intTypePromotion=1
ADSENSE

Vai trò của hoạt động trị liệu trong mô hình đơn vị trí nhớ

Chia sẻ: Saobiendo Saobiendo | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:11

34
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Điều trị dùng thuốc thì các phương thức trị liệu khác cũng có tầm quan trọng tương đương như dinh dưỡng trị liệu, hỗ trợ chăm sóc. Trong đó tầm quan trọng của Hoạt động trị liệu là hỗ trợ giúp bệnh nhân cải thiện các hoạt động liên quan đến thể chất, duy trì các hoạt động sống hàng ngày độc lập hay cải thiện khả năng ghi nhớ, nhận thức thông qua các hoạt động tập luyện kích thích nhận thức. Hiện nay, can thiệp Hoạt động trị liệu đã được chứng minh có hiệu quả trong nhiều nghiên cứu giúp người bệnh cải thiện nhận thức, hành vi thông qua cả 2 hình thức can thiệp nhóm và can thiệp cá nhân, và từ đó xây dựng môi trường an toàn với các tương tác xã hội thích hợp cho người bệnh.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Vai trò của hoạt động trị liệu trong mô hình đơn vị trí nhớ

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019 Tổng Quan<br /> <br /> <br /> VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG TRỊ LIỆU<br /> TRONG MÔ HÌNH ĐƠN VỊ TRÍ NHỚ<br /> Đỗ Ngọc Tùng*, Nguyễn Thị Bình**<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Tình hình bệnh nhân sa sút trí tuệ và suy giảm trí nhớ trên thế giới và tại Việt Nam đang có chiều hướng gia<br /> tăng, cứ 3 giây trôi qua thì lại có thêm 1 bệnh nhân mới được chẩn đoán sa sút trí tuệ. Chi phí điều trị và chăm<br /> sóc cho đối tượng này trở thành ghánh nặng lớn cho gia đình và xã hội do việc điều trị kéo dài, và không thể chữa<br /> khỏi hoàn toàn. Hiện nay phần lớn đối tượng này thường bị bỏ sót ở giai đoạn sớm và chỉ được chẩn đoán, điều trị<br /> ở giai đoạn muộn khi tình trạng bệnh khó cải thiện. Điều này dẫn tới người bệnh mất khả năng thực thi các hoạt<br /> động sống cơ bản đồng thời xuất hiện các rối loạn hành vi tâm thần. Vì vậy việc hiểu biết đúng về sa sút trí tuệ<br /> cũng như nhận biết sớm các dấu hiệu suy giảm trí nhớ, kịp thời tiếp cận các phương thức điều trị đã được chứng<br /> minh về hiệu quả là điều hết sức quan trọng. Từ những lý do trên gần đây các đơn vị trí nhớ được thành lập tại<br /> các bệnh viện lớn nơi tập hợp các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực như bác sĩ thần kinh, tâm lý, dinh dưỡng, phục<br /> hồi chức năng, hoạt động trị liệu… nhằm mục đích chẩn đoán, phân loại, điều trị sớm và toàn diện cho các đối<br /> tượng trên. Ngoài việc điều trị dùng thuốc thì các phương thức trị liệu khác cũng có tầm quan trọng tương<br /> đương như dinh dưỡng trị liệu, hỗ trợ chăm sóc. Trong đó tầm quan trọng của Hoạt động trị liệu là hỗ trợ giúp<br /> bệnh nhân cải thiện các hoạt động liên quan đến thể chất, duy trì các hoạt động sống hàng ngày độc lập hay cải<br /> thiện khả năng ghi nhớ, nhận thức thông qua các hoạt động tập luyện kích thích nhận thức. Hiện nay, can thiệp<br /> Hoạt động trị liệu đã được chứng minh có hiệu quả trong nhiều nghiên cứu giúp người bệnh cải thiện nhận thức,<br /> hành vi thông qua cả 2 hình thức can thiệp nhóm và can thiệp cá nhân, và từ đó xây dựng môi trường an toàn với<br /> các tương tác xã hội thích hợp cho người bệnh.<br /> Từ khóa: hoạt động trị liệu, sa sút trí tuệ, đơn vị trí nhớ, phục hồi chức năng<br /> ABSTRACT<br /> ROLE OF OCCUPATIONAL THERAPY IN MEMORY UNIT MODEL<br /> Do Ngoc Tung, Nguyen Thi Binh<br /> * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 23 – No. 5 - 2019: 15 – 25<br /> <br /> The number of patients with dementia and memory impairment is on the rise in the world and in Vietnam.<br /> Every 3 seconds, there’ll be one new patient diagnosed with dementia. The cost of treatment and care for this<br /> problem becomes a great burden for the family and society due to the prolonged and incurable treatment.<br /> Currently, most of dementia at an early stage have not been diagnosed and only treated at a later stage when the<br /> condition becomes difficult to improve. These lead to the patient's inability to perform basic daily living activities<br /> and appear some mental behavioral disorders. Therefore, the right understanding of dementia, as well as the early<br /> recognition of symptoms of memory impairment and timely access to proven treatment methods, is extremely<br /> important. From the above reasons, memory units have recently been established in center hospitals that including<br /> specialists in many fields such as neurologists, psychologists, nutritionists, rehabilitation, occupational therapists,<br /> etc. aim to diagnose, classify, treat early and comprehensively for dementia. In addition to pharmacology, other<br /> therapeutic treatments are equally important, such as nutritional therapy, palliative care; which emphasizes the<br /> importance of occupational therapy in this unit to help patients improve their physical activities, maintain<br /> *Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh **Bệnh viện 30/4 TP. Hồ Chí Minh<br /> Tác giả liên lạc: ThS. Đỗ Ngọc Tùng ĐT: 0938996889 Email: tung.dn@umc.edu.vn<br /> <br /> <br /> Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 15<br /> Tổng Quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5* 2019<br /> <br /> independent daily living activities, and improve memory and cognition through cognitive stimulation. The<br /> therapy proved the effect which is applied in both individual and group interventions to help patients improve<br /> their awareness, behavior, and build a safe environment with appropriate social interactions.