936
Vai trò ca giảng viên đại học đối vi đào tạo ngun nhân lc trong bi cnh chuyển đổi
s
Lê Th Son
Tóm tt
Có thể nói, chuyển đổi số là xu hướng tất yếu trong giáo dục đại học Việt Nam hiện nay
nhằm đáp ứng được u cu mới của việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao có khả năng
sáng tạo, tiếp thu nhanh trình độ khoa học công nghệ trên thế giới phục vụ cho công cuộc phát
triển đất nước trong giai đoạn hiện nay. Đại hội Đảng toàn quốc ln thứ XIII đã khẳng định
phải đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học - công nghệ
và đổi mới sáng tạo. Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về chuyển đổi số
một trong những nhiệm vụ bản của giáo dục đại học. Chuyển đổi số đã cung cấp những
công cụ số hỗ trợ đổi mới giáo dục, đào tạo theo hướng tích cực, ứng dụng công nghệ thông tin
trong giảng dạy và học tập, tăng khả năng tự học, tự nghiên cứu; tạo cơ hội học tập ở mọi lúc,
mọi nơi và học tập suốt đời. Để làm được điều đó thì cn rt nhiu yếu tố, trong đó không thể
không k đến vai trò của đi ngũ ging viên. Bài viết bàn về vai trò của giảng viên đại học đối
với việc đào tạo nguồn nhân lực trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay: không ngừng trau dồi
kiến thức sâu rộng về chuyên môn, ngoại ngữ công nghệ thông tin; luôn đổi mới phương
pháp giảng dạy tích cực theo hướng tiếp cận năng lực khoa học phẩm chất nghề nghiệp tương
lai của sinh viên; luôn đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá một cách hiệu quả theo hướng
đánh giá năng lực tư duy của sinh viên.
Từ khóa: chuyển đổi số, đại học, giảng viên, nguồn nhân lực.
1. Đặt vấn đề
Xã hội loài người đi vào thế k XXI vi xu thế toàn cu hóa, vi s phát trin mnh m
ca khoa hc công nghệ, trong đó công nghệ thông tin gi mt vai trò hết sc quan trng trong
mọi lĩnh vực. Xu thế y đã đưa thế giới bước sang một giai đoạn mi vi s phát trin mnh
m ca nn kinh tế tri thc. Sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ tác động đến mọi
mặt đời sống kinh tế - xã hội, làm cho tất cả các lĩnh vực, các ngành nghề cũng có những thay
đổi tất yếu. Giáo dục nhằm cung cấp cho hội nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu
cu thời đại và sự hội nhập quốc tế, vì vậy cũng phải có những thay đổi nhanh chóng và quyết
liệt. Giáo dc thế k XXI với tư tưởng ch đạo lấy “học tp suốt đời” làm nền móng, y dng
trên 4 tr ct ca giáo dục “học để biết, học để làm, học để cùng nhau chung sng học để
làm người”. Điều đó đòi hi h thng giáo dc phi mm dẻo, đa dng, linh hoạt để tạo cơ hội
hc tp cho tt c mọi người, to nên mt hi hc tp hc tp suốt đời, giáo dục đại
hc cn những thay đổi nhằm đáp ng yêu cu mi ca thời đại để đào tạo nên nhng con
người “vừa hng vừa chuyên” như lời Ch tch H Chí Minh. Vi những quan điểm, cách tiếp
cn mi v giáo dc, dựa trên quan điểm chung của Đảng và Nhà nước đối vi giáo dc, giáo
dục đại học, người giảng viên đại học cũng cn s thay đổi duy trong ging dy vi nhng
vai trò và nhim v phù hp thc tin và yêu cu phát trin kinh tế, xã hi.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Khái quát về chuyển đổi số trong giáo dục đại học
Có nhiều định nghĩa khác nhau về chuyển đổi số nhưng có thể nói một cách đơn giản thì
chuyển đổi s “sự thay đổi v cách thc hoạt động ca mt t chc nhm nâng cao chất lượng
sn phm, dch v bng cách khai thác ng dng công ngh d liệu”. Đối với giáo dục đại
937
học, mục tiêu y chính nâng cao hiệu lực hiệu quả quản trị, nâng cao chất lượng đào tạo,
phục vụ cho sự phát triển của đất nước. Về bản chất, chuyển đổi s không thay đổi giá trị cốt
lõi hay mô hình của một tổ chức giáo dục đại học mà là sự chuyển đổi hoạt động cốt lõi thông
qua công nghệ nền tảng số, đồng thời nắm bắt các cơ hội mà chúng mang lại. Nói cách khác,
chuyển đổi s sự giao thoa giữa công nghệ chiến lược đào tạo (Hải Quân, 2021). Khái
quát lại, chuyển đổi số là chuyển các hoạt động của chúng ta từ thế giới thực sang thế giới ảo
trên môi trường mạng. Theo đó, mọi người tiếp cận thông tin nhiều hơn, rút ngắn về khoảng
cách, thu hp về không gian, tiết kiệm về thời gian. Chuyển đổi số là xu thế tất yếu, diễn ra rất
nhanh đặc biệt trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay.
