi thiu. Và điều quan trọng cần nhớ là bột thịt cũng như các

15

loại sản phẩm chế biến từ động vật cần phải xử lý nhiệt kỹ lưỡng để tránh các

mầm bệnh còn hiện diện. Trước đây mầm bệnh được quan tâm nhiều là

Salmonella, nhưng ngày nay vi khuẩn gây thương hàn đã trở thành mối quan tâm

thứ hai sau bệnh bò điên vốn rất dễ lây lan qua các sản phẩm động vật, nhất là từ

thức ăn gia súc có nguồn gốc động vật. Vì vậy hiện nay xu hướng các nước châu

Âu hạn chế hoặc ngưng hẳn việc sử dụng bột thịt, bột thịt xương trong khẩu phần

ăn động vật, nhất là trên gia súc nhai lại.

b, Nhóm thức ăn giàu protein có nguồn gốc thực vật

* Đỗ tương

Nếu như ngô được xem là loại hạt chủ lực trong thức ăn cho lợn để cung

cấp năng lượng thì đỗ tương là loại hạt chủ lực được sử dụng để cung cấp protein

trong thức ăn chăn nuôi. Trong đỗ tương có khoảng 38 - 42% protein thô, 18 -

22% dầu. Protein của đỗ tương có chứa đầy đủ các axitamin cần thiết như

Cysteine, Lysine nhưng Metthione là axit amin hạn chế thứ nhất trong hạt đỗ

tương. Trong đỗ tương có chất ức chế men trypsin, chymotrysin. Sự có mặt của

các chất này đã làm giảm đi giá trị sinh học protein của đỗ tương, giảm khả năng

tiêu hóa của peptit, nhưng các chất này có thể bị phá hủy bởi nhiệt độ. Vì vậy cần

phải có biện pháp xử lý nhiệt độ thích hợp như rang, hấp, luộc chín hoặc dùng tia

hồng ngoại để nâng cao tỷ lệ tiêu hóa và khử các chất độc có trong hạt đỗ tương.

* Khô dầu và đỗ tương

Khô dầu đỗ tương là phụ phẩm của ngành ép dầu đỗ tương. Đây là một

trong những nguồn thức ăn protein thực vật có giá trị nhất. Thành phần cơ cấu

axit amin của nó có thể ngang với protein động vật, trừ Metthione. Bởi vì trong

khô dầu đỗ tương có hàm lượng protein cao (42 - 44,7%) nhưng năng lượng chỉ ở

mức thấp 2.400 – 2.530 kcal/kg ở thể khô không khí (Smith, 1991). Hàng năm

nước ta nhập trên 400.000 tấn cả đỗ tương nguyên dầu. Chúng ta cần chú ý rằng,

công nghệ ép dầu (ép máy hoặc ép thủ công) có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng

của khô dầu đỗ tương.

2.2.4. Các chỉ tiêu chất lượng thức ăn công nghiệp

Bên cạnh các yếu tố chất lượng dinh dưỡng chất lượng thức ăn chăn nuôi còn được xem xét các yếu tố an toàn như chất ô nhiễm (kim loại nặng, độc tố nấm

mốc …), các loại kháng sinh, hóa dược, hormone….

16

2.2.4.1. Vi sinh vật trong thức ăn chăn nuôi

Nước ta nằm trong điều kiện nhiệt đới nóng ẩm, đặc biệt là miền Bắc vào

mùa xuân và những ngày mưa ngâu của mùa hè - thu độ ẩm không khí đôi khi lên

đến 90-98% đây là môi trường thuận lợi cho các vi sinh vật phát triển là nguyên

nhân gây ô nhiễm thức ăn chăn nuôi. Vi sinh vật có thể dễ dàng xâm nhập vào thức

ăn chăn nuôi bởi chúng có mặt ở khắp mọi nơi trong đất, nước, không khí…. là

nguyên nhân gây ra sự dối loạn tiêu hóa, thậm chí gây bệnh cho vật nuôi, gây thiệt

hại lớn về kinh tế đối với người chăn nuôi.

Vì vậy, việc bảo quản thức ăn chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trong

việc giảm thiểu những tác hại đối với vật nuôi. Các hãng sản xuất thức ăn chăn

nuôi công nghệp đã sử dụng nhiều biện pháp, giải pháp khác nhau để có nguồn

nguyên liệu sạch, an toàn mà còn kết hợp các giải pháp bảo quản đóng gói hoặc

sử dụng các chất kháng khuẩn.

Các cơ quan quản lý nhà nước đã đưa ra các tiêu chuẩn về số lượng vi sinh vật tối đa cho phép trong thức ăn chăn nuôi để bảo vệ đàn vật nuôi và người chăn nuôi. Đối với thức ăn chăn nuôi lợn, chỉ tiêu vi sinh vật trong thức ăn chăn nuôi được quy định trong bảng 2 của QCVN 01-12:2009 (Qui chuẩn kỹ thuật quốc gia về thức ăn chăn nuôi- Hàm lượng kháng sinh, hóa dược, vi sinh vật và kim loại nặng

tối đa cho phép trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho lợn). Bảng 2.1.

Tổng số vi khuẩn (CFU/g) tối đa cho phép

TT

Loại Vi khuẩn

Lợn con 1-60 ngày tuổi Nhóm lợn còn lại

Tổng số vi khuẩn hiếu khí

1

1x 105

1x 105

Coliforms

2

1x 102

1x 102

E.coli (Escherichia coli)

Không có

Không có

3

Salmonella*

Không có

Không có

4

Staphylococus aureus

5

1x 102

1x 102

Clostridium perfringens

6

1x 104

1x 105

* Không có trong 25 g mẫu

Bảng 2.1. Tổng số Vi sinh vật tối đa cho phép trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho lợn

17

2.2.4.2. Độc tố nấm mốc (Mycotoxin)

Độc tố nấm mốc do các loại nấm mốc phát triển trên thức ăn sản sinh ra,

gây độc cho vật nuôi và làm giảm năng suất, hiệu quả chăn nuôi. Khi độ ẩm không khí cao hơn 70% và nhiệt độ môi trường 35 - 400C là điều kiện rất thuận lợi cho nấm mốc phát triển (Cockerell et al., 1971). Nấm mốc phân hủy chất dinh dưỡng trong thức ăn tạo ra nhiệt năng, nước và CO2,... Do đó càng làm cho độ ẩm và nhiệt độ của nguyên liệu cũng như thức ăn hỗn hợp tăng lên, kích thích

nấm mốc phát triển mạnh mẽ hơn. Độc tố nấm mốc có độc lực mạnh nhất thuộc

nhóm Aflatoxin (Dương Thanh Liêm, 2003) chúng không chỉ làm suy giảm miễn

dịch mà còn phá hủy tế bào gan và là nguyên nhân gây ra ung thư cho gia súc,

gia cầm làm cho vật nuôi chậm lớn và gây sảy thai ở lợn nái, do đó làm giảm rõ

rệt năng suất chăn nuôi, gây thiệt hại lớn về kinh tế nhưng lại khó nhận ra

(Miller, 1991). Người ta ví độc tố nấm mốc như một tên “kẻ cắp” vô hình và là

kẻ thù số một của thức ăn chăn nuôi (Dương Thanh Liêm, 2003). Nhiều nghiên

cứu ở Châu Á đã nhận định rằng phần lớn nguyên liệu thức ăn ở vùng nóng ẩm

này đều ít nhiều bị nhiễm độc tố nấm mốc (Dawson, 1991). Do đó việc kiểm soát

và khống chế tác hại của Aflatoxin trong thức ăn hỗn hợp là một vấn đề rất cần

được quan tâm. Người ta cũng sử dụng một số chế phẩm trộn vào thức ăn hỗn

hợp để chúng có thể hấp thụ Aflatoxin tạo thành các phần tử có kích thước lớn

không thể đi qua thành ruột non theo cơ chế hấp thụ và sau đó chúng được thải ra

cùng với phân (Edwards, 2002). Ngoài tác hại nêu ở trên, nấm mốc còn làm giảm

giá trị dinh dưỡng của thức ăn và gây ra vị đắng, làm giảm tính ngon miệng khi

chúng phân hủy chất béo trong thức ăn. Rõ ràng nấm mốc là một tác nhân có hại,

do đó các biện pháp kiểm tra độ ẩm của thức ăn và đảm bảo các điều kiện tốt của

kho tàng, cũng như thực hiện tốt các quy trình bảo quản và thời gian dự trữ nguyên

liệu hợp lý là những vấn đề cực kỳ quan trọng.

Hàm lượng Aflatoxin tối đa cho phép (ppb)

TT

Độc tố nấm mốc

Lợn con từ 1-28 ngày tuổi

Nhóm lợn còn lại

1 Aflatoxin B1

Tổng số các aflatoxin B1+B2+G1+G2

10 30

50 100

Bảng 2.2. Qui định hàm lượng Aflatoxin B1 và hàm lượng Aflatoxin tổng số tối đa cho phép trong thức ăn hỗ hợp hoàn chỉnh cho lợn.

18

2.2.4.3. Kháng sinh và chất kích thích sinh trưởng trong thức ăn chăn nuôi

Việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi

Kháng sinh trong chăn nuôi thường được sử dụng cho 3 mục đích chính:

điều trị, phòng các bệnh nhiễm trùng và kích thích tăng trọng.

- Sử dụng kháng sinh trong điều trị

Dùng kháng sinh để điều trị thường là cho cá thể bị bệnh hơn là đàn. Đôi khi trong chăn nuôi tập trung, kháng sinh có thể cho vào thức ăn hoặc nước uống để điều trị cho cả đàn hoặc tất cả động vật nuôi trong một ô chuồng (Barton, 2000). Kháng sinh được sử dụng trong thời gian ngắn ở liều cao hơn nồng độ ức chế tối thiểu đối với vi khuẩn gây bệnh. Chương trình điều trị dựa vào sự nhạy cảm của vi khuẩn đối với kháng sinh và nồng độ ức chế tối thiểu của kháng sinh (Friedship, 2000).

Nhiều nước và các hiệp hội nghề đã đưa ra các hướng dẫn sử dụng kháng sinh . Các hướng dẫn này bắt buộc phải có các chẩn đoán chính xác và có liệu trình điều trị cụ thể. Ở một số nước, kháng sinh dùng điều trị cho vật nuôi được đăng ký rất giới hạn. Chẳng hạn ở Úc, fluoroquinolone, chloramphenicol, colistin và gentamicin không được đăng ký sử dụng cho vật nuôi làm thực phẩm. Các kháng sinh thế hệ thứ ba như cephalosporin cũng bị giới hạn nghiêm ngặt (FSIS, 2007).

Kháng sinh điều trị cho vật nuôi thường được cấp qua đường miệng bằng cách trộn vào thức ăn hoặc nước uống. Tuy nhiên, đường tiêm thường có đáp ứng tốt nhất, đặc biệt là trong trường hợp bị bệnh hô hấp cấp hoặc nhiễm trùng (Friedship , 2000). Cấp kháng sinh qua đường miệng bằng cách trộn vào thức ăn hoặc nước uống ít gây căng thẳng cho gia súc hơn, dễ hơn khi áp dụng cho toàn đàn. Tuy nhiên cách này bị nghi ngờ là kém hiệu quả, vì động vật bị bệnh thường bỏ ăn và uống (Friedship, 2000) (Barton, 2000).

- Sử dụng kháng sinh với mục đích phòng bệnh:

Để phòng bệnh, kháng sinh được trộn vào thức ăn, nước uống cho cả đàn với liều từ trung bình đến liều cao. Điều quan trọng là liều sử dụng, thời gian sử dụng phải được áp dụng đúng theo khuyến cáo. Sử dụng kháng sinh phòng bệnh không đúng liệu trình và lạm dụng kháng sinh sẽ gây tồn dư kháng sinh trong mô động vật (Berwal , 1999). Chẳn hạn ở Úc, bằng chứng từ việc giám sát dư lượng tetracycline trong nước tiểu cho thấy đôi khi kháng sinh được sử dụng liều cao hơn trong thời gian dài hơn so với mục đích phòng bệnh đường hô hấp trong chăn nuôi lợn thịt (Barton, 2000).

- Sử dụng kháng sinh với mục đích tăng trọng:

19

Sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi không chỉ ở các nước đang phát triển mà còn được sử dụng ở các nước phát triển không chỉ nhằm để phòng bệnh, trị bệnh mà còn dùng để kích thích sinh trưởng (Phạm Kim Đăng và cs., 2012).

Sử dụng kháng sinh với mục đích kích thích tăng trọng đã xuất hiện từ lâu. Hiệu quả của việc sử dụng kháng sinh ở liều thấp trong thức ăn cho động vật được mô tả đầu tiên vào cuối những năm 1940 khi gà ăn thức ăn từ chất thải của quá trình lên men tetracycline. Người ta, nhận thấy gà phát triển nhanh hơn so với gà đối chứng. Sự cải thiện về tốc độ tăng trưởng và chỉ số tiêu tốn thức ăn ở lợn con là 9,3% và 6,12%; ở gà là 3,9% và 2,9% (Barton, 2000).

Ngày nay, người ta cũng thấy được vai trò của các kháng sinh ngoài mục đích dùng như chất kích thích tăng trọng còn có vai trò kiểm soát một số bệnh mãn tính thường xảy ra ở vật nuôi. Kiểm soát bệnh không chỉ cải thiện được năng suất sản xuất và có lợi về kinh tế mà còn đảm bảo tốt cho sức khỏe đàn vật nuôi (Nguyễn Hữu Hồng và cs.,1996). Các kháng sinh như avoparcin, virginiamycin, zincbacitracin, lincomycin và avilamycin kiểm soát tốt bệnh mãn tính do Clostridium perfringens trên gà, lợn (Barton, 2000).

Kháng sinh sử dụng dưới dạng chất kích thích tăng trưởng cho vật nuôi đã được sử dụng rộng rãi ở Châu Âu, Mỹ và Úc lần lượt là 15%, 40% và 55,8% (Barton, 2000). Kháng sinh dùng cho mục đích tăng trọng thường không dùng trong điều trị, được dùng liên tục trong thức ăn với nồng độ thấp (1 – 50g/tấn thức ăn) và sử dụng trong một thời gian dài cho cả đàn (Đậu Ngọc Hào, 1996). Các loại kháng sinh khác nhau cho những kết quả kích thích tăng trọng khác nhau.

Nhiều nghiên cứu đã cho thấy có mối liên hệ giữa việc sử dụng kháng sinh với mục đích kích thích tăng trưởng với sự phát triển tính đề kháng của vi khuẩn, nhất là sự đề kháng chéo với vancomycin, loại kháng sinh dự phòng trong nhân y, của các chủng Enterococcus spp phân lập từ gia súc, gia cầm nuôi với avoparcin (Bradley, 2003). Tại một số nước thuộc Châu Âu, bacitracin, carbadox, olaquindox, tylosin và virginiamycin đã bị cấm sử dụng như chất kích thích tăng trưởng ở vật nuôi từ năm 2001. Đến năm 2006, avilamycin, flavophospholipol, lasalosid, monensin và salinomycin cũng bị cấm (Võ Thị Trà An, 2007) .

- Ở Việt nam việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi cũng đang trở lên phổ biến. Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Kim Đăng và cs. cho thấy có ít nhất 45 loại kháng sinh thuộc hơn 10 nhóm khác nhau được sử dụng trong chăn nuôi lợn gà ở Đồng bằng sông Hồng (Phạm Kim Đăng và cs, 2013). Tồn dư kháng sinh trong thực phẩm.

20

Trong chăn nuôi hiện nay, vấn đề sử dụng thuốc kháng sinh là rất phổ biến và được coi là một tiến bộ của công nghệ sinh học, nhằm phòng trị bệnh và làm vật nuôi mau lớn. Thế nhưng, việc tùy tiện sử dụng thuốc kháng sinh dễ dẫn đến hậu quả: lượng thuốc kháng sinh tồn dư trong sản phẩm vượt ngưỡng cho phép, người sử dụng loại thực phẩm này trong thời gian dài có thể gây nguy hại cho sức khỏe.

Sử dụng thuốc thú y với liều lượng nhỏ tuy không gây ngộ độc cấp tính

nhưng nếu tích lũy lâu trong cơ thể sẽ gây ngộ độc mãn tính. Nếu loại bỏ hoàn

toàn kháng sinh trong điều trị, trong thức ăn thì chắc chắn sẽ làm tăng chi phí cho

nhà sản xuất và người tiêu dùng. Một minh chứng là kết quả của việc cấm sử

dụng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi ở Đan Mạch và Thụy Điển đã làm tăng

vòng đời nuôi ở lợn thịt lên từ 2 - 3 ngày, giảm trọng khoảng 3 - 4%, tăng lượng

thức ăn tiêu thụ khoảng 2kg/con, tăng tỷ lệ chết từ 7 - 10% và giảm 10% lợi

nhuận của nhà chăn nuôi. Chính vì vậy, cho đến nay, chưa ai dám phủ nhận hiệu

quả của việc sử dụng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi. Song, một trong những

nguyên nhân gây ra sức đề kháng ngày càng mạnh của vi khuẩn gây bệnh trên

người lại chính là việc sử dụng kháng sinh một cách không khoa học trong việc

phòng và trị bệnh cho gia súc. Kháng sinh sử dụng trong thức ăn, điều trị gia súc

và những tồn dư của nó trong thực phẩm chăn nuôi sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm

bệnh của con người khi sử dụng các sản phẩm này. Xa hơn nữa, sẽ tạo ra sự

kháng thuốc của các dòng vi khuẩn gây bệnh ở động vật và chúng có khả năng

lan truyền sang cho con người. Kết quả là khi con người bị nhiễm bệnh sẽ làm

khả năng chữa trị trở lên khó, lâu dài và phức tạp hơn. Chính vì những lý do trên

mà lượng kháng sinh tồn dư trong thực phẩm sẽ là yếu tố chính để dùng làm căn

cứ cho phép loại kháng sinh đó có được lưu hành trên thị trường hay không, cũng

như liều tối đa cho phép trong thức ăn gia súc, đường đưa vào cơ thể và thời gian

ngưng thuốc trước khi giết mổ.

Theo kết quả điều tra sơ bộ của Viện khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, có tới 75% số mẫu thịt và 66,7 số mẫu gan của gia súc, gia cầm bán tại các chợ có mức tồn dư kháng sinh vượt ngưỡng cho phép.

Khoa Chăn nuôi Thú y, Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh xét nghiệm các mẫu thịt được lấy trực tiếp tại các chợ cho thấy có 26 loại kháng sinh được phát hiện. Trong đó loại được sử dụng nhiều nhất chloramphenicol (chiếm 15,35%), tylosin (15%), colistin (13,24%), norfloxacin (10%), gentamycin

21

tetracylin (7,95%), ampicillin

(8,35%), nhóm (7,24%)... Trong đó, chloramphenicol là kháng sinh hiện đã bị cấm sử dụng. Trong 149 mẫu thịt gà được kiểm tra, phân tích có đến 44,96% số mẫu có dư kháng sinh vượt quá mức quy định cho phép từ 2,5 đến 1.100 lần so với tiêu chuẩn ngành. Trong đó, loại kháng sinh chloramphenicol chiếm tỷ lệ cao nhất đến 87,50%, flumequin chiếm 83,33%, chlortetracyline chiếm 62,50%, amoxyllin chiếm 60%...