<br /> Keyword: occupational therapy, dementia, memory unit, rehabiliation<br /> ĐẶT VẤN ĐỀ cao tuổi(4).<br /> Việc điều trị SSTT rất tốn kém và kéo dài<br /> Tình hình sa sút trí tuệ trên thế giới và tại<br /> vì không phải là bệnh có thể chữa khỏi hoàn<br /> Việt Nam<br /> toàn mà chỉ tập trung vào điều trị giảm triệu<br /> Theo báo cáo của Liên đoàn quốc tế về bệnh<br /> chứng. Việc đưa người bệnh đến cơ sở y tế<br /> sa sút trí tuệ (SSTT) Alzheimer’s Disease sớm sẽ giúp cho người bệnh được chẩn đoán<br /> International, cứ 3 giây thì có một bệnh nhân đúng và có phác đồ điều trị phù hợp, giúp<br /> SSTT. Có khoảng 46,8 triệu người trên toàn thế ngăn chặn hoặc làm chậm quá trình tiến triển<br /> giới mắc chứng SSTT vào năm 2015. Con số này<br /> bệnh. Đồng thời người bệnh còn được tập thể<br /> sẽ tăng gấp đôi sau mỗi 20 năm, đạt 75 triệu dục tăng cường vận động và giao tiếp hiệu<br /> người vào năm 2030 và 131,5 triệu vào năm quả. Để đáp ứng nhu cầu đó hiện nay “Đơn vị<br /> 2050(9). Ở Việt Nam, 4%-8% số người trên 60 tuổi trí nhớ” ở Bệnh viện Đại học Y Dược Thành<br /> mắc chứng SSTT và sẽ có khoảng trên 2 triệu<br /> phố Hồ Chí Minh được hình thành và đi vào<br /> người có vấn đề này vào năm 2050(11,12). hoạt động bước đầu với sự hỗ trợ đa chuyên<br /> Những bệnh nhân bị SSTT thường đi kèm ngành gồm bác sĩ đa khoa, bác sĩ thần kinh,<br /> các vấn đề khác như nguy cơ té ngã cao, bệnh lý điều dưỡng, chuyên viên tâm lý, ngôn ngữ trị<br /> nhồi máu cơ tim, bệnh lý rối loạn tiêu hóa, và liệu và hoạt động trị liệu. Trong đó hoạt động<br /> viêm phổi. Một báo cáo năm 2017 về Alzheimer trị liệu giữ vai trò quan trọng trong điều trị dự<br /> tại Mỹ người ta nhận thấy bệnh này tạo ra gánh phòng, duy trì cái thiện tình trạng cho bệnh<br /> nặng cho người nhà và người chăm sóc do đa số nhân SSTT, giúp khuyến khích bệnh nhân giao<br /> xảy ra ở người ở người trên 65 tuổi, còn trên 65 tiếp, hỗ trợ hoạt động với các bước đơn giản,<br /> tuổi càng lớn tuổi thì càng tăng. Nhóm dân số giúp cải thiện trí nhớ, thể chất, tinh thần và<br /> này nếu sống đến 85-90 tuổi thì một phần ba bị độc lập hơn trong sinh hoạt động hằng ngày.<br /> SSTT và sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống và chất<br /> TỔNG QUAN VỀ SA SÚT TRÍ TUỆ VÀ<br /> lượng chăm sóc của người chăm sóc rất nhiều.<br /> SUY GIẢM NHẬN THỨC<br /> Bệnh nhân SSTT sống từ 5 năm trở lên thì gánh<br /> nặng cho người chăm sóc so với không SSTT Sa sút trí tuệ<br /> tăng lên gấp đôi. Thường bệnh nhân SSTT sống SSTT là tập hợp các triệu chứng gây ra bởi<br /> khoảng 10 – 15 năm chính vì vậy điều này sẽ trở các rối loạn nghiêm trọng trong não, là kết quả<br /> thành gánh nặng lớn cho gia đình và xã hội(9). của sự thoái hóa trong hệ thần kinh trung ương.<br /> Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và các Nó là một nhóm bệnh lý (mất trí nhớ mạch máu,<br /> báo cáo về bệnh nhân Alzhemer thế giới, năm mất trí thể lewy, chứng mất trí thùy trán – thái<br /> 2015 chi phí dành cho chăm sóc, điều trị bệnh dương). Chứng SSTT phổ biến nhất là<br /> nhân SSTT trên toàn cầu ước tính khoảng hơn Alzhiemer đặc biệt ở người trên 65 tuổi(16).<br /> 800 tỷ USD (tương đương 1% GDP toàn cầu) và SSTT cho thấy những thay đổi giải phẫu thần<br /> sẽ đạt tới 2.000 tỷ USD vào năm 2030(1) . Vì vậy kinh hoặc hóa học thần kinh xảy ra ở những não<br /> chúng ta cần nâng cao hiểu biết về SSTT, huấn nhạy cảm về mặt di truyền hoặc môi trường;<br /> luyện tham gia tập thể dục thường xuyên, thay nhiều tế bào thần kinh chết, ngưng chức năng<br /> đổi chế độ ăn tốt, và tập luyện nhận thức tốt sẽ hoặc mất kết nối với những tế bào thần kinh<br /> giúp cải thiện được tình trạng SSTT trên người khác. Những thay đổi bệnh lý được tìm thấy<br /> <br /> <br /> 16 Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019 Tổng Quan<br /> <br /> thông qua kính hiển vi mô não có sự tích lũy có liên quan đến tuổi già. Như quên tên một ai<br /> amyloid ở khoảng trống giữa các tế bào thần đó, quên bỏ chìa khóa ở đâu, quên ngày tháng<br /> kinh, tăng bạch cầu trung tính và rối loạn sợi hay địa danh. Tuy nhiên, nếu mất trí nhớ trở<br /> thần kinh, mất tế bào và synap thần kinh. nên ngày càng trầm trọng, và ngày càng tiến<br /> Chẩn đoán chuẩn của SSTT đòi hỏi phải có triển, có thể gọi bệnh này là suy giảm nhận<br /> sự sa sút về trí nhớ và các chức năng nhận thức thức nhẹ (MCI)(16).<br /> khác đủ nặng để ảnh hưởng đến sinh hoạt cuộc MCI là một giai đoạn trung gian giữa suy<br /> sống hằng ngày. SSTT được phân làm 3 mức độ giảm nhận thức lão ở lão hóa bình thường và<br /> SSTT nhẹ, SSTT vừa, SSTT nặng theo tiến triển bệnh Alzheimer hoặc sự suy giảm tương tự.<br /> của bệnh. Không phải tất cả mọi người bệnh MCI sẽ mắc<br /> Nguyên nhân SSTT do hậu quả của mất tế bệnh mất trí nhớ. Và cũng giống như SSTT, MCI<br /> bào thần kinh và mất sự liên kết giữa các tế bào không phải là một căn bệnh mà là một nhóm các<br /> thần kinh. Hiện tại có nhiều cách phân chia các triệu chứng làm suy nghĩ trong bạn thay đổi<br /> nguyên nhân được thực hiện như theo vị trí; và khó khăn xử lý thông tin. Vấn đề bộ nhớ là<br /> theo nguyên phát, thứ phát; theo thời gian. chỉ số phổ biến nhất của MCI. Một người bệnh<br /> MCI cũng có thể gặp khó khăn trong suy nghĩ,<br /> Về triệu chứng lâm sàng được phân chia theo<br /> tư duy phản biện và ngôn ngữ hơn là những<br /> Thay đổi nhận thức người trong quá trình lão hóa bình thường. Vì lý<br /> Quên (mới xuất hiện), khó hiểu trong giao do không rõ mà MCI thường ảnh hưởng đến nữ<br /> tiếp bằng lời nói và chữ viết, khó khăn trong việc nhiều hơn. Các thành viên trong gia đình và bạn<br /> tìm từ để dùng, rối loạn định hướng, không biết bè những người nhận thấy những vấn đề này có<br /> các sự kiện phổ biến. thể không được quan tâm bời vì các triệu chứng<br /> Các triệu chứng tâm thần sớm khó nhận biết và thường liên quan đến tuổi<br /> tác. Những người đau buồn do bệnh MCI<br /> Chứng tự kỷ hoặc lãnh đạm, trầm cảm, nghi<br /> thường nhận ra rằng họ đang gặp khó khăn<br /> ngờ, lo âu, mất ngủ, chứng sợ, hoang tưởng, ảo<br /> nhưng vẫn thực hiện trên hầu hết các hoạt động<br /> giác hoặc kích động.