LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Đại học Quốc gia Hà Nội
Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
PHẠM THỊ KIM XUYẾN
VAI TRŨ GIỚI TRONG GIA ĐÌNH BUÔN BÁN NHỎ Ở HÀ NỘI HIỆN NAY (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP TẠI PHƢỜNG TRUNG LIỆT, QUẬN ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI)
Hà Nội - 2007
- 1 -
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn "Vai trò giới trong gia đình buôn bán
nhỏ ở Hà Nội hiện nay" (Nghiên cứu trƣờng hợp phƣờng Trung Liệt,
quận Đống Đa, Hà Nội) tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ tận tình, chu đáo
của TS Nguyễn Thị Kim Hoa, cô đã ủng hộ và chỉ bảo cho tôi từ khi tôi
có ý tƣởng nghiên cứu và trong suốt quá trình làm luận văn với tinh thần
làm việc nghiêm túc, khoa học và cố gắng. Tôi xin gửi tới cô lời cảm ơn
sâu sắc nhất.
Tôi xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo giảng dạy ở Khoa Xã hội học
đã cho tôi những kiến thức quý báu, những kinh nghiệm học tập và
nghiên cứu trong suốt thời gian tôi học ở đây.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ làm việc trong Uỷ ban nhân
dân phƣờng Trung Liệt và toàn thể các hộ gia đình khảo sát đã giúp cho
tôi những ý kiến, những câu trả lời xác thực.
Việc học tập và chuyến đi khảo sát của tôi đã thu đƣợc kết quả nhƣ
mong muốn cũng nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của các bạn học cùng khoá
cao học với tôi, xin cảm ơn tất cả các bạn.
Tôi muốn gửi lời cảm ơn tới các đồng nghiệp, gia đình, bạn bè đã
động viên, ủng hộ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm luận văn.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn.
Học viên
Phạm Thị Kim Xuyến
- 2 -
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
MỤC LỤC
Lời cảm ơn ......................................................................................................... 1
Mục lục ............................................................................................................... 3
Danh mục bảng ................................................................................................. 6
Danh mục biểu .................................................................................................. 7
Mở đầu ............................................................................................................... 8
1. Tính cấp thiết của đề tài .................................................................................. 8
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: ..................................................... 10
2.1. Ý nghĩa khoa học ....................................................................................... 10
2.2. Ý nghĩa thực tiễn ........................................................................................ 10
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 10
3.1. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 10
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................. 11
4. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu ............................................... 11
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu................................................................................. 11
4.2. Khách thể nghiên cứu ................................................................................. 11
4.3. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................... 11
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp thu thập thông tin ................................. 12
5.1 Phƣơng pháp luận ........................................................................................ 12
5.2 Phƣơng pháp thu thập thông tin .................................................................. 13
5.2.1 Phƣơng pháp quan sát .............................................................................. 13
5.2.2 Phƣơng pháp phân tích tài liệu ................................................................. 13
5.2.3 Phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng ....................................................... 14
5.2.4 Phƣơng pháp phỏng vấn sâu cá nhân ....................................................... 14
6. Giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích ................................................... 15
6.1 Giả thuyết nghiên cứu ................................................................................. 15
- 3 -
6.2 Khung phân tích .......................................................................................... 16
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Nội dung .......................................................................................................... 17
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài ............................................................... 17
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu .................................................................... 17
1.1.1. Các công trình nghiên cứu ngoài nƣớc ................................................... 17
1.1.2. Các công trình nghiên cứu trong nƣớc. ................................................... 19
1.2. Khái niệm then chốt: .................................................................................. 21
1.2.1 Khái niệm Vai trò ..................................................................................... 21
1.2.2 Khái niệm giới .......................................................................................... 23
1.2.3. Khái niệm Vai trò giới. ........................................................................... 24
1.2.4. Khái niệm Gia đình ................................................................................. 26
1.2.5. Khái niệm gia đình buôn bán nhỏ ........................................................... 27
1.2.6. Chức năng của gia đình ........................................................................... 27
1.3. Cách tiếp cận lý thuyết đƣợc vận dụng vào nghiên cứu: ........................... 28
