BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HUYỀN ANH
TĂNG HUYẾT ÁP TRONG THAI KỲ, KẾT QUẢ SẢN
KHOA VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA TĂNG HUYẾT
ÁP SAU SINH
Chuyên ngành: Sản phụ khoa
Mã số: 9720105
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
HÀ NỘI – 2025
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. Nguyễn Mạnh Thắng
2. PGS. TS Trương Thanh Hương
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường
họp tại Trường Đại học Y Hà Nội
Vào hồi giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện Quốc gia Việt Nam
Thư viện Trường Đại học Y Hà Nội
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ
VỀ ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1. Nguyen Thi Huyen Anh, Nguyen Manh Thang, Truong
Thanh Huong (2024). Maternal and perinatal outcomes of
hypertensive disorders in pregnancy: Insights from the
National Hospital of Obstetrics and Gynecology in Vietnam.
PLoS One. 2024 Jan 31;19(1):e0297302.
2. Nguyễn Thị Huyền Anh, Nguyễn Mạnh Thắng, Trương
Thanh Hương (2024). Tỷ lệ yếu tố nguy của tăng huyết
áp kéo dài sau đẻ trên các sản phụ tăng huyết áp trong thai kỳ
tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. Tạp chí Nghiên cứu Y học,
số 180 (7), trang 280-290.
1
GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tăng huyết áp (THA) rối loạn thường gặp trong thai kỳ, gây
ảnh hưởng đến 5 10% phụ nữ mang thai trên toàn thế giới. THA
trong thai kỳ (hypertensive disorders of pregnancy) gồm 4 thể: THA
mạn tính (chronic hypertension), THA thai kỳ (gestational
hypertension), tiền sản giật sản giật (preeclampsia eclampsia)
tiền sản giật trên nền THA mạn tính (preeclampsia superimposed on
chronic hypertension). Trong đó, tiền sản giật là thể thường gặp nhất
với tỷ lệ ước tính khoảng 2 8% tổng số phụ nữ mang thai. THA
trong thai kỳ thể gây ra các biến chứng nặng nề cho cmẹ thai
nhi. Với mẹ, THA trong thai kỳ làm tăng nguy xảy ra hội chứng
HELLP, rau bong non, suy tim, phù phổi cấp, nguy hiểm nhất là
tử vong. Với thai nhi, THA trong thai kỳ gây ra các biến chứng trầm
trọng như thai chậm phát triển trong tử cung, đẻ non, và thai chết lưu.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh THA trong thai kỳ làm tăng
nguy THA kéo dài sau sinh. Theo Sibai, tỷ lệ THA sau sinh dao
động trong khoảng 0,3 27,5%, trong đó gần 86% có tiền sử THA
thai kỳ hoặc tiền sản giật. Nghiên cứu của Lugobe cộng sự năm
2023 cho thấy 39% sản phụ THA trong thai kỳ THA kéo dài sau
sinh 3 tháng. Ở Anh, một nghiên cứu tổng quan hệ thống và phân tích
gộp năm 2019 cho thấy tỷ lệ THA trong 2 năm đầu tiên sau sinh trên
những sản phụ THA trong thai kỳ9,1%. Tại khu vực Châu Á, tỷ lệ
THA kéo dài sau sinh trên những sản phụ THA trong thai kỳ ở Trung
Quốc Hàn Quốc lần lượt 7,5% 7,7%. Một syếu tố nguy
của THA sau sinh đã được xác định như chế độ ăn nhiều muối, thừa
cân béo phì, mẹ lớn tuổi, đái tháo đường thai kỳ. Nếu không được
kiểm soát tốt, THA sau sinh thể gây ra các biến chứng nghiêm
trọng như rối loạn chuyển hoá, suy thận, suy tim, bệnh mạch vành,
đột quỵ, huyết khối tĩnh mạch, động kinh, nguy hiểm nhất là tử
vong.
Trên thế giới đã nhiều nghiên cứu công bố về bệnh THA
trong thai kỳ THA sau sinh. Tuy nhiên, tại Việt Nam hầu hết các
nghiên cứu tập trung vào tiền sản giật là một thể bệnh thường gặp của
THA trong thai kỳ. Ngoài ra, cũng chưa nghiên cứu nào trong
nước theo dõi dọc cho các sản phụ THA trong thai kỳ để xác định t
2
lệ yếu tố nguy của THA sau sinh. Nghiên cứu về kết quả sản
khoa của bệnh THA trong thai kỳ hết sức cần thiết, giúp bác
lâm sàng tiên lượng tốt hơn các biến chứng thể xảy ra, từ đó đưa
ra phương án điều trị phù hợp. Thêm vào đó, việc theo dõi huyết áp
sau sinh cho nhóm bệnh nhân này cũng ý nghĩa quan trọng, giúp
đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời, góp phần giảm nguy tiến
triển thành THA mạn tính kèm theo các biến chứng tim mạch trong
tương lai. vậy, chúng tôi thực hiện đề tài: “Tăng huyết áp trong
thai kỳ, kết quả sản khoa và các yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp
sau sinh” với hai mục tiêu:
1. tả mối liên quan giữa tăng huyết áp trong thai kỳ kết
quả sản khoa tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương năm 2023.
2. Phân tích một số yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp sau sinh ở
nhóm nghiên cứu.
2. Những đóng góp mới của luận án
-Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thai chết lưu, tử vong chu
sinh tỷ l biến chứng mẹ tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
(BVPSTƯ) thấp hơn số liệu được báo cáo trong một số nghiên cứu
trước đó trên thế giới.
-Trong các biến chứng mẹ, suy thận, suy gan hội chứng
HELLP 3 biến chứng thường gặp nhất với tỷ l lần lượt 7,4%;
7,1% 3,3%. Không ghi nhận trường hợp nào sản phụ tử vong. Hai
biến chứng thường gặp nhất thai nhi gồm đ non (62,8%) thai
chậm phát triển trong tử cung (42,3%). Các yếu tố nguy cơ chính liên
quan đến biến chứng mẹ bao gồm giảm tiểu cầu < 100 G/l, protein
niệu 3,5 g/l AST 70 UI/l. Trong khi đó, dân tộc thiểu số, đa
thai, tiền sản giật – sản giật, protein niệu ≥ 3,5 g/l và sự xuất hiện của
triệu chứng nặng là các yếu tố tiên lượng độc lập nguy cơ xảy ra biến
chứng thai.
-Khi theo dõi dọc cho các sản phụ THA trong thai kỳ, chúng tôi
ghi nhận tỷ lệ THA tại thời điểm sau sinh 1 ngày, 3 ngày, 7 ngày và 6
tuần lần lượt là 58,1% (175/301), 28,6% (86/301), 29,9% (90/301) và
13,0% (39/301). Tại thời điểm kết thúc theo dõi, 7,6% (23/301) sản
phụ THA kéo dài 92,4% (278/301) sản phụ huyết áp trở về
bình thường sau sinh 3 tháng. Các yếu tố nguy độc lập của THA