<br /> bình thường của họ và sống độc lập.<br /> Thay đổi nhân cách<br /> Nguyên nhân của MCI thường không rõ<br /> Các mối quan hệ không thích hợp, bàng ràng, nhưng bệnh xuất hiện ở một số có những<br /> quan, tránh các sinh hoạt xã hội, đùa giỡn hay yếu tố tương tự như bệnh Alzheimer. Nguy cơ<br /> tán tỉnh quá mức, dễ thất vọng, có các cơn của bệnh MCI bao gồm những người trên 65<br /> giận dữ. tuổi, có lịch sử gia đình về bệnh MCI, bệnh<br /> Thay đổi về hành vi Alzheimer, hoặc hình thức khác của chứng mất<br /> Đi lang thang, kích động, làm ồn, đứng ngồi trí. Có một số tình trạng về y tế, chẳng hạn như<br /> không yên. huyết áp cao, tiểu đường, đột quỵ, cholesterol<br /> cao, hoặc bệnh tim, lạm dụng thuốc, rượu, thiếu<br /> Thay đổi các hoạt động hằng ngày<br /> tập thể dục.<br /> Khó khăn trong chạy xe, bị lạc đường, quên<br /> Hình ảnh não và nghiên cứu khoa học chỉ ra<br /> công thức nấu ăn, thờ ơ chăm sóc bản thân, gia<br /> rằng một số người bị MCI cũng có những mảng,<br /> đình, khó khăn trong quản lý tiền bạc, sai lầm<br /> đám rối cơ thần kinh thoát lại ở trung tâm bộ não<br /> trong công việc.<br /> và được quan sát thấy như ở những người bị<br /> Suy giảm nhận thức (Mild cognitive bệnh Alzheimer. Một số người bị MCI không trở<br /> impairment – MCI) nên tệ hơn hoặc tiến triển đến bệnh Alzheimer,<br /> Như chúng ta đã biết một số bệnh mất trí còn một số sẽ tiếp tục tiến triển các triệu chứng<br /> <br /> <br /> Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 17<br /> Tổng Quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5* 2019<br /> <br /> dẫn đến Alzheimer. Sảng<br /> Các triệu chứng của MCI Giảm ý thức và sự chú ý thường thấy trong<br /> Khó ghi nhớ những điều đơn giản. SSTT.<br /> Khó khăn theo kịp một cuộc trò chuyện hoặc Tiêu chuẩn chẩn đoán<br /> chỉ dẫn cơ bản. Trước đây người ta sử dụng DSM – IV<br /> Thường xuyên mất tập trung trong học tập. nhưng hiện nay sử dụng DSM-V hoặc tiêu chuẩn<br /> NIA-AA (2011). Chẩn đoán SSTT theo DSM - V<br /> Quên các cuộc hẹn hoặc các sự kiện theo<br /> (2013) dựa trên đánh giá 6 nhóm chức năng(2).<br /> lịch trình.<br /> Tập trung: duy trì,chọn lọc, phân tán và tốc<br /> Cảm thấy bị choáng khi bạn cố gắng làm kế<br /> độ xử lý.<br /> hoạch hoặc quyết định.<br /> Điều hành: lên kế hoạch, ra quyết định trí<br /> Bị mất phương hướng ngay cả ở những địa<br /> nhớ công việc, đáp ứng với phản hồi kềm chế và<br /> điểm quen thuộc.<br /> linh hoạt.<br /> Với bệnh MCI, những thay đổi này không<br /> Học tập và trí nhớ: tự nhớ, gợi nhớ, trí nhớ<br /> xảy ra đột ngột mà tiến triển nặng dần hơn theo<br /> mô tả, trí nhớ ngữ nghĩa và hình ảnh, trí nhớ dài<br /> thời gian. Ngoài những triệu chứng này, nhiều<br /> hạn, kỹ năng nội sinh.<br /> người với MCI cũng có triệu chứng về tình cảm<br /> như trầm cảm, khó chịu, lo lắng hoặc thờ ơ. Ngôn ngữ: định danh, tìm từ, trôi chảy, ngữ<br /> pháp và cấu trúc câu, hiểu lời hoặc chữ viết.<br /> Chẩn đoán SSTT và MCI<br /> Chức năng vận động trí tuệ: nhận biết thị<br /> Được chẩn đoán thông qua hỏi bệnh sử,<br /> giác, phân tích cấu trúc bằng thị giác, kết hợp<br /> khám lâm sàng, khám tổng quát, cận lâm sàng.<br /> vận động trí tuệ.<br /> Tuy nhiên cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh<br /> khác như: Nhận thức xã hội: nhận biết cảm xúc, lý giải<br /> suy nghĩ, phán đoán.<br /> Hội chứng trí nhớ<br /> Tiêu chuẩn NIA-AA(2011) dùng trên lâm sàng(7)<br /> Giảm trí nhớ gần đơn độc.<br /> Giảm nhận thức, rối loạn hành vi ảnh hưởng<br /> Thất ngôn tiếp nhận<br /> đến hoạt động sống hằng ngày.<br /> Giảm chức năng nhận thức do không hiểu<br /> Giảm so với trước đây.<br /> được ngôn ngữ.<br /> Không do sảng hoặc rối loạn tâm thần gây ra.<br /> Chậm phát triển tâm thần<br /> Suy giảm nhận thức được phát hiện và chẩn<br /> Khả năng trí tuệ suy giảm, nhưng không đoán qua việc kết hợp hỏi bệnh sử người thân và<br /> nhất thiết có giảm trí nhớ. khám trạng thái tâm thần kinh. Test đánh giá<br /> Giả SSTT (Hội chứng trầm cảm giả SSTT) được sử dụng khi bệnh sử và khám không cung<br /> Khoảng 50% bệnh nhân già có hội chứng cấp một chẩn đoán tin cậy.<br /> trầm cảm giả SSTT sẽ phát triển thành SSTT thật Suy giảm nhận thức hoặc hành vi ảnh hưởng<br /> sự trong vòng 3-5 năm. ít nhất 2 nhóm trong 5 nhóm sau:<br /> Giảm nhận thức ở người già (1): Giảm trí nhớ.<br /> Giảm trí nhớ tuổi già, quên lành tính ở người (2): Giảm chức năng điều hành.<br /> già hoặc suy giảm nhận thức nhẹ (MCI). Các (3): Giảm chức năng thị giác không gian.<br /> triệu chứng không gây giảm hoạt động chức<br /> (4): Giảm chức năng ngôn ngữ.<br /> năng hàng ngày. Tuy nhiên, khoảng 25-35% tiến<br /> (5): Thay đổi cá tính hành vi.<br /> triển thành SSTT trong vòng 18 tháng.<br /> <br /> <br /> 18 Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019 Tổng Quan<br /> <br /> Khám thực thể bao gồm khám thần kinh nhẹ (MCI), và bị ảnh hưởng bởi tuổi và trình độ<br /> Khám thực thể một cách toàn diện bao gồm học vấn, ngôn ngữ, vận động và thị lực(6).