1.3.1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc về việc phát triển
khu vực kinh tế gia đình. ................................................................................... 28
1.3.2. Lý thuyết vai trò ..................................................................................... 31
1.3.3. Lý thuyết lựa chọn hợp lý ....................................................................... 32
1.3.4. Lý thuyết phân công lao động ................................................................. 34
Chƣơng 2: Vai trò giới trong thực hiện các chức năng gia đình ................ 38
2.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu và các gia đình buôn bán nhỏ ................ 38
2.1.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu .................................................................. 38
2.1.2. Đặc điểm của các gia đình buôn bán nhỏ đƣợc nghiên cứu ................... 39
2.2. Vai trò giới trong chức năng kinh tế của gia đình ..................................... 43
2.2.1 Trong hoạt động buôn bán ....................................................................... 43
2.2.2. Trong hoạt động phục vụ buôn bán ........................................................ 52
2.2.3. Hiệu quả hoạt động buôn bán ................................................................. 55
2.3. Vai trò giới trong chức năng tái sản xuất con ngƣời .................................. 58
2.3.1. Quyết định số con và thời gian sinh con ................................................. 59
- 4 -
2.3.2. Quyết định biện pháp kế hoạch hoá gia đình .......................................... 61
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
2.4. Vai trò giới trong chức năng chăm sóc, giáo dục của gia đình ................. 71
2.4.1. Trong hoạt động chăm sóc gia đình ....................................................... 71
2.4.2.Trong hoạt động giáo dục con cái ............................................................ 77
2.5 Vai trò giới trong chức năng tình cảm, tinh thần của gia đình ................... 85
2.5.1 Tăng cƣờng mối quan hệ tình cảm trong gia đình ................................... 85
2.5.2 Kiểm soát, điều hoà mối quan hệ trong gia đình ..................................... 89
Kết luận và khuyến nghị .............................................................................. 91
1. Kết luận ......................................................................................................... 91
2. Khuyến nghị .................................................................................................. 93
Tài liệu trích dẫn ............................................................................................. 96
Phụ lục ........................................................................................................... 100
Bảng hỏi về vai trò giới trong gia đình buôn bán nhỏ .............................. 100
Hƣớng dẫn Phỏng vấn sâu cá nhân tại gia đình ....................................... 111
- 5 -
Hƣớng dẫn Phỏng vấn sâu cán bộ phụ nữ .................................................. 111
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 : Sở hữu nhà ở và thời gian kết hôn (%) .................................................. 41
Bảng 2: Sự tham gia của phụ nữ và nam giới vào công việc buôn bán (%) ....... 43
Bảng 3: Sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động buôn bán theo địa điểm
cửa hàng (%) ........................................................................................................ 51
Bảng 5: Tƣơng quan giữa thời gian buôn bán với tiền tiết kiệm (%) .................. 56
Bảng 4: Ngƣời làm việc nhà và buôn bán khi ngƣời phụ nữ nghỉ sinh (%) ....... 70
Bảng 5: Tỷ lệ ngƣời làm buôn bán thay vợ khi sinh đối chiếu với địa điểm
buôn bán của gia đình .......................................................................................... 70
Bảng 6: Sự đảm nhận chính trong các công việc nội trợ hàng ngày (%) ............ 74
Bảng 7: công việc chăm sóc con (%) .................................................................. 75
Bảng 8: Quyết định việc học tập, hƣớng nghiệp cho con cái (%) ...................... 77
Bảng 9: Những khó khăn trong việc dạy con (%)................................................ 81
Bảng 10 : Tƣơng quan gia đình gặp khó khăn khi dạy con với địa điểm buôn
bán khác nhau (%) ................................................................................................ 82
Bảng 11: Lo lắng đối với con cái hiện nay (%) .................................................. 84
Bảng 12: Tƣơng quan số bữa ăn chung của cả gia đình với địa điểm
buôn bán (%) ........................................................................................................ 87
Bảng 14: Những hoạt động trong thời gian rỗi .................................................... 88
Bảng 15: Ngƣời điều hoà mối quan hệ trong gia đình (%) .................................. 89
- 6 -
Bảng 16 : Ngƣời trò chuyện với con cái (%) ....................................................... 90
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 1: Tƣơng quan theo nhóm tuổi của phụ nữ trong việc thực hiện công
việc buôn bán ...................................................................................................... 49
Biểu đồ 2: Sự tham gia của hai vợ chồng vào các công việc buôn bán theo
nhóm tuổi của vợ ................................................................................................ 50
Biểu đồ 3: Ngƣời đi vay vốn ............................................................................... 52
Biểu đồ 4: Nguồn vay vốn .................................................................................. 53
Biểu đồ 7: Tỷ lệ phụ nữ và nam giới quyết định nạo hút thai ............................ 66
- 7 -
Biểu đồ 8: Tổ chức bữa ăn .................................................................................. 86
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), nƣớc ta chuyển đổi từ
nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.
