
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2025
243
TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG Ở BỆNH NHÂN ΒETA-THALASSEMIA
TẠI VIỆN HUYẾT HỌC – TRUYỀN MÁU TRUNG ƯƠNG, NĂM 2024
Bùi Thị Mai An1, Nguyễn Thị Thu Hà2, Vũ Đức Bình2,
Tạ Thị Kim Liên1, Hoàng Thị Ngọc Anh1
TÓM TẮT29
Đặt vấn đề: β-Thalassemia là một bệnh lý di
truyền phổ biến nhất trên thế giới với đặc điểm
nổi bật là tình trạng thiếu máu và tan máu. Bệnh
nhân (BN) mắc β-thalassemia có nguy cơ cao
thiếu hụt dinh dưỡng do truyền máu thường
xuyên. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào tại
Việt Nam đánh giá tình trạng dinh dưỡng trên
nhóm đối tượng này. Mục tiêu: Mô tả tình trạng
dinh dưỡng ở bệnh nhân β-Thalassemia thể vừa
và thể nặng tại Viện Huyết học – Truyền máu
Trung ương, năm 2024. Đối tượng và phương
pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực
hiện trên toàn bộ BN được chẩn đoán bệnh beta -
thalassemia thể vừa và thể nặng từ 18 tuổi trở
lên, đang điều trị nội trú và ngoại trú tại Viện
Huyết học - Truyền máu Trung ương. Tình trạng
dinh dưỡng được đánh giá dựa vào các chỉ số
khối cơ thể (Body Mass Index-BMI), công cụ
sàng lọc suy dinh dưỡng (Malnutrition screening
tool-MST) và chỉ số thành phần cơ thể bao gồm:
phần trăm mỡ cơ thể, khối mỡ cơ thể, khối nạc
cơ thể, khối cơ và tổng lượng nước cơ thể. Kết
quả: Trong 297 BN β-thalassemia tham gia
nghiên cứu, hơn một nửa đối tượng nghiên cứu là
nữ giới và ở trong độ tuổi từ 18-40. Có 48,5%
BN thiếu cân với BMI < 18,5 (48,5%); tỷ lệ này
1Đại học Phenikaa
2Viện Huyết học Truyền máu Trung Ương
Chịu trách nhiệm chính: Bùi Thị Mai An
SĐT: 0915 182 859
Email: buimaian@gmail.com
Ngày nhận bài: 30/04/2025
Ngày phản biện khoa học: 15/06/2025
Ngày duyệt bài: 30/07/2025
tương đối bằng nhau ở nhóm bệnh nhân thể trung
bình và thể nặng. Bên cạnh đó, tỷ lệ BN có nguy
cơ suy dinh dưỡng với MST ≥ 2 là 31%, cao hơn
ở bệnh nhân β-thalassemia nặng (19,2%) so với
nhóm thể trung bình (11,8%). Bệnh nhân β-
thalassemia thể nặng có tỷ lệ giảm cân không cố
ý và giảm cảm giác thèm ăn cao hơn gần gấp đôi
so với bệnh nhân mắc thể trung bình (20,9% so
với 12,1% và 32,3% so với 16,8%). Hơn một nửa
đối tượng nghiên cứu có khối lượng cơ dưới
40kg (75,9%) và khối lượng xương dưới 2kg
(55,2%). Kết luận: Bệnh nhân β-thalassemia có
nguy cơ cao suy dinh dưỡng, đặc biệt là nhóm
bệnh nhân β-thalassemia thể nặng.
Từ khóa: β-thalassemia, thể vừa, thể nặng,
BMI, MST, suy dinh dưỡng.
SUMMARY
NUTRITIONAL STATUS OF PATIENTS
WITH BETA-THALASSEMIA
AT THE NATIONAL INSTITUTE OF
HEMATOLOGY AND BLOOD
TRANSFUSION, 2024
Background: β-Thalassemia is one of the
most common inherited diseases worldwide,
characterized by chronic anemia and hemolysis.
Patients with β-thalassemia are at high risk of
nutritional deficiencies due to frequent blood
transfusions. However, no studies in Vietnam
have evaluated the nutritional status of this
patient group. Objective: To describe the
nutritional status of patients with moderate and
severe β-thalassemia at the National Institute of
Hematology and Blood Transfusion of year
2024. Methods: A cross-sectional study was

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC VIỆT NAM LẦN 8
244
conducted among all inpatients and outpatients
aged 18 and above who had been diagnosed with
moderate or severe β-thalassemia at the Institute.