Việc tồn dư kháng sinh trong thực phẩm không chỉ ảnh hưởng lâu dài tới người sử dụng trong nước mà còn ảnh hưởng trực tiếp việc xuất khẩu nông sản. Đặc biệt, khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO, nhiều yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm theo hiệp định về vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật phải được thực hiện. Các nước nhập khẩu cũng ngày càng yêu cầu khắt khe hơn đối với sản phẩm động vật, nhất là chất tồn dư. Một số nước đã buộc phải tái xuất các lô mật ong, tôm có kháng sinh tồn dư vượt quá giới hạn cho phép. Vì vậy, việc sử dụng kháng sinh đúng loại, đúng chỉ định trong chăn nuôi có ý nghĩa quan trọng nhằm cung cấp

thực phẩm sạch trong tiêu dùng và xuất khẩu.

Số TT

Tên kháng sinh, hóa dược

Hàm lượng tối đa cho phép (g/tấn)

Thời gian ngừng sử dụng thức ăn có kháng sinh, hóa dược trước khi giết mổ (ngày) 5

1

90

2

30

5

Axit Arsanilic BMD (Bacitracin Methylene- Disalicylate)

3

Bacitracin Zinc

0

4 5

Chlotetracyline Lincomycin

0 0

6

Oxytetracyline

0

7 8 9

Roxarsone Tylosin phosphate Virginiamycin

80 (cho lợn < 3 tháng tuổi) 50 (cho lợn <4 tháng tuổi) 20 (cho lợn <6 tháng tuổi) 50 20 50 (liều phòng chỉ dùng cho lợn con) 34 40 10 (cho lợn <60kg)

5 0 0

Bảng 2.3. Hàm lượng kháng sinh, hóa dược tối đa cho phép trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho lợn

22

2.2.4.4. Tình hình sử dụng hormone sinh trưởng trong chăn nuôi

- Trong thú y, việc sử dụng beta - agonists chỉ cho phép trong trường hợp

của Clenbuterol dùng để điều trị bệnh viêm phế quản ngựa, bê và cho điều trị

bệnh sản khoa ở bò cái. Tại Mỹ và Canada, clenbuterol chỉ được sử dụng trong

thú y để điều trị bệnh đường hô hấp ở loài ngựa. Nó bị cấm sử dụng trong chăn

nuôi gia súc để lấy thịt (bò , heo, dê, cừu…).

- Tại thị trường chợ đen Clenbuterol vẫn có chiều hướng phát triển. Beta-

agonists được chứng minh là chất chuyển đổi khá hiệu quả, làm giảm tỷ lệ mỡ, tỷ

lệ nạc ở gia súc, gia cầm. Lợi dụng đặc tính này nên một số người đã sử dụng

beta-agonists như một chất bổ sung trong thức ăn để kích thích cho heo bung đùi,

nở vai, tạo nạc chỉ trong thời gian rất ngắn để bán giá cao hơn. Để đạt được mục

đích kích thích tăng trưởng, tạo thịt nạc chủ nuôi thường dùng β-agonists gấp 5-

10 lần điều trị. Đây chính là lý do của việc sử dụng trái phép chất β-agonists

trong thức ăn chăn nuôi (đặc biệt là chăn nuôi lợn) dẫn đến tồn dư chất này trong

sản phẩm động vật. Do β-agonists tồn dư trong sản phẩm động vật ảnh hưởng

không tốt cho sức khỏe người tiêu dùng nên từ thập kỷ 90 của thế kỷ 20 trên thế

giới không cho phép sử dụng chúng trong chăn nuôi.

Hiện nay β-agonists là chất hóa học được xếp vào loại chất độc cấm sử

dụng trong chăn nuôi trên toàn thế giới, nhưng người chăn nuôi vẫn lén lút sử dụng

các chất cấm trong chăn nuôi. Vì lợi nhuận trước mắt, người chăn nuôi đã và đang

gây nên mối nguy hại khôn lường đối với sức khỏe cộng đồng và toàn xã hội. Ví

dụ với lợn siêu nạc giống tốt nhất trong nước hiện nay người dân phải mất 5 tháng

mới đạt trọng lượng 95-100 kg/con nhưng cho thêm 1 thìa ( bằng thìa cà phê) thần

dược β-agonists vào thức ăn (cho 10 con lợn loại 70-80 kg/ con), thời gian xuất

chuồng rút ngắn chỉ còn 3 tháng (Phạm Nho và Huỳnh Hồng Quang, 2012).

Trong những năm của thập kỷ 80, Mỹ đã cấm sử dụng Clenbuterol và thức

ăn gia súc. Cơ quan thuốc và thực phẩm FDA (Food and Drug Administration)

và FSIS (2007) thuộc bộ nông nghiệp Mỹ cho là Clenbuterol hoàn toàn có thể

gây chết nếu người ăn phải thịt ngộ độc vốn nhạy cảm hay đang được điều trị

bằng một loại thuốc có tác dụng tương tự. FDA cũng công bố khả năng gây hại

cho hệ tim mạch khi vào cơ thể bằng đường tiêu hóa hơn là đường hít. Từ năm

2006, Clenbuterol đã bị cơ quan thuốc và thực phẩm Mỹ cấm sử dụng kể cả trong

điều trị cho người.

23

Ở Châu Âu đã cấm dùng Clenbuterol trong chăn nuôi từ năm 1988. Đến năm

1991, Cơ quan quản lý thực phẩm và Dược phẩm FDA đã khuyến cáo người dân

nên cảnh giác với Clenbuterol và tháng 3 năm 1996, cộng đồng Châu Âu chính thức

cấm sử dụng các chất hormone kích thích tăng trưởng thuộc nhóm β-agonists (chỉ

thị 96/22/EC). Ngày 23 tháng 7 năm 2003, Ủy ban an toàn thực phẩm EU chính

thức khẳng định việc ban bố lệnh cấm sử dụng tất cả các loại kích thích sinh trưởng

trong thức ăn chăn nuôi và lệnh cấm này đã có hiệu lực từ ngày 1/1/2006.

Năm 1992-1993 theo chương trình giám sát β-agonists của khối EU trên

các mẫu thịt gia súc được lấy một các ngẫu nhiên, với khoảng 30.000 con. Kết

quả cho thấy có từ 0% đến 7% mẫu thịt thu thập từ trại heo hay từ cơ sở giết mổ

có tồn dư Clenbuterol (Kuiper et al., 1998).

Trên thế giới đã có nhiều báo cáo về tình hình ngộ độc Clenbuterol xảy ra

trên người (Van Vyncht et al., 1996; Peter Natjoens et al., 1996). Năm 1990, tại

Tây ba Nha người ta nghi ngờ ăn phải gan bò bị nhiễm độc làm 135 người nhập

viện. Năm 1994, Hội người tiêu dùng châu Âu đã tiến hành phân tích thử nghiệm

trên các mẫu gan heo thì phát hiện các mẫu dương tính với Clenbuterol rất cao tại

một vài nước trong cộng đồng EU: Tây Ba Nha 36%, Thụy Sỹ 25%. Ở Italy đã

có 16 người ngộ độc thực phẩm ăn thịt bò Fillet và thịt mông bò có chứa trên 0,5

pmm Clenbuterol. Tại Pháp, ngày 24/9/1990 có 22 bệnh nhân từ 8 gia đình tại

khác khu vực khác nhau sau khi ăn thịt bê bị nhiễm Clenbuterol bị các triệu trứng

như cơ bắp run, đau đầu, tim đập nhanh (Pulce et al., 1991)

Ở Tây Ba Nha vào năm 1994 có 140 người đã nhập viện sau khi ăn phải

thịt heo nhiễm Clenbuterol. Họ bị chóng mặt, tim đập nhanh, khó thở, run tay và

nhức đầu (Lê Quốc Thịnh, 2012). 43 gia đình ở Tây Ba Nha đã bị nhiễm

Clenbuterol và Sulbutamol sau khi ăn gan heo. Triệu chứng xảy ra trong vòng

30- 360 phút. Kết quả kiểm tra nước tiểu của các bệnh nhân cho thấy hàm lượng

Clenbuterol là 160- 291 ppb.

Theo báo cáo đầu tháng 4/2012 của Cục Chăn nuôi, kết quả phân tích mẫu

thức ăn chăn nuôi, nước tiểu lợn và mẫu thực phẩm chăn nuôi từ các tỉnh, thành

phố gửi về cho thấy có 13/168 mẫu thức ăn chăn nuôi dương tính với β - agonist

(chiếm 8%), 8/119 mẫu thịt, gan lợn dương tính (chiếm 6,7%), 7/58 mẫu nước

tiểu được kiểm tra có β - agonist (chiếm 12,1%).

24

Một trường hợp ngộ độc Clenbuterol khác được ghi nhận tại Bồ Đào Nha

gồm 4 người bị ngộ độc cấp tính trong số 50 người ăn thịt bò và cừu tồn dư

Clenbuterol. Triệu chứng được ghi nhận ở bệnh viện này là run tứ chi, tim đập

nhanh, buồn nôn, đau đầu và choáng váng (Taylor and Francis Issue, 2005).

Vào năm 1990, Trung Quốc cũng đã cấm sử dụng Clenbuterol trong chăn

nuôi gia súc. Tuy nhiên, theo báo Thanh Niên ngày 2/11/2005 ở Trung Quốc

hàng nghìn người dân đã bị ngộ độc do ăn thịt heo có tồn dư Clenbuterol. Tháng

5/1998, đã có 17 người Hồng Kông ăn thịt heo bị trúng độc, chân tay run rẩy, đau

đầu, tim đập nhanh, miệng khô, mắt bị trợn. Trung tâm khống chế và dự phòng

Triết Giang đã lấy mẫu thịt tiến hành kiểm tra, phân tích phát hiện “ Shou rou

Jing” chứa hàm lượng Clenbuterol trong các mẫu từ 80- 1.020 microgam/kg.

Tháng 9/2006 ở Trung Quốc có 336 người bị ngộ độc do ăn thịt heo chứa chất Clenbtuterol. Tháng 2/2009 trên 70 người ở Quảng Đông bị ngộ độc khi ăn lòng heo có chứa Clenbuterol. Tháng 3/ 2011, Bộ Nông nghiệp Trung Quốc mở một chiến dịch kéo dài 1 năm để truy quét thức ăn chăn nuôi có chứa Clenbuterol, sau khi một công ty con của tập đoàn Shuanghui (sản xuất thịt lớn nhất Trung Quốc) bị phát hiện Clenbuterol trong thịt heo của công ty. Tổng cộng có 72 người bị bắt và bị cảnh sát giam giữ vì bị cáo buộc sản xuất, bán hoặc sử

dụng thịt heo nhiễm Clenbuterol (Lê Tấn Lam Anh, 2012).

Từ tháng 6 năm 2002 ở Việt Nam Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã có văn bản chính thức cấm sử dụng các hoạt chất thuộc nhóm β - agonists trong chăn nuôi (Bộ NN& PTNT, 2002) và thông tư số 57/2012/TT- BNN&PTNT quy định việc kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm các chất cấm

thuộc nhóm β – agonists trong chăn nuôi (Bộ NN&PTNT, 2012).

Chất tạo nạc cho lợn tìm thấy ở Việt Nam thường là Salbutamol và Clenbuterol. Tuy nhiên Salbutamol ,Clenbuterol là những chất được xếp vào danh mục 18 kháng sinh, hóa chất bị cấm sử dụng trong chăn nuôi ở Việt Nam do Bộ

Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành năm 2002 (Bộ NN&PTNN, 2002).

Theo báo tuổi trẻ ra ngày 30/1/2005 tại trại chăn nuôi của Nguyễn Thị Đẹp ở Quận Cái Răng- TP Cần thơ đã xảy ra hiện tượng hơn 1000 co gà chết sạch khi ăn phải thức ăn gia súc New Hope. Chị Đẹp đã đem mẫu thức ăn trên tới Trung tâm dịch vị phân tích Thí Nghiệm, qua kiểm tra các mẫu thức ăn trên cho thấy hàm lượng clenbuterol rất cao, lên đến 149,76Mg/kg. Cũng theo Chi

25

cục thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 17/6/2006 qua xét nghiệm gần 500 mẫu thịt heo tại TP. Hồ Chí Minh Chi cục thú y phát hiện gần 30% mẫu dương tính với Clenbuterol (Lê Thanh Hà, 2006). Theo Phạm Thị Kiều Nga (2008), không chỉ ở Thành phố Hồ Hồ Minh, một số tỉnh cũng có tình trạng sử dụng Clenbuterol ở heo, gà, bò. Qua phân tích trên 54 mẫu thịt cho thấy tỉ lệ các mẫu thịt tồn dư Clenbuterol khá cao (hơn 46%). Hàm lượng tồn dư từ 0,13-2,46 ppb

(Lê Thanh Hà, 2006).

Cục chăn nuôi đã lấy 295 mẫu của 114 đơn vị sản xuất thức ăn gia súc

trên 25 tỉnh thành trong cả nước để kiểm tra và phát hiện 6 công ty có sản phẩm

TACN cho heo có chất cấm Clenbuterol (chiếm 5%) (Đỗ Ngọc Chính, 2006). 5

năm sau Nguyễn Đức Cường (2011) phát hiện tình hình chất cấm bị các doanh

nghiệp lạm dụng trộn lẫn vào thức ăn chăn nuôi để thu lời bất chính không

thuyên giảm mà còn tăng lên 17%. Mặc dù, chính phủ đã ban hành Nghị định

08/2010/NĐ-CP về quản lý TĂCN, trong đó quy định rõ trách nhiệm của người

sản xuất, kinh doanh TĂCN, sau đó Bộ NN&PTNT ban hành thông tư

57/2012/TT-BNN&PTNT quy định việc kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm các

chất cấm thuộc nhóm β- agonists trong chăn nuôi, thế nhưng nghị định và thông

tư trên còn hạn chế.

Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Miền Nam phát hiện thấy 1/12 mẫu

thức ăn chăn nuôi và 6% mẫu thịt đều dương tính với clenbuterol; Gần đây, tháng

11/2009 Chi cục Thú y Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Sở Y tế Thành phố

Hồ Chí Minh kiểm tra định kỳ thịt heo đã phát hiện có đến 10% của 500 mẫu thịt

dương tính với clenbuterol. Qua nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy rằng

dư lượng của clenbuterol tồn tại trong võng mạc mắt và trong tóc lâu tới vài tháng.

2.3. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG THỨC ĂN CHĂN NUÔI

Trong xu thế phát triển chăn nuôi hiện đại, văn minh, khi đánh giá chất lượng thức ăn chăn nuôi thường xem xét chất lượng trên 3 khía cạnh, thân thiện với môi trường, an toàn thực phẩm đối với người tiêu dùng và tất nhiên phải đáp

ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng đồng thời an toàn đối với vật nuôi.

Có nhiều phương pháp để đánh giá chất lượng của một loại thức ăn. Mỗi phương pháp có những ưu, nhược điểm riêng. Vì vậy, để đánh giá chất lượng thức ăn một cách chính xác nhất, người ta thường áp dụng kết hợp các phương

pháp với nhau.

26

2.3.1. Phương pháp thử cảm quan

Thử cảm quan là phương pháp dùng các giác quan (thị giác, khứu giác, vị

giác, xúc giác…) của con người để kiểm tra nhanh chất lượng của thức ăn thông

qua màu sắc, mùi, vị, độ nghiền, độ nhiễm mốc, mọt, tạp chất…

Một loại thức ăn được đánh giá là tốt phải có dạng đồng nhất màu sắc, mùi,

vị đặc trưng, độ nghiền phù hợp, không bị ướt, vón cục, không bị mốc, mọt, lẫn

tạp chất gây ảnh hưởng đến chất lượng của thức ăn.

Thức ăn kém phẩm chất là những loại thức ăn không đảm bảo các điều kiện

trên. Thức ăn đã bị mất màu hay biến đổi màu sắc (xanh, vàng, nâu…) có thể do

sự phát triển của độc tố nấm mốc hoặc do để quá lâu. Thức ăn có mùi lạ (ôi,

chua, thối…) do bảo quản lâu ngày, quá trình oxy hóa xảy ra làm mất mùi đặc

trưng. Các loại thức ăn này không những đã bị giảm chất lượng mà còn có khả

năng gây hại tới vật nuôi, cụ thể làm mất tính ngon miệng, giảm khả năng sinh

trưởng, phát triển, từ đó làm giảm năng suất của vật nuôi. Trường hợp vật nuôi,

đặc biệt là gia cầm ăn phải thức ăn bị nhiễm mốc lâu ngày có thể gây ngộ độc

dẫn đến chết.

Phương pháp thử cảm quan cho phép đánh giá nhanh chất lượng của thức

ăn nhưng thiếu chính xác do kết quả không mang tính khách quan, phụ thuộc

nhiều vào kinh nghiệm của người đánh giá.

2.3.2. Phương pháp hóa học

Phương pháp sử dụng các hóa chất hoặc thiết bị máy móc để phân tích

thành phần hóa học của các loại thức ăn như hàm lượng nước, protein thô, xơ

thô, lipit thô, canxi, photpho, muối ăn, axit amin, độc tố…Thông qua đó, ta có

thể đánh giá chất lượng thức ăn theo giá trị dinh dưỡng và chất lượng vệ sinh an

toàn của thức ăn.

Các chỉ tiêu liên quan đến an toàn vệ sinh đối với thức ăn chăn nuôi cho lợn

phải tuân thủ QCVN 01 - 12: 2009/BNNPTNT thức ăn chăn nuôi - hàm lượng

kháng sinh, hóa dược, vi sinh vật và kim loại nặng tối đa cho phép trong thức ăn

hỗn hợp hoàn chỉnh cho lợn, được quy định tại Bảng 2 đến Bảng 8 của Quy

chuẩn này.

Hiệp hội hạt ngũ cốc Hoa Kỳ (USGC) quy định các chỉ tiêu phân tích theo

từng nhóm nguyên liệu như sau:

27

- Hạt ngũ cốc và phụ phẩm hạt: độ ẩm, protein thô, tro thô;

- Bột cỏ: độ ẩm, protein thô, tro thô, xơ thô;

- Thức ăn bổ sung protein: độ ẩm, protein thô, nitơ phi protein.

Trong thực tế phương pháp này được áp dụng khá phổ biến. Ngày nay, với

sự trợ giúp của khoa học kỹ thuật, nhiều máy móc hiện đại ra đời đã làm cho việc

đánh giá chất lượng thức ăn nhanh, chính xác và có thể phân tích cả các thành

phần quan trọng cũng như các nguyên tố vi lượng. Tuy nhiên, phương pháp hóa

học có hạn chế là không phát hiện được chất dinh dưỡng đó có nguồn gốc từ đâu,

từ thức ăn hay từ các tạp chất lẫn trong thức ăn. Do đó, để có kết quả chính xác,

cần kết hợp với phương pháp thử cảm quan nói trên.

2.3.3. Phương pháp sinh học

Là phương pháp đánh giá chất lượng thức ăn trực tiếp trên cơ thể vật nuôi. Động vật thí nghiệm được chia làm hai lô: lô thí nghiệm và lô đối chứng. Lô thí nghiệm sử dụng thức ăn cần đánh giá chất lượng, lô đối chứng sử dụng thức ăn hiện có trên điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng ở hai lô là như nhau. Sau một thời gian nuôi nhất định, tiến hành khảo sát, so sánh năng suất, cũng như chất lượng sản phẩm của vật nuôi ở hai lô. Nếu lô thí nghiệm cho kết quả khảo sát tốt hơn lô đối chứng thì có thể kết luận, thức ăn đem thí nghiệm có kết quả tốt hơn so với

thức ăn ở lô đối chứng, và ngược lại.

Phương pháp sinh học cho phép đánh giá chất lượng thức ăn một cách chính xác và tổng quát nhất. Chất lượng của thức ăn được phản ánh đầy đủ thông qua sức sản xuất của vật nuôi. Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là cần thời gian dài, đầu tư công sức và vật chất khá lớn. Do đó, thường chỉ áp dụng để

đánh giá chất lượng của một loại thức ăn.