Một trong những sự đổi mới tƣ duy quan trọng nhất là quan điểm kinh tế thị
trƣờng, về phát triển khu vực kinh tế tƣ nhân, tạo đà phát triển kinh tế gia
đình. Sự thay đổi này tạo ra động lực mạnh mẽ trong hành động của mọi ngƣời
dân và góp phần đáng kể làm biến đổi bộ mặt kinh tế của đất nƣớc. Với quan
điểm này, cộng đồng đã vƣợt qua cái nhìn định kiến về "con buôn" của nhóm
thƣơng nhân vốn dai dẳng tồn tại qua các thời kỳ lịch sử phong kiến, trong cơ
chế kinh tế bao cấp, để đi tới thực sự nhìn nhận họ nhƣ một nhóm xã hội với vị
thế và vai trò quan trọng trong sự chuyển đổi mạnh mẽ về kinh tế - xã hội,
trong những bƣớc hội nhập về mọi mặt ra thế giới của đất nƣớc Việt Nam.
Trong xu thế biến đổi đó phải kể tới sự khởi sắc của hoạt động buôn bán,
kinh doanh ở các hộ gia đình. Chức năng kinh tế của gia đình bị lu mờ trong
thời kỳ nền kinh tế tập trung bao cấp thì nay đã đƣợc khôi phục, đƣợc thừa
nhận và khuyến khích phát triển. Kinh tế gia đình đƣợc công nhận là một trong
6 thành phần kinh tế cơ bản của hệ thống kinh tế quốc dân. Khu vực kinh tế
này thực sự đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự tăng trƣởng của kinh
tế quốc dân hàng năm. Gia đình ngày càng khẳng định là đơn vị kinh tế năng
động, hiệu quả. Từ chỗ chủ yếu là đơn vị tiêu thụ, gia đình chuyển sang đơn vị
sản xuất và tự hoạch toán với những thay đổi tất yếu trong sự vận hành của
thiết chế này.
Sự biến đổi kinh tế- xã hội nhƣ vậy kéo theo những biến đổi trong gia
đình, có thể thấy rằng việc làm giàu đã đem lại những thành quả tốt đẹp cho
- 8 -
gia đình, tuy nhiên bên cạnh những thành quả kinh tế tốt đẹp, gia đình đã gặp
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
phải những vấn đề cần giải quyết, nhƣ sự biến đổi vai trò của các thành viên
trong gia đình, giáo dục gia đình, xung đột gia đình…
Đã có nhiều công trình nghiên cứu xã hội học với quy mô lớn nhỏ khác
nhau về mọi khía cạnh của đời sống gia đình, ở các vùng miền khác nhau, ở
các loại hình gia đình khác nhau, nhƣ gia đình nông thôn, gia đình miền núi,
gia đình công nhân, gia đình nông dân, gia đình trí thức…
Gia đình buôn bán nhỏ là loại hình gia đình phát triển rất mạnh mẽ trong
những năm vừa qua, và có xu hƣớng mở rộng số lƣợng hơn nữa trong thời gian
tới. Nhóm gia đình này có những đặc trƣng chung nhƣ mọi gia đình khác, tuy
nhiên, tính chất buôn bán đã tạo ra một số khác biệt nhƣ tính chất tự do trong
lao động, tự hạch toán kinh tế gia đình, tự do cả theo nghĩa họ không là hội
viên, đoàn viên của các tổ chức hội, đoàn thể xã hội nào. Phụ nữ và nam giới
trong gia đình này tạo thu nhập cho gia đình bằng hoạt động buôn bán hàng
ngày của mình.