Nutritional status was assessed using Body Mass
Index (BMI), the Malnutrition Screening Tool
(MST) and body composition compositions
including: body fat percentage, body fat mass,
lean body mass, muscle mass, and total body
water. Results: Among 297 patients with β-
thalassemia enrolled in the study, over half were
female and aged between 18 and 40 years. Nearly
half of the patients were underweight (BMI <
18.5), with similar proportions in both the
moderate and severe subgroups. Additionally,
31% of patients were at risk of malnutrition
based on MST scores ≥ 2, with a higher
prevalence in patients with severe β-thalassemia
(19.2%) compared to those with the moderate
form (11.8%). Patients with severe β-thalassemia
reported unintentional weight loss and decreased
appetite nearly twice as often as those with the
moderate form (20.9% vs. 12.1%, and 32.3% vs.
16.8%, respectively). Over half of the
participants had muscle mass below 40 kg
(75.9%) and bone mass below 2 kg (55.2%).
Conclusion: Patients with β-thalassemia,
especially those with the severe form, are at high
risk of malnutrition.
Keywords: β-thalassemia intermediate, β-
thalassemia major, BMI, MST, underweight.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh β-thalassemia là một bệnh lý di
truyền phổ biến trên thế giới với đặc điểm
nổi bật là tình trạng thiếu máu và tan máu.
Bệnh nhân (BN) β-thalassemia thể nặng cần
được truyền máu định kì hàng tháng. Việc
truyền máu cùng với cơ chế tự tăng hấp thu
sắt khiến BN bị quá tải sắt [1], [2], [3], [4].
Tình trạng ứ sắt trong các cơ quan có thể ảnh
hưởng đến chức năng của cơ thể và gây ra rối
loạn hấp thu canxi kết hợp với tình trạng
thiếu máu mãn tính đã có tác động không
nhỏ đến sự phát triển thể chất của BN. Trên
thế giới, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng BN
β-thalassemia có nguy cơ suy dinh dưỡng
[3], [4].
Mặc dù tỷ lệ bệnh nhân β-thalassemia tại
Việt Nam cao so với các nước trong khu vực,
nhưng hiện nay chưa có nghiên cứu nào về
tình trạng dinh dưỡng ở nhóm đối tượng này.
Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
“Tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân β-
Thalassemia tại Viện Huyết học – Truyền
máu Trung ương, năm 2024” với mục tiêu
mô tả tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân β-
Thalassemia thể vừa và thể nặng tại Viện
Huyết học – Truyền máu Trung ương, năm
2024.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
297 BN được chẩn đoán β-thalassemia từ
18 tuổi trở lên và đang điều trị tại Trung tâm
Thalassemia, Viện Huyết học - Truyền máu
Trung ương giai đoạn từ 4/2020- 4/2024.
Chúng tôi loại trừ bệnh nhân bất động dài
ngày không thể cân đo được chỉ số cơ thể và
bệnh nhân suy thận và đang dùng liệu pháp
corticoid.
➢ 155 BN beta-thalassemia thể nặng,
bệnh thường biểu hiện sớm từ 6 tháng đến 2
tuổi sau sinh và có biểu hiện: Thiếu máu
nặng (Hb < 7 g/dL), chậm phát triển, có biến
dạng xương mặt (mũi tẹt, trán dô, xương gò
má nhô). Có gan to, lách to. Có các biến
chứng do truyền máu kéo dài và ứ sắt (tim,
gan, nội tiết).
➢ 142 BN beta-thalassemia thể trung
bình: là thể trung gian giữa thể nhẹ và nặng,
bệnh thường xuất hiện sau 2 tuổi, không cần
truyền máu thường xuyên, nhưng phải truyền

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2025
245
trong các đợt nhiễm trùng. Bệnh nhân có
biểu hiện thiếu máu với mức độ trung bình
(Hb khoảng 7–10 g/dL) và gan to, lách to,
xương mặt có biến dạng nhẹ, các biến chứng
tăng nếu truyền máu không kiểm soát hoặc ứ
sắt.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả
cắt ngang.
2.2.2. Biến số nghiên cứu
- Tình trạng dinh dưỡng là tình trạng sức
khỏe được đo lường thông qua rất nhiều khía
cạnh như chế độ ăn, thể trạng và sự tăng
trưởng. Trong bối cảnh nghiên cứu này,
chúng tôi chỉ tập trung đo lường thể trạng
của bệnh nhân thông qua chỉ số khối cơ thể
(Body mass index – BMI); bộ công cụ sàng
lọc suy dinh dưỡng (Malnutrition screening
tool-MST); và thành phần cơ thể bao gồm:
phần trăm mỡ cơ thể, khối mỡ cơ thể, khối
nạc cơ thể, khối cơ và tổng lượng nước cơ
thể.
- Chỉ số BMI công thức được tính bằng
cân nặng (kilogram) chia cho bình phương
chiều cao (mét). Theo tiêu chuẩn cho người
Châu Á, BMI <18,5 được đánh giá là suy
dinh dưỡng.