2.4. CÁC CÔNG ĐOẠN THANH KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG THỨC ĂN CHĂN NUÔI

Theo Jones (1995) thì một chương trình kiểm tra chất lượng thức ăn tốt bao

gồm 4 công đoạn:

- Kiểm tra chất lượng nguyên liệu;

- Kiểm tra trong quá trình sản xuất thức ăn hỗn hợp (phối trộn);

- Kiểm tra chất lượng thành phẩm;

- Kiểm tra chất lượng thức ăn hỗn hợp trên cơ thể động vật nuôi.

28

2.4.1. Kiểm tra chất lượng nguyên liệu

Jones (1989) cho biết, chi phí cho nguyên liệu chiếm 70-90% giá thành của

thức ăn hỗn hợp. Để thu lợi nhuận cao ta phải chú ý đến chất lượng và giá thành

của nguyên liệu. Kiểm tra nguyên liệu sản xuất thức ăn gia súc giúp ta đánh giá

được chất lượng của thức ăn hỗn hợp, thức ăn bổ sung hay premix. Phần lớn sự

biến động của thành phần dinh dưỡng trong thức ăn hỗn hợp sản xuất ra liên

quan đến nguyên liệu. Đối với gia cầm thì 40-70% sự biến động thành phần dinh

dưỡng của thức ăn hỗn hợp liên quan đến nguyên liệu.

2.4.2. Kiểm tra trong giai đoạn phối trộn

Kết quả điều tra của Wicker and Poole (1991) cho biết, hơn một nửa

trong tổng số 145 mẫu thức ăn hỗn hợp kiểm tra là trộn không đều. Nguyên

nhân có thể do:

- Thời gian trộn chưa đủ

- Nạp nguyên liệu vào máy trộn quá nhiều, vượt công suất của máy

- Các chi tiết của máy trộn bị mòn, vỡ….

Theo Jones (1991), nếu hệ số biến động (CV) của các lần kiểm tra dưới

hoặc bằng 10% thì thức ăn được trộn đều, Wicker and Poole (1991) cũng cho

biết nếu thiết bị hoạt động tốt thì CV có thể đạt được 4-7%.

2.4.3. Kiểm tra chất lượng thành phẩm

Thức ăn hỗn hợp sau khi sản xuất ra có khi được sử dụng ngay cho gia súc

mà không phải qua khâu kiểm tra chất lượng. Tuy nhiên tại các nhà máy sản xuất

thức ăn chăn nuôi, thức ăn hỗn hợp được sản xuất ở các ca khác nhau nên cần

được lấy mẫu và lưu lại. Nên lấy bao nhiêu mẫu để kiểm tra? Câu trả lời này do

nhà máy sản xuất thức ăn gia súc quyết định. Thông thường ta lấy một mẫu/ 1

công thức / 1 tuần (USGC).

Trường hợp phát hiện một chỉ tiêu dinh dưỡng nào đó có vấn đề thì cần

phải giải quyết ngay trong thời gian sớm nhất. Trình tự kiểm tra như sau:

- Kiểm tra lại kết quả phân tích;

- Mẫu phân tích đã được lấy đúng chưa ? Mẫu đã đại diện chưa ? Ta có

thể lấy lại mẫu phân tích nếu lô hàng còn;

- Chỉ một chất lượng dinh dưỡng có vấn đề hay nhiều chất dinh dưỡng ?

Có thể có nguyên liệu nào đó có trong công thức;

29

- Kiểm tra sự hoạt động của máy trộn;

- Kiểm tra lại thời gian trộn và công thức phối chế;

- Kiểm tra chất lượng nguyên liệu trước đó, nếu không đúng nguyên liệu

thì phải yêu cầu người cung cấp nguyên liệu cấp lại;

- Ngoài ra cần kiểm tra kỹ bao bì, trọng lượng bao thành phẩm….

2.4.4. Kiểm tra chất lượng thức ăn trên cơ thể vật nuôi

Đây là công đoạn cuối cùng trong quy trình kiểm tra chất lượng của thức ăn

hỗn hợp. Qua đó, ta có thể kiểm tra được sự thích hợp của thức ăn hỗn hợp (mùi

vị, màu sắc, kích thước viên hay bột hạt…) đối với từng loại gia súc. Điều này

được phản ánh bởi sự ngon miệng hay khả năng sử dụng thức ăn của vật nuôi.

Tóm lại, chất lượng nguyên liệu có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng

của thức ăn hỗn hợp, từ đó ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của gia súc. Đánh

giá chất lượng nguyên liệu và chất lượng của thức ăn hỗn hợp là một việc làm

cần thiết đối với tất cả các cơ sở sản xuất và chế biến TĂCN. Đặc biệt trong tình

hình hiện nay, sự biến động và sự phong phú về chủng loại nguyên liệu cũng như

chất lượng nguyên liệu trên thị trường thì việc làm đó lại càng quan trọng. Chất

lượng thức ăn được đảm bảo và ổn định mới nâng cao được năng xuất và hiệu

quả kinh tế từ chăn nuôi trước khi ra sản xuất đại trà.

2.4.5. Quản lý chất lượng sản phẩm

* Quản lý chất lượng sản phẩm (QLCLSP): Được định nghĩa là phương pháp và hoạt động tác nghiệp được sử dụng để thoả mãn những yêu cầu đối với chất lượng. QLCLSP bao gồm việc tạo lập và duy trì một trình độ cần thiết về chất lượng sản phẩm khi nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, vận hành hoặc sử dụng sản phẩm đó. Những công việc trên được thực hiện bằng cách kiểm tra chất lượng và tác động có định hướng tới những điều kiện và yếu tố có ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm; QLCLSP được thực hiện ở các giai đoạn sản xuất sản

phẩm và ở các cấp quản lí.

* Các nguyên tắc của quản lý chất lượng

Muốn tác động đồng bộ đến các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng, hoạt

động quản lý chất lượng phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

Nguyên tắc 1: Định hướng vào khách hàng. Chất lượng là sự thỏa mãn khách hàng, chính vì vậy việc quản lý chất lượng nhằm đáp ứng mục tiêu đó.

30

Quản lý chất lượng là không ngừng tìm hiểu các nhu cầu của khách hàng và xây

dựng nguồn lực để đáp ứng các nhu cầu đó một cách tốt nhất.

Nguyên tắc 2: Lãnh đạo công ty thống nhất mục đích, định hướng và môi trường nội bộ của công ty, huy động toàn bộ nguồn lực để đạt được mục tiêu của

công ty.

Nguyên tắc 3: Con người là yếu tố quan trọng nhất cho sự phát triển. Việc huy động con người một cách đầy đủ sẽ tạo cho họ kiến thức và kinh nghiệm

thực hiện công việc, đóng góp cho sự phát triển của công ty.

Nguyên tắc 4: Quan điểm quá trình. Hoạt động sẽ hiệu quả hơn nếu các

nguồn lực và hoạt động có liên quan được quản lý như một quá trình.

Nguyên tắc 5: Quan điểm hệ thống quản lý. Việc quản lý một cách có hệ

thống sẽ làm tăng hiệu quả và hiệu lực hoạt động của công ty.

Nguyên tắc 6: Cải tiến liên tục. Cải tiến liên tục là mục tiêu của mọi công ty và điều này càng trở nên đặc biệt quan trong trong sự biến động không ngừng

của môi trường kinh doanh như hiện nay.

Nguyên tắc 7: Quyết định dựa trên sự kiện. Các quyết định và hành động

có hiệu lực dựa trên sự phân tích dữ liệu và thông tin.

Nguyên tắc 8: Quan hệ cùng có lợi với bên cung ứng. Thiết lập mối quan hệ

cùng có lợi với bên cung ứng sẽ nâng cao khả năng tạo ra giá trị của cả hai bên.

* Thanh tra chất lượng

Nhằm xem xét tính độc lập và có hệ thống nhằm xác định các hoạt động và kết quả liên quan đến chất lượng có đáp ứng được các quy định đã đề ra, và các quy định này có được thực hiện một cách hiệu quả và thích hợp để đạt được các mục tiêu hay không. TTCL được áp dụng chủ yếu nhưng không hạn chế đối với một hệ chất lượng hoặc các yếu tố của nó, cho các quá trình, sản phẩm, hoặc dịch vụ. Ở Việt Nam, hệ thống TTCL là một bộ phận trực thuộc Tổng cục Tiêu

chuẩn hoá - Đo lường - Chất lượng.

* Công tác quản lý thức ăn chăn nuôi

Quản lý chất lượng TĂCN là vấn đề cần thiết, có tác động trực tiếp đến chất lượng, số lượng của vật nuôi. Để tăng cường giá trị chăn nuôi trong giá trị nông nghiệp nói chung, thì việc quản lý chất lượng TĂCN để phục vụ chăn nuôi

cần phải thực hiện triệt để, quyết liệt.

31

Trong những năm gần đây hệ thống văn bản pháp luật quy định công tác

quản lý tình hình sản xuất, kinh doanh và chất lượng thức ăn đã tương đối hoàn

thiện. Tuy nhiên, thực tế những năm qua, chưa hình thành được hệ thống kiểm

tra, giám sát đến địa phương .Hệ thống quản lý còn mỏng chưa đủ mạnh, ở địa

phương tại cấp Sở mới có cán bộ chuyên trách để quản lý ngành hàng này và

chưa tạo được hệ thống mạng lưới đến cấp huyện, xã để nắm bắt tình hình và

phản ánh kịp thời chất lượng thức ăn chăn nuôi. Chưa có mối liên hệ chặt chẽ,

kịp thời giữa Trung ương với các địa phương một cách thường xuyên, định kỳ về

quản lý TĂCN.

Bên cạnh đó, hệ thống phòng phân tích giám định chất lượng đã hình

thành nhưng còn ít về mặt số lượng, thiếu các trang thiết bị cần thiết, đội ngũ

phân tích hạn chế về trình độ chuyên môn chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng

cao và khắt khe trong lĩnh vực phân tích đánh giá chất lượng TĂCN.

- Nghị định 08/2010/NĐ-CP ban hành ngày 05 tháng 2 năm 2010 về quản

lý thức ăn chăn nuôi.

Thông tư số 66/2010/TT- BNNPTNT ngày 10/10/2011 của Bộ nông

nghiệp Quy định chi tiết một số điều Nghị định 08/2010/NĐ-CP ban hành ngày

05 tháng 2 năm 2010 về quản lý thức ăn chăn nuôi.

Thông tư số 45/2014/TT- BNNPTNT ngày 03/12/2014 của Bộ nông

nghiệp Quy định việc kiểm tra cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp và

kiểm tra, chứng nhận cơ sở sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản đủ điều kiện

an toàn thực phẩm.

Thông tư số 50/2014/TT- BNNPTNT ngày 24/12/2014 của Bộ nông

nghiệp và Phát triển nông thôn sửa đổi, bổ sung một số điều Thông tư

66/2011/TT-BNNPTNT ngày 10/10/2011 Quy định chi tiết một số điều Nghị

định 08/2010/NĐ-CP ban hành ngày 05 tháng 2 năm 2010 về quản lý thức ăn

chăn nuôi.

32

PHẦN 3. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Đối tượng:

- Hộ chăn nuôi, các cơ sở kinh doanh và thức ăn công nghiệp tại 3 xã đại

diện của Huyện Gia Lâm (Kim Sơn, Dương Quang, Văn Đức) thành phố Hà Nội.

Địa điểm và thời gian: Nghiên cứu thực địa tiến hành tại Huyện Gia Lâm,

phân tích đánh giá chất lượng tại Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm - Thủy

sản thành phố Hà Nội và Phòng thí nghiệm trung tâm khoa Chăn nuôi, Học viện

Nông nghiệp Việt Nam Hà Nội từ tháng 07/2015 đến tháng 5/2016.

3.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.2.1. Thực trạng chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội

- Tình hình chăn nuôi trên địa bàn huyện Gia Lâm giai đoạn 2010-2015;

- Tình hình chăn nuôi lợn tại huyện Gia Lâm giai đoạn 2010-2015.

3.2.2. Tình hình sử dụng, kinh doanh và hệ thống quản lý chất lượng thức ăn chăn nuôi trên địa bàn huyện

- Tình hình sử dụng và tiêu thụ thức ăn công nghiệp trong chăn nuôi năm

2015;

- Hệ thống phân phối thức ăn chăn nuôi;

- Thực trạng quản l ý thức ăn chăn nuôi trên địa bàn huyện.

3.2.3. Đánh giá chất lượng dinh dưỡng một số loại thức ăn công nghiệp dùng trong chăn nuôi lợn được bán trên địa bàn huyện 3.2.4. Đánh giá ô nhiễm vi sinh vật, nấm mốc, kim loại nặng và định lượng một số loại kháng sinh, hormone trong thức ăn dùng trong chăn nuôi lợn được bán trên địa bàn huyện Gia Lâm

3.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.3.1. Phương pháp phân vùng nghiên cứu

Thu thập số liệu thứ cấp từ số liệu thống kê Phòng Kinh tế Huyện, Chi

cục Thống kê huyện, Trạm Thú Y huyện, Phòng Chăn nuôi Sở Nông nghiệp và

PTNT , Chi cục quản lý chất lượng nông lâm- Thủy sản.

Điều tra từ cơ sở kinh doanh và đại diện cơ sở chăn nuôi trên địa bàn

huyện Gia Lâm.

33

3.3.2. Phương pháp điều tra, thu thập số liệu

- Phương pháp điều tra thông qua các báo cáo, số liệu thống kê của các cơ

quan, ban ngành liên quan.

- Phương pháp điều tra chính thức: Tình hình hoạt động kinh doanh và sử dụng thức ăn công nghiệp trong chăn nuôi lợn được điều tra bằng hai bộ câu hỏi được thiết kế trước (một bộ câu hỏi dùng điều tra đánh giá tình hình kinh doanh, một bộ câu hỏi dùng đánh giá tình hình chăn nuôi và sử dụng thức ăn công nghiệp trong chăn nuôi lợn) tại 3 xã đại diện cả về mặt địa lý và mức độ phát

triển chăn nuôi lợn (Kim Sơn, Văn Đức, Dương Quang).

- Phương pháp lấy mẫu:

+ Đối với các chỉ tiêu lý hóa mẫu thức ăn được lấy theo TCVN 4325: 2007

(ISO 06497:2002).

+ Đối với các chỉ tiêu vi sinh vật, mẫu được lấy theo TCVN 8129: 2009.

Số mẫu kiểm tra theo các chỉ tiêu kiểm tra (mẫu)

Địa điểm lấy mẫu

Số đại lý thức ăn

Số mẫu được lấy (mẫu)

Chất lượng dinh dưỡng

Hàm lượng kháng sinh

Clenbuteron và Salbutamol

Ô nhiễm vsv, nấm mốc, kim loại nặng 4 8 8 20

Xã Kim Sơn Xã Dương Quang Xã Văn Đức Tổng

3 4 4 11

12 16 16 44

12 16 16 44

4 8 8 20

2 4 4 10

Bảng 3.1. Dung lượng mẫu thức ăn được lấy trên địa các xã và các chỉ tiêu kiểm tra chất lượng

Trên cơ sở qui mô, số lượng đại lý kinh doanh thức ăn chăn nuôi trên địa bàn các xã điều tra để quyết định số lượng mẫu. Khu vực xã Văn Đức và xã Dương Quang có nhiều đại lý được lấy nhiều nhất (16 mẫu), xã Kim Sơm ít đại lý nên số mẫu lấy ít hơn (Bảng 3.1). Mẫu được lấy 4 đợt khác nhau từ tháng 8 năm 2015 đến tháng 2 năm 2016, mỗi mẫu được chia làm hai gói khác nhau (một gói dùng phân tích các chỉ tiêu lý hóa, một gói dùng phân tích các chỉ tiêu vi sinh và nấm mốc). Mẫu được lấy từ các mã thức ăn dạng nguyên bao hoặc tại các cơ

sở kinh doanh hoặc kho chứa cơ sở chăn nuôi.

Riêng 10 mẫu thức ăn chăn nuôi lợn để phân tích kiểm tra hormone sinh trưởng Clenbuterol và Salbutamol có 5 mẫu được lấy từ bao thức ăn nguyên tại kho các cơ sở kinh doanh và cơ sở chăn nuôi và 5 mẫu được lấy từ máng ăn (chỉ

lấy cám dùng cho lợn thịt giai đoạn cuối xuất chuồng).

34

3.3.3. Phương pháp phân tích đánh giá chất lượng thức ăn chăn nuôi

Tất cả các chỉ tiêu đều được phân tích theo tiêu chuẩn hiện hành, các

phương pháp phân tích được chuẩn hóa và đảm bảo độ tin cậy theo quy định.

Mỗi một chỉ tiêu đều được phân tích lặp lại 2 lần, giá trị đánh giá là giá trị trung

bình của 2 lần phân tích. Các tính độ giao động phân tích cho phép và đánh giá

các chỉ tiêu dinh dưỡng cơ bản (Trong nghiên cứu này áp dụng theo độ ẩm,

protein thô, Xơ thô, Ca và Phốt pho được thực hiện theo hướng dẫn của tiêu

chuẩn ngành 10TCN 860: 2006 Ban hành kèm theo quyết định số 4099

/QĐ/BNN-KHCN ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Bộ Nông nghiệp và phát

triển nông thôn.

- Xác định độ ẩm theo TCVN 4326: 2001

- Xác định hàm lượng protein thô theo TCVN 4328-1: 2007

- Xác định hàm lượng xơ thô theo TCVN 4329: 2007

- Định lượng hàm lượng canxi (phương pháp thể tích) theo tiêu chuẩn Việt

Nam TCVN 1526-1:2007

- Định lượng hàm lượng photpho (phương pháp quang phổ) theo TCVN

1525:2001.

- Kháng sinh nhóm Clotertracyclin, tetracycline được định lượng theo TCVN

8544: 2010 (AOAC 995.09) bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao.

- Phân tích tylosin được định lượng theo TCVN 8543: 2010 bằng phương

pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao.

- Phân tích Chloramphenicol trong thức ăn chăn nuôi theo phương pháp Sắc

ký lỏng khối phổ.

- Phân tích Oxytetracylin được định lượng theo TCVN 8544: 2010 (AOAC

995.09) bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao.

- Vi khuẩn hiếu khí tổng số (CUF/g) được phân tích theo TCVN 5165-90

- E.coli được phân tích theo TCVN 6846: 2007

- Salmonella được phân tích theo TCVN 4829: 2005 Phương pháp phát hiện

salmonella trên đĩa thạch.

- Aflatoxin B1 được phân tích theo TCVN 6953: 2001 Phương pháp sắc ký

lỏng hiệu năng cao.

35

- Asen được phân tích theo AOAC 957.22 bằng phương pháp so màu.

- Cadimi được phân tích theo TCVN 7603: 2007 bằng phương pháp Quang

phổ hấp thụ nguyên tử.

- Thủy ngân được phân tích theo TCVN 7604: 2007 bằng phương pháp

Quang phổ hấp thụ nguyên tử.

- Chì được phân tích theo TCVN 7602: 2007 bằng phương pháp Quang phổ

hấp thụ nguyên tử.