Những nghiên cứu liên quan trực tiếp đến vai trò giới trong các gia đình
buôn bán nhỏ còn rất ít. Chính vì vậy việc chọn đề tài này là chúng tôi muốn
tìm hiểu vai trò giới trong gia đình buôn bán nhỏ mong rằng góp phần vào việc
hiểu biết chung về vấn đề giới và gia đình ở Việt Nam.
Trong những gia đình buôn bán nhỏ, vai trò giới có chịu tác động, ảnh
hƣởng của tính chất nghề nghiệp hay không, vai trò giới trong việc thực hiện
các chức năng kinh tế, giáo dục con cái, tái sản xuất con ngƣời cũng nhƣ trong
việc đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần cho gia đình thế nào? Để trả lời
những câu hỏi này cần có những khảo sát, nghiên cứu làm rõ.
Bản thân ngƣời thực hiện luận văn này rất yêu thích những vấn đề liên
quan đến giới và gia đình.
Từ những lý do đó, luận văn mong muốn làm rõ thực trạng vai trò giới
- 9 -
trong gia đình buôn bán nhỏ qua khảo sát thực tế tại phƣờng Trung Liệt thuộc
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
quận Đống Đa - Hà Nội, mong góp phần cải thiện quan hệ giới trong gia đình
nói chung và gia đình buôn bán nói riêng và thực hiện chủ trƣơng chính sách
bình đẳng giới, tiến bộ của xã hội của Đảng và Nhà nƣớc ta.
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
2.1. Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu Vai trò giới trong gia đình buôn bán nhỏ từ hƣớng tiếp cận xã
hội học để tìm hiểu, nhận diện sự tham gia và quyền bình đẳng của phụ nữ và
nam giới vào thực hiện các chức năng gia đình. Trên cơ sở đó đề tài làm rõ
hiện trạng vai trò giới trong nhóm gia đình buôn bán nhỏ ở Hà Nội trong bối
cảnh kinh tế thị trƣờng.
Những kết quả và thông tin thu đƣợc có thể làm tài liệu tham khảo hữu
ích cho các cá nhân, tổ chức quan tâm đến lĩnh vực này.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Từ những kết quả nghiên cứu, hy vọng luận văn này sẽ đƣa ra đƣợc
những khuyến nghị hữu ích tới những những ngƣời lập chính sách và thực hiện
chính sách để họ thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình. Đồng thời, từ kết quả
nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm cho nam giới và phụ nữ trong các gia
đình buôn bán nhỏ, đặc biệt là những ngƣời phụ nữ hiểu rõ hơn vai trò mà họ
đang đảm nhận, những vƣớng mắc mà họ đang gặp phải trong việc thực hiện
vai trò của mình, từ đó giúp đỡ họ nâng cao địa vị, giảm thiểu những xung đột
vai trò nảy sinh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Phân tích vai trò giới trong các gia đình buôn bán nhỏ thông qua một số
- 10 -
hoạt động thực hiện các chức năng của gia đình
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
- Tìm hiểu tác động của hoạt động buôn bán đến việc thực hiện các vai trò
của phụ nữ và nam giới .
- Đƣa ra khuyến nghị mang tính giải pháp đối với các cấp chính quyền có
biện pháp quản lý và hoạt động hiệu quả hơn trong lĩnh vực liên quan đến
giới, bình đẳng giới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số khái niệm liên quan đến đề tài: Vai trò; vai trò giới,
giới, gia đình; gia đình buôn bán nhỏ; chức năng của gia đình
- Phân tích thực trạng thực hiện vai trò giới trong sản xuất và tái sản
xuất của gia đình buôn bán nhỏ.