- Chỉ số MST nguy cơ suy dinh dưỡng
do ăn uống kém (0 điểm/không và 1
điểm/có) và giảm cân không chủ ý vì bất kỳ
lý do gì như: do giảm cảm giác thèm ăn, no
sớm, nuốt hoặc nhai khó khăn trong 6 tháng
gần đây (0 điểm/không giảm cân, 1
điểm/giảm 1-5kg, 2 điểm/không biết, không
chắc chắn hoặc giảm 6-10kg, 3 điểm/giảm
11-15 kg và 4 điểm/giảm trên 15 kg). Bệnh
nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng khi
MST>=2 điểm.
- Các chỉ số thành phần cơ thể được đo
lường bởi cân điện tử TANITA InnerScan
BC-541N. Đây là cân chuyên dụng để đo
thành phần cơ thể bằng cách sử dụng phân
tích trở kháng điện sinh học. Khi bệnh nhân
đứng lên cân, một dòng điện mật độ rất thấp
(50 kHz) được dẫn truyền qua cơ thể để đo
khối lượng nạc và mô mỡ.
- Phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân về các
thông tin về tuổi, giới tính, dân tộc …
2.2.3. Đạo đức nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu đã được hội đồng đạo
đức của trường Đại học Phenikaa thông qua
(Số 024-02.08/ĐHP-HĐĐĐ).
2.2.4. Xử lý số liệu
Số liệu được thu thập, được trích xuất từ
phần mềm KoboToolbox sang Excel, được
làm sạch để xử lý và phân tích.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm chung của nhóm đối
tượng nghiên cứu
Trong tổng số 297 BN
-Thalassemia
được nghiên cứu:
- Phân bố theo thể bệnh: Có 155 BN mắc
thể nặng, chiếm tỷ lệ 52,2%, và 142 BN mắc
thể trung bình, chiếm 47,8%.
- Phân bố theo giới tính: Có 160 BN nữ
(53,9%) và 137 BN nam (46,1%). Trong
nhóm BN mắc thể nặng, tỷ lệ nam cao hơn
nữ (27,6% so với 24,6%). Ngược lại, ở nhóm
mắc thể trung bình, tỷ lệ nữ cao hơn nam
(29,3% so với 18,5%).
- Phân bố theo nhóm tuổi: Nhóm BN
dưới 40 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất ở cả hai thể
bệnh, với 218/297 BN (73,4%). Các nhóm
tuổi từ 40–60 và trên 60 chiếm tỷ lệ lần lượt
là 21,2% và 5,4%.
3.2. Tình trạng dinh dưỡng của bệnh
nhân -Thalassemia điều trị nội trú và
ngoại trú tại Viện Huyết học -Truyền máu
Trung ương

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC VIỆT NAM LẦN 8
246
Bảng 3.1. Đặc điểm dinh dưỡng của bệnh nhân
-Thalassemia theo BMI
Nguy cơ dinh dưỡng
BMI (Kg/m²)
Thể bệnh
Tổng
(n,%)
Thể trung bình (n, %)
Thể nặng (n, %)
Thiếu cân
<18,5
70 (23,6)
74 (24,9)
144 (48,5)
Trung bình
18,5 - 25
71 (23,9)
80 (26,9)
151 (50,8)
Thừa cân
>25
1 (0,3)
1 (0,3)
2 (0,6)
Tổng
142 (47,8)
155 (52,2)
297 (100)
Kết quả trình bày tại Bảng 3.1 cho thấy,
trong tổng số 297 bệnh nhân tham gia nghiên
cứu, tỷ lệ bệnh nhân thiếu cân (BMI <18,5)
chiếm tỷ lệ tương đối cao, với 48,5%. Trong
nhóm này, tỷ lệ mắc thể nặng và thể trung
bình lần lượt là 24,9% và 23,6%. Trong khi
đó, nhóm thừa cân hiếm gặp, chỉ ghi nhận 1
trường hợp, tương ứng với tỷ lệ 0,7%.
Bảng 3.2. Đặc điểm dinh dưỡng của bệnh nhân
-Thalassemia theo thang đo MST
Thang đo sàng lọc tình trạng dinh
dưỡng MST
Thể bệnh
Tổng
(n, %)
Thể trung bình (n, %)
Thể nặng (n, %)
Giảm cân không
chủ ý gần đây
Không
104 (35)
93 (31,3)
197 (66,3)
Có, giảm 1-5 kg
36 (12,1)
62 (20,9)
98 (33)
Có, giảm 6-10 kg
2 (0,7)
0 (0,0)
2 (0,7)
Tình trạng ăn
uống kém
Không
92 (31)
59 (19,8)
151 (50,8)
Có
50 (16,8)
96 (32,3)
146 (49,1)
Tổng
142 (47,8)
155 (52,2)
297 (100)
Kết quả trình bày tại Bảng 3.2 cho thấy,
bệnh nhân mắc thể nặng có tỷ lệ giảm cân
không chủ ý và ăn uống kém cao hơn so với
bệnh nhân mắc thể trung bình, lần lượt là
20,9% và 32,3% so với 12,1% và 16,8%.