<br /> cả khám thần kinh tìm các dấu hiệu của tai biến Mini-Cog(14): trắc nghiệm Mini-Cog bao gồm<br /> mạch máu não, Parkinson... vẽ đồng hồ và nhắc lại 3 từ không liên quan<br /> Trắc nghiệm thần kinh tâm lý (không có gợi ý). Vẽ đồng hồ được xem là bình<br /> thường nếu tất cả các chữ số đúng vị trí và kim<br /> Các trắc nghiệm thần kinh tâm lý cung cấp<br /> đồng hồ chỉ đúng.<br /> các bằng chứng khách quan giúp chẩn đoán<br /> SSTT, giúp phân biệt các thể SSTT cũng như theo Cách cho điểm như sau: không nhắc lại được<br /> dõi tiến triển của bệnh. từ nào coi như SSTT; nhắc đúng cả 3 từ coi như<br /> không SSTT; nếu nhắc được 1-2 từ thì dựa vào<br /> Các trắc nghiệm sàng lọc<br /> kết quả vẽ đồng hồ (bất thường = SSTT; bình<br /> Trắc nghiệm đánh giá trạng thái tâm thần tối thường = không SSTT).<br /> thiểu (MMSE): là trắc nghiệm sàng lọc SSTT<br /> Ưu điểm của Mini-Cog là có độ nhạy cao dự<br /> được sử dụng rộng rãi nhất. Thời gian để làm<br /> đoán tình trạng SSTT, thời gian làm trắc nghiệm<br /> trắc nghiệm này khoảng 7 phút. Điểm tối đa của<br /> ngắn hơn so với MMSE, dễ quản lý và giá trị<br /> trắc nghiệm MMSE là 30 điểm, dưới 24 điểm gợi<br /> chẩn đoán không phụ thuộc vào trình độ học<br /> ý SSTT. Phân loại SSTT dựa trên điểm số đạt<br /> vấn và ngôn ngữ. Mini-Cog có độ nhạy và độ<br /> được với các mức nhẹ, trung bình (18-24 điểm),<br /> đặc hiệu tương tự như MMSE.<br /> nặng (10-17 điểm), rất nặng (dưới 10 điểm).<br /> Các trắc nghiệm đánh giá nhận thức toàn<br /> Trong đó người bệnh có khả năng bị MCI là từ<br /> diện: khi các trắc nghiệm sàng lọc nghi ngờ<br /> 25-27 điểm. Với điểm ngưỡng là 24, MMSE có độ<br /> SSTT/MCI cần tiến hành các trắc nghiệm đánh<br /> nhạy 87% và độ đặc hiệu 82%. Tuy nhiên trắc<br /> giá sâu từng lĩnh vực nhận thức.<br /> nghiệm này không nhạy với suy giảm nhận thức<br /> Bảng 1. Công cụ đánh giá và tập luyện cho bệnh nhân SSTT<br /> Đánh giá của bác sĩ Đánh giá của HĐTL<br /> Chú ý tập trung<br /> Chú ý tập trung Trắc nghiệm nối dãy số-chữ (ví dụ Trail making Test A<br /> Trắc nghiệm đọc xuôi dãy số (digit span forward). (TMT- A)<br /> Trắc nghiệm nối dãy số-chữ (ví dụ Trail making Test A (TMT- A) Trắc nghiệm nối dãy số-chữ (ví dụ Trail making Test B<br /> (TMT- B)<br /> Trí nhớ<br /> Trí nhớ là lĩnh vực nhận thức bị ảnh hưởng nhiều nhất trong SSTT. Có<br /> ba loại trí nhớ: trí nhớ tức thì (immediate memory), trí nhớ gần (recent<br /> memory) và trí nhớ xa (remote memory). Trong giai đoạn đầu của bệnh Thang đánh giá nhận thức: Motreal (MOCA).<br /> Alzheimer, bệnh nhân thường có giảm trí nhớ gần, tức là khả năng học<br /> thông tin mới. Để đánh giá trí nhớ, có thể sử dụng các trắc nghiệm thần Bao gồm những khía cạnh nhận thức khác nhau: Chú<br /> kinh tâm lý như ý và tập trung, chức năng đều hành, trí nhớ, ngôn<br /> ngữ, kỹ năng kiến tạo, tư duy khái niệm, tính toán,<br /> Nhớ lại câu chuyện: đọc một đoạn, yêu cầu bệnh nhân nhắc lại những ý định hướng.<br /> chính (nhắc lại ngay và nhắc lại sau 5 phút).<br /> Tối đa là 30 điểm thêm 1 điểm nếu bệnh nhân có học<br /> Nhớ hình ảnh: cho xem 10 hình ảnh, yêu cầu bệnh nhân nhắc lại ngay vấn dưới 12 năm.<br /> và nhắc lại sau 5 phút.<br /> Tổng điểm trên 26 được coi là bình thường.<br /> Trắc nghiệm gọi tên Boston có sửa đổi (Modified Boston Naming test):<br /> cho bệnh nhân xem 1 tập gồm 15 hình vẽ in sẵn. Yêu cầu bệnh nhân Thời gian thực hiện 10 phút.<br /> gọi tên tức thì những hình vẽ này.<br /> Delayed Recognition: nhận biết muộn. Đọc lại danh sách 20 từ để bệnh<br /> nhân nhận biết những từ đã nghe trước đây.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 19<br /> Tổng Quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5* 2019<br /> <br /> Đánh giá của bác sĩ Đánh giá của HĐTL<br /> Ngôn ngữ<br /> Bệnh nhân SSTT thường có thể nói được công dụng của một vật nhưng không thể nói tên vật đó. Có thể đánh giá bằng trắc<br /> nghiệm gọi tên của Boston (Boston Naming Test).<br /> Nói lưu loát (Verbal fluency), là khả năng nói các từ hoặc câu liên tục không bị gián đoạn. Các trắc nghiệm đánh giá nói lưu loát<br /> bao gồm nói lưu loát theo các ký tự hoặc âm vị: trong vòng một phút nói được càng nhiều từ bắt đầu bằng một ký tự nhất định.<br /> Hoặc nói lưu loát theo loại hoặc ngữ nghĩa: nói các từ thuộc một loại nhất định (ví dụ các con vật). Bệnh nhân Alzheimer<br /> thường giảm khả năng nói lưu loát.<br /> Đọc xuôi dãy số - Digit span forward.<br /> Đọc ngược dãy số - Digit span Backward.<br /> Thị giác không gian hay chức năng kiến trúc thị giác<br /> (visuoconstructional functioning)<br /> Thường được đánh giá trên lâm sàng, sử dụng những hình vẽ Đánh giá nhận thức hoạt động trị liệu LOTCA đo<br /> chuẩn cho bệnh nhân vẽ lại (ví dụ đồng hồ, hình khối, hình chữ thập) lường các kỹ năng nhận thức cơ bản và nhận cảm thị<br /> giác ở người lớn có suy yếu về thần kinh<br /> Hình vẽ của bệnh nhân Alzheimer thường là đơn giản hoá quá<br /> mức, mất các góc, phối cảnh xa gần kém. Hơn nữa, cách bố trí và trình Gồm 26 test nhỏ trong 6 lĩnh vực: định hướng, nhận<br /> bày của họ thường thể hiện sự lên kế hoạch kém; điều này có thể phản cảm thị giác, nhận cảm không gian, lập kế hoạch vận<br /> ánh sự phối hợp giữa thiếu hụt về thị giác không gian với kỹ năng điều động, tổ chức vận động thị giác, hoạt động tư duy.<br /> hành. Tổng điểm từ 26 – 115 điểm.<br /> Sự phối hợp này có thể dẫn đến những lỗi khác nhau khi bệnh Kết quả được cung cấp dưới dạng tiểu sử cho từng<br /> nhân làm trắc nghiệm vẽ đồng hồ. test nhỏ, trong đó điểm số cao hơn cho thấy suy giảm<br /> Một trong các trắc nghiệm được sử dụng phổ biến để đánh giá kiến nhận thức hơn<br /> trúc thị giác là dưới test xếp hình (Block Design subtest) trong trắc Thời gian thực hiện : 30 – 90 phút<br /> nghiệm Wechsler. Người khám yêu cầu bệnh nhân ghép các hình khối<br /> theo hình mẫu có sẵn.