- Đề xuất khuyến nghị cho các cấp chính quyền nhằm nâng cao địa vị
của ngƣời phụ nữ trong gia đình tạo điều kiện cho phụ nữ vừa làm tốt vai trò
kinh tế, vừa giữ gìn hạnh phúc gia đình và nâng cao chất lƣợng cuộc sống.
4. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Vai trò giới trong các gia đình buôn bán nhỏ
4.2. Khách thể nghiên cứu
Phụ nữ (ngƣời vợ) và nam giới (ngƣời chồng) trong các gia đình buôn
bán nhỏ.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này đi vào tìm hiểu vai trò giới trong hoạt động sản xuất
và tái sản xuất của gia đình, không đi vào tìm hiểu vai trò giới trong hoạt động
cộng đồng. Với khuân khổ một luận văn không có điều kiện tìm hiểu vai trò
giới trong tất cả các hoạt động sản xuất và tái sản xuất của gia đình mà chỉ tìm
hiểu, phân tích vai trò giới trong một số hoạt động tiêu biểu . Trên cơ sở đó
- 11 -
đƣa ra kết luận trong khuôn khổ các nội dung nghiên cứu. Mặt khác, luận văn
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
chỉ mới có điều kiện khảo sát gia đình làm nghề buôn bán nhỏ tại đô thị với số
lƣợng mẫu không lớn, chƣa có sự so sánh nhiều chiều và chƣa thể đại diện cho
cho các hộ gia đình buôn bán nhỏ.
Phạm vi không gian nghiên cứu: Phƣờng Trung Liệt, Quận Đống Đa,
thành phố Hà Nội.
Phạm vi thời gian nghiên cứu: năm 2007
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp thu thập thông tin
5.1 Phương pháp luận
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử cho rằng trong
xã hội không có hiện tƣợng, sự vật nào tồn tại độc lập, tách biệt nhau mà
chúng liên kết chặt chẽ với nhau; hiện tƣợng, sự vật này tác động và chịu tác
động của hiện tƣợng, sự vật kia, đồng thời chúng còn chuyển hoá lẫn nhau:
“Tất cả thế giới mà chúng ta có thể nghiên cứu đƣợc là một hệ thống, một tập
hợp gồm các vật thể khăng khít với nhau... Việc các vật thể ấy đều có liên hệ
qua lại với nhau đã có nghĩa là các vật thể này tác động lẫn nhau, sự tác động
qua lại ấy chính là sự vận động” [1, 945].
Việc nghiên cứu các vấn đề xã hội yêu cầu phải xem xét các hiện tƣợng
xã hội trong mối liên hệ với các hiện tƣợng xã hội khác, phải xem xét tất cả các
mặt, các yếu tố của sự vật, hiện tƣợng, nhƣng vì các biểu hiện của sự vật, hiện
tƣợng là rất lớn nên chúng ta chỉ xem xét những mối liên hệ quan trọng nói lên
bản chất sự vật, hiện tƣợng cần nghiên cứu.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử cho rằng những hiện tƣợng xã hội đều có quy
luật, không có hiện tƣợng xã hội nào là ngẫu nhiên. Ăngghen viết: “Nhƣ vậy,
xét chung và toàn bộ, ngẫu nhiên hình nhƣ cũng chi phối cả những sự kiện lịch
- 12 -
sử. Nhƣng ở đâu mà ngẫu nhiên hình nhƣ tác động ở mặt ngoài thì ở đấy, tính
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
ngẫu nhiên ấy luôn luôn bị chi phối bởi những quy luật nội tại bị che giấu; và
vấn đề chỉ là phát hiện ra những quy luật đó” [8, 932].
Chúng ta cần phải hiểu đƣợc những bản chất của sự vật, hiện tƣợng để từ
đó phát hiện ra những quy luật phát triển của chúng. Những quy luật phát triển
của hiện tƣợng, sự vật nhiều khi lộ rõ, nhƣng phần lớn là ẩn dấu bên trong
những biểu hiện có vẻ bất thƣờng, do vậy ngƣời nghiên cứu phải phát hiện ra
đƣợc những quy luật kể cả dễ nhận thấy và ngầm ẩn, khó nhận biết của sự vật,
hiện tƣợng.
Vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là
rất cần thiết đối với mục tiêu của luận văn. Chúng ta không thể phát hiện, làm
rõ một hiện tƣợng chỉ theo những biểu hiện không cơ bản, không rõ ràng và
không đầy đủ của chúng. Chính vì những lý do đó, tƣ tƣởng của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử luôn là kim chỉ nam cho nghiên
cứu này.
5.2 Phương pháp thu thập thông tin
5.2.1 Phương pháp quan sát
Quan sát những hoạt động hàng ngày của các gia đình buôn bán nhỏ đã
hình thành nên ý tƣởng nghiên cứu của đề tài.
Trong quá trình thu thập thông tin định tính và định lƣợng, quan sát thái
độ, hành vi của ngƣời trả lời để xem xét tính xác thực của thông tin. Ngoài ra
chúng tôi còn quan sát nhà ở và của hàng- nơi buôn bán của gia đình để đánh
giá bổ sung về cuộc sống của họ.
5.2.2 Phương pháp phân tích tài liệu
Phân tích các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Từ đó tìm ra
những vấn đề, những khía cạnh chƣa đƣợc đề cập, làm rõ. Trên cơ sở đó định
- 13 -
hƣớng cho vấn đề nghiên cứu của mình
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Nguồn tài liệu bao gồm:
- Các sách, các đề tài nghiên cứu trƣớc đây có liên quan đến đề tài nghiên
cứu.
- Báo, tạp chí có liên quan
- Các báo cáo, số liệu về tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội ở địa bàn
nghiên cứu.
5.2.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Phƣơng pháp nghiên cứu cơ bản của luận văn là phân tích thông tin định
lƣợng thu đƣợc qua điều tra chọn mẫu 151 bảng hỏi của những gia đình buôn
bán nhỏ có hộ khẩu tại Hà Nội, hiện đang buôn bán trên địa bàn nghiên cứu
(phƣờng Trung Liệt). Các khách thể trên đƣợc lựa chọn theo các tiêu chí chính
sau: 1) Gia đình buôn bán nhỏ; 2) Tuổi của ngƣời buôn bán đƣợc phân theo
18-34; 35-49 và 50 trở lên, lý do của việc chia thành các nhóm trên là ở các
nhóm tuổi khác nhau thì mức sinh khác nhau cho nên việc thực hiện các vai trò
khác nhau. Những yếu tố nhƣ thời gian của cuộc hôn nhân, mức độ xã hội hoá
vai trò giới đƣợc đối chiếu vì có liên quan đến sự vận hành thiết chế gia đình.
Các tiêu chí đƣợc cân nhắc tiếp theo là: Địa điểm buôn bán (tại nhà ở
hay không tại nhà ở). Cách phân nhóm này thực hiện dựa trên sự kết hợp tƣơng
đối các tiêu chí có liên quan nhiều tới nội dung và điều kiện thực hiện các vai
trò của phụ nữ và nam giới.
5.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân
Phƣơng pháp nghiên cứu định tính đƣợc sử dụng nhằm thu thập các
thông tin cho phép phân tích, nhận xét bổ sung cho các thông tin thu đƣợc từ
các phƣơng pháp định lƣợng, phƣơng pháp phân tích tài liệu... Phƣơng pháp
này đƣợc triển khai qua 10 phỏng vấn sâu với cơ cấu cụ thể gồm: 1 Cán bộ phụ
nữ phƣờng, 9 phỏng vấn sâu chia đều cho 3 nhóm gia đình (mỗi nhóm gia đình
- 14 -
thực hiện 2 cuộc phỏng vấn sâu chia đều cho vợ và chồng để phân tích và đối
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
chứng). Sự kết hợp thông tin định tính với định lƣợng sẽ cho phép kiểm định
chính xác hơn các giả thuyết đƣợc đƣa ra.
6. Giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích
6.1 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Trong gia đình buôn bán nhỏ, ngƣời phụ nữ và nam giới
tham gia và đóng góp nhiều công sức vào việc buôn bán,
của gia đình. Phụ nữ làm việc liên quan đến trực tiếp
buôn bán, nam giới là trụ cột và quyết định.Phụ nữ tƣơng
đối bình đẳng với nam giới trong quyền ra quyết định
kinh tế.