Bảng 3.3. Đánh giá nguy cơ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân
-Thalassemia
Nguy cơ SDD
Thể trung bình (n, %)
Thể nặng (n, %)
Tổng (n, %)
Không có nguy cơ SDD (MST = 0 - 1)
107 (36)
98 (33)
205 (69)
Có nguy cơ SDD (MST ≥2)
35 (11,8)
57 (19,2)
92 (31)
Tổng
142 (47,8)
155 (52,2)
297 (100)
Kết quả ở bảng 3.3. cho thấy: Khi phân
loại theo mức độ nguy cơ SDD dựa trên
thang điểm MST, có 205 bệnh nhân
(69,02%) không có nguy cơ SDD (MST = 0–
1) và 92 bệnh nhân (30,98%) có nguy cơ
SDD (MST ≥ 2).

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2025
247
Bảng 3.4. Thành phần cơ thể của bệnh nhân β-thalassemia
Đặc điểm
Số lượng (n)
Tỉ lệ (%)
Phần trăm mỡ cơ thể (%)
1 – 20
58
50,0%
21 – 40
58
50,0%
Khối lượng xương (kg)
0,5 – 2
64
55,2%
2,1 – 3
52
44,8%
Phần trăm nước cơ thể (%)
45 – 60
105
90,5%
>60
11
9,5%
Khối lượng cơ (kg)
20 – 40
88
75,9%
>40
28
24,1%
Độ béo nội tạng (độ)
1 – 5
101
87,1%
6 – 10
15
12,9%
Tỷ lệ phần trăm mỡ cơ thể ở BN phân bố
đều giữa hai nhóm 1–20% và 21–40%, mỗi
nhóm chiếm 50%. Có 55,2% bệnh nhân có
khối lượng xương dao động từ 0,5 đến 2 kg,
trong khi 75,9% có khối lượng cơ trong
khoảng 20–40 kg. Đa số bệnh nhân (90,5%)
có tỷ lệ nước trong cơ thể nằm trong khoảng
bình thường (45–60%). Bên cạnh đó, 87,1%
bệnh nhân có mức độ béo nội tạng ở mức
thấp (từ độ 1 đến độ 5).
IV. BÀN LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh
nhân β-thalassemia có chỉ số BMI dưới
ngưỡng suy dinh dưỡng (BMI < 18,5) lên tới
48,5%, cho thấy gần một nửa số bệnh nhân
trong nghiên cứu đang trong tình trạng thiếu
cân. Tỷ lệ này tương đương nhau ở cả hai thể
trung bình và thể nặng, phản ánh mức độ phổ
biến của suy dinh dưỡng trong nhóm bệnh lý
này. Đây là con số đáng lo ngại và cao hơn
so với dân số chung, cho thấy bệnh β-
thalassemia là một yếu tố nguy cơ quan trọng
dẫn đến suy giảm thể trạng [5]. Điều này phù
hợp với các nghiên cứu quốc tế trước đây,
vốn chỉ ra mối liên hệ giữa thiếu máu mạn
tính, quá tải sắt và rối loạn hấp thu vi chất
dinh dưỡng ở bệnh nhân thalassemia [6], [7].
Công cụ MST đã xác định 31% bệnh
nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng, đặc biệt
nổi bật ở nhóm thể nặng với tỷ lệ cao hơn
hẳn so với thể trung bình (19,2% so với
11,8%). Sự chênh lệch này cho thấy thể bệnh
có liên quan rõ rệt đến nguy cơ dinh dưỡng,
có thể do nhóm bệnh nhân thể nặng thường
phải truyền máu thường xuyên hơn, dẫn đến
ảnh hưởng lớn đến chức năng tiêu hóa và
chuyển hóa [6]. Đặc biệt, các biểu hiện lâm
sàng như sụt cân không chủ ý và giảm cảm
giác thèm ăn cũng phổ biến hơn ở nhóm này,
góp phần làm trầm trọng thêm tình trạng
dinh dưỡng.
Bên cạnh BMI và MST, các chỉ số thành
phần cơ thể cũng phản ánh rõ sự suy giảm
khối cơ, khối xương và tổng nước cơ thể ở
bệnh nhân. Gần 76% bệnh nhân có khối cơ
dưới 40kg và hơn 55% có khối xương dưới
2kg, phản ánh tình trạng thiếu hụt khối lượng
cơ nạc và mật độ xương - yếu tố quan trọng
liên quan đến sức khỏe lâu dài. Sự suy giảm
này không chỉ ảnh hưởng đến khả năng vận
động, chất lượng sống mà còn làm tăng nguy