<br /> Chức năng điều hành<br /> Sử dụng các trắc nghiệm thần kinh tâm lý liên quan đến kỹ năng<br /> giải quyết vấn đề mới<br /> Thực hành động tác<br /> Mất dùng động tác (Apraxia) là mất khả năng thực hiện các động tác đòi<br /> hỏi kỹ năng phức tạp, không phải do những bất thường về vận động.<br /> Bệnh nhân không thực hiện được các động tác theo yêu cầu mà trước<br /> kia họ có thể thực hiện một cách tự phát và dễ dàng. Ngoài ra, họ có thể<br /> không thực hiện được một chuỗi động tác hướng tới một mục tiêu cụ<br /> thể. Mặc dù là một trong các biểu hiện của SSTT giai đoạn muộn, mất<br /> dùng động tác thường ít gặp trong bệnh Alzheimer giai đoạn sớm. Để<br /> đánh giá khả năng dùng động tác, người ta cho bệnh nhân làm các<br /> động tác thông thường (ví dụ đánh răng, chải đầu) theo mệnh lệnh bằng<br /> lời nói hoặc bắt chước động tác.<br /> Đánh giá hành vi tâm thần: Trầm cảm (GDS), rối loạn tâm thần (NPI)<br /> Đánh giá cá tính và cảm xúc: Các bộ trắc nghiệm như Beck Depression<br /> Inventory-II, Inventory of Depressive Symptomatology, và Quick<br /> Inventory of Depressive Symptomatology có thể được sử dụng để đánh<br /> giá các triệu chứng trầm cảm. Một số bộ trắc nghiệm khác như Geriatric<br /> Depression Scale và Cornell Scale for Depression in Dementia đã được<br /> phát triển để sử dụng ở người già.<br /> Hoạt động sống hàng ngày (ADL, IADL)<br /> Hoạt động sống hàng ngày (ADLs, IADLs) Công cụ đánh giá tình trạng hoạt động cùa Canada<br /> (COPM) thông qua việc phỏng vấn để xác định vấn đề<br /> Đánh giá khả năng hoạt động chức năng hàng ngày: các trắc nghiệm<br /> đối với tình trạng vận động hiện tại mối lo ngại và các<br /> thường dùng là thang điểm đánh giá hoạt động hàng ngày có sử dụng<br /> vấn đề, liệt kê các hoạt động hàng ngày muốn thực<br /> dụng cụ (Instrumental Activities of Daily Living Scale; Lawton và Brody),<br /> hiện, cần phải thực hiện, kỳ vọng thực hiện trong các<br /> Independent Living Scales, và Daily Activities Questionnaire.<br /> hoạt động ADLs (ăn uống, mặc quần áo, tắm gội,vệ<br /> Những trắc nghiệm này giành cho người nhà (hoặc người chăm sóc) sinh,…), IADLs (đi lại, mua sắm, tài chính,…)<br /> báo cáo, hoặc yêu cầu bệnh nhân thực hiện các nhiệm vụ tương tự như<br /> Đánh giá qua việc thực hiện tác vụ trong ADLs, IADLs<br /> hoạt động hàng ngày (ví dụ trang điểm, quay số điện thoại).<br /> tại môi trường lâm sàng mô phỏng thực tế hoặc tại<br /> môi trường thực tế của khách hàng.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 20 Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019 Tổng Quan<br /> <br /> <br /> Tuy nhiên rất nhiều trường hợp sa sút trí tuệ nhớ trên 6 tháng bị SSTT.Vì vậy phát hiện sớm<br /> không được chẩn đoán. Trong một nghiên cứu rất quan trọng.<br /> taị Châu Âu cho thấy khoảng trống giữa triệu VAI TRÒ CỦA ĐƠN VỊ TRÍ NHỚ<br /> chứng đầu tiên và điều trị là 10 – 32 tháng(8) 74%<br /> Tiếp nhận những bệnh nhân có dấu hiệu<br /> bệnh nhân tiếp cận bác sĩ đa khoa khi có tình<br /> nghi ngờ SSTT, suy giảm nhận thức (MCI). Đồng<br /> trạng hay quên và giảm nhận thức(5) Bác sĩ đa<br /> thời đánh giá y khoa, đánh giá sức khỏe tổng<br /> khoa là người có nhiều cơ hội phát hiện sa sút trí<br /> quát (bệnh sử, thăm khám, cận lâm sàng), chẩn<br /> tuệ, tuy nhiên bác sĩ đa khoa bỏ qua đến 91%<br /> đoán bệnh xác định yếu tố gây bệnh. Nhân viên<br /> trường hợp sa sút trí tuệ nhẹ(4,9). Nhận diện rối<br /> y tế tham gia bao gồm bác sĩ lão khoa tổng quát,<br /> loạn trí nhớ và SSTT: 5% người trên 60 tuổi bị<br /> chuyên gia thần kinh và sa sút trí tuệ tâm thần,<br /> SSTT, 25 – 40% bệnh nhân đột quỵ bị SSTT, 25-<br /> điều dưỡng, kỹ thuật viên (Hoạt động trị liệu,<br /> 50% bệnh nhân đái tháo đường nhập viện bị<br /> Ngôn ngữ trị liệu, Vật lý trị liệu), chuyên gia tâm<br /> SSTT, 16% người trên 60 tuổi than phiền về trí<br /> lý, hoạt động xã hội, người chăm sóc (Hình 1).<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hình 1. Sơ đồ hoạt động đa chuyên ngành của đơn vị trí nhớ<br /> Đánh giá chức năng từ các chức năng từ cơ sức khỏe cộng đồng, giáo dục và đào tạo, nghiên<br /> bản đến nâng cao (test, hỏi bệnh) định hướng cứu.<br /> cho chẩn đoán (MCI, Dementia), định hướng cho Hiện tại, vẫn chưa tìm được phương pháp<br /> điều trị (Phục hồi chức năng, Hoạt động trị liệu điều trị dứt chứng SSTT. Do vậy, can thiệp chủ<br /> và Nghề nghiệp trị liệu (âm nhạc trị liệu, hội họa yếu tập trung vào nâng cao việc phòng ngừa<br /> trị liệu, vườn trị liệu). Ngoài ra, còn đánh giá về thông qua việc loại bỏ yếu tố nguy cơ bao gồm:<br /> xã hội bao gồm cả người chăm sóc, cân nhắc về có chế độ ăn uống tốt, chống béo phì, ổn định<br /> luật pháp, can thiệp nội khoa, can thiệp tâm lý, huyết áp, bỏ thuốc lá, ổn định đường huyết, tập<br /> các liệu pháp điều trị không dùng thuốc, liên lạc thể dục tăng cường thể chất(8).<br /> với các tổ chức xã hội khác, phục hồi chức năng, Nghiên cứu Okonkwo thực hiện năm 2014<br /> <br /> <br /> Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 21<br /> Tổng Quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5* 2019<br /> <br /> cho thấy đối với nhóm người cao tuổi có hoạt điểm đánh giá nhận thức trên thang ADAS-cog<br /> động thể chất, ít có các thay đổi liên quan đến và thang MMSE. Chính vì vậy kết luận cho thấy<br /> tuổi tác đối với Aβ, sự chuyển hóa đường máu, chương trình kích thích nhận thức có lợi cho<br /> thể tích hồi hải mã, trí nhớ ngắn hạn, năng lực nhận thức ở những người SSTT từ nhẹ đến trung<br /> thị giác trong không gian so với nhóm người cao bình hơn và hơn bất kỳ tác dụng thuốc nào(17).