Giả thuyết 2: Ngƣời phụ nữ là ngƣời thực hiện chủ yếu công việc tái
sản xuất của gia đình và thực hiện chức năng gắn kết tình
cảm gia đình.
Giả thuyết 3: Vai trò giới trong gia đình buôn bán nhỏ không khác
- 15 -
nhiều lắm so các loại hình gia đình khác.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
6.2 Khung phân tích
BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI
Hệ thống chính sách pháp luật , tư tưởng liên quan đến gia đình, giới, kinh tế hộ
Hoạt động buôn bán
của gia đình
VAI TRÒ GIỚI TRONG THỰC HIỆN CÁC
CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH
- 16 -
Thực hiện chức năng tái sản xuất con người Thực hiện chức năng giáo dục, chăm sóc Thực hiện chức năng tình cảm, tinh thần Thực hiện chức năng kinh tế
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò giới, phân công
lao động theo giới cả trên phƣơng diện lý thuyết và thực nghiệm. Trƣớc hết
phải đề cập đến tác phẩm: “ Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của
nhà nước” của Engels ( 1884). Có thể coi đây là một trong những công trình
nghiên cứu về phân công lao động theo giới sớm nhất. Đứng trên quan điểm
duy vật lịch sử, Engels đã mô tả sự phân công lao động theo giới gắn liền với
sự tồn tại của các hình thức sở hữu tƣ liệu sản xuất khác nhau, các kiểu hôn
nhân và gia đình khác nhau.Theo đó, địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới thay
đổi khi có sự thay đổi về mô hình phân công lao động mà nguồn gốc sâu xa
của nó bắt nguồn từ sự thay đổi về quan hệ đối với tƣ liệu sản xuất, về kỹ thuật
cũng nhƣ hình thái hôn nhân và gia đình.
Một trong những công trình khác đƣợc nhiều ngƣời biết đến là tác phẩm:
“Giới tính thứ hai” của Simone De Beauvoir (1949). Trong tác phẩm này tác
giả đã giải thích các nguyên nhân dẫn đến “địa vị hạng hai” của phụ nữ. Bà
khẳng đinh rằng phụ nữ phải đảm nhận phần lớn công việc nội trợ. Phụ nữ
càng làm việc thì quyền lợi của họ càng thấp kém. Từ đó Bà lên tiếng bênh vực
quyền lợi của họ và đấu tranh nhằm xoá bỏ tình trạng bất bình đẳng nam- nữ.
Tác phẩm “ Sự huyền bí của nữ tính” của Betty Friedan ( 1963) đƣợc
coi
là một công trình rất nổi tiếng về phân công lao động theo giới. Trên cơ sở
nghiên cứu 50 trƣờng hợp phụ nữ trung lƣu lớp trên chuyên đảm nhận các
- 17 -
công việc nội trợ trong khi các ông chồng của họ làm các công việc ngoài gia
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
đình và có lƣơng, Bà đã phát hiện ra rằng sự phân công lao động ấy dã đem
đến cho những ngƣời phụ nữ này sự khốn khổ và thất vọng.
Nghiên cứu của Boserup với tiêu đề: “Vai trò của phụ nữ trong phát
triển kinh tế” ( 1970) đã làm thay đổi nhận thức về phân công lao động theo
giới của con ngƣời. Boserup đã xác định một cách có hệ thống và ở phạm vi
thế giới trong các nền kinh tế nông nghiệp. Những khám phá của Bà đã góp
phần làm sáng tỏ hơn nữa bức tranh về phân công lao động theo giới thông qua
việc phân tích và khẳng định vai trò quan trọng của lao động nữ trong các nƣớc
thuộc thế giới thứ ba.
Tác giả Ann Oakley- ngƣời đầu tiên đƣa thuật ngữ giới vào xã hội học.
