
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
-------------------------
MAI VĂN ĐỢI
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ
VIÊM RUỘT THỪA CẤP CHƯA BIẾN CHỨNG
BẰNG KHÁNG SINH SO VỚI
CẮT RUỘT THỪA NỘI SOI
Ngành: Ngoại khoa
Mã số: 9720104
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Cần Thơ - 2025

Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Văn Năng
GS. David Jayne
Phản biện 1: ………………………………………… (chỉ
điền sau khi nộp cấp trường)
Phản biện 2 …………………………………………
Phản biện 3: …………………………………………
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
trường họp tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ vào hồi
giờ……ngày……tháng……năm……
Có thể tìm hiểu Luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Thành phố Cần Thơ
- Thư viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

1
GIỚI THIỆU LUẬN VĂN
1. Đặt vấn đề
Đau bụng cấp chiếm 7–10% các trường hợp nhập khoa Cấp cứu,
trong đó viêm ruột thừa cấp là nguyên nhân thường gặp nhất ở người
trẻ, với nguy cơ mắc suốt đời khoảng 9% ở Hoa Kỳ, 8% ở châu Âu và
2% tại châu Phi. Bệnh có thể diễn tiến tự giới hạn, không biến chứng
hoặc biến chứng (12–23%), với tử vong <0,03% ở thể không biến
chứng nhưng tăng lên 0,42% khi có biến chứng. Chẩn đoán thường
thuận lợi khi triệu chứng điển hình, song vẫn khó khăn trong phân biệt
có hay không biến chứng.
Hiện nay, chụp cắt lớp vi tính ổ bụng là công cụ tối ưu với độ nhạy
96% và đặc hiệu 94%, giúp giảm tỷ lệ cắt ruột thừa không viêm từ
20% xuống 3,2%. Trong nhiều thập kỷ, phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa
là tiêu chuẩn điều trị, triệt để nhưng tiềm ẩn nguy cơ tai biến, biến
chứng và tử vong. Gần đây, nhiều thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên
(APPAC, CODA, NOTA) cho thấy điều trị kháng sinh có thể là lựa
chọn ban đầu khả thi cho viêm ruột thừa không biến chứng, với tỷ lệ
thành công ngắn hạn 70–90%, giảm đau, giảm thời gian nằm viện và
biến chứng không cao hơn phẫu thuật, song tái phát sau 1 năm vẫn 15–
40%.
Tại Việt Nam, trong bối cảnh mạng lưới chăm sóc còn không đồng
đều và xu hướng “Lấy người bệnh làm trung tâm” ngày càng được
đề cao, đặt ra câu hỏi: Liệu điều trị kháng sinh có mang lại hiệu quả
tương đương phẫu thuật nội soi mà không làm tăng biến chứng nặng
cho người bệnh?. Từ khoảng trống bằng chứng này, chúng tôi thực
hiện nghiên cứu “Đánh giá kết quả điều trị viêm ruột thừa cấp chưa
biến chứng bằng kháng sinh so với cắt ruột thừa nội soi” với các
mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân VRTC
chưa biến chứng.