- Hormone beta- agonist trong nghiên cứu này chỉ kiểm tra Clenbuteron và

Salbutamol bằng chiến lược phân tích hai bước theo hướng dẫn của thông tư

số 01/2016/TT-BNNPTNT của bộ NN&PTNT (sàng lọc bằng ELISA sử dụng kít

hãng Biooscientific và khẳng định bằng phương pháp sắc khối phổ). Kít ELISA

sử dụng là kít do hãng MaxSignalTM sản xuất (MaxSignalTM Clenbuterol

ELISA Test Kit - Biooscientific (Cat No: 1021) và MaxSignalTM Salbutamol

ELISA Test Kit - Biooscientific (Cat No: 1022) đều có giới hạn phát hiện (LOD

là 0,1 ppb).

3.3.4. Phương pháp xử lý số liệu

- Thông tin từ các báo cáo, thống kê cũng như số liệu đã công bố khác

được tổng hợp, sau đó phân loại chọn lọc ra những thông tin cần thiết theo

nội dung nghiên cứu.

- Số liệu điều tra trực tiếp và kết quả phân tích trong phòng thí nghiệm được

xử lý bằng thống kê mô tả trên phần mền thống kê Minitab 14.

36

PHẦN 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. THỰC TRẠNG CHĂN NUÔI LỢN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN

4.1.1. Tình hình chăn nuôi trên địa bàn huyện

Từ năm 2010 đến nay ngành chăn nuôi luôn được Huyện ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện xác định là một trong những ngành mũi nhọn, quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của địa phương. Chủ trương của huyện là phát triển chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng thành chăn

nuôi cạnh tranh, hàng hóa và bền vững.

Chính những chủ trương và chiến lược đó đã giúp ngành chăn nuôi trên địa bàn phát triển ổn định theo hướng chuyên canh, hàng hóa và bền vững. Hình

thành những vùng chăn nuôi trọng điểm khác nhau.

Đối với đàn trâu bò, mặc dù quá trình phát triển cơ giới hóa nông nghiệp nên nhu cầu làm sức kéo giảm, nhưng nhu cầu thịt trâu bò, sữa tăng mạnh cùng với địa lý, tiềm năng đất tự nhiên lớn nên đàn bò sữa, bò thịt phát triển mạnh trong các năm gần đây hình thành vùng chăn nuôi trọng điểm của huyện, từ 7.355 con vào năm 2010, sau năm năm phát triển tổng đàn trâu bò năm 2015 đạt 7.917 con. Trong khi đó, chủ trương của huyện tiếp tục triển khai thực hiện dự án lai tạo giống bò thịt trên nền đàn bò cái lai Sind tại các xã trong quy hoạch phát triển chăn nuôi, tiếp tục thực hiện đề án chăn nuôi bò sữa và bò thịt đã nâng cao

chất lượng đàn bò trên địa bàn huyện.

Chỉ tiêu

2010

2011

2012

2013

2014

Đơn vị: con 2015

Trâu, Bò Lợn

7.355 40.932

7.677 40.985

7288 44.242

7.346 52114

7.831 55.013

7.917 58.907

Gia cầm

212.572 233.395

253.048

243.409

275.404

254.855

Nguồn: Trạm thú y huyện Gia Lâm (2015) - Đối với chăn nuôi lợn do ảnh hưởng rất lớn của dịch bệnh đặc biệt là dịch Tai xanh xảy ra vào năm 2010, biến động thị trường, cùng với sự tăng giá thức ăn chăn nuôi đã tác động làm cho tổng đàn lợn giảm mạnh. Những hộ chăn nuôi lợn quy mô trang trại và chăn nuôi lợn nái ngoại do tuân thủ quy trình kỹ thuật và thực hiện tốt công tác phòng bệnh nên số lượng lợn nái ngoại có xu hướng tăng, trong

Bảng 4.1. Tình hình phát triển chăn nuôi huyện giai đoạn 2010- 2015

37

số 58 trang trại đủ tiêu chí theo Thông tư 27 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp. Nhìn chung chăn nuôi lợn tuy chịu tác động rất lớn bởi dịch bệnh, giá đầu vào và thị

trường song hiện nay vẫn chiếm tỉ trọng trên 60% giá trị ngành chăn nuôi.

- Chăn nuôi gia cầm, thủy cầm: Chăn nuôi gia cầm ngày càng được quan

tâm hơn, phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại, gia trại tập trung, nên công

tác phòng dịch đã được thực hiện tốt. Mặc dù chịu ảnh hưởng rất lớn của dịch

cúm gia cầm nhưng đàn gia cầm vẫn ổn định và tăng qua các năm.

Thực hiện chủ trương của Thành phố xây dựng các cơ sở giết mổ tập trung

.Trên địa bàn huyện có 05 cơ sở giết mổ gia cầm tập trung, trong đó tại xã Yên

Thường có 03 cơ sở: Cơ sở Lan Vinh, cơ sở Thành Lợi, cơ sở Luyện Hà, cơ sở

Trần Văn Đát - xã Phú Thị và cơ sở Út Bạch - xã Dương Quang.

Thực hiện chỉ đạo của UBND Huyện về chiến lược phát triển chăn nuôi

hàng hóa, cạnh tranh trở thành ngành chủ lực trong phát triển nông nghiệp trong

thời gian tới, huyện Gia Lâm đã xây dựng định hướng quy hoạch vùng chăn nuôi

trọng điểm, hình thành các khu chăn nuôi với quy mô lớn, đưa chăn nuôi vào sản

xuất theo hướng hàng hóa, cạnh tranh, công nghiệp hoá hiện đại hoá, đồng thời

đảm bảo vệ sinh môi trường.

4.1.2. Tình hình chăn nuôi lợn tại huyện Gia Lâm 4.1.2.1. Tình hình phát triển đàn lợn tại huyện Gia Lâm giai đoạn 2010 - 2015

Huyện Gia Lâm là huyện có điều kiện rất thuận lợi cho phát triển chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng, nhưng do nhiều yếu tố tình hình chăn nuôi lợn chung của toàn Huyện cũng như cả nước tác động nên đã có những biến động

qua các năm Bảng 4.2.

Qua số liệu Bảng 4.2 cho thấy tổng đàn lợn từ năm 2010,đến năm 2015 tăng 17.975 con. Nguyên nhân chính để đàn lợn năm 2010 có tổng đàn giảm là do trên địa bàn huyện xảy ra dịch Tai Xanh (Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản PRRS.) tại 14 xã trong huyện số lượng lợn bệnh phải tiêu hủy 153 tấn nên người chăn nuôi đã thu hẹp tổng đàn do tâm lý sợ dịch bệnh. Đến năm 2011, năm 2012 đàn lợn trên địa bàn huyện tăng chậm là do năm 2011 tình hình thời tiết khắc nghiệt rét đậm kéo dài và các thay đổi thời tiết bất thường gây ảnh hưởng đến sức khỏe đàn gia súc đó là dịch bệnh có điều kiện bùng phát trở lại nhất là dịch LMLM trên đàn trâu bò và dịch Tai Xanh trên đàn lợn. Bên cạnh đó giá cả của yếu tố đầu vào trong chăn nuôi lợn thịt tăng như giá lợn gống, giá thức ăn,

38

thuốc thú y… Trong khi đó giá lợn thịt không tăng hoặc có tăng nhưng rất ít không bù được chi phí đầu vào dẫn đến người chăn nuôi bị thua lỗ hoặc lợi nhuận thấp, nhiều hộ chăn nuôi bị vỡ đàn không đủ vốn để đầu tư tái đàn, nhiều hộ chăn nuôi lợn với quy mô lớn đã thu hẹp quy mô sản xuất hoặc không chăn nuôi bỏ sang ngành nghề khác. Nhưng trong những năm gần đây, cùng với chính sách phát triển vùng chăn nuôi tập trung theo hướng nâng cao năng suất và chất lượng thịt lợn của thành phố Hà Nội cũng như định hướng của huyện Gia Lâm. Đồng thời để đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng đòi hỏi sản phẩm thịt lợn phải có chất lượng tốt, tỷ lệ nạc cao, nên quy mô đàn lợn nội và F1, F2 có xu hướng giảm dần, thay vào đó là đàn lợn ngoại ngày càng tăng hình thành vùng trọng

điển chăn nuôi lợn nạc tại xã Văn Đức.

Qua bảng 4.2 cho thấy theo thống kê thời điểm T.5.2014 đàn lợn đực giống năm 2014 tăng so với năm 2013. Do nó liên quan đến trại giống gốc của Khoa chăn nuôi. Đây là trại giống gốc chuyên cung cấp tinh và cung cấp lợn đực

giống cho các tỉnh.

- Năm 2015 giảm do số lượng lợn đực của Trại được bán đi trong giai đoạn chưa được khai thác. Số lượng này giảm là do giảm ở trang trại cơ sở cuung cấp giống.

- Do các hộ chủ yếu nhập tinh từ các cơ sở trang trại khác chủ yếu nuôi lợn

đực để kích thích con cái.

Chỉ tiêu

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

Năm 2015

40.932

40.985

44.242

52114

55.013

58.907

Tổng đàn lợn (con)

4.019

Lợn nái (con)

2.625

2.543

2.541

3.315

3.746

54.802

Lợn thịt (con)

38.266

38.399

41.644

48.707

51.088

Lợn đực giống (con)

41

43

57

92

179

86

Nguồn: Trạm thú y huyện Gia Lâm (2015)

Bảng 4.2. Tình hình phát triển và biến động cơ cấu đàn lợn trên địa bàn huyện Gia Lâm giai đoạn 2010 - 2015

4.1.2.2. Các hình thức chăn nuôi lợn

Trong điều kiện hiện nay cùng với sự tăng trưởng kinh tế - xã hội khi khoa

học ngày càng phát triển, nhu cầu thực phẩm của xã hội đòi hỏi ngày càng cao cả

về số lượng và chất lượng. Vì vậy, trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn

39

nói riêng đã hình thành và phát triển các hình thức và quy mô chăn nuôi khác

nhau. Tùy vào điều kiện cụ thể của từng hộ. Từ chăn nuôi nhỏ lẻ, nông hộ, phân

tán theo hướng tận dụng và tự cung tự cấp nay đã hình thành nhiều hình thức

chăn nuôi khác nhau như chăn nuôi trang trại, gia trại theo hướng chuyên canh,

hàng hóa. Qua quá trình điều tra thấy các cơ sở chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện

có 3 hình thức chăn nuôi lợn:

HT1 (hình thức 1): chỉ nuôi lợn nái

HT2 (hình thức 2) : chỉ nuôi lợn thịt

HT3 ((hình thức 3). Chăn nuôi kết hợp cả lợn thịt và lợn nái

Ở hình thức 1 và hình thức 3 các hộ đều nuôi lợn con từ khi sơ sinh đến

khi cai sữa, nhưng ở HT1 khi các hộ nuôi lợn con đến khi cai sữa thì xuất bán,

còn ở HT3 các hộ nuôi tiếp đến khi xuất chuồng, các hộ này có thể không hoặc

mua thêm lợn sau cai sữa ở các cơ sở khác để nuôi vỗ béo hình thức này hiện nay

đang được nhiều hộ chăn nuôi quy mô trang trại áp dụng. Ở HT2 các hộ mua lợn

sau cai sữa ở các cơ sở chăn nuôi khác về để nuôi vỗ béo (hoặc nuôi gia công).

4.2. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VÀ KINH DOANH THỨC ĂN CHĂN NUÔI

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM

4.2.1. Tình hình sử dụng thức ăn hỗn hợp

Gia Lâm là huyện có tốc độ đô thị hóa nhanh diện tích đất nông nghiệp

ngày càng bị thu hẹp do vậy sản lượng các loại cây trồng là nguồn thức ăn cho

gia súc nói chung, chăn nuôi lợn riêng ngày càng hạn chế không đáp ứng được

nhu cầu chăn nuôi lợn của huyện. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, do áp

dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nên đã và đang thúc đẩy các phương thức

chăn nuôi tiên tiến (chăn nuôi công nghiệp và chăn nuôi bán công nghiệp) phát

triển kéo theo nhu cầu về thức ăn công nghiệp ngày càng cao.

Thực tế, từ phương thức chăn nuôi nông hộ mang tính tận dụng, các hộ

chăn nuôi chỉ sử dụng, tận dụng nguồn thức ăn sẵn có đến nay đại đa số các hộ

chăn nuôi sử dụng thức ăn công nghiệp theo hai phương thức, hoặc hoàn toàn sử

dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho ăn theo khẩu phần, hoặc sử dụng thức ăn

đậm đặc pha trộn với nguyên liệu sẵn có của địa phương. Hiện nay, rất ít hộ chăn

nuôi lợn chỉ tận dụng sử dụng thức ăn sẵn có.

40

Một số loại TĂCN trong chăn nuôi lợn đang được người chăn nuôi sử

dụng phổ biến trên địa bàn là các sản phẩm của các công ty có thương hiệu như

sản phẩm của công ty: Charoen Pokphand (CP), Cargill, Japfa, AF, Proconco

Hà Việt, Lái Thiêu, Đồng Hới….

(Con cò), GreenFeed, Con heo vàng, De Heus , Dabaco, Newhop, Thái Dương ,

Bảng 4.3. Lượng tiêu thụ thức ăn công nghiệp dùng trong

Nội dung

Số lượng (cơ sở)

Lượng thức ăn bán/tiêu thụ hàng ngày (kg)

Lượng thức ăn bán/ tiêu thụ năm (kg)

Đại lý cấp 1

25

2000

18.250.000

Đại lý cấp 2

23

600

5.037.000

Trang trại mua trực tiếp của nhà máy

17

600

3.723.000

Cộng tổng

65

3.200

27.010.000

chăn nuôi lợn ở huyện Gia Lâm

Từ số liệu ở Bảng 4.3 và Sơ đồ 4.1 cho thấy trên địa bàn huyện hiện có 3

hình thức phân phối thức ăn chăn nuôi chính là thông qua đại lý cấp 1, đại lý cấp

2, và trang trại chăn nuôi. Lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp tiêu thụ trung

bình hàng ngày lên gần 3,5 tấn/ngày. Trong đó, lượng tiêu thụ hàng ngày từ đại

lý cấp 1 là 2 tấn (chiếm 52,6% trong tổng số TĂCN tiêu thụ hàng ngày), đại lý

cấp 2 là 600kg (chiếm 18,4% trong tổng số TĂCN tiêu thụ hàng ngày), Các trang

trại mua trực tiếp từ nhà máy 600kg/ ngày.

Hàng năm, trên địa bàn huyện tiêu thụ hơn 27 ngàn tấn thức ăn dùng trong

chăn nuôi lợn, điều này đã khẳng định ngành chăn nuôi lợn tại huyện đang phát

triển và trở thành một trong những ngành trọng điểm trong phát triển kinh tế

của huyện.

4.2.2. Hệ thống phân phối và kinh doanh thức ăn chăn nuôi

Thức ăn chăn nuôi từ các công ty, doanh nghiệp sản xuất được phân phối

đến người chăn nuôi theo kênh gián tiếp qua hệ thống đại lý cấp 1, cấp 2, hoặc

trực tiếp cho các hộ chăn nuôi trang trại (Sơ đồ 4.1). Hệ thống kênh phân phối

sản phẩm thức ăn chăn nuôi trên địa bàn huyện được thể hiện theo Sơ đồ 4.1.

41

Các công ty sản xuất thức ăn

Đại lý cấp 1

Đại lý cấp 2

Hộ chăn nuôi nhỏ lẻ

Hộ chăn nuôi trang trại

Sơ đồ 4.1. Kênh phân phối thức ăn chăn nuôi

Qua khảo sát cho thấy đại đa số các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ mua thức ăn từ các

hệ thống đại lý cấp 1 hoặc cấp 2. Cụ thể 90% người chăn nuôi phụ thuộc vào các

đại lý cung cấp thức ăn đóng trên địa bàn huyện - thường là đại lý cấp 1, 2. Gần

đây, trên địa bàn huyện xuất hiện ngày càng nhiều trang trại chăn nuôi lợn đã trực

tiếp mua TĂCN từ nhà phân phối và có xu hướng phát triển mạnh hơn hình thức

tiêu thụ TĂCN này. Thực tế điều tra thấy một số hộ chăn nuôi đồng thời lại làm

đại lý thức ăn chăn nuôi để cung cấp cho các hộ chăn nuôi khác. Tuy nhiên, số này

chỉ chiếm khoảng 10% lượng thức ăn tiêu thụ trên thị trường và đại đa số tập trung

ở các trang trại lớn. Mặc dù, ít hộ mua trực tiếp nhưng là tín hiệu tốt cho sự phát

triển chăn nuôi hàng hóa cạnh tranh. Giảm bớt các khâu trung gian là một giải

pháp hạ giá thành chăn nuôi nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm.

Một dấu hiệu khác phản ánh sự phát triển và sự coi trọng chất lượng là sự

hợp tác giữa người chăn nuôi và các công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi. Một số

công ty sản xuất thức ăn thuyết phục người mua thông qua hình thức dùng thử tại

các trang trai. Các hộ tự thử nghiệm, tự đánh giá chất lượng theo kết quả chăn

nuôi là cơ sở cho việc chọn thức ăn cho trang trại.

Giá đầu vào thức ăn theo Sơ đồ 4.1 và Bảng 4.3 trên cho thấy nếu người

chăn nuôi càng rút ngắn kênh phân phối thì giá thành thức ăn càng thấp. Tuy

nhiên, thực tế điều tra cho thấy các hộ chăn nuôi với quy mô càng lớn hệ thống

kênh phân phối càng ngắn, càng thấp, do đó hiệu quả chăn nuôi càng cao.

42

4.2.3. Thực trạng quản lý thức ăn chăn nuôi trên địa bàn huyện 4.2.3.1. Hệ thống tổ chức các cơ quan quản l ý về chất lượng TACN

Hiện nay, trên địa bàn Thành phố Hà Nội, Sở nông nghiệp và PTNT là cơ quan chuyên môn thực hiện công tác quản lý chất lượng TĂCN trên địa bàn Thành phố, với chức năng được phân công thì hàng năm Sở thành lập từ 01 đến 02 đoàn kiểm tra liên ngành. Thành phần của đoàn kiểm tra bao gồm: Phòng chăn nuôi - Sở Nông nghiệp và PTNT; Phòng Thanh tra - Sở Nông nghiệp và PTNT; Chi cục quản lý thị trường; Công an; Chi cục quản lý chất lượng nông

lâm sản và thuỷ sản.

Theo đó, đoàn kiểm tra của Sở phải thực hiện kiểm tra chất lượng TĂCN của các nhà máy hiện đang đăng ký sản xuất TĂCN trên địa bàn Thành phố. Ngoài ra, đoàn cũng tiến hành kiểm tra, đánh giá chất lượng của các đại lý lớn hiện đang kinh doanh TĂCN trên địa bàn một số huyện. Theo kết quả kiểm tra năm 2015, đoàn kiểm tra đã kiểm tra được 74 công ty sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi đã lấy 40 mẫu ( trong đó 6 mẫu đậm đặc, 34 mẫu thức ăn hỗn hợp) để phân tích các chỉ tiêu chất lượng và những chỉ tiêu an toàn vệ sinh thực phẩm, các chỉ tiêu kiểm tra, đánh giá chất lượng thức ăn chăn nuôi được quy định tại Phụ lục 19 của Thông tư 66/2011/TT-BNNPTNT của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định chi tiết một số điều Nghị định số 08/2010/NĐ- CP ngày 05/02/2010 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi. Kết quả phân

tích cụ thể như sau:

+ Chỉ tiêu về chất lượng: Gồm các chỉ tiêu: độ ẩm, prôtein, nitơ phi prôtein, khoáng tổng số, xơ thô, Lysin, Methionine, Cystine, Threonin đều đạt so

với chỉ tiêu công bố của các công ty ghi trên bao bì.

