
Vài nét sơ lược về sự Phát triển của
Triết học Trung Hoa
TỪ TỐNG TỚI THANH – Phần 1
Từ đời đầu vãn Đường (823-907), Trung Hoa bị nạn hoạn quan và
loạn lạc liên miên, tình cảnh dân chúng rất cực khổ. Nhà Hậu Lương chiếm
ngôi nhà Đường, mở màn cho thời Ngũ Đại (Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu
Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu), thời mà các anh hùng chiếm cứ mỗi người một
nơi, tranh giành nhau thế lực.
Cũng may thời đó chỉ kéo dài khoảng 50 chục năm, rồi Tống Thái Tổ
thống nhất được đất đai. Trung Hoa lúc này sức đã yếu, rán giữ độc lập được
ba thế kỷ (960-1279), nhưng thường bị rợ Liêu, Kim, Nguyên uy hiếp.

Tuy nhiên, nhờ được tương đối yên ổn trong một thời gian khá dài,
mà văn hóa đời Tống phát triển đến cực độ. Nghề khắc chữ đã tiến, thư viện
tạo lập được nhiều, văn học không kém đời Đường, nhưng mỹ thuật như
tranh vẽ, đồ sứ… hơn cả các thời trước và sau, mà triết học cũng tiến tới cái
mức huyền vi thâm thuý.
Nói “triết học” chứ sự thực chỉ có Nho giáo là phục hưng, còn Phật và
Lão thì suy luôn. Mà Nho sở dĩ phục hưng được là vì các triết gia của họ có
chí tự cường chống lại Phật. Muốn chống lại Phật thì phải đả kích Phật trên
khu vực của Phật, nghĩa là phải bỏ phạm vi chính trị, thực tế của Nho mà đi
sâu vào phạm vi đạo lý huyền nhiệm của Phật, thành thử muốn phản lại Phật
mà rốt cuộc người ta chịu ảnh hưởng rất sâu của Phật và Lão.
Người ta chú trọng đến vũ trụ luận, bàn đến đạo, đến tính, đến lý, đào
thêm cái thuyết thiên địa vạn vật nhất thể, dung hoà Khổng và Lão.

Về luân lý, phép tu dưỡng, người ta đưa những chủ trương dưỡng tâm,
tồn tính rất cao xa cốt tạo nên những ông thánh mà bỏ quên sự giáo dục hạng
trung nhân. Không như Khổng Tử, người ta đã cách biệt với quần chúng,
thành thử học thuyết tuy huyền vi mà kém thực dụng. Đó là sở trường mà
cũng là sở đoản của Đạo học từ Tống tới Minh.
Tuy nhiên, thời Bắc Tống, cũng có một số Nho gia nghĩ đến tình cảnh
suy nhược của dân tộc, muốn dùng sở học để làm cho nước cường dân
mạnh, như Tư Mã Quang, Lý Cấu, Tô Thức, Vương An Thạch… Tư Mã và
Tô thì thủ cựu, theo đúng chính sách của Khổng; Lý thì chủ trương về công
lợi; Vương có nhiều sáng kiến và hùng tâm hơn hết, muốn làm một cuộc cải
cách lớn lao về giáo dục, xã hội, kinh tế, chính trị như Quản Trọng thời
Xuân Thu; tiếc rằng bị phái thủ cựu công kích quá, - mà phái này rất mạnh ở
triều đình cũng như ở thôn dã -, nên không thực hiện được gì cả. Những nhà
đó là chính trị gia, về triết học không phát huy thêm được gì, và dưới đây
chúng tôi chỉ giới thiệu tư tưởng của những nhà Đạo học.
Phong trào chia làm ba thời kỳ:

Thời kỳ thứ nhất, các triết gia chưa có khuynh hướng chung rõ rệt,
duy lý hay duy tâm; đặc biệt có Trương Tái chủ trương khí là bản căn của
vạn vật, mở đường cho phái Duy khí có ảnh hưởng lớn ở đời Thanh.
Thời kỳ thứ nhì, cuối Tống, kể từ Chu Hi, người ta bàn về đạo lý
nhiều hơn, nên gọi là thời kỳ Lý học.
Thời kỳ thứ ba, đời Minh, người ta bàn đến tâm nhiều hơn, nên gọi là
thời kỳ Tâm học. Tất nhiên giữa các thời kỳ không có sự đứt quãng một cách
đột ngột.
Số triết gia rất đông, chúng tôi chỉ xét những vị danh tiếng nhất:
a. Các nhà mở đường: Chu Đôn Di, Thiệu Ung, Trương Tái, hai anh
em họ Trình: Trình Hạo và Trình Di;

b. Chu Hi tập đại thành và gây phong trào Lý học;
c. Lục Cửu Uyên mở đường cho Tâm học, mà người kết thúc phong
trào là Vương Dương Minh.
Chu Đôn Di dùng Thái cực đồ của Đạo gia (tức phái Lão từ Hán về
sau, xin đừng lộn với Đạo học đời Tống, Minh) để giảng vũ trụ, chứ không
phải để giảng phép tu luyện như các đạo sĩ. Ông chịu ảnh hưởng của Lão ở
điểm đó. Ông cho rằng thái cực sinh vạn vật. Thái cực động mà sinh dương,
động rồi tĩnh, tĩnh mà sinh âm, tĩnh cực rồi lại động, cứ như vậy hết động
đến tĩnh hết tĩnh đến động. Dương biến âm hợp mà sinh ngũ hành (ông cũng
gọi là ngũ khí) rồi sinh vạn vật.
Vạn vật bẩm thụ cái lý của thái cực, cái tính của ngũ hành. Lý hoàn
toàn thiện, cho nên tính người cũng vốn thiện, vốn “thành” (thành đây tức là
chữ thành trong “chí thành”, “thành tâm”).

