
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
TRƯƠNG THỊ KIỀU OANH
NGHIÊN CỨU HÓA TRỊ BỔ TRỢ
TRƯỚC PHẪU THUẬT UNG THƯ VÚ
BẰNG PHÁC ĐỒ 4AC-4T LIỀU DÀY
Chuyên ngành: Ung thư
Mã số: 9720108
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
HÀ NỘI - 2025

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Vũ Hồng Thăng
2. TS. Bùi Vinh Quang
Phản biện 1: PGS.TS. Phạm Cẩm Phương
Phản biện 2: PGS. TS. Tạ Văn Tờ
Phản biện 3: TS. Phạm Văn Thái
Luận án sẽ bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Trường, tại Trường Đại học
Y Hà Nội.
Vào hồi…….giờ, ngày…….tháng…….năm 2025
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc Gia
- Thư viện Đại học Y Hà Nội

1
GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1. Tính thời sự của đề tài
Ung thư vú là bệnh ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ và là nguyên nhân hàng đầu
gây tử vong do ung thư ở phụ nữ tại nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam.
Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và sàng lọc, ung thư vú giai đoạn III vẫn
còn khá phổ biến với tỷ lệ mắc mới khoảng 20%. Đây là giai đoạn bệnh thường gây
khó khăn cho phẫu thuật tối ưu ngay từ đầu, đòi hỏi phải sử dụng hóa trị bổ trợ trước
phẫu thuật. Hóa trị bổ trợ trước phẫu thuật hay còn gọi là hóa trị tân bổ trợ mang lại
hiệu quả tương đương về sống thêm so với hóa trị bổ trợ; đồng thời có nhiều lợi thế
hơn như chuyển từ giai đoạn không thể phẫu thuật được thành phẫu thuật được, tạo
điều kiện cho phẫu thuật ít xâm lấn, tăng khả năng phẫu thuật bảo tồn và cho phép
theo dõi đáp ứng của khối u. Hóa trị liều dày đã được nghiên cứu trong điều trị tân bổ
trợ ung thư vú mang lại các kết quả khả quan với cải thiện tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn
trên mô bệnh học (pCR) và thời gian sống thêm; đồng thời rút ngắn được thời gian
điều trị trước mổ. Mặc dù đã có những tiến bộ ngoài hóa trị trong điều trị tân bổ trợ
ung thư vú như liệu pháp kháng HER2 (human epidermal growth factor receptor - thụ
thể yếu tố tăng trưởng biểu bì ở người) và liệu pháp miễn dịch, nhưng thực tế tại Việt
Nam, nhiều bệnh nhân không có khả năng tiếp cận các phương pháp này do chi phí
điều trị cao. Vì vậy, phác đồ hóa trị 4AC-4T liều dày (bốn chu kỳ doxorubicin kết
hợp cyclophosphamide theo sau là bốn chu kỳ paclitaxel mỗi hai tuần) vẫn là phác đồ
được sử dụng rộng rãi trong điều trị tân bổ trợ ung thư vú giai đoạn III ở trong nước.
Hiện nay đã có một số nghiên cứu đánh giá kết quả bước đầu nhưng chưa có nghiên
cứu nào với cỡ mẫu lớn đánh giá đầy đủ kết quả lâu dài của phác đồ và tìm hiểu các
yếu tố liên quan đến kết quả điều trị. Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu
này với 2 mục tiêu:
1. Đánh giá kết quả điều trị bổ trợ trước và tác dụng không mong muốn ở
bệnh nhân ung thư vú giai đoạn III bằng phác đồ 4AC-4T liều dày.
2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến đáp ứng và thời gian sống thêm.