+ Chỉ tiêu Độ ẩm phân tích 40 mẫu cho kết quả đạt 100% so với công bố.

+ Chỉ tiêu kháng sinh: Gồm các loại: Tetracycline, Furazolidone, Tylosine,

Cloramphenicol. Số mẫu phân tích 40 mẫu kết quả 4 loại kháng sinh không phát hiện.

+ Kết quả phân tích chỉ tiêu Vi sinh vật: Gồm các loại: Coliform tổng số và

E.coli: Số mẫu phân tích 40 kết quả 100% không phát hiện.

+ Kết quả phân tích chỉ tiêu độc tố nấm mốc:

Gồm 2 loại: Aflatoxin tổng số và Aflatoxin B1. Số mẫu phân tích 40 mẫu

kết quả 100% số mẫu đều cho kết quả phù hợp với quy chuẩn cho phép.

43

+ Kết quả phân tích chỉ tiêu Hormone: Gồm 3 loại: Ractopamin,

Clenbuterol, Salbutamol. Số mẫu phân tích 40 kết quả 100% âm tính.

+ Kết quả phân tích chỉ tiêu kim loại nặng: Gồm 4 loại: As, Pb, Cd, Hg. Số

mẫu phân tích 40 mẫu kết quả 100% số mẫu đều cho kết quả phù hợp với Quy

chuẩn cho phép. (báo cáo Sở NNPTNT Hà Nội, 2015).

Nhưng trên thực tế, đoàn kiểm tra liên ngành của Thành phố không thể thực

hiện việc kiểm tra đồng bộ tất cả các đơn vị kinh doanh trên địa bàn các huyện.

Để tăng cường và chủ động trong công tác quản lý chất lượng vật tư, hàng

hóa nông nghiệp, Sở NN&PTNT giao cho các huyện phải chủ động phối hợp với cơ

quan chuyên môn có thẩm quyền để thực hiện việc kiểm soát chất lượng vật tư, hàng

hóa nông nghiệp trong đó có TĂCN trên địa bàn được giao quản lý. Tuy nhiên, đây

là nhiệm vụ mà các huyện mới được giao để thực hiện nên trong quá trình thực hiện

đang gặp không ít khó khăn, cụ thể như: Trên địa bàn số lượng cơ sở sản xuất

TĂCN lớn, cơ sở sản xuất TĂCN nhỏ nằm xen kẽ với khu dân cư, địa điểm sản xuất

thay đổi thường xuyên, số cơ sở ngừng sản xuất, cơ sở mới thành lập hàng năm luôn

biến động gây ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý.

- Nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh TĂCN có văn phòng tại Hà Nội

nhưng lại thuê gia công ở các tỉnh khác nên cũng gặp nhiều khó khăn trong

quá trình quản lý.

- Cán bộ làm công tác quản lý thức ăn chăn nuôi số lượng ít, nhất là ở các

Quận, Huyện, thị xã không có cán bộ chuyên trách làm công tác quản lý thức ăn

chăn nuôi, các quận, huyện, thị xã chưa quan tâm đến việc quản lý TĂCN. Cán

bộ của đa số các huyện tham gia thanh kiểm tra chưa được đào tạo, tập huấn nên

trong quá trình thực hiện thanh, kiểm tra chưa phổ biến được hết các yêu cầu của

công tác quản lý đến các đại lý; công tác tuyên truyền văn bản quy phạm pháp

luật cho các đại lý chưa được thực hiện thường xuyên nên đang còn xuất hiện

tượng chống đối.

Nhìn chung, hệ thống tổ chức quản lý chất lượng TĂCN của huyện còn

mỏng và thiếu, đa phần là kiêm nhiệm, kinh nghiệm thực tế trong quản lý TĂCN

không có nhiều nên trong quá trình thực hiện còn gặp nhiều bất cập.

44

4.2.3.2. Thực trạng quản lý thức ăn chăn nuôi trên địa bàn huyện

* Khung pháp lý

Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về chất lượng thức

ăn đã và đang được bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện, một số luật và văn bản dưới

luật liên quan đến chất lượng đã được xây dựng và sửa đổi như như Luật Chất

lượng sản phẩm hàng hóa (năm 2007), Luật Tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thật (2006)

và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thực hiện, các Thông tư liên ngành về

phân công trách nhiện quản lý nhà nước về chất lượng vật tư, hàng hóa nông

nghiệp trong đó có thức ăn chăn nuôi.

Trên địa bàn huyện các cơ quan chuyên môn đã quan tâm đến vấn đề chất

lượng, cụ thể như UBND huyện đã chỉ đạo các đơn vị có liên quan và phối hợp

với các ngành chức năng tham mưu thực hiện tốt việc quản lý chất lượng vật tư,

nông nghiệp trong đó có thức ăn chăn nuôi. Đây chính là điều kiện pháp lý thuận

lợi để cơ quan quản lý các cấp tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chất lượng

nhằm làm giảm vật tư, nông nghiệp kém chất lượng tiêu thụ trên thị trường.

Nhìn chung, với hệ thống khung pháp lý đang ngày càng hoàn thiện sẽ tạo

điều kiện để các cơ quan quản lý trên địa bàn huyện phát huy được vai trò thực

hiện quản lý chất lượng vật tư, nông nghiệp nói chung và thức ăn chăn nuôi nói

riêng. Tuy nhiên tại thời điểm hiện tại, công tác quản lý thức ăn chăn nuôi vẫn

còn gặp nhiều khó khăn, do các văn bản chưa đồng bộ, cụ thể như hệ thống công

bố, chứng nhận hợp quy, hợp chuẩn cho thức ăn đang còn trong tiến trình xây

dựng, các quy định về điều kiện sản xuất, điều kiện kinh doanh còn thiếu, nên

các mặt hàng không được kiểm soát chất lượng vẫn còn bán khá nhiều trên thị

trường; các văn bản quy định xử lý còn chưa đủ mạnh chưa đủ sức răn đe nên

không ít các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh vẫn chấp nhận nộp phạt để lưu

thông hàng hóa kém chất lượng. Từ đó, đã tạo ra không ít khó khăn cho công tác

quản lý của các cơ quan chuyên môn và chính quyền cơ sở trên địa bàn huyện.

* Hệ thống các cơ quan quản lý về chất lượng thức ăn chăn nuôi

- Ở Thành phố: Hiện nay, trên địa bàn thành phố Sở Nông nghiệp &

PTNT là cơ quan chuyên môn thực hiện công tác quản lý chất lượng TĂCN trên

địa bàn toàn thành phố,với chức năng được phân công thì hàng năm Sở thành lập

45

đoàn kiểm tra liên ngành thành phần của đoàn gồm: Phòng Chăn nuôi sở NN &

PTNT, Thanh tra sở, Chi cục Quản lý thị trường ,Công an, Chi cục quản lý chất

lượng nông lâm sản và thủy sản. Theo đó, đoàn kiểm tra của Sở phải thực hiện

kiểm tra chất lượng TĂCN của các nhà máy đang sản xuất TĂCN trên địa bàn

thành phố. Ngoài ra đoàn cũng tiến hành kiểm tra, đánh giá chất lượng của các

đại lý lớn hiện đang kinh doanh TĂCN trên địa bàn một số huyện.

- Ở huyện : Để là tốt hơn nữa trong công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng

thức ăn chăn nuôi trên địa bàn. UBND Huyện đã ban giao cho các cơ quan

chuyên môn có thẩm quyền để kiểm soát chất lượng TĂCN trên địa bàn huyện.

Tuy nhiên, đây là nhiệm vụ mới nên việc tổ chức thực hiện gặp không ít khó

khăn, cụ thể như cán bộ được giao thực hiện nhiệm vụ ít về số lượng lại chưa

được tập huấn nên trong quá trình thực hiện thanh, kiểm tra chưa phổ biến hết

được các yêu cầu của công tác quản lý đến các đại lý, công tác tuyên truyền các

văn bản quy phạm pháp luật cho các đại lý chưa được thực hiện thường xuyên.

Việc kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi ở cấp huyện chủ yếu mới dừng lại ở

các khâu như : đăng ký kinh doanh, thời hạn sử dụng của các loại thức ăn thông

qua công bố trên bao bì nhãn mác, điều kiện kho tàng, niêm ít giá và các loại hóa

đơn chứng minh đầu vào. Việc lấy mẫu để phân tích các chi tiêu chính của

TĂCN chưa thực hiện được mà chủ yếu dựa vào kết quả kiểm tra của Sở.

Hệ thống tổ chức quản lý chất lượng TĂCN trên địa bàn thành phố nói

chung và địa bàn huyện nói riêng còn rất mỏng và thiếu, chủ yếu là kiêm nhiệm

nên kinh nghiệm thực tế trong quản lý TĂCN không có nhiều nên trong quá trình

tổ chức thực hiện gặp rất nhiều khó khăn.

4.2.3.3. Định hướng và giải pháp quản lý thức ăn chăn nuôi trên địa bàn huyện

TĂCN công nghiệp có vai trò quan trọng để phát triển chăn nuôi, định

hướng phát triển chăn nuôi của huyện theo hướng hàng hoá là dựa trên phương

thức áp dụng chăn nuôi công nghiệp tập trung, hạn chế việc chăn nuôi nhỏ lẻ. Để

xây dựng được nền tảng chăn nuôi phát triển mạnh, có chiều sâu, một trong

những quan điểm chủ đạo của huyện trong thời gian tới là phải đứng trên quan

điểm bảo đảm chất lượng TĂCN công nghiệp được tiêu thụ trên địa bàn.

46

Xuất phát từ quan điểm trên, phát triển TĂCN của huyện phải hướng tới

các vấn đề sau:

- Phát triển TĂCN công nghiệp trên cơ sở khuyến khích mọi thành phần

kinh tế tham gia tiêu thụ trên thị trường.

Để phát triển TĂCN bền vững và lâu dài với tốc độ vững chắc, cần có

định hướng thích hợp về chính sách Nhà nước đối với công việc kinh doanh thức

ăn chăn nuôi trên địa bàn huyện. Đó là cải thiện những vấn đề còn yếu kém trong

công tác quản lý chất lượng thức ăn chăn nuôi trên địa bàn.

- Định hướng công tác đảm bảo chất lượng TĂCN trên địa bàn.

Qua thực tế điều tra, đánh giá chất lượng cho thấy, TĂCN đang tiêu thụ

trên địa bàn huyện rất đa dạng, tuy nhiên chất lượng TĂCN nói chung trên thị

trường đang còn tồn tại nhiều loại có chất lượng không đảm bảo theo công bố

chất lượng. Các cơ quan quản lý của huyện cần tập trung tăng cường kiểm soát

chất lượng các loại sản phẩm TĂCN tại các cơ sở sản xuất trên địa bàn thành phố

và các đại lý trên địa bàn các huyện, đồng thời UBND huyện chỉ đạo các bộ phân

chuyên môn của huyện chủ động phối hợp với các cơ quan chuyên môn có thẩm

quyền để kiểm soát chất lượng TĂCN trên địa bàn huyện. Bên cạnh đó, cần phải

thường xuyên tuyên truyền để các hộ kinh doanh, người chăn nuôi hiểu được

mức độ thiệt hại kinh tế khi tiêu thụ, sử dụng mặt hàng TĂCN kém chất lượng.

Nhằm hướng đến việc chất lượng TĂCN cung cấp trên địa bàn huyện luôn đảm

bảo chất lượng theo đúng công bố.

Giải pháp đảm bảo chất lượng TĂCN trên địa bàn

Từ định hướng phát triển TĂCN và thực trạng công tác quản lý chất lượng

sản phẩm TĂCN trên địa bàn huyện. Để chất lượng TĂCN trên thị trường luôn

đảm bảo chất lượng, nhằm bảo vệ quyền lợi cho người chăn nuôi và nâng cao ý

thức về chất lượng cho các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Chúng tôi xin

đề xuất các giải pháp cụ thể sau:

* Đối với cơ quan quản lý các cấp :

Cần phải thực hiện việc kiểm soát chất lượng hàng hoá TĂCN tiêu thụ

trên thị trường thông qua việc kiểm tra các đại lý lấy mẫu phân tích chất lượng

của các mặt hàng TĂCN hiện đang kinh doanh.

47

Cần phải thực hiện các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, ngăn chặn

và xử lý nghiêm theo qui định pháp luật việc các đại lý kinh doanh TĂCN không

đảm bảo chất lượng.

- Nâng cao năng lực, cơ sở vật chất, thiết bị và con người cho đơn vị kiểm

nghiệm chất lượng TĂCN (tập trung đào tạo con người, bổ sung thiết bị để thay

thế cho các thiết bị thường xuyên bị hư hỏng, các thiết bị mới để kiểm tra các chỉ

tiêu khác có ảnh hưởng đến chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm) để phục vụ

quản lý nhà nước có hiệu quả hơn.

- Thực hiện thông tin, tuyên truyền, tập huấn về chất lượng TĂCN cho cơ

quan quản lý của xã, các đại lý kinh doanh, nhằm tạo sự chuyển biến đồng bộ

trong nhận thức, tổ chức quản lý, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và thói quen tiêu

dùng của người dân.

* Đối với các cơ sở kinh doanh:

- Bổ sung, nâng cấp kho tàng, dụng cụ bảo quản cần thiết theo quy định để

duy trì chất lượng TĂCN trong quá trình kinh doanh.

- Thực hiện việc nhập hàng hoá TĂCN từ các cơ sở sản xuất có kèm theo công

bố chất lượng sản phẩm và phiếu kết quả kiểm tra chất lượng trước khi xuất xưởng.

4.3. KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG DINH DƯỠNG MỘT SỐ LOẠI

THỨC ĂN CÔNG NGHIỆP DÙNG TRONG CHĂN NUÔI LỢN TRÊN ĐỊA

BÀN HUYỆN GIA LÂM.

Để đánh giá được một loại thức ăn công nghiệp có đạt tiêu chuẩn về chất

lượng dinh dưỡng hay không thì ngoài việc lấy mẫu phân tích thực tế các chỉ tiêu

dinh dưỡng để so sánh với công bố trên bao bì còn phải dựa trên quy định về kết

quả phân tích các chỉ tiêu dinh dưỡng so với công bố trên nhã mác bao bì

(CBNM) (Thông tư số 66/2011/TT-BNNPTNT ngày 10 tháng 10 năm 2011) và

độ giao động phân tích cho phép đối với các chỉ tiêu chất lượng (Tiêu chuẩn

ngành 10TCN 860:2006 Thức ăn chăn nuôi – Độ giao động phân tích cho phép

đối với các chỉ tiêu chất lượng, ban hành kèm theo Quyết định số

4099/QĐ/BNN-KHCN ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Nông

nghiệp và Phát triển nông thôn).

48

Địa điểm lấy mẫu

Tỷ Lệ %

Đối tượng sử dụng

Số mẫu kiểm tra (mẫu)

Số không đạt yêu cầu so với công bố (mẫu)

Xã Kim Sơn

Lợn con tập ăn Sau cai sữa Lợn choai Xuất chuồng

3 3 3 3

0 0 1 1

0 0 33,3 33.3

Xã Dương Quang

Lợn con tập ăn Sau cai sữa Lợn choai Xuất chuồng

4 4 4 4

0 0 1 1

0 0 25,0 25,0

Xã Văn Đức

Lợn con tập ăn Sau cai sữa Lợn choai Xuất chuồng

4 4 4 4

0 0 2 0

0 0 50,0 0

Tính chung cho từng giai đoạn

Lợn con tập ăn Sau cai sữa Lợn choai Xuất chuồng

11 11 11 11

0 0 4 2

0 0 36,36 18,18

Tổng chung cho các loại

44

6

13,64

Bảng 4.4. So sánh kết quả phân tích về giá trị dinh dưỡng và công bố trên bao bì theo địa phương lấy mẫu

Nếu mẫu thức ăn phân tích có chỉ tiêu dinh dưỡng nào đó vượt mức công

bố trên bao bì nhưng lại nằm trong quy định về độ dao động phân tích cho phép

thì mẫu thức ăn đó vẫn được coi là đạt tiêu chuẩn về chất lượng và vẫn được

phép lưu hành trên thị trường.

Tiến hành lấy mẫu thức ăn công nghiệp của một số cơ sở cung cấp thức ăn

cho lợn trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội theo phương pháp lấy

mẫu đại diện theo TCVN 4325:2007 để kiểm tra một số chỉ tiêu dinh dưỡng.

Trong khuôn khổ nghiên cứu về dinh dưỡng chỉ tiến hành khảo sát 5 chỉ tiêu (độ

ẩm, protein thô, xơ thô, canxi, photpho).

Kết quả phân tích cho thấy, mẫu lấy ở các xã của các công ty khác nhau đều có sai phạm về một trong năm chỉ tiêu dinh dưỡng phân tích thực tế khi được so sánh với công bố trên bao bì và dựa trên Thông tư số 66/2011/TT-BNNPTNT ngày 10 tháng 10 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT, cũng như

49

Tiêu chuẩn ngành 10TCN 860:2006 Thức ăn chăn nuôi – Độ giao động phân tích cho phép đối với các chỉ tiêu chất lượng, ban hành kèm theo Quyết định số 4099/QĐ/BNN-KHCN ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Các mẫu vi phạm về chỉ tiêu dinh dưỡng chỉ tập trung ở các loại cám dùng cho lợn choai và lợn nuôi giai đoạn cuối trước khi xuất chuồng. Cụ thể, có 6 trên 44 mẫu kiểm tra có một trong năm chỉ tiêu dinh dưỡng phân tích vượt giới hạn giao động cho phép, vi phạm nghị định 08/2011/NĐ-CP, không đáp ứng yêu cầu so với công bố (chiếm 13,64%), trong đó 4 mẫu cám dùng cho lợn choai (15 đến 30 kg) và 2 mẫu cám dùng cho lợn giai đoạn cuối trước khi xuất chuồng.

Trong 22 mẫu cám dùng cho lợn con tập ăn và lợn con giai đoạn sau cai sữa, không có mẫu nào không đạt chỉ tiêu về dinh dưỡng. Có thể do lợn con và lợn con sau cai sữa là hai giai đoạn rất mẫn cảm với thức ăn và điều kiện vệ sinh nên được các các nhà sản xuất chú trọng và sản xuất trong điều kiện giám sát chặt chẽ hơn.

Kết quả nghiên cứu này thấp hơn so với kết quả của Trịnh Khắc Vịnh (2010) khi nghiên cứu về chất lượng TĂCN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa (số mẫu không đạt yêu cầu chiếm tỷ lệ 44,4%). Tương đương kết quả khảo sát chất lượng thức ăn công nghiệp trong chăn nuôi lợn tại tỉnh Hà Nam của Phạm Thị Thu Hà (2011) cho rằng số mẫu không đạt yêu cầu chiếm tỷ lệ 30%. Có sự sai khác này có thể do sự khác nhau về số lượng mẫu, hãng cám, chủng loại,... Hơn nữa, có thể do thời gian qua sự giám sát chặt chẽ hơn cùng với điều kiện của Gia Lâm người chăn nuôi chủ yếu chọn các loại cám của các hãng sản xuất lớn có uy tín.

Chi tiết về các chỉ tiêu liên quan đến dinh dưỡng kiểm tra, các mẫu vi phạm chủ yếu liên quan đến hai chỉ tiêu Protein thô và hàm lượng xơ trong sản phẩm (Bảng 4.5).

+ Không có mẫu nào không đạt tiêu chuẩn về độ ẩm. Qua đánh giá có thể nhận thấy các sản phẩm đều được bao gói bằng bao bì có lớp nilon nên có thể giữ ẩm rất tốt. Trong điều kiện của nước ta, sự đảm bảo độ ẩm rất quan trọng. Nếu độ ẩm quá cao sẽ là điều kiện thuận lợi để cho nấm mốc phát triển, làm giảm giá trị dinh dưỡng của thức ăn, gây bệnh cho gia súc.