Trên thế giới, chuyển đổi số bắt đu được nhắc đến nhiều vào khoảng năm 2015, phổ
biến từ năm 2017. Việt Nam, chuyển đổi số bắt đu được nhắc đến nhiều vào khoảng năm
2018. Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia vào ngày
03/6/2020. Chuyển đổi số là bước phát triển tiếp theo của tin học hóa, có được nhờ vào sự tiến
bộ vượt bậc của những công nghệ mới mang tính đột phá, nhất là công nghệ số. Chuyển đổi số
là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và
phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số. Chuyển đổi số trong giáo dục thể được
hiểu quá trình thay đổi tổng thể, toàn diện cách thức giảng dạy, học tập, quản lý trong giáo
dục. Chuyển đổi số trong giáo dục đại học cũng là một tất yếu khách quan vì những lý do sau:
góp phn tích cực vào việc hỗ trợ thy cô trong việc giảm tải một số công việc như điểm danh,
chấm bài, sử dụng các ứng dụng công nghệ hiện đại để làm sinh động bài giảng… Chuyển đổi
số giúp cho sinh viên tài liệu học tập hiệu quả, đang dạng hóa hình thức học tập, cập nhật
yêu cu nhiệm vụ nhanh chóng thuận lợi. Chuyển đổi số còn giúp c nhà quản lý thực hiện
công việc một cách thuận tiện, nhanh chóng. Chính những lý do đó các trường đại học
đang tích cực thực hiện chuyển đổi số, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và khẳng định thương
hiệu cho bản thân.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục đại học hiện nay,
chúng ta dễ dàng nhận thấy được những mặt tích cực và khó khăn nhất định. Cụ thể:
Thứ nhất, mặt tích cực khi thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục đại học
Một là, trọng tâm chuyển đổi số trong giáo dục đại học là phát triển các phn mềm ứng
dụng, có thể giải quyết các bài toán giảng dạy, học tập và vận hành một trường đại học sao cho
hiệu quả hơn, nhanh hơn và chính xác hơn. Hiện nay, việc chuyển đổi số rất thuận lợi vì có rất
nhiều công nghệ tốt, hạ tng tốt, nhân lực tốt, đội ngũ giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ... hu hết là
trí thức bậc cao tận tụy với công việc trong các trường đại học một động lực quan trọng cho
quá trình chuyển đổi số.
Hai là, chuyển đổi số giúp cho người dạy và người học nhanh chóng thích nghi sử
dụng những phương thức mới, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại trong dạy học, sử
dụng công cụ đánh giá và đối sánh chất lượng theo thông lệ quốc tế để đánh giá kết quả thực
hiện mục tiêu đổi mới giáo dục.
Ba là, chuyển đổi số còn giúp các giảng viên y dựng hệ thống bài giảng B-learning,
E-learning, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm, đề thi, ghi âm, ghi hình bài giảng... góp phn làm
sinh động nội dung giảng viên muốn truyền tải đến người học. Chuyển đổi số hỗ trợ đắc lực
cho giảng viên trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy, chuyển từ chủ yếu truyền đạt tri thức
sang những phương pháp giảng dạy tích cực, sử dụng các ứng dụng hiện đại giúp cho bài
938
giảng thêm sinh động, kết hợp được nhiều cách thức tương tác đến người học khác nhau thông
qua nghe, nhìn, cảm nhận, từ đó sinh viên thể phát huy tối đa c năng lực nhớ, hiểu, vận
dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo từ chính phương pháp giảng viên cung cấp cho họ.
Chuyển đổi số nhằm đáp ứng nhu cu học tập linh hoạt về thời gian địa điểm của người học.