2. Những đóng góp mới của luận án
Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam đánh giá toàn diện về kết quả điều trị
bổ trợ trước, tính an toàn cũng như phân tích các yếu tố liên quan đến đáp ứng và
thời gian sống thêm ở bệnh nhân ung thư vú giai đoạn III bằng phác đồ 4AC-4T liều
dày trên cỡ mẫu lớn và thời gian theo dõi dài, đã đưa ra những kết quả và kết luận
có tính ứng dụng cao. Các kết quả chính: Qua nghiên cứu 211 bệnh nhân ung thư
vú giai đoạn III, được hóa trị bổ trợ trước phác đồ 4AC-4T liều dày tại Bệnh viện K
và Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội, chúng tôi rút ra một số kết luận sau: Tỷ lệ đáp
ứng lâm sàng toàn bộ (ORR) là 92,9%. Tỷ lệ pCR đạt 24,2%. Tỷ lệ EFS 5 năm, OS
5 năm lần lượt là 73,7% và 78,6%. Tác dụng không mong muốn (TDKMM) theo số
chu kỳ thường gặp là: thiếu máu (46,5%); hạ bạch cầu trung tính (BCTT) (32,5%);
hạ bạch cầu (29,0%); đa phần đều ở độ 1-2. TDKMM trên huyết học độ 3-4 thường
gặp nhất là hạ BCTT (9,6%). Sốt hạ BCTT chỉ chiếm 0,2%. Các TDKMM ngoài hệ
huyết học đa phần đều ở độ 1-2; độ 3 chiếm tỷ lệ thấp và không ghi nhận độ 4;

2
thường gặp là mệt mỏi (81,9%); chán ăn (75,5%); buồn nôn (53,5%); đau cơ, khớp
(51,4%) và rối loạn thần kinh ngoại vi (40,6%). Một số yếu tố liên quan đến đáp
ứng mô bệnh học: Phân tích đơn biến tìm thấy mối liên quan giữa pCR và các yếu
tố: giai đoạn u cT, độ mô học, tình trạng thụ thể nội tiết, HER2, Ki67 và phân loại
phân tử St. Gallen. Phân tích đa biến tìm thấy mối liên quan giữa pCR và 3 yếu tố:
giai đoạn u cT, độ mô học và tình trạng thụ thể nội tiết. Tình trạng thụ thể nội tiết là
yếu tố tiên lượng độc lập của EFS và OS; đáp ứng mô bệnh học là yếu tố tiên lượng
độc lập của EFS. Như vậy, tình trạng thụ thể nội tiết là yếu tố tiên lượng độc lập
của cả pCR, EFS và OS.
3. Bố cục của luận án
Luận án gồm 133 trang, trong đó phần đặt vấn đề 2 trang, tổng quan tài liệu
40 trang, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 15 trang, kết quả nghiên cứu 37
trang, bàn luận 34 trang, kết luận 2 trang và khuyến nghị 1 trang. Luận án có 36
bảng, 5 hình, và 15 biểu đồ; 152 tài liệu tham khảo (14 tài liệu tiếng Việt và 138 tài
liệu tiếng Anh).
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Hóa trị tân bổ trợ trong ung thư vú
1.1.1. Khái niệm
Điều trị tân bổ trợ là phương pháp điều trị trước phương pháp điều trị chính
tạo điều kiện thuận lợi cho phương pháp điều trị chính. Điều trị tân bổ trợ thường là
các phương pháp điều trị toàn thân, trong đó hay sử dụng nhất là hóa chất (hóa trị
tân bổ trợ).
1.1.2. Ưu điểm
Hóa trị tân bổ trợ có nhiều ưu điểm: Bắt đầu điều trị toàn thân sớm; đưa hóa
chất tới u, hạch qua hệ thống mạch còn nguyên vẹn; theo dõi được đáp ứng của u;
hạ thấp giai đoạn bệnh; hạn chế mức độ xâm lấn của phẫu thuật triệt căn; tăng khả
năng bảo tồn vú; xác định được các bệnh nhân nguy cơ cao cần nâng thang điều trị
sau phẫu thuật; là mô hình tốt để nghiên cứu và phê duyệt sớm các thuốc mới.
1.1.3. Đáp ứng với hóa trị
Đáp ứng với hóa trị tân bổ trợ dựa trên đáp ứng lâm sàng và đáp ứng trên mô
bệnh học. Hiện nay có nhiều hệ thống đánh giá đáp ứng mô bệnh học trong hóa trị
tân bổ trợ ung thư vú với các định nghĩa khác nhau về đáp ứng hoàn toàn trên mô
bệnh học (pCR). Trong đó hệ thống phân loại của Chevallier với 4 mức độ dễ áp
dụng trên lâm sàng đã được sử dụng rộng rãi tại Châu Âu và nhiều nước khác. Để
đi đến sự thống nhất, năm 2014 FDA đã đưa ra định nghĩa pCR là đạt được ypT0/is
ypN0 hoặc ypT0 ypN0. Theo hướng dẫn của ASCO năm 2021, pCR được định
nghĩa là ypT0/is ypN0 (không còn tế bào u xâm nhập trên bệnh phẩm vú và hạch).