+ Protein là thành phần dinh dưỡng quan trọng nhất với chức năng

chính là xây dựng nên cấu trúc cơ thể. Quá trình sống là sự thoái hóa và tân

tạo thường xuyên của protein. Protein trong thức ăn cung cấp các axit amin

nhờ quá trình tiêu hóa và thủy phân. Trong ống tiêu hóa, các axit amin được

50

hấp thu vào máu và đi đến các mô, cơ quan, tham gia vào quá trình sinh tổng

hợp protein của cơ thể, phục vụ cho quá trình sinh trưởng, sinh sản và duy trì

của cơ thể. Do đó, nếu thức ăn không cung cấp đầy đủ nhu cầu protein cho

gia súc sẽ dẫn đến vật nuôi chậm lớn hoặc ngừng tăng trưởng, thậm chí có

thể giảm trọng lượng. Đặc biệt, hàm lượng protein ảnh hưởng rất lớn đến giá

thành thức ăn, nên việc tính toán và tiết kiệm protein để giảm giá thành là rất

có thể xảy ra. Kết quả phân tích cho thấy 3/44 mẫu vi phạm về các chỉ tiêu

dinh dưỡng có hàm lượng protein thô không đáp ứng được quy định về kết

quả phân tích các chỉ tiêu dinh dưỡng so với công bố trên nhãn mác và

ngưỡng tối thiểu công bố trên bao bì.

Cụ thể, ba mẫu KSC1 kết quả phân tích là 17,05% trong khi bao bì công bố

là 18% mẫu VDC1 và VDC4 kết quả phân tích lần lượt là 16,98% và 17,01%

trong khi công bố trên bao bì lần lượt là 18%. Như vậy 3 mẫu có thành phần

Protein thấp hơn so với công bố trên bao bì từ 0,95% đến 1,02%.

+ Chất xơ được xem là thức ăn thô. Xơ là một thành phần không có nhiều

giá trị dinh dưỡng, tuy nhiên xơ lại có vai trò quan trọng trong cấu tạo tế bào, tạo

khuôn phân… Xơ là phần không tiêu hóa được của thực phẩm từ thực vật mà được

đẩy đi ngang qua đường tiêu hóa, hấp thu nước khi di chuyển qua đường ruột. Chất

xơ được tạo thành từ polysaccharides không phải tinh bột, như cellulose, dextrin,

inulin, lignin, chitin, pectin, beta-glucan, sáp và oligosaccharide.

Hàm lượng chất xơ cao sẽ làm giảm hoạt động của một số enzyme,

đặc biệt là lignin liên kết với protein làm giảm khả năng tiêu hóa protein một

cách có ý nghĩa. Sự gia tăng chất xơ đến một mức nào đó sẽ làm giảm khả

năng tiêu hóa thức ăn và có mối tương quan ngược giữa hàm lượng chất xơ

và năng lượng thức ăn. Chất xơ làm giảm tỉ lệ tiêu hóa thức ăn bằng cách

ngăn giữ dưỡng chất bên trong các tế bào tiếp xúc trực tiếp với các men tiêu

hóa của đường ruột.

51

Các chỉ tiêu dinh dưỡng được kiểm tra

Canxi (%)

Phốt pho (%)

TT

mã mẫu

Tham số kỹ thuật phân tích

Độ ẩm (%) (max)

Xơ thô (%) (max)

min

max

min

max

1

KSC1

0,5 0,17 0,33

1,8 0,25 2,05

0,4 0,062 0,338

1,2 0,126 1,326

1,01

0,68

2

KSXC3

Protein thô (%) (min) 18 0,56 ≥17,44 17,05* 16 0,52 ≥15,48

0,5 0,17 0,33

1,8 0,25 2,05

0,4 0,062 0,338

1,4 0,142 1,542

1,05

0,82

3

DQC2

0,6 0,176 0,424

1,2 0,21 1,41

0,4 0,062 0,338

0,9 0,102 1,002

1,03

0,75

4

DQXC4

0,5 0,17 0,33

1,8 0,25 2,05

0,4 0,062 0,338

1,4 0,142 1,542

1,24

0,91

5

VDC1

0,5 0,17 0,33

1,8 0,25 2,05

0,4 0,062 0,338

1,2 0,126 1,326

1,13

0,75

6

VDC4

0,5 0,17 0,33

1,8 0,25 2,05

0,4 0,062 0,338

1,2 0,126 1,326

Công bố trên nhãn mác Độ giao động phân tích cho phép Giới hạn cho phép Kết quả phân tích Công bố trên nhãn mác Độ giao động phân tích cho phép Giới hạn cho phép Kết quả phân tích Công bố trên nhãn mác Độ giao động phân tích cho phép Giới hạn cho phép Kết quả phân tích Công bố trên nhãn mác Độ giao động phân tích cho phép Giới hạn cho phép Kết quả phân tích Công bố trên nhãn mác Độ giao động phân tích cho phép Giới hạn cho phép Kết quả phân tích Công bố trên nhãn mác Độ giao động phân tích cho phép Giới hạn cho phép Kết quả phân tích

16,01 20 0,6 19,4 19,98 16 0,52 ≥15,48 16,11 18 0,56 ≥17,44 16,98* 18 0,56 ≥17,44 17,01*

14 1,4 ≤15,4 12,4 14 1,4 ≤15,4 13,12 14 1,4 15,4 12,84 14 1,4 ≤15,4 12,92 14 1,4 ≤15,4 12,92 14 1,4 15,4 12,08

6 0,66 ≤6,66 5,54 9 0,84 ≤9,84 10,12* 5 0,6 5,6 6,25** 9 0,84 ≤9,84 10,07** 6 0,66 ≤6,66 7,25** 6 0,66 ≤6,66 6,24

1,14

0,69

Chú thích: * : Thiếu so với ngưỡng tối thiểu công bố trên bao bì và **: Thừa so với ngưỡng tối đa công bố trên bao bì (Theo qui định 10TCN 860:2006 và Nghị định 08/2011/NĐ- CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính về thức ăn chăn nuôi)

Bảng 4.5. Kết quả phân tích mẫu sai phạm liên quan đến một số chỉ tiêu dinh dưỡng quan tâm

52

Kết quả của Bảng 4.5 cho thấy các mẫu phân tích có 4 mẫu không đạt yêu

cầu về chỉ tiêu xơ thô. Cụ thể mẫu KSXC3, DQC2,DQXC4, VDC1 có giá trị

hàm lượng xơ cao hơn so với thực tế ghi trên nhãn mác bao bì từ 1,07%-1,25%.

+ Chỉ tiêu Ca và Photpho:

Ca là thành phần cấu tạo xương, răng; tham gia điều hòa quá trình đông

máu và giảm tính kích thích thần kinh cơ. Qua các thử nghiệm trên động vật cũng

như quan sát trên người, người ta nhận thấy khẩu phần canxi thấp có thể không

hạn chế sự phát triển chiều dài hay bề rộng của xương. Tuy nhiên, điều này sẽ

dẫn đến kết quả vỏ xương mỏng và ít hơn, độ đậm chất khoáng trong xương giảm

đi, khiến xương giòn và dễ gãy.

Còn P là thành phần của một số men quan trọng tham gia chuyển hóa protein,

lipit, gluxit, hô hấp tế bào và mô, cơ và thần kinh. Để đốt cháy các chất hữu cơ trong

cơ thể mọi phân tử hữu cơ đều phải qua giai đoạn liên kết với photpho (ATP).

Photpho là thành phần quan trọng của thức ăn gia súc, nó rất cần thiết cho sự phát

triển khỏe mạnh, tốc độ cứng của xương và tác động tốt đến các quá trình trao đổi

chất, duy trì độ PH tương đối hằng định của nội mô.

Theo quy định về kết quả phân tích các chỉ tiêu dinh dưỡng so với công bố

trên NMBB theo Thông tư số 66/2011/TT-BNNPTNT ngày 10 tháng 10 năm

2011, cũng như Tiêu chuẩn ngành 10TCN 860:2006 Thức ăn chăn nuôi – Độ

giao động phân tích cho phép đối với các chỉ tiêu chất lượng, ban hành kèm theo

Quyết định số 4099/QĐ/BNN-KHCN ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kết quả nghiên cứu này không phát hiện

mẫu vi phạm về Ca và P.

Như vậy, dựa trên TCVN 1525:2001, quy định về kết quả phân tích các chỉ

tiêu dinh dưỡng so với công bố trên NMBB và độ giao động phân tích cho phép

đối với các chỉ tiêu chất lượng có 6 mẫu không đạt yêu cầu về chất lượng, chủ

yếu tập trung vào hai chỉ tiêu Protein và xơ thô.

4.4. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH MỘT SỐ CHỈ TIÊU VI SINH VẬT, NẤM MỐC VÀ KIM LOẠI NẶNG VÀ KHÁNG SINH TRONG THỨC ĂN CÔNG NGHIỆP DÙNG TRONG CHĂN NUÔI LỢN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM

4.4.1. Kết quả phân tích một số chỉ tiêu vi sinh vật và độc tố nấm mốc

Vi sinh vật có kích thước rất nhỏ mà mắt thường không thể nhìn thấy

53

được, chỉ có thể quan sát chúng bằng kính hiển vi. Vi sinh vật gồm rất nhiều

nhóm khác nhau: virus, vi khuẩn, nấm men, nấm mốc…có thể có ích hoặc có

hại cho môi trường và động vật và nếu sinh độc tố có thể tồn dư vào sản phẩm

chăn nuôi sẽ ảnh hưởng đến cả người tiêu dùng. Vì thế nếu hàm lượng vi sinh

vật tồn tại trong thức ăn chăn nuôi vượt ngưỡng cho phép sẽ có hại, thậm chí

gây bệnh cho con vật.

So với qui định trong quy chuẩn quốc gia QCVN 01-12:2009/BNNPTNT

về hàm lượng vi sinh vật và độc tố nấm mốc cho phép trong thức ăn chăn nuôi,

kết quả phân tích mẫu cho thấy, trong số 20 mẫu kiểm tra có 3 mẫu có hàm lượng

vi sinh vật hoặc độc tố nấm mốc vượt quá tiêu chuẩn cho phép (chiếm 15,00 %).

Tỷ lệ

Địa điểm lấy mẫu

Số mẫu kiểm tra (mẫu)

Số mẫu vi phạm (mẫu)

(%)

Xã Kim Sơn

4

01

25,00

Xã Dương Quang

02

25,00

8

Xã Văn Đức

8

0

0

Tổng cộng

20

03

15,00

Bảng 4.6. Tỷ lệ mẫu vi phạm về một số chỉ tiêu vi sinh vật và độc tố nấm mốc

Trong số 3 mẫu không đạt tiêu chuẩn về chỉ tiêu vi sinh, có 2 mẫu có số

lượng vi sinh vật (chiếm 10,00 % số mẫu kiểm tra) và 1 mẫu nhiễm độc tố nấm

mốc với hàm lượng Aflatoxin B1 vượt quá hàm lượng cho phép) (chiếm 5,00%

số mẫu kiểm tra).

Cụ thể, tại Kim Sơn phát hiện 1 mẫu thức ăn cho lợn giai đoạn cuối trước

khi xuất chuồng ( KSXC 1) có hàm lượng độc tố nấm mốc aflatoxin là 57,71 ppb

cao hơn so với qui định 7,71 ppb. Tại Dương Quang phát hiện 02 mẫu vi phạm

về chỉ số vi khuẩn hiếu khí tổng số. Cụ thể, mẫu DQC2 (thức ăn dành cho lợn

choai từ 15 đến 30 kg) và mẫu DQXC7 (thức ăn dành cho lợn giai đoạn cuối trước khi xuất chuồng ) có hàm lượng vi sinh lần lượt là 1,15 x 106 và 1,61 x 106 vi khuẩn. Không có mẫu nào nhiễm E.coli và Salmonella.

54

Tổng số vi khuẩn (CFU/g)

Nấm mốc (ppb)

Ký hiệu

E.coli

Salmonella

Aflatoxin B1

Không có

QCVN01-12 : 2009/BNNPTNT

VK hiếu khí tổng số ≤105 (lợn con <60 ngày tuổi) và ≤106 (nhóm khác)

Không có trong 25g mẫu

≤10 (lợn con <28 ngày tuổi) và ≤50 (nhóm khác)

≤105

KPH

KPH

57,71

1,15x106

KPH

KPH

KPH

1,61 x 106

KPH

KPH

KPH

Mẫu KSXCS1 (thức ăn lợn giai đoạn cuối xuất chuồng) Mẫu DQC2 (thức ăn lợn choai) Mẫu DQXC7 (thức ăn giai đoạn cuối xuất chuồng)

Bảng 4.7. Kết quả phân tích về vi sinh vật và độc tố nấm mốc

Tại tỉnh Thanh Hóa được sự tài trợ của Ngân hàng thế giới (WB), Dự án

Cạnh tranh ngành chăn nuôi và ATTP tỉnh Thanh Hóa từ năm 2012 đến năm

2015 đã phối hợp với Trung tâm kiểm nghiệm và Chứng nhận chất lượng nông,

lâm, thủy sản Thanh Hóa và các Phòng phân tích thức ăn do Cục Chăn nuôi chỉ

định tiến hành giám sát 5 đợt và lấy 120 mẫu thức ăn tại các cửa hàng đại lý và hộ

chăn nuôi áp dụng quy trình thực hành chăn nuôi tốt (GAHP) của 5 vùng chăn

nuôi ưu tiên thuộc các huyện Hoằng Hóa, Quảng Xương, Triệu Sơn, Thọ Xuân và

Yên Định để phân tích các chỉ tiêu về chất lượng, độ ẩm, độc tố nấm mốc,tồn dư

kháng sinh, vi sinh vật và kim loại nặng đặc biệt là các chất cấm như: Salbutamol,

Clenbuterol, Ractopamine.

Salmonella, colifom tổng số: Kết quả thu được không phát hiện thấy các nhóm vi sinh

Các chỉ tiêu nhóm vi sinh vật gây hại trong mẫu thức ăn chăn nuôi (gồm: E.coli,

vật Salmonella, colifom tổng số trong mẫu thử nghiệm; 01/125 mẫu phát hiện E.coli

tại các hộ trang trại trong đợt giám sát năm 2012, trong các đợt giám sát của các

năm tiếp theo không phát hiện có E.coli điều này có thể cho thấy qua các cảnh báo

của chương trình các hộ gia đình đã chấp hành tốt việc bảo quản mẫu; các hộ chăn

nuôi và đại lý đều bảo quản thức ăn đúng quy định do đó đã tránh được tình trạng

lây nhiễm các vi sinh vật độc hại từ môi trường vào thức ăn chăn nuôi.

55

- Nhóm chỉ tiêu độc tố nấm mốc (Aflatoxin tổng số, Aflatoxin B1): có 72/125

mẫu thử nghiệm phát hiện có Aflatoxin tổng số và 73/125 mẫu thử nghiệm phát

hiện có Aflatoxin B1, trong đó chỉ tiêu Aflatoxin tổng số cao nhất là 47,0 µg/kg

và Aflatoxin B1 cao nhất là 27,0 µg/kg nhưng tất cả đều nằm dưới ngưỡng tối đa

cho phép. So với các đợt giám sát trước kết quả về hàm lượng Aflatoxin tổng số

và Aflatoxin B1 trong các mẫu năm 2015 thấp hơn hàm lượng Aflatoxin tổng số

số cao nhất là 17µg/kg) và giảm đáng kể so với 03 đợt giám sát trước đó (năm

2012 và 02 đợt năm 2013). Như vậy có thể nói các đơn vị sản xuất thức ăn chăn

và Aflatoxin B1 trong mẫu giám sát năm 2014 (năm 2014 hàm lượng Aflatoxin tổng

nuôi đã chú trọng hơn đến khâu lựa chọn nguyên liệu, đã hạn chế được các

nguyên liệu kém chất lượng khi đưa vào sản xuất. Hàm lượng Aflatoxin thấp sẽ

làm chất lượng thức ăn tốt hơn; vật nuôi hấp thụ tốt các chất dinh dưỡng hơn từ

đó giúp vật nuôi phát triển tốt, tăng sức đề kháng.

4.4.2. Kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng

Trong 20 mẫu phân tích có 2 mẫu nhiễm kim loại nặng vượt quá quy định cho phép (chiếm 10%). Trong đó, 1 mẫu (KSC10 dùng cho lợn choai giai đoạn 15-30 kg) nhiễm Asen ở nồng độ gấp 3 lần giá trị cho phép (6ppb/2ppb) và 1 mẫu

(VDXC10) nhiễm chì ở nồng độ ở nồng độ 6,15 ppb vượt qui định TCVN (5 ppb).

Địa điểm lấy mẫu

Số mẫu kiểm tra (mẫu)

Số mẫu vi phạm (mẫu)

Tỷ lệ (%)

Xã Kim Sơn

4

25,0

01

Xã Dương Quang

8

0

0

Xã Văn Đức

8

12,50

01

Tổng cộng

20

10,0

02

Bảng 4.8. Kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng

Sự tồn dư kim loại nặng trong thịt lợn có thể do nguồn nguyên liệu chế biến thức ăn hoặc nguồn nước chăn nuôi bị ô nhiễm. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tài Lương (1999) khi phân tích kiểm tra kim loại nặng trong các mẫu thức ăn gia

súc trên thị trường đã phát hiện 15 mẫu nhiễm.

56

Theo Phạm Văn Tự và Vũ Duy Giảng (1996) chính sự ô nhiễm kim loại nặng thuốc bảo vệ thực vật trong đất, nước không khí sẽ theo chu trình của chuỗi thức ăn. Khi hàm lượng kim loại nặng cao trong đất, nước và không khí sẽ di chuyển vào sản phẩm nông nghiệp, được chế biến thành thức ăn cho người và gia súc. Khi người tiêu dùng sử dụng thức ăn có dư lượng kim loại nặng sẽ tích lũy ở hầu hết các mô bào trong cơ thể.

Việc phát hiện mẫu thức ăn có chứa asen có thể là do nhà sản xuất sử dụng

các hợp chất chứa asen hưu cơ.

4.4.3. Kết quả phân tích hàm lượng kháng sinh

Trong chăn nuôi, kháng sinh đóng vai trò quan trọng trong phòng trị bệnh,

kích thích tăng trưởng, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn cho gia súc, gia cầm. Tuy

nhiên, việc lạm dụng và sử dụng bất hợp pháp kháng sinh trong chăn nuôi đang

là vấn đề được dư luận và xã hội quan tâm. Không chỉ liên quan đến vấn đề an

toàn thực phẩm mà còn là vấn đề liên quan đến kháng kháng sinh.