<br /> tuổi không hoạt động thể chất đủ(13). Chính vì Hoạt động trị liệu tham gia điều trị thông<br /> vậy tập thể dục là một phương pháp có giá trị qua 2 phương thức: trị liệu cá nhân, trị liệu<br /> lúc nào cũng dương tính trên các nghiên cứu nhóm với mục đích và cách tiếp cận tương đối<br /> phòng ngừa ngăn ngừa chuyển từ tình trạng suy khác nhau(15).<br /> giảm trí nhớ suy giảm nhận thức nhẹ sang SSTT<br /> Trị liệu cá nhân<br /> tỉ lệ rất tốt(8).<br /> Là hoạt động cộng tác với khách hàng<br /> Liệu pháp can thiệp nhận thức (Cognitive<br /> (KH) trong việc xác định các lĩnh vực đang<br /> Interventions)<br /> khó khăn, khuyến khích hoạt động thể chất và<br /> Được chia làm 3 nhóm: hành vi khỏe mạnh. Đối với KH có các vấn đề<br /> Tập luyện nhận thức (Cognitive Training) nhẹ về trí nhớ và mất chú ý giúp KH và người<br /> Sử dụng cho những người chưa bị quên, chăm sóc thiết lập thói quen hằng ngày và dán<br /> chưa bị suy giảm nhận thức hoặc rất nhẹ những nó ở vị trí trung tâm. Nếu KH giảm sút hiệu<br /> bài tập ví dụ như chơi cờ, game trên máy tính suất công việc khám phá ý nghĩa của những<br /> chuyên về trí nhớ MindMate. hoạt động và những thay đổi vai trò đối với<br /> khách hàng và người chăm sóc. Xác định các<br /> Phục hồi nhận thức (Cognitive Rehabilitation)<br /> môi trường phù hợp, hoặc thích nghi cho<br /> Điều trị cho những người bắt đầu giảm chức<br /> những hoạt động mà nó là một thử thách hiện<br /> năng nhận thức, việc điều trị dựa trên khám xét<br /> tại của khách hàng. Các hoạt động huấn luyện<br /> xem chức năng nào bị giảm để tập luyện cho<br /> được cá nhân hoá phù hợp theo tình trạng sức<br /> phù hợp ví dụ như bệnh nhân giảm chú ý tập<br /> khoẻ, các khiếm khuyết hiện có cũng như tận<br /> trung thì cho những bài tập chú ý tập trung,<br /> dụng các thế mạnh của KH.<br /> bệnh nhân giảm khả năng tính toán điều hành sẽ<br /> Để hoạt động trị liệu có hiểu quả và giúp KH<br /> có bài tập riêng.<br /> không rút lui khỏi cuộc điều trị người kỹ thuật<br /> Kích thích nhận thức (Cognitive Stimulation) viên cần giải thích cho người chăm sóc và người<br /> Đối với bệnh nhân bị SSTT nhẹ vừa nặng. bệnh sự quan trọng của môi trường trong việc<br /> Những người bệnh sẽ ngồi chung với nhau và xử lý chứng mất trí. Hướng dẫn người bệnh duy<br /> hỗ trợ cho nhau thực hiện những bài tập kích trì các thói quen và thiết kế hỗ trợ môi trường<br /> thích nhận thức. phương pháp này được sử (vd: danh sách, áp phích, và tranh ảnh) và mức<br /> dụng rất nhiều trên thế giới với những nhóm độ hỗ trợ (những tín hiệu, gợi ý).<br /> “Day care center” - trung tâm điều trị ban ngày<br /> Đối với những KH có khuynh hướng mất trí<br /> hay nhà trẻ dành cho người già để người già<br /> nhớ trung bình như mất các vật có giá trị như<br /> được đưa đến hàng ngày để thực hiện chức năng<br /> chìa khóa nhà, khó khăn trong việc học các<br /> nhận thức.<br /> nhiệm vụ mới và giải quyết vấn đề. Cần hỗ trợ<br /> Hiện nay người ta nhận thấy rằng kích thích người bệnh thông qua phân tích và hướng dẫn<br /> nhận thức là phương pháp cải thiện chức năng các hoạt động thích nghi có ý nghĩa để tăng<br /> nhận thức dành cho bệnh nhân SSTT như một cường sự tham gia một cách an toàn, tránh các<br /> phân tích năm 2012 trên tạp chí Cochrane thì nhiệm vụ liên quan đến việc học điều mới, đơn<br /> việc kích thích nhận thức này cải thiện thang giản hóa môi trường xung quanh và nhiệm vụ,<br /> <br /> <br /> 22 Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019 Tổng Quan<br /> <br /> làm các đồ vật có thể tiếp cận được, đơn giản hóa trọng có thể quên đi tên các thành viên trong<br /> sự hướng dẫn. gia đình, trở nên bối rối với những điều quen<br /> Đối với các KH suy yếu vừa phải trong ADL thuộc xung quanh. Trong thực hiện các hoạt<br /> cao cấp (mua sắm, tài chính) thiết kế các cách để động ADL (vệ sinh, cho ăn) hướng dẫn người<br /> thích nghi với các hoạt động, cung cấp các hỗ trợ chăm sóc về những điều cần thiết cho như<br /> nhận thức (bằng lời) cho các hoạt động IADL. thực hiện các giao tiếp đơn giản, khẩu lệnh<br /> Duy trì sự tham gia về các hoạt động có ý nghĩa ngắn, gợi ý bằng lời từng bước hướng dẫn thể<br /> và những vai trò phản ứng thay thế. Để xử lý chất; khuyến khích người chăm sóc sử dụng<br /> hành vi tấn công dạy cho chăm sóc cách xác định chương trình nghỉ ngơi và duy trì các hoạt<br /> vấn đề, hiểu các nguyên nhân có thể có của hành động vui chơi cá nhân.<br /> vi đó (ví dụ: cảm nhận, các sự kiện trước đây, ai, Trong trường hợp KH không thể giao tiếp<br /> ở đâu, khi nào,vấn đề y tế, nhiệm vụ hoặc môi ngoại trừ lẩm bẩm hoặc nói những từ đơn.<br /> trường, vấn đề giao tiếp). Giúp người bệnh thích Không thể đi hoặc ăn có thể cần trợ giúp từ cơ sở<br /> nghi hành vi bản thân hoặc thay đổi môi trường. điều dưỡng tại nhà thì nên sử dụng các kỹ thuật<br /> Đối với những KH không thể thực hiện hầu về khó nuốt để thúc đẩy nuốt, ngăn ngừa sặc,<br /> hết những IADL cao cấp. Về ADL, sự hỗ trợ là khuyến khích ăn; hướng dẫn gia đình các kỹ<br /> cần thiết cho các hoạt động đi vệ sinh, vệ sinh cá thuật dịch chuyển, phòng ngừa co rút bằng đặt<br /> nhân, ăn uống và mặc quần áo. Dạy học các kỹ vị thế đúng và các bài tập ROM, hướng dẫn gia<br /> thuật như định hình (khuyến khích cũng cố dần đình kiểm tra da, cung cấp sự kích thích cảm<br /> dần để tạo ra hành vi mục tiêu), xâu chuỗi hoạt giác có kiểm soát bao gồm âm thanh, sờ chạm,<br /> động trong các phương pháp huấn luyện chuỗi thị giác để duy trì sự tiếp xúc với thực tại.