Các giảng viên thể sử dụng công nghệ để thiết kế bài giảng E- learning mang nội dung hàn
lâm, cũng thể thiết kế những video dạy nghề, thực hiện thí nghiệm, thực hành, diễn thuyết,…
Công nghệ giúp cho tri thức, kinh nghiệm của người thy không chỉ gói gọn trong khuôn viên
trường đại học mà có thể được phổ biến rộng rãi toàn cu. Điều này vừa đáp ứng nhu cu của
một bộ phận người học, vừa tạo thêm những cơ hội về việc làm, thu nhập cho giảng viên.
Bốn là, chuyển đổi số giúp sinh viên tra cứu tài liệu phục vụ môn học thuận lợi với
nguồn dữ liệu khổng lồ từ các sinh viên khác cùng trường hoặc từ các trường đại học khác trên
thế giới, kiến thức rất cập nhật và rộng mở, rất tiện lợi về thời gian và không phụ thuộc vào địa
điểm. Sinh viên dễ dàng học hỏi nâng cao trình độ đáp ứng và thích nghi nhanh với xã hội. Việc
tra cứu kết quả học tập, lịch học, lịch thi, đóng học phí... có thể thực hiện online một cách thuận
tiện không mất thời gian công sức của sinh viên.
Năm là, chuyển đổi số giúp áp dụng phn mềm trong quản lý đào tạo, đánh giá, xây
dựng ngân hàng câu hỏi, giảng dạy bằng máy chiếu,… song để thực sự khai thác nguồn dữ liệu
khổng lồ, tiếp cận với những tri thức mới cập nhật, vận dụng hiệu quả các phn mềm hỗ trợ
giảng dạy và học tập thì các trường đại học cn có mạng internet rộng khắp, sinh viên và giảng
viên cn có thiết bị kết nối, hệ thống nguồn điện, phòng học đồng bộ, môi trường sở để
thực hành… Những điều này đang là thách thức lớn với một số trường đại học hiện nay.
Thứ hai, một số khó khăn khi thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục đại học
Một là, việc nhận thức đúng tm quan trọng và xu hướng tất yếu của sự phát triển trong
giáo dục đại học để triển khai thực hiện nhiệm vụ mới sẽ gặp không ít khó khăn, bởi đâyviệc
chưa tiền lệ, khi triển khai những vấn đề mới mẻ thường sẽ vấp phải những sự phản đối,
những ý kiến trái chiều nhất đối với một số trường đại học công lập vẫn còn làm việc theo
nguyên tắc tập thể lãnh đạo nhân quản lý. Công tác tuyên truyền, phổ biến nhận thức về
chuyển đổi số để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội chưa được triển khai sâu rộng; nhận thức
của một bộ phận cán bộ quản lý, viên chức, giảng viên chưa sự chuyển biến, chưa hiểu, chưa
thấy được hiệu quả của công cuộc chuyển đổi số trong hoạt động điều hành; người dân doanh
nghiệp chưa có nhu cu và chưa thấy được lợi ích khi tham gia chuyển đổi số.
Hai là, thay đổi thói quen cũng một trong những khó khăn, bởi cả giảng viên, sinh
viên và những người quản lý đã quen với môi trường thực trong suốt nhiều thế kỷ. Chuyển sang
môi trường số là thay đổi thói quen mà thay đổi thói quen là việc khó, là việc phải thực hiện lâu
dài, thay đổi dn từng bước. Tuy nhiên, việc chuyển đổi số lại là việc cn làm nhanh đu tiên,
phải thay đổi thói quen của những người nắm giữ vị trí lãnh đạo sau đó các giảng viên
sinh viên.
Ba là, nhiều hành vi sai phạm mới cũng xuất hiện cùng với quá trình chuyển đổi số như:
tình trạng thiết lập trang web ảo, mạo danh, trang web với những nội dung xuyên tạc, phản
động… không hề ít và nội dung thay đổi từng ngày, từng giờ khiến cho giảng viên cũng rất khó
kiểm soát. Các thông tin bảo mật vđề thi, thông tin nhân, tài khoản của giảng viên luôn
đứng trước những nguy cơ bị hack. Nhiều câu chuyện liên quan đến giảng viên bị phản ánh sai
sự thật, lan truyền trên mạng một cách thiếu kiểm soát gây ra dư luận không tốt, ảnh hưởng đến
939
công việc và đời sống của giảng viên. Những chiêu trò lừa đảo, những vụ ăn hiếp, bắt nạt trên
mạng, những trang của các nhóm hận thù những trang của các nhóm khủng bố cũng xuất
hiện. Việc tìm kiếm thông tin dễ dàng nhưng mỗi ln tìm kiếm thể hiển thị hàng triệu kết
quả khác nhau khiến cho sinh viên không biết nên lấy tài liệu từ nguồn nào. Vì vậy, giảng viên
phải làm nhiệm vụ định hướng cho sinh viên, họ cũng phải dành thời gian truy cập, m kiếm
thường xuyên để cập nhật thông tin và hướng dẫn cho sinh viên những trang web nào cung cấp
tài liệu đáng tin cậy (Nguyn Bình Huy và những người khác, 2023).