2
2. Đánh giá kết quả điều trị viêm ruột thừa cấp chưa biến chứng
bằng kháng sinh so với PTNS cắt ruột thừa.
3. Xác định các yếu tố liên quan đến thất bại điều trị viêm ruột thừa
cấp bằng kháng sinh.
2. Tính cấp thiết
Hiện nay, điều trị VRTC không biến chứng bằng khánh sinh đã
được ứng dụng nhiều nơi trên thế giới. Có nhiều thử nghiệm lâm sàng
so sánh giữa điều trị kháng sinh và PTNS cắt ruột thừa, chứng minh
điều trị bằng kháng sinh có thể là một lựa chọn đầu tay với tỉ lệ thành
công cao ở bệnh nhân chọn lọc kỹ luõng. Tại Việt Nam, cho tới nay
vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về vấn đề này được công bố.
Do đó, việc thực hiện nghiên cứu “Đánh giá kết quả điều trị viêm
ruột thừa cấp chưa biến chứng bằng kháng sinh so với cắt ruột thừa
nội soi” là cần thiết, có ý nghĩa khoa học, thực tiễn và tính thời sự,
nhằm đánh giá hiệu quả và tính an toàn của kháng sinh điều trị viêm
ruột thừa cấp chưa biến chứng, cung cấp bằng chứng phục vụ xây dựng
phác đồ điều trị tối ưu trong bối cảnh hệ thống y tế đang quá tải và vấn
đề đề kháng kháng sinh ngày càng tăng cao tại Việt Nam.
3. Những đóng góp mới của luận án
Luận án đã chứng minh rằng điều trị VRTC chưa biến chứng bằng
kháng sinh không kém hơn PTNS cắt ruột thừa về tỷ lệ viêm phúc mạc
trong vòng 30 ngày sau can thiệp. Tỷ lệ thành công của điều trị kháng
sinh đạt 97,48% trong giai đoạn sớm (<30 ngày). Nhóm bệnh nhân
điều trị kháng sinh có ưu điểm ít đau hơn, thời gian nằm viện ngắn
hơn và phục hồi lao động nhanh hơn so với nhóm phẫu thuật.
Khi theo dõi lâu dài (trung bình 19 tháng), tỷ lệ VRT tái phát tăng
dần theo thời gian, làm giảm tỷ lệ thành công chung của điều trị kháng
sinh còn khoảng 78–83% sau 1 năm. Nghiên cứu cũng xác định một
số yếu tố độc lập liên quan đến thất bại như đường kính ruột thừa ≥10
mm, CRP ≥20 mg/L và sốt ≥38,5°C.

3
Kết quả này cung cấp bằng chứng khoa học quan trọng, khẳng định
tính khả thi và an toàn của điều trị bảo tồn VRTC chưa biến chứng,
góp phần xây dựng phác đồ điều trị hợp lý, hướng tới cá thể hóa và
giảm gánh nặng y tế tại Việt Nam.
4. Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 144 trang với 27 bảng, 10 hình ảnh, 1 sơ đồ và 3
biểu đồ. Cấu trúc của luận án gồm có 4 chương: Mở đầu 2 trang;
Chương 1 - Tổng quan tài liệu 44 trang; Chương 2 - Đối tượng và
phương pháp nghiên cứu 15 trang; Chương 3 – Kết quả nghiên cứu 22
trang; Chương 4 – Bàn luận 57 trang, Kết luận 2 trang và Kiến nghị 1
trang. Tài liệu tham khảo gồm 154 tài liệu (10 tài liệu Tiếng Việt và
144 tài liệu Tiếng Anh).
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giải phẫu ruột thừa
1.2. Chức năng của ruột thừa
1.2.1. Ruột thừa - nơi đầu tiên sản xuất miễn dịch IgA
Ruột thừa đóng vai trò quan trọng trong miễn dịch niêm mạc ruột
thông qua sản xuất IgA – kháng thể chủ lực giúp trung hòa mầm bệnh
và điều hòa hệ vi sinh.
1.2.2. Ruột thừa là "bể chứa" các vi khuẩn
Đóng vai trò bảo tồn và phục hồi hệ vi sinh đường ruột sau rối loạn.
Cấu trúc này vừa kết nối với lòng ruột, vừa tránh được dòng chảy
mạnh của phân, nằm ở vị trí chiến lược giữa ruột non và ruột già, đồng
thời chứa hệ vi khuẩn đa dạng được bảo vệ bởi màng sinh học.
1.3. Kháng sinh điều trị viêm ruột thừa
1.3.1. Trên thế giới
Trên thế giới, việc sử dụng kháng sinh trong điều trị VRTC ngày
càng được chuẩn hóa dựa trên mức độ bệnh. VRTC được chia thành
hai nhóm chính: có biến chứng và không biến chứng.