Bảng 4.9. Tỷ lệ mẫu vi phạm về hàm lượng một số loại kháng sinh

Địa điểm lấy mẫu

Số mẫu kiểm tra (mẫu)

Số mẫu có sử dụng kháng sinh (mẫu)

Số mẫu có hàm lượng kháng sinh vượt qui định

Tỷ lệ trên tổng số mẫu kiểm tra (%)

Xã Kim Sơn

4

2

1

25,00

Xã Dương Quang

8

4

3

37,50

Xã Văn Đức

8

5

2

25,50

Tổng cộng

20

11

6

30,00

được phân tích

Kháng sinh tích lũy trong sản phẩm chăn nuôi không những gây độc mà

có thể gây dị ứng cho người tiêu dùng, dư lượng kháng sinh trong sản phẩm

chăn nuôi còn là rào cản xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam. Điều đáng

lo ngại là việc sử dụng kháng sinh phổ biến và không đúng cách trong chăn

nuôi thú y đã dẫn đến sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn và nguy hiểm

57

hơn là khả năng truyền gen đề kháng kháng sinh cho vi khuẩn gây bệnh ở

người cũng như vi khuẩn trong môi trường, ảnh hưởng đến việc sử dụng

thuốc điều trị cho người và vật nuôi. Do đó, hiện nay trên thế giới nói chung

và Việt Nam nói riêng, đã và đang tìm cách giảm sử dụng kháng sinh trên

gia súc, gia cầm và dần dần thay thế bằng dược thảo thân thiện với môi

trường, phát triển sản xuất theo hướng an toàn. Mặc dù rất nhiều nước trên

Thế giới đã cấm sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi nói chung và

chăn nuôi lợn nói riêng nhưng ở Việt Nam vẫn cho phép sử dụng một số loại

kháng sinh có qui nồng độ giới hạn tối đa (QCVN 01-12:2009/BNNPTNT).

Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chỉ quan tâm đến ba loại kháng sinh được

sử dụng phổ biến là nhóm Tetracycline, Colistin và Tylosin được phép sử dụng

và Chloramphenicol (kháng sinh cấm) cho thấy các mẫu thức ăn hỗn hợp trên địa

bàn huyện có hàm lượng kháng sinh vượt mức cho phép (so với QCVN 01-

12:2009/BNNPTNT) chiếm tỷ lệ rất cao (54,00%). Cụ thể trong 3 xã lấy mẫu

đều có mẫu chứa dư lượng kháng sinh vượt quá giới hạn cho phép.

Qua đây, nhận thấy sự quản lý của các cơ quan chức năng về VSATTP của

huyện vẫn chưa được chặt chẽ, khắt khe, việc phối hợp giữa cơ quan chuyên môn

cấp huyện với các ngành chức năng còn thiếu đồng bộ và không thường xuyên

nên vẫn còn một số loại thức ăn chăn nuôi hỗn hợp còn tình trạng có hàm lượng

kháng sinh vượt mức cho phép được bán trên địa bàn huyện.

Bảng 4.10 cho thấy có nhiều loại mẫu cám có hàm lượng kháng sinh đã

vượt quá ngưỡng cho phép (so với QCVN 01-12:2009/BNNPTNT) được sử dụng

trong chăn nuôi. Đối với mẫu KSTA3, DQTA4 có hàm lượng Colistin vượt mức

cho phép đặc biệt mẫu VDC6, hàm lượng Colistin phân tích được là 151,2 µg/kg

(mức cho phép là 50 µg/kg định lượng theo AOAC 995.09).Đối với mẫu

DQSCS5 tuy không phát hiện ra hàm lượng Oxytetracyline, Chloramphenicol

nhưng hàm lượng Chlotetracyline, Tylosin lại vượt hàm lượng cho phép (định

lượng theo AOAC 962.26) rất nhiều (Chlotetracyline: 102/50 µg/kg; Tylosin:

81/40µg/kg). Mẫu VDXC8 chỉ vi phạm về hàm lượng Tylosin 79,4/40µg/kg).

Không có mẫu nào sử dụng Chloramphenicol.

58

Ký hiệu/QC (loại thức ăn)

Hàm lượng kháng sinh trong mẫu (mg/kg) Colistin Oxytetracylin Chlotetracylin Tylosin Chloramphenicol

120

50

40

Cấm

50 (chỉ dùng lợn con)

138

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

Vết

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

Vết

74

KPH

147

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

102

81

KPH

KPH

Vết

KPH

38,4

KPH

KPH

45,7

KPH

KPH

KPH

KPH

Vết

KPH

KPH

KPH

98,5

KPH

Vết

KPH

KPH

151,2

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

Vết

79,4

KPH

QCVN01-12 : 2009/BNNPTNT KSTA3 (thức ăn tập ăn) KSSCS (thức ăn lợn con sau cai sữa) DQTA2 (thức ăn lợn con tập ăn) DQTA4 (thức ăn lợn con sau cai sữa) DQSCS 5 (thức ăn lợn thịt) DQC8 (Thức ăn lợn choai) VDTA1 (thức ăn lợn con tập ăn) VDSCS3 (thức ăn lợn con sau cai sữa) VDSCS4 (thức ăn lợn con sau cai sữa) VDC6 (thức ăn lợn choai) VDXC8 (thức ăn lợn con tập ăn)

Chú thích: KPH: không phát hiện

Bảng 4.10. Kết quả phân tích một số kháng sinh thức ăn chăn nuôi lợn

4.4.4. Kết quả phân tích hormone Clenbuteron và Salbutamol trong thức ăn chăn nuôi lợn

Hormone nhóm β-agonist là nhóm được dư luận đặc biệt quan tâm trong thời gian gần đây. Cũng như nhiều nước trên khác thế giới tháng 06 năm 2002, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đã có văn bản chính thức cấm sử dụng các hoạt chất thuộc nhóm β-agonists trong chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2002). Tuy nhiên, từ đó đến nay vẫn có hiện tượng sử dụng bất hợp pháp. Đỉnh điểm là những năm gần đây và đặc biệt là giai đoạn cuối 2015 vầu năm 2016. Chính vì vậy, đã có nhiều văn bản hướng dẫn giám sát sử dụng, đặc biệt thông tư số 57/2012/TT-BNNPTNT quy định việc kiểm tra, giám sát và sử lý vi phạm các

59

chất cấm thuộc nhóm Beta-agonist trong chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2012). Nhưng vì lợi nhuận trước mắt, người chăn nuôi vẫn đã và đang sử dụng gây nên những mối nguy hại cho sức khoẻ cộng đồng và xã hội. Ví dụ, với loại lợn siêu nạc giống tốt nhất trong nước hiện nay, người dân phải mất 5 tháng mới đạt trọng lượng 95-100 kg/con nhưng cho thêm 1 thìa cà phê thần dược Beta-Agonist vào thức (cho 10 con lợn loại 70-80 kg/con), thời gian xuất chuồng rút ngắn chỉ

còn ba tháng (Phạm Nho và Huỳnh Hồng Quang, 2012).

Do nhóm beta agonist ở nước ta thường là Salbutamol và Clenbuterol nên

trong khuôn khổ nghiên cứu này đã bước đầu tập trung phân tích kiểm tra hai

hormone này trong thức ăn chăn nuôi lợn. Trong khi, kết quả các khảo sát những

năm gần đây cho thấy việc sử dụng hai loại hormone này vẫn diễn ra thì kết quả

phân tích 10 mẫu thức ăn chăn nuôi lấy từ các cơ sở kinh doanh và tại máng ăn

lợn trong nghiên cứu này đều không phát hiện mẫu nào nhiễm một trong hai loại

hormone được kiểm tra.

Theo Nguyễn Đức Cường (2011) tình hình chất cấm bị các doanh nghiệp

lạm dụng trộn lẫn vào TĂCN để thu lời bất chính không thuyên giảm mà còn

tăng lên tới 17%. Mặc dù Chính phủ đã ban hành Nghị định số 08/2010/NĐ-CP

về quản lý TĂCN, trong đó quy định rõ trách nhiệm của người sản xuất và kinh

doanh TĂCN, sau đó Bộ NN-PTNT ban hành Thông tư số 57/2012/TT-

BNNPTNT quy định việc kiểm tra, giám sát và sử lý vi phạm các chất cấm thuộc

nhóm Beta-agonist trong chăn nuôi thế nhưng việc thực thi Nghị định và Thông

tư trên còn rất hạn chế.

Ở Đồng Nai, ngày 12/3/2011, Đội Quản lý thị trường cơ động (thuộc Chi

cục Quản lý thị trường Đồng Nai) kiểm tra đột xuất Công ty TNHH Nhân Lộc,

tại xã Bình Lợi, huyện Vĩnh Cửu (Đồng Nai) và phát hiện gần 2,5 tấn chất tăng

trưởng và tạo nạc trong chăn nuôi lợn. Lượng hàng này được chứa 110 bao

nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, loại có trọng lượng 20kg, có nhãn mác HT04,

HT02, ghi công dụng tạo nạc, tạo màu nạc đỏ, giảm mỡ lưng, tăng tiết hormone

tăng trưởng, cải thiện tăng trọng, giảm tiêu tốn thức ăn cho lợn.

Như vậy, mặc dù các nghiên cứu khác có phát hiện beta-Agonist trong thức ăn chăn nuôi lợn nhưng kết quả nghiên cứu này không có mẫu thức ăn nào chứa hormone Salbutamol và Clenbuteron. Kết quả này phù hợp với báo cáo

giám sát của thành phố Hà Nội trong thời gian gần đây.

60

Theo đó, kết quả kiểm tra nhanh, lấy mẫu mẫu kiểm tra giám sát chất cấm

trước Tết Nguyên đán từ 2/2/2016 đến ngày 5/2, cụ thể: Kiểm tra chất cấm bằng

Test nhanh clenbutarol, salbutanol tại các cơ sở giết mổ, cơ sở chăn nuôi tập

trung là 3 buổi; hình thức kiểm tra lấy mẫu nước tiểu kiểm tra, phát hiện hai chất

salbutamol và Clenbuterol; các cơ sở giết mổ được kiểm tra gồm Vạn Phúc

(Thanh Trì), La Phù (Hoài Đức); các cơ sở chăn nuôi được kiểm tra gồm khu

chăn nuôi tập trung xã Cấn Hữu (Quốc Oai); kết quả kiểm tra đều âm tính.

Tương tự, Chi cục đã lấy mẫu thịt kiểm tra chất cấm tại một số chợ đầu

mối kinh doanh sản phẩm động vật. Qua kiểm tra 16 mẫu thịt lợn tại 3 chợ đầu

mối kinh doanh sản phẩm động vật (Chợ Đền Lừ, Chợ Phùng Khoang, Chợ Minh

Khai, Chợ Thanh Xuân Bắc) gửi Trung tâm Kiểm tra vệ sinh thú y trung ương I

để xét nghiệm chất cấm (clenbutarol, salbutanol) bằng phương pháp định lượng.

Kết quả kiểm tra, giám sát, không phát hiện chất cấm (clenbutaroi, salbutanol)

trên 16 mẫu thịt lợn.

Kết quả kiểm tra chất cấm sau Tết Nguyên đán từ ngày 18/2/2016 đến

ngày 25/2/2016, cụ thể: Kiểm tra chất cấm bằng Test nhanh clsnbutaroi,

salbutanol tại các cơ sở giết mổ tập trung gồm 4 buổi tại 4 cơ sở giết mổ lợn tập

trung; hình thức kiểm tra định kỳ bằng cách lấy mẫu nước tiểu kiểm tra nhằm

phát hiện chất salbutamol và clenbuterol; các cơ sở giết mổ được kiểm tra Vạn

Phúc (Thanh Trì), Vinh Anh (Thường Tín) Hữu Văn (Chương Mỹ) và Tân Hội

(Đan Phượng); kết quả đều âm tính.

Ngoài ra, Chi cục Thú y lấy mẫu thịt kiểm tra chất cấm tại các chợ đầu

mối kinh doanh sản phẩm động vật. Qua kiểm tra 20 mẫu thịt lợn tại 5 chợ kinh

doanh sản phẩm động vật gửi Trung tâm Kiểm tra vệ sinh thú y Trung ương I để

xét nghiệm chất cấm bằng phương pháp định lượng. Kết quả kiểm tra, giám sát,

không phát hiện chất cấm trên 20 mẫu thịt lợn.

61

PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. KẾT LUẬN

- Tỷ lệ mẫu thức ăn chăn nuôi không đạt yêu cầu tương đối cao không chỉ không đạt các chỉ tiêu dinh dưỡng, một số mẫu còn ô nhiễm vi sinh, kim loại và hàm lượng kháng sinh vượt giới hạn cho phép. Cụ thể 6/44 mẫu (13,63%) không đạt yêu cầu về chỉ tiêu liên quan đến dinh dưỡng (chủ yếu liên quan đến hai chỉ tiêu Protein và xơ thô của cám lợn dùng cho lợn choai và lợn thịt giai đoạn cuối xuất chuồng). Ba mẫu ô nhiễm vi sinh vượt giới hạn, trong đó 2 mẫu vượt giới hạn vi sinh tổng số và một mẫu nhiễm độc tố nấm mốc. Đặc biệt, có 6/11 mẫu (54,5%) có chứa một trong 5 kháng sinh vượt giới hạn qui định. Không phát hiện Chloramphenicol (kháng sinh cấm) và hormone Salbutamol và Clenbuteron

(hormone cấm).

5.2. KIẾN NGHỊ

- Thực hiện tốt các giải pháp về công tác quản lý của các cấp quản lý, các cơ sở sản xuất và tại các đại lý để đảm bảo chất lượng TĂCN sản xuất, tiêu thụ

trên địa bàn huyện.

- Tiếp tục thực hiện nghiên cứu trên với quy mô rộng hơn. Khảo sát các loại kháng sinh có trong TĂCN từ nơi sản xuất tới nơi sử dụng để đánh giá được tình hình sử dụng kháng sinh, chất cấm trong thức ăn chăn nuôi xác thực

hơn để từ đó đưa đó đưa ra các biện pháp kiểm soát chất lượng thức ăn tốt hơn.

62

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt:

1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2002). Thông tư 57/2012/TT- BNN&PTNT ngày 07 tháng 11 năm 2012 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn về quy định việc kiểm tra, giám sát các chất thuộc nhóm Beta-agonist trong chăn nuôi.

2. Bùi Quang Tuấn (2010). Bài giảng Thức ăn chăn nuôi. Trường Đại học nông nghiệp

I. Hà Nội.

3. Bùi Thị Phương Hòa (2008). Thực trạng công tác vệ sinh an toàn thực phẩm trong ngành chăn nuôi thú y và giải pháp khắc phục, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập15 (2). tr XV, số 2-2008. tr. 293-299.

4. Bùi Thị Tho ( 2003). Giáo trình thuốc kháng sinh và nguyên tắc sử dụng trong chăn nuôi

.Trường Đại học nông nghiệp I. Hà Nội.

5. Chính Phủ (2010), Nghị định số 08/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 02 năm 2010 của

Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi. Hà Nội.

6. Denixov N.I (1971). Sản xuất và sử dụng thức ăn hỗn hợp cho gia súc, Nhà xuất

bản Khoa học và kỹ thuật,. Hà Nội.

7. Dương Thanh Liêm (2003). “Ảnh hưởng của thời gian và cách bảo quản đến chất lượng một số nguyên liệu thức ăn cơ bản của gia súc, gia cầm.”, Tập san Thức ăn chăn nuôi., Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam, Hà Nội. tr.14-17.

8. Dương Thanh Liêm, Bùi Huy Như Phúc và, Dương Duy Đồng (2005). Thức ăn và

dinh dưỡng động vật, Nhà xuất bản Nông nghiệp,. Hà Nội.

9. Đào Văn Huyên (1995). Chế biến thức ăn hỗn hợp cho gia súc, gia cầm, Nhà xuất

bản Nông nghiệp. Hà Nội. tr. 4-170.

10. Đậu Ngọc Hào (1996). “Sử dụng kháng sinh bổ sung trong thức ăn chăn nuôi.”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y tập 12 số 3 năm 1996, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr 35-39

11. Lê Đức Ngoan, Nguyễn Thị Hoa Lý và, Dư Thị Thanh Hằng (2004). Giáo trình thức

ăn gia súc, Trường đại học Nông Lâm Huế.

12. Lê Hồng Mận và, Bùi Đức Lũng (2003),. Thức ăn và nuôi dưỡng lợn. Nhà xuất bản

Nông nghiệp Hà Nội.

13. Lê Quốc Thịnh ( 2012). Hiểu thêm về chất cấm trong chăn nuôi, truy cập ngày tại http://suckhoedoisong.vn/20123210243p44c116/hieu-them-ve-

từ

21/1/2013 thuoc-bi-cam-trong-chan-nuoi.htm.

63

14. Lê Tấn Lam Anh ( 2012). Kinh hoàng thịt lợn tạo nạc bằng Clenbuterol. Truy cập ngày 13/12/2012 tại ừ http://vnxpress.net/gl/ban-doc-viet/2013/kinh- hoang-thit- lon-tao-nac-bang-clenbuterol.

15. Lê Thanh Hà ( 2006). Dùng clenbuterol để tăng trọng heo, bò, gà: thịt chín thuốc

vẫn còn, Truy cập ngày 22/4/2013 tại từ http://www.vcn.vnn.vn

16. Lê Thị Ngọc Diệp ( 2003). Một số kết quả khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh

trong chăn nuôi gà và tồn dư kháng sinh trong thịt trứng gà trên địa bàn Hà Nội.

17. Nghị định của chính phủ số 15-CP ngày 19 tháng 3 năm 1996 về việc quản lý thức

ăn chăn nuôi.

18. Nghị định số 08/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 02 năm 2010 của chính phủ về quản lý

thức ăn chăn nuôi. Hà Nội.

19. Nghị định số 08/2011/NĐ-CP ngày 25/01/2011 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính về thức ăn chăn nuôi và ngưỡng tối thiểu công bố trên bao bì.

20. Nguyễn Chí Hanh (1996). Nghiên cứu đánh giá chất lượng phần nguyên liệu thức ăn

gia súc., Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp.

21. Nguyễn Đức Cường ( 2011). 17% mẫu TĂCN heo chứa Salbutamol., Báo nông

nghiệp Việt nam. 23/06/2011.

22. Nguyễn Hữu Hồng, Lê Đăng Hà, Phạm Văn Ca, Lê Văn Phụng và cộng sự (1996). “Tình hình kháng sinh ở Việt Nam năm 1996.”, Một số công trình nghiên cứu về độ nhạy cảm của vi khuẩn đối với thuốc kháng sinh 1996, Nxb Y học. Hà Nội. tr. 4-23.

23. Nguyễn Thiện, Trần Đinh Miên, Võ Trọng Hốt (2005). Con lợn Việt Nam. Nhà xuất

bản Nông nghiệp. Hà Nội.

24. Phạm Kim Đăng, Nguyễn Tú Nam, Bùi Thị Tho, Phạm Hồng Ngân ( 2012). Điều tra tình hình sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi gà ở Hải Phòng. Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y. Hội thú y Việt Nam. 09 Vol.XIX, No.(5). tr. 92-98.

25. Phạm Nho và Huỳnh Hồng Quang ( 2012). Beta-agonist: Ứng dụng và nguy cơ ảnh

hưởng đến sức khỏe con người, Truy cập tại từ http://www.impe-pn.org.vn.

26. Phạm Thị Kiều Nga ( 2008). Bước đầu khảo sát dư lượng Dexamethasome và Clenbuterol trong thịt bò, heo, gà tại TP.HCM, Luận văn Đại học Nông lâm TP.HCM.

27. Phạm Thị Thu Hà (2011). Đánh giá tình hình sử dụng và chất lượng thức ăn công nghiệp trong chăn nuôi lợn tại tỉnh Hà Nam. Luận văn thạc sĩ Nông nghiệp. Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.

28. Phòng Kinh tế Huyện Gia Lâm (2013). Báo cáo tổng kết về tình hình chăn nuôi năm

2012 và 6 tháng đầu năm 2013.

64

29. Phòng Nông nghiệp huyện Gia Lâm (2012). Báo cáo tổng kết tình hình chăn nuôi

trên địa bàn huyện Gia Lâm giai đoạn 2007-2012.

30. QCVN 01 - 12: 2009/BNNPTNT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thức ăn chăn nuôi – hàm lượng kháng sinh, hóa dược, vi sinh vật và kim loại nặng tối đa cho phép trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho lợn.

31. Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 01-104:2012/BNNPTNT về khảo nghiệm, kiểm

định thức ăn chăn nuôi lợn do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành.

32. Quy chuẩn quốc gia QCVN 01-12:2009. Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia thức ăn chăn nuôi- hàm lượng kháng sinh, hóa dược, vi sinh vật và kim loại nặng tối đa cho phép trong thức ăn hỗ hợp hoàn chỉnh cho lợn.

33. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội, Báo cáo tổng kết về tình hình chăn

nuôi năm 2013 và 6 tháng đầu năm 2014.

34. TCVN 6952:2001 (ISO 14718:1998). Thức ăn chăn nuôi - Chuẩn bị mẫu.

35. TCVN 8544: 2010 (AOAC 995.09). Thức ăn chăn nuôi – Xác định hàm lượng Clotetracyclin, Oxytetracyclin và Tetracyclin bằng phương pháp sắc kí lỏng hiệu năng cao.

36. Tiêu chuẩn ngành 10TCN 860:2006 .Thức ăn chăn nuôi – Độ giao động phân tích cho phép đối với các chỉ tiêu chất lượng, ban hành kèm theo Quyết định số 4099/QĐ/BNN-KHCN ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

37. Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 1525: 2001. Thức ăn chăn nuôi. Xác định hàm lương

phopho. Phương pháp quang phổ.

38. Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 4326: 2001. Thức ăn chăn nuôi. Xác định độ ẩm và

hàm lượng chất bay hơi khác.

39. Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 6953:2001. Thức ăn chăn nuôi – Xác định hàm lượng Aflatoxin B1 trong thức ăn hỗn hợp – Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao.

40. Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8129 : 2009 ISO 18593: 2004 .Vi sinh vật trong thực phẩm và thức ăn chăn nuôi – Phương pháp lấy mẫu bề mặt sử dụng đĩa tiếp xúc và lau bề mặt.

41. Tiêu chuẩn Việt Nam (2005), Tiêu chuẩn Việt Nam về thức ăn chăn nuôi, Tổng cục

Tiêu chuẩn đo lường chất lượng.

42. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1526-1:2007 về thức ăn chăn nuôi - xác định hàm

lượng canxi - phần 1: phương pháp chuẩn độ.

43. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4327:2007 về thức ăn chăn nuôi - xác định tro thô.

44. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4328-1:2007 về thức ăn chăn nuôi - xác định hàm

lượng nitơ và tính hàm lượng protein thô - Phần 1: Phương pháp Kjeldahl.

65

45. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4329:2007 về thức ăn chăn nuôi - xác định hàm lượng

xơ thô - phương pháp có lọc trung gian.

46. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4829: 2005 (ISO 6579: 2002). Vi sinh vật trong thực

phẩm và thức ăn chăn nuôi. Phương pháp phát hiện salmonella trên đĩa thạch.

47. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5165-90. Sản phẩm thực phẩm. Phương pháp xác định

tổng số vi khuẩn hiếu khí.

48. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6846:2007 về Vi sinh vật trong thực phẩm và thức ăn chăn nuôi - Phương pháp phát hiện và định lượng Escherichia coli giả định - Kỹ thuật đếm số có xác suất lớn nhất.

49. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7602:2007 (AOAC 972.25). Thực phẩm. Xác định

hàm lượng chì bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử.

50. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7603:2007 (AOAC 973.34). Thực phẩm. Xác định

hàm lượng cadimi bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử.

51. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7603:2007 AOAC 957.22. Arsenic (total) in Feeds.

Colorimetric Test (Asen trong thức ăn chăn nuôi. Phương pháp so màu).

52. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7604:2007 (AOAC 971.21). Thực phẩm. Xác định

hàm lượng thuỷ ngân theo phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử.

53. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8543:2010 về thức ăn chăn nuôi - Xác định hàm lượng

tylosin bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao.

54. Thanh Bình ( 2016). Hà Nội chưa phát hiện chất cấm trong thịt lợn. Truy cập ngày

06/03/2016 tại từ www.hanoi.gov.vn./web/guest/30/-/...

55. Thông tư số 66/2011/TT-BNNPTNT ngày 10 tháng 10 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ

Nông nghiệp và PTNT.

56. Trạm thú y Huyện Gia Lâm ( 2015). Số liệu tình hình chăn nuôi lợn trên địa bàn

huyện 2010- 2015.

57. Trịnh Khắc Vịnh (2010). Đánh giá thực trạng chất lượng một số loại thức ăn chăn nuôi và đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo ổn định chất lượng thức ăn chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Luận văn thạc sĩ Nông nghiệp. Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội..

58. Võ Thị Trà An (2007). Kháng sinh cho vật nuôi. Nhà xuất bản Đà Nẵng.

59. Vũ Duy Giảng (1996). Dinh dưỡng và thức ăn gia súc. Nhà xuất bản Nông nghiệp.

Hà Nội.

60. Vũ Duy Giảng, Nguyễn Thị Lương Hồng và, Tôn Thất Sơn (1997). Dinh dưỡng và

thức ăn gia súc. Nhà xuất bản Nông nghiệp. Hà Nội.

66

61. Wiliam G. L và cs (1996). “Các khẩu phần ăn của lợn.”, Cẩm nang chăn nuôi lợn

công nghiệp, Nhà xuất bản Bản đồ, Hà Nội. tr. 203.

Tiếng nước ngoài:

62. Barton D. M. (2000). Antibiotic use in animal feed and its impact on human health,

Nutrition Research Reviews. Vol 13. pp. 279 – 299.

63. Berwal J. (1999). Interactive lesson page for Meat Science & Muscle Biology, at

retrieved

FAO,

May

16,

on

by

developed 2004 http://labs.ansci.uiuc.edu/meatscience/lessons/lesson1.html.

64. Bradley G. (2003). High level of antibiotic recistance in bacteria that cause food

poisoning”, Innovation report, serial on line, cited 2004 May 10, Screen Available from: URL: http://w.w.w.innovations- report.com/html/reports/medicine_health/report-23946.html.

65. Cockerell I, B Francis anh D Halliday (1971). Changes in nutritive value of concentrate feed stuffs during storage. Proceedings: Development of fees resources and improvement of animal feeding methods. Tropical products Institute, London. pp.181-192.

66. Dawson R. J. (1991). Global view of the mycotoxin problem. Proceedings: Fungi

and mycotoxins stored products. pp. 22-28.

67. Edwards A. (2002). Ingredient quality and performance. Proceedings: Southeast

Asian feed technology and nutrition workshop, 10th Annual ASA, Thailand.

68. Fin (2000). Fishmeal for Pourtry – A feed with a very healthy future.

69. Friedship. R. M. (2000). Chapter 25 Antimicrobiol drug use in swine In Antimicrobial therapy in veterinary medicine, 3rd Iowa State University Press, Iowa, USA. pp. 796.

70. FSIS - (Food Safety Inspection Service (2007). Procedure for residue sampling, testing and otrer resposibilities for the national residue program, United States Department of Agriculture, Washington, DC.

71. Huang and M. S Bergdoll . (1970). Jounal of Biologycal Chemistry. Vol 14. pp.

3518-3525.

72. Irma .T (1983). Manual de laboratorio para analysis de Ingredientes utilizados en la

alimentacion animal – INIP – SARH – MEXICO.

73. Jones F. T. (1989). Feed quality control in poultry troduction, Korean Journal

Animer. Nutrition Feedstuffs .vol 13 (1): 25-37.

74. Jones F. T. (1995). Quality control feedstuff, July 19. pp. 135-139.

67

75. Kellem R. O and D.C Church.(1998). Livestock feeds and feeding, 4th edition,

Prentice Hall – New Jersey – USA.

76. Miller J. D (1991). Significance of grain mycotoxins for health and nutrition.

Proceedings: Fungi and mycotoxins in stored products. pp.126- 135.

77. NRC (1994). Nutrient requirements of Pourtry. 9th edition, National Academy

press, Washington D.C, 1994.

78. Peter Natjoens, Dirk Courtheyn, Hubert F. De Brabander, Jan Vercam men, Katia. De Wasch and Maureen Logghe (1996). Gas chromatography _ tandem mass spectrometry analysis of clenbuterol residue in faeces. Journal of chromatography A.pp. 133-139.

79. Pond W. G. D. C., Church and R. O. Kellems (1995). Basic Animal Nutrition and

Feeding. John Wiley & Sons. 4th Edition.

80. Pulce C., D Lamaison, G. Keck, C. Bostvironnois, J. Nicola and J. Descotes. Collective human food poisonings by clenbuterol residues in veal liver. Vet Hum Toxicol. Vol. 33 (5). pp. 480-481.

81. Taylor and Francis Issue (2005). Food Additives & Contaminants, Publisher. Vol 22

(6). pp. 563-566.

β-agonist

82. Van Vyncht, G. S. Preece, P. Gaspar, G.Maghuin-Rogister and E. Depauw (1996). Gas and liquid chromatography coupledto tandem mass spectrometry for the multiresidue analysis of in biological matrices. Journal of chromatography A .Vol. pp. 43-49.

83. Wicker, D. L. and D. R. Poole (1991). Hows your mixen performing, Feed

management .

68

Phụ lục 1: PHIẾU ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN Họ và tên chủ hộ:……………………………………………………. Địa chỉ:……….Thôn:……….. xã………… Huyện Gia Lâm – Hà Nội.

A.THÔNG TIN VỀ NÔNG HỘ 1.Tuổi của chủ hộ:………. 2.Trình độ văn hóa của chủ hộ: ……../10………/12 3.Tham dự lớp đào tạo, tập huấn chuyên môn: Có……. Không….. 4.Các tổ chức cá nhân đào tạo, tập huấn chuyên môn:

PHỤ LỤC

Công ty thuốc thú y Trung tâm khuyến nông Trường đại học, cao đẳng, trung cấp Khác B.THÔNG TIN CHUNG VỀ TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI I.CON GIỐNG 1.Quy mô chăn nuôi lợn

Hộ gia đình Trang trại

2. Anh ( chị) nuôi loại lợn nào sau đây?

Lợn đực

Lợn nái

Lợn thịt

Số lượng

F1( Ng x Ng) F1( Ng x Nội) ……… …….. ……….. ………

Số lượng Giống

Số lượng Giống

Giống Landrace Pietrain Yorkshire Duroc Móng cái Pidu Lợn lai ( Ng x Ng) Landrace Lợn lai( Ng x Nội) ….. …… …. 3. Năng xuất sinh sản& sinh trưởng trung bình của hộ : - Số lợn con sơ sinh/ lứa :……………………………………………..……. - Số lợn con để lại nuôi trên lứa :……………………………………..……. - Khối lượng sơ sinh trên con :……………………………………….……. - Thời gian cai sữa :……………………………………………………..…. - Số con cai sữa/ lứa :………………………………………………..…….. - Khối lượng cai sữa/ con ( Khối lượng lợn con khi mua)……………..…. - Khối lượng xuất chuồng :……………………………………………..…. - Thời gia xuất chuồng :………………………………………………..….. 4. Anh ( chị ) mua giống tại cơ sở sản xuất nào ?

Loại lợn Lợn thịt

Lợn nái

Lợn đực

Giống Ông bà ( GP) Bố mẹ ( PS)

Tên giống

Số lượng Cơ sở sản xuất

Giá mua

69

II.THỨC ĂN VÀ NƯỚC UỐNG

1 Nguồn nguyên liệu và thức ăn chăn nuôi lợn a. Các loại nguyên liệu thức ăn dùng trong chăn nuôi lợn tại cơ sở (

nếu có)

Tự sản xuất

Mua ngoài thị trường

Tên nguyên liệu

Số lượng Giá bán( đ/ kg) Số lượng Giá mua ( đ/ kg)

Cám gạo Bột ngô Bột sắn Khác

b. Cách sử dụng thức ăn

Thức ăn

Tỉ lệ kết hợp

Thức ăn hỗn hợp

Kết hợp thức ăn hỗn hợp + trộn

Lợn con theo mẹ( tập ăn – 7 kg) Lợn con sau cai sữa ( 7 kg)- 40 kg Lợn 40 kg- xuất chuồng Lợn nái đẻ nuôi con

c. Công thức phối hợp khẩu phần thức ăn của anh (chị) ( nếu có) :

Tỉ lệ các thành phần trộn trong khẩu phần ( %)

Tên thức ăn cho từng loại lợn

Cám gạo Bột ngô

Khác

Cám đậm đặc

Khoáng+ Vitamin

Lợn nái chửa+ Chờ phối Lợn nái nuôi con Lợn con theo mẹ Lợn con cai sữa

d. Loại thức ăn công nghiệp dùng trong chăn nuôi lợn :

Tên hãng

Cơ sở sản xuất Nơi mua

Giá

Tên thức ăn cho từng loại lợn Lợn con theo mẹ( tập ăn – 7 kg) Lợn con sau cai sữa ( 7 kg)- 15 kg Lợn 15-40 kg Lợn từ 40 kg-xuất chuồng

2. Anh ( chị) có ghi chép thức ăn khi mua về không : Có không Nếu có anh ( chị) ghi các thông tin nào sau đây khi mua thức ăn về : Tên hàng……Số lượng……Ngày sản xuất…. Hạn sử dụng…….. Khác…

70

3. Bạn có dùng thức ăn bổ sung trong khẩu phần ăn của lợn trong 12 tháng vừa rồi không ? Có…… không…..Nếu có :

Thức ăn bổ sung

(1) +(2)

Khoáng Vitamin Enzym/men Thảo dược Kháng sinh Khác

Phương thức bổ sung Trộn vào thức ăn( 1) Hòa nước uồng( 2)

1. Anh ( chị) có dùng chất kích thích inh trưởng trong chăn nuôi không.

Có Không

2. Đánh giá chất lượng thức ăn công nghiệp của hãng náo tốt. Thức ăn hỗn hợp : Nước ngoài Nội địa Thức ăn đậm đặc : Nước ngoài Nội địa Nhận xét của anh ( chị) chất lượng thức ăn trên thị trường : ……………………………………………………………………..…….. …………………………………………………………………….……… 3. Đối tượng cung cấp thức ăn công nghiệp cho anh chị : Thương nhân trong xã Thương nhân trong huyện Thương nhân trong tỉnh Công ty sản xuất thức ăn IV : VỆ SINH THÚ Y 1.Bệnh tật có xảy ra với trang trại trong 12 tháng qua không ? Có….. không ……. Chi tiết ( Nếu có) Tên bệnh

Biện pháp điều trị

Triệu chứng

Loại lợn

Không

2.Anh chị thường dùng biện pháp nào để phòng bệnh ?................... 3. Loại lợn có được tiêm vắc xin không ? Có Nếu có thường phòng bệnh gì ? loại thuốc ? Công ty sản xuất ? Tên bệnh

Cơ sở sản xuất

Đối tượng lợn

Loại thuốc

71

Không

Phòng và điều trị

Kinh nghiệm

Kinh nghiệm

V. SỬ DỤNG KHÁNG SINH 1. Sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi : Có 2. Mục đích sử dụng : tăng trọng 3. Loại kháng sinh thường sử dụng :……………………………. 4. Lựa chọn kháng sinh dựa vào Bác sĩ thú y Nhãn mác bao bì thuốc 5. Liều lượng kháng sinh dựa vào Bác sĩ thú y Nhãn mác bao bì thuốc 6. Ngừng sử dụng thuốc trước khi xuất thịt dựa vào Bác sĩ thú y……. Nhãn mác bao bì thuốc…. Kinh nghiệm…. VI. CHI PHÍ - Con giống………………………………………………………. - Thức ăn :……………………………………………………….. - Thuốc thú y :…………………………………………………… - Điện, nước :……………………………………………………. - Nhân công :…………………………………………………….. - Khác :………………………………………………………….. - Giá bán lợn :…………………………………………………..

………. Ngày ….tháng…. năm…..

Người được điều tra

Người điều tra

72

Phụ lục 2 : ĐIỀU TRA CÔNG BỐ THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG TRÊN

NHÃN MÁC BAO BÌ THỨC ĂN CHĂN NUÔI LỢN.

Đại lý cấp 1……….. Đại lý cấp 2………….. Cửa hàng nhỏ lẻ……………….... Ngày phỏng vấn :…../……./…..20… Tên đại lý……………………………….…. Thôn………………….………. Xã…………….………Huyện Gia Lâm- Hà Nội.

A. THÔNG TIN CHUNG

1. Họ tên người được phỏng vấn :…………………….……………… 2. Trình độ của người được phỏng vấn :………………..………………. 3. Giới tính : Nam………..….Nữ………..…… 4. Dân tộc :………………… 5. Điện thoại :…………………………… 6. Ông (bà) bắt đầu kinh doanh TACN từ năm

nào ?.....................................

B. TÌNH HÌNH BÁN THỨC ĂN CHĂN NUÔI CÔNG NGHIỆP Khối lượng bán cho các đối tượng khách hàng trong 3 năm qua.

2016

2. Không

Tên thức ăn Thức ăn hỗn hợp Thức ăn đậm đặc Thức ăn bổ sung Khác……. C. DỤNG CỤ BẢO QUẢN 1. Cửa hàng/ đại lí có kho chứa hàng không ? 1.Có 2. Nếu có thì diện tích là bao nhiêu ?.............; Dạng kho………….…..……… 2.Không 3. Đại lý có kệ gỗ/nhựa đựng TACNCN không ?........... 1.Có

2.Không Tần suất ?....................

D. CÔNG BỐ VÀ PHIẾU KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG TRƯỚC KHI XUẤT XƯỞNG CỦA CÁC SẢN PHẨM HIỆN ĐANG KINH DOANH 1. Số lượng TĂCN………………………………………………..………………… 2. Số lượng công bố của các loại TĂCN……………………………..……….......... 3. Số lượng phiếu kiểm nghiệm trước khi xuất xưởng của các loại TĂCN…………….. 4. Hàng năm có cơ quan nào kiểm tra/thanh tra đại lý không ? 1.Có 5. Ông bà cho biết ? Ông bà có được tập huấn hoặc tìm hiểu các quy định của pháp luật về kinh doanh thức ăn chăn nuôi chưa ? Có ; Không Nếu có là những văn bản nào ?.....................................................................

73

E. KẾ HOẠCH KINH DOANH Xin ông (bà) cho biết kế hoạch kinh doanh của ông bà trong thời gian tới

Lý do

Kế hoạch

1 Giữ nguyên quy mô như hiện nay

2 Mở rộng hoạt động

3 Thu hẹp hoạt động

4 Chuyển hoàn toàn sang hoạt động khác

5 Khác………………

……., Ngày….. tháng……năm…….

Người điều tra

- Nếu được đề xuất, xin ông bà cho biết những kiến nghị tới nhà nước để hoạt động kinh doanh TACNCN được tốt hơn …………………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………..…….... ( chính sách thuế, nhập khẩu, giao thông, ….) -. Công bố thành phần dinh dưỡng trên nhã mác bao bì thức ăn chăn nuôi lợn : 1. Tên nhãn hiệu hàng hóa :……………………………….………………………….. 2. Công ty sản xuất :………………………………………….……………………..... 3. Ngày sản xuất : ……………………………………………..……………………… 4. Giai đoạn sử dụng :…………………………………………….…………………... 5. Thành phần dinh dưỡng : - Độ ẩm :…………………………………………………………….………………... - Protein thô :…………………………………………………………….…………… - Xơ thô : ……………………………………………………………….…………….. - Ca :………………………………………………………………………..…………. - P :……………………………………………………………………..……………... - Kháng sinh, chất kích thích sinh trưởng nếu có :………………………….………... Người được điều tra

74