2.2. Vai trò của giảng viên đại học đối với việc đào tạo ngun nhân lực trong bối
cảnh chuyển đổi số
Theo tác giả, để th thc hin tt vai trò ca mình trong bi cnh chuyển đổi s hin
nay, bản thân mỗi giảng viên cn phải làm tốt một số việc trọng tâm sau đây:
Thứ nhất, người giảng viên phải không ngừng trau dồi kiến thức sâu rộng về chuyên môn,
ngoại ngữ và công nghệ thông tin
Trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 như hiện nay, mỗi người giảng viên
n cạnh việc tinh thông về chuyên n thì cn phải kiến thức liên ngành, khả năng ngoại ng
để có thể nghiên cứu, nắm bắt được những kiến thức thông tin mới đặc biệt phải nắm bắt
kịp sự phát triển của khoa họcng nghệ nhằm phục vụ tốt cho quá trình giảng dạy củanh, từ
đó ch thích sinh viên nỗ lựcm tòi, nghiên cứu.
Để làm được điều đó thì bản thân mỗi giảng viên phải thường xuyên tự bồi dưỡng, tự cập
nhật những kiến thức cn thiết cho mình, tích cực trong nghiên cứu khoa học, đồng thời giảng
viên phải biết khai thác, sử dụng thành thạo các thiết bị công nghệ theo yêu cu công việc. Khả
năng vận hành thiết bị công nghệ biểu hiện trước hết là việc nhận biết chức năng và tính năng
của công nghệ, lựa chọn các phn mềm công nghệ hỗ trợ hiệu quả cho yêu cu công việc; phải
có khả năng vận hành thiết bị công nghệ, kỹ năng sử dụng các phn mềm công nghệ, đáp ứng
yêu cu công việc. Đối với giảng viên, việc sử dụng thành thạo các tính năng tiếp cận, khai thác
chuyển tải thông tin là điều kiện để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học
trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra trong các trường đại học hiện nay. Thế giới thay đổi từng
ngày, mỗi sự kiện, hiện tượng trong thế giới ngày nay cũng luôn thay đổi. Người giảng viên
không thể nằm ngoài những sự kiện chính trị sôi động đó nên bản thân họ phải thường xuyên
cập nhật những tri thức, thông tin mới, công nghệ mới là điều hết sức cn thiết. C.Mác đã từng
nói “Chính những con người đã làm thay đổi hoàn cảnh bản thân nhà giáo dục cũng cần
phải được giáo dục” (C.Mác và Ph.Ăngghen 1995, 10).
Thứ hai, người giảng viên phải luôn đổi mới phương pháp giảng dạy tích cc theo hướng
tiếp cận năng lực khoa học và phẩm chất nghề nghiệp tương lai của sinh viên
Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, người giảng viên cn phải đổi mới phương pháp
giảng dạy cho phù hợp để nhằm góp phn tạo ra những “sản phẩm” chất lượng, đáp ứng tốt nhu
cu ngày càng cao của hội bao gồm phương pháp giảng dạy theo tiếp cận mới, phương thức
vận hành các công cụ/môi trường số, cách thức biên soạn tài liệu số, xây dựng bài giảng tương
tác,...
Mục đích của việc đổi mới phương pháp giảng dạy là nhằm phát huy tính tích cực, năng
động, sáng tạo của sinh viên; tránh thái độ thụ động, rập khuôn theo bài giảng của giảng viên,
từ đó sinh viên được phong cách duy độc lập trong học tập cũng như trong nghiên cứu
khoa học. Điều đó đòi hỏi người giảng viên phải cập nhật công nghệ thông tin vào trong giảng
940
dạy, thường xuyên khơi dậy, rèn luyện và phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu, tự đặt vấn
đề và tự giải quyết vấn đề của sinh viên ngay trong quá trình học tập ở trường. Ngoài ra, giảng
viên cn hướng dẫn sinh viên cách học tập, tra cứu tài liệu,… Đây quá trình rèn luyện cho
sinh viên năng lực duy chính xác và phẩm chất duy biện chứng. điều y thì cực k
cn thiết vì như Ph. Ăngghen đã chỉ rõ: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa
học thì không thể không có tư duy lý luận” (C.Mác và Ph.Ăngghen 1995, 489).