<br /> ngược, chuỗi xuôi (liên kết các kỹ năng thành Trị liệu nhóm<br /> phần để dạy một hành vi phức tạp, làm mẫu Thường áp dụng cho một nhóm KH có cùng<br /> (học thông qua sự quan sát và bắt chước) một đặc điểm về nhận thức hay khó khan khi<br /> Đối với những KH bắt đầu các dấu hiệu của thực hiện hoạt động. Mục tiêu sử dụng phuơng<br /> mất kiểm soát tiêu tiểu, có các hành vi đi lang thức này giúp tạo sự gắng kết liên hệ giữa các<br /> thang. Người chăm sóc hay gia đình cần đảm thành viên ,tương tác giao tiếp với nhau; cung<br /> bảo sự an toàn ở nhà và ở những môi trường cấp hy vọng cho sự thay đổi tích cực, giúp họ<br /> khác thông qua sự thích nghi. Các ví dụ có thể nhận ra rằng mình không phải là người duy<br /> dùng là báo thức giúp xác định thời điểm cho nhất có vấn đề, tăng giá trị bản thân, phát triển<br /> từng hoạt động thường ngày, tránh sử dụng các kỹ năng hòa nhập xã hội, tạo điều kiện học tập<br /> thiết bị nhiệt và những dụng cụ sắc nhọn; chốt các hành vi tích cực thông qua bắt chước; giúp<br /> phòng lại và ban đêm, đeo vòng tay nhận dạng; các thành viên học tập lẫn nhau có thể trải<br /> sử dụng những tín hiệu gợi ý thị giác để định vị nghiệm, cung cấp phản hồi ngay lập tức. Các<br /> vị các đồ vật, khuyến khích sự di chuyển dự hình thức tập luyện được áp dụng rất đa dạng<br /> phòng hoặc được hỗ trợ và tập thể dục thường tuy nhiên chương trình học tập thường lặp đi lặp<br /> xuyên. Ở môi trường mới, gợi ý và hỗ trợ khách lại để giúp KH hình thành trí nhớ, thói quen<br /> hàng trong việc định hướng, cung cấp thêm ánh giúp duy trì, tăng kỹ năng xử lý phản xạ, tăng kỹ<br /> sáng và những biểu thị bằng hình ảnh để gợi ý, năng vận động, hỗ trợ sinh hoạt độc lập trong<br /> duy trì sự nhất quán của thối quen sinh hoạt ADL và IADL. Thông thường một buổi học<br /> hàng ngày để tạo điều kiện thuận lợi cho sự trong trị liệu nhóm gồm nhiều phần khác nhau<br /> tham gia vào những tác vụ. tuy nhiên luôn luôn có các phần cơ bản như sau:<br /> Đối với những KH suy yếu trí nhớ trầm Kích thích nhận thức.<br /> <br /> <br /> <br /> Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 23<br /> Tổng Quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5* 2019<br /> <br /> Hoạt náo trí óc. 2018 nghiên cứu của tác giả Avila có tên là “Thúc<br /> Vận động tay chân. đẩy độc lập chức năng ở những người mắc bệnh<br /> Alzheimer: kết quả của một can thiệp Hoạt động<br /> Chơi vận động theo nhóm.<br /> trị liệu tại nhà ở Tây Ban Nha”. Hoạt động trị<br /> Tập luyện nhận thức dãy số.<br /> liệu đang hứa hẹn là một phương thức các thiệp<br /> Cung cấp vốn từ. có hiệu quả cho những người mắc bệnh<br /> Khéo tay xếp giấy. Alzheimer (AD). Nghiên cứu này cung cấp bằng<br /> Tập hát. chứng cho thấy can thiệp hoạt động trị liệu tại<br /> nhà chuyên sâu có ảnh hưởng tích cực đến các<br /> Bài tập về nhà.<br /> hoạt động hàng ngày và một số chức năng nhận<br /> Hỗ trợ người chăm sóc.<br /> thức, cho thấy chương trình này có thể có ích<br /> Phòng ngừa bệnh. như một công cụ bổ sung phi phẫu thuật trong<br /> Ngoài ra hiện nay trên thế giới đang áp dụng chăm sóc sức khỏe và xã hội cho những người<br /> một số cách can thiệp mới, được nghiên cứu cho mắc AD sống trong cộng đồng(3).<br /> thấy có kết quả bệnh nhân SSTT và suy giảm KẾT LUẬN<br /> nhận thức. Trong năm 2015-2017 liệu pháp kích<br /> thích não bằng điện hoặc từ trường của Nguyen Việc điều trị SSTT không chỉ dựa vào một số<br /> thực hiện với phương pháp cho bệnh nhân làm khía cạnh đơn thuần như thuốc và chế độ ăn mà<br /> những bài học rồi trong quá trình tập nhận thức phải kết hợp tập luyện não bộ và tập thể dục<br /> sẽ kích thích bằng từ trường hoặc kích thích điện tăng cường thể chất thường xuyên thông qua<br /> bằng những điện cực gắn bên ngoài não rồi sau tiếp cận các phương thức trị liệu đa chuyên<br /> đó lặp lại liên tục trong liệu trình 5 tuần, 5 ngày 1 ngành. Mặc dù điều trị không dùng thuốc (NPT)<br /> tuần. Sau 6 tháng kiểm tra đánh giá lại MMSE, thường được áp dụng theo cách tiếp cận đa<br /> thang điểm ADAS-Cog score có sự cải thiện ngành đối với SSTT, nhưng bằng chứng hỗ trợ<br /> điểm rõ rệt. Kết quả nghiên cứu này mở ra cách cho việc sử dụng chúng vẫn còn sơ bộ. Các<br /> điều trị mới cho bệnh nhân. Đây là phương pháp nghiên cứu tập trung ở các nước trên thế giới<br /> mới trong việc hỗ trợ hiệu quả điều trị(10). Một thực hiện trên dân số của họ hiện tại chưa có ở<br /> nghiên cứu khác về một hương pháp tiếp cận đa Việt Nam. Một số nghiên cứu cho thấy tác dụng<br /> ngành đối với bệnh Alzheimer và chứng SSTT có ý nghĩa thống kê của điều trị không dùng<br /> đánh giá tường thuật về điều trị không dùng thuốc đối với một số kết quả, nhưng ý nghĩa lâm<br /> thuốc của tác giả ZucchellaC năm 2018 về điều sàng của chúng là không chắc chắn. Cần thiết có<br /> trị phi dược lý (NPT). Nghiên cứu bao gồm một các nghiên cứu ngẫu nhiên có nhóm chứng để<br /> loạt các phương pháp và kỹ thuật, có thể đóng khám phá hiệu quả của NPT trong SSTT, các<br /> một vai trò trong điều trị Alzheimer (AD) và nghiên cứu sâu hơn để đưa ra cơ sở sinh học<br /> chứng mất trí. Mục đích để xem xét, với một thần kinh về tác dụng của NPT và so sánh hiệu<br /> cách tiếp cận tường thuật, bằng chứng hiện tại quả chi phí của nó ở những bệnh nhân mắc<br /> về NPT chính cho AD và SSTT. Kết quả cho thấy chứng SSTT.