1.2. Hóa trị tân bổ trợ liều dày trong ung thư vú
1.2.1. Khái niệm hóa trị liều dày

3
Hóa trị liều dày (hay còn gọi là hóa trị liều mau) là việc sử dụng phác đồ hóa
chất với chu kỳ rút ngắn hơn so với phác đồ tiêu chuẩn (thường là 3 tuần) với liều
hóa chất vẫn giữ nguyên trong mỗi chu kỳ.
1.2.2. Cơ sở lý thuyết của hóa trị liều dày
Nghiên cứu in vivo cho thấy giảm liều hóa chất sẽ giảm số lượng tế bào ung thư
bị tiêu diệt. Trong thực hành lâm sàng, nếu giảm liều hóa chất có thể ảnh hưởng tới
hiệu quả điều trị. Ngược lại, nếu tăng liều hoặc rút ngắn thời gian giữa các chu kỳ
(hóa trị liều dày) có thể làm các tế bào ung thư bị tiêu diệt nhiều hơn và không đủ
thời gian để phân chia và phát triển trở lại, đồng thời hạn chế nguy cơ phát triển các
dòng tế bào kháng thuốc, từ đó dẫn đến tăng hiệu quả điều trị trên lâm sàng.
1.2.3. Các nghiên cứu về hóa trị tân bổ trợ liều dày
Trên thế giới
Một số nghiên cứu đã báo cáo các kết quả về tỷ lệ đáp ứng mô bệnh học khi
điều trị phác đồ liều dày cao hơn so với phác đồ tiêu chuẩn 3 tuần như nghiên cứu
pha III AGO-1 (18% so với 10%, p=0,008); nghiên cứu pha III PREPARE (18% so
với 12%, p=0,0176). Hiệu quả trên thời gian sống thêm vẫn chưa có sự nhất quán:
một số nghiên cứu thấy cải thiện thời gian sống thêm ở phác đồ liều dày so với phác
đồ tiêu chuẩn nhưng một số nghiên cứu khác chưa chứng minh được điều này. Về
TDKMM, hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy nhánh hóa trị liều dày kèm theo
thuốc tăng bạch cầu làm tăng TDKMM ngoài huyết học nhưng không tăng
TDKMM trên huyết học so với hóa trị liều tiêu chuẩn.
Nghiên cứu của R. Catane và cộng sự cùng phác đồ 4AC-4T liều dày đưa ra
kết quả: 92% bệnh nhân đã hoàn thành 8 chu kỳ và được phẫu thuật. ORR: 90%,
với tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn trên lâm sàng là 18%. 39/49 bệnh nhân (80%) đã trải
qua phẫu thuật bảo tồn vú. Đáp ứng hoàn toàn trên mô bệnh học tại vú là 18%, tại
hạch là 33% và ở cả vú và hạch là 12%. Bệnh nhân dung nạp khá tốt với TDKMM
trên huyết học độ 3-4 gặp ở 5/53 bệnh nhân (9,4%), buồn nôn độ 3-4 gặp ở 2/53
bệnh nhân (3,8%) và nôn độ 4 chỉ gặp ở 1 bệnh nhân (1,9%).
Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, phác đồ hóa trị liều dày được áp dụng trong điều trị tân bổ trợ
ung thư vú từ khoảng năm 2015. Đã có một số nghiên cứu trong nước về phác đồ
hóa trị tân bổ trợ 4AC-4T liều dày ở bệnh nhân ung thư vú nhưng chủ yếu thực hiện
tại một bệnh viện với cỡ mẫu còn hạn chế, đa phần dừng lại ở đánh giá đáp ứng điều
trị và độc tính, rất ít nghiên cứu theo dõi dài hạn, phân tích sống thêm và các yếu tố
liên quan.
Nghiên cứu của Hà Thành Kiên (2018) trên ung thư vú giai đoạn III cho tỷ lệ
pCR là 27,8%. Một số TDKMM của phác đồ: tỷ lệ hạ BCTT ở tất cả mức độ là
19,9% tổng số chu kỳ, trong đó độ 3-4 chiếm 5,1%, không có trường hợp nào sốt
hạ bạch cầu. Hạ huyết sắc tố chiếm 35,5% tổng số chu kỳ. Nôn, chán ăn gặp lần
lượt ở 51,1% và 72,2% bệnh nhân, tất cả đều ở độ 1-2. Độc tính trên gan gặp ở
25,9% bệnh nhân, trong đó độ 3 chiếm 3,7%. Không có bệnh nhân nào có độc tính
trên thận và trên tim. Độc tính thần kinh ngoại vi chiếm 57,4%, chỉ gặp ở độ 1-2.