Trong đổi mới phương pháp giảng dạy, người giảng viên cn phải phát huy tính tích cực,
chủ động, tự giác, sáng tạo của sinh viên trong quá trình lĩnh hội tri thức. Điều đó thể thực
hiện được thông qua việc sử dụng công nghệ thông tin, sử dụng các phương pháp dạy học tích
cực sự kết hợp một cách nhun nhuyễn các phương pháp với nhau tùy điều kiện cụ thể.
Giảng viên cn có phương pháp xây dựng các tình huống đòi hỏi sự tìm tòi, đào sâu suy nghĩ,
phát triển và mở rộng kiến thức của sinh viên với các hình thức phong phú, đa dạng. Bản thân
mỗi hình thức, phương pháp đều những ưu, nhược điểm. Do vậy, không nên coi bất k
phương pháp nào tối ưu cho việc truyền thụ tri thức bài giảng. Thậm chí cùng một bài
giảng, nhưng khi giảng cho các đối tượng khác nhau thì phương pháp vận dụng cũng phải khác
nhau.
Bên cạnh đó, việc đổi mới phương pháp dạy học cn phải thực hiện triệt để phương châm
lấy người học làm trung tâm, cho nên người giảng viên cn kết hợp nhiều phương pháp dạy học
khác nhau tùy thuộc vào nội dung bài giảng và đối tượng sinh viên. Thông qua đó, sinh viên
rèn luyện được các kỹ năng cn thiết như k năng diễn đạt, thuyết trình, thảo luận; kỹ năng đặt
vấn đề giải quyết vấn đề; k năng nói trước đám đông; k năng tổ chức các hoạt động chuyên
môn. Để kích thích tính chủ động của sinh viên thì người giảng viên cũng phải luôn luôn động
não, phát huy tính sáng tạo của mình trong quá trình triển khai bài giảng, đồng thời sinh viên
phải tập trung vào bài giảng, phải suy nghĩ, đóng góp ý kiến vào bài học.
Ngoài ra, giảng viên cn phải kết hợp sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại trong quá
trình giảng dạy. Để phương tiện dạy học phát huy hiệu quả, giảng viên cn sự đu ứng
dụng các phn mềm tin học như tạo ra các hình, đồ hóa kiến thức, sưu tm phim, các
hình ảnh liên quan đến nội dung bài học,… làm cho giờ dạy trở nên sinh động hơn.
Thứ ba, người giảng viên phải luôn đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá
một cách hiệu quả theo hướng đánh giá năng lực tư duy của sinh viên
Để kiểm tra, đánh giá có hiệu quả, giảng viên cn lưu ý đến những yếu tố sau:
Một là, việc đánh giá kết quả học tập cn phải được tiến hành một cách thường xuyên
trong suốt quá trình học tập, bao gồm điểm kiểm tra thường xuyên, điểm thảo luận, điểm chuyên
cn,… Để thực hiện tốt điều này, giảng viên cn chuẩn bị hệ thống câu hỏi trắc nghiệm, trả lời
ngắn, các chủ đề bài tập nhóm, với những hình thức kiểm tra phong phú, đa dạng… để có th
chủ động kiểm tra, đánh giá kết quả một cách thường xuyên.
Hai là, không chỉ đánh giá về kiến thức còn đánh giá về năng lực tự học, khả năng
tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề và ứng dụng kiến thức vào thực tiễn. Trong quá trình lên lớp,
giảng viên không chỉ thun túy trao đổi với sinh viên những kiến thức trong giáo trình
mỗi chương, mỗi nội dung bài học, giảng viên nên những câu hỏi gợi mở, liên hệ với thực
tiễn, đưa ra những bài tập tình huống nhằm giúp sinh viên làm quen với việc phân tích và giải
quyết vấn đề, vận dụng thực tiễn,… bằng những hình thức đa dạng thông qua việc ứng dụng
công nghệ thông tin.