<br /> NPT có vai trò lớn trong điều trị AD và chứng Có thể thấy hiện trạng người bị SSTT không<br /> SSTT. Các loại NPT chính đã được xem xét bao ngừng gia tăng trên thế giới và cả ở Việt Nam<br /> gồm tập thể dục và phục hồi chức năng vận nhưng hiện tại ở nước ta việc chẩn đoán và điều<br /> động, phục hồi nhận thức. NPT gồm công nghệ trị còn mới, số lượng người được khám và điều<br /> thông tin và truyền thông, hỗ trợ công nghệ và trị còn hạn chế bên cạnh những người chưa<br /> domotics, thực tế ảo, chơi game và điện ảnh(18). được khám và được điều trị. Đơn vị trí nhớ ra<br /> Trên tạp chí Chăm sóc sức khỏe cộng đồng đời có vai trò thiết thực để hỗ trợ bệnh nhân<br /> <br /> <br /> <br /> 24 Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019 Tổng Quan<br /> <br /> SSTT giúp cung cấp thông tin cần thiết liên tục 6. Folstein MF, Folstein SE, McHugh PR (1975). "Mini-mental<br /> state". A practical method for grading the cognitive state of<br /> cho KH, hoạt động đa chuyên khoa, xây dựng patients for the clinician. J Psychiatr Res,12(3):189-98.<br /> dựa trên nền tảng có sẵn của bệnh viện nên tính 7. Frisoni GB, Winblad B, O'Brien JT (2011). Revised NIA-AA<br /> khả thi cao. Mô hình đơn vị Trí nhớ cần nhân criteria for the diagnosis of Alzheimer's disease: a step forward<br /> but not yet ready for widespread clinical use. Int Psychogeriatr,<br /> rộng ở các bệnh viện, trung tâm PHCN để có thể 23(8):1191-6.<br /> tiếp nhận, phát hiện sớm và điều trị cho bệnh 8. Livingston G, Sommerlad A, Orgeta V, Costafreda SG, et al<br /> nhân một cách hiệu quả, toàn diện hơn. Bên (2017). Dementia prevention, intervention and care. Lancet,<br /> cạnh đó việc nâng cao kiến thức cho bệnh nhân, 390(10113):2673-2734.<br /> 9. Martin P, Anders W, Maëlenn G, Gemma-Claire A, Yu-Tzu W<br /> người chăm sóc bằng cách quảng bá, áp phích<br /> and Matthew P (2015). The Global Impact of Dementia An<br /> tuyên truyền và tờ rơi cũng có vai trò hết sức analysis of prevalence, incidence, cost and trends updates ADI's<br /> quan trọng. Trong tương lai nên tổ chức các buổi global dementia data. World Alzheimer Report, pp.1-78.<br /> <br /> hội thảo, đào tạo, nghiên cứu cho nhân viên giúp 10. Nguyen JP, Suarez A, Kemoun G, et al (2017). Repetitive<br /> transcranial magnetic stimulation combined with cognitive<br /> nâng tăng năng lực chuyên môn và hỗ trợ người training for the treatment of Alzheimer's disease. Neurophysiol<br /> bệnh tốt hơn. Clin.,47(1):47-53.<br /> 11. Nguyen TA, Nguyen H, Pham T, Nguyen TH, Hinton L (2018).<br /> Một khi đã phát hiện những dấu hiệu về<br /> A cluster randomized controlled trial to test the feasibility and<br /> SSTT cần được thăm khám sớm để được điều trị preliminary effectiveness of a family dementia caregiver<br /> hiệu quả và tham gia các lớp trị liệu nhóm hay intervention in Vietnam: The REACH VN study protocol.<br /> Medicine, 97(42):e12553.<br /> trị liệu cá nhân, tập luyện kích thích nhận thức<br /> 12. Nguyen VK (2009). A study of dementia characteristics in<br /> của các chuyên gia về Hoạt động trị liệu. Vai trò community. J Pract Med, 10:16–8.<br /> của hoạt động trị liệu giúp bệnh nhân tập luyện 13. Okonkwo OC, Schultz SA, Oh JM, et al (2014). Physical activity<br /> tìm ra sự cân bằng trong cuộc sống đảm bảo an attenuates age-related biomarker alterations. Neurology,<br /> 83(19):1753-60.<br /> toàn trong việc duy trì sự độc lập, luyện tập trí<br /> 14. Seitz DP1, Chan CC, Newton HT, Gill SS, Herrmann N,<br /> nhớ với những bài tập đơn giản phù hợp được Smailagic N, Nikolaou V, Fage BA (2018). Mini-Cog for the<br /> cá nhân hoá phù hợp với tình trạng và nhu cầu diagnosis of Alzheimer's disease dementia and other dementias<br /> của người bệnh. within a primary care setting. Cochrane Database Syst Rev, doi:<br /> 10.1002/14651858.CD011415.pub2.<br /> TÀI LIỆU KHAM KHẢO 15. Smallfield S, Heckenlaible C (2017). Effectiveness of<br /> Occupational Therapy Interventions to Enhance Occupational<br /> 1. Alzheimer's Association (2017). Alzheimer's disease facts and<br /> Performance for Adults With Alzheimer's Disease and Related<br /> figures. Alzheimer's Association, 13(4):325-373.<br /> Major Neurocognitive Disorders: A Systematic Review. Am J<br /> 2. American Psychiatric Association (2000). Diagnostic and Occup Ther, 71(5):7.<br /> Statistical Manual of Mental Disorders, 4th Edition. Text Revision,<br /> 16. Vũ Anh Nhị (2008). Bệnh Alzheimer, Sa sút trí tuệ. NXB Y học,<br /> Washington DC.<br /> pp.31-37.<br /> 3. Ávila A, De-Rosende-Celeiro I, Torres G, Vizcaíno M, Peralbo M,<br /> 17. Woods B, Aguirre E, Spector AE, Orrell M (2012). Cognitive<br /> Durán M (2018). Promoting functional independence in people<br /> stimulation to improve cognitive functioning in people with<br /> with Alzheimer's disease: Outcomes of a home-based<br /> dementia. Cochrane Database Syst Rev, doi:10.1002/14651858.CD005562.<br /> occupational therapy intervention in Spain. Health Soc Care<br /> Community, pp.11. 18. Zucchella C, Sinforiani E, Tamburin S, et al.(2018). The<br /> Multidisciplinary Approach to Alzheimer's Disease and<br /> 4. Baumgarta M, Snyderb H, Carrillob M, et al (2015). Summary of<br /> Dementia. Front Neurol, 9(1058):1-22.<br /> the evidence on modifiable risk factors for cognitive decline and<br /> dementia: A population-based perspective. Alzheimers Dement,<br /> 11(6):718-26. Ngày nhận bài báo: 20/07/2019<br /> 5. Boustani Malaz, Callahan CM, et al (2005). Implementing a Ngày bài báo được đăng: 10/10/2019<br /> Screening and Diagnosis Program for Dementia in Primary<br /> Care. J Gen Intern Med, 20(7):572–577.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 25<br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2