Công trình nghiên cứu “ Xã hội học về người nội trợ” ( 1974) bà đã đề cập đến
sự bất bình đẳng trong phân công lao động theo giới trong công việc nội trợ và
chỉ ra rằng ở nhiều nơi công việc nội trợ không công và không đƣợc trả lƣơng
phần lớn do phụ nữ đảm nhận, nam giới đã thoái thác công việc này.
Với tiêu đề: “ Công việc của phụ nữ- Sự phát triển và phân công lao
động theo giới”, E. Leacock, Helen I. Safa và những ngƣời khác ( 1986) một
lần nữa làm sáng tỏ những kết luận của Boserup về phân công lao động theo
giới và vai trò của thế giớ thứ ba. Không những thế nghiên cứu của họ đã mở
rộng ra để xem xét sự phân công lao động cả trong xã hội nông nghiệp và xã
hội công nghiệp. Các tác giả cũng chứng minh rằng dù trong xã hội nông
nghiệp hay công nghiệp thì phụ nữ cũng bị đặt những gánh nặng của công việc
tái sản xuất ngoài hoạt động sản xuất để kiếm sống, điều đó khiến họ thƣờng
xuyên phải lao động quá sức.
Vào thập kỷ 90 của thế kỷ 20, Carolin O. N Moser đã cho ra đời tác
phẩm “ Kế hoạch hoá về giới- Lý thuyết, thực hành và huấn luyện” (1993).
Cuốn sách này không chỉ cung cấp những khái niệm then chốt có liên quan đến
- 18 -
phân công lao động theo giới và các công cụ phân tích và lập kế hoạch về giới
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
trong các chƣơng trình phát triển mà còn chỉ ra thực trạng phân công lao động
theo giới ở nhiều xã hội khác nhau.
Bên cạnh đó còn nhiều công trình nghiên cứu khác cũng đề cập đến các
khía cạnh của phân công lao động theo giới trong sản xuất, tái sản xuất và công
việc cộng đồng ở các quốc gia khác nhau trong bối cảnh của các nền văn hoá
khác nhau.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước.
Ngay từ thời kỳ kiến thức về giới còn khá mới mẻ ở Việt nam, nhiều
tác giả trong nƣớc đã đặt vấn đề nghiên cứu về phân công lao động theo giới
và lao động của phụ nữ.
Tác giả Đào Thế Tuấn trong nghiên cứu có tên “Phụ nữ trong kinh tế
hộ nông dân” ( 1992) cũng đã khẳng định vai trò to lớn của phụ nữ trong sản
xuất và tái sản xuất. Tác giả cho rằng cần thay đổi kiểu phân công lao động
theo giới hiện tại để giảm gánh nặng công việc và nâng cao địa vị xã hội cho
phụ nữ.
Tác giả Lê Thị Quý với đề tài “ Vai trò của phụ nữ trong nền kinh tế
thị trường ở Việt Nam” ( 1994) đã cho thấy cƣờng độ lao đông quá cao của
phụ nữ dƣới tác động của cơn lốc kinh tế thị trƣờng để mƣu sinh và những mặt
trái của thực trạng ấy.
Đề tài “Phân công lao động theo giới trong gia đình nông dân” (
1997) của tác giả Lê Ngọc Văn đã chỉ ra mô hình phân công lao động theo giới
ở khu vực nông thôn trong thời kỳ kinh tế thị trƣờng. Với xu thế nam giới
đƣợc khuyến khích chuyển sang các hoạt động tạo thu nhập tiền mặt, phụ nữ
gắn với công việc tái sản xuất và sản xuất các sản phẩm tiêu dùng của gia đình.
Sự phân công lao động ấy tạo ra sự bất lợi cho phụ nữ trong việc nâng cao học
- 19 -
vấn, sức khoẻ và vị thế xã hội của họ.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Với tên đề tài: “ Gia đình phụ nữ nghèo: Phân công lao động và mối
quan hệ giữa các thành viên” ( 1997), tác giả Ngô Thị Ngọc Anh đã khảo sát
500 phụ nữ nghèo thành thị và chứng minh rằng họ là những ngƣời trụ cột
trong việc nuôi sống gia đình và các công việc nội trợ, chăm sóc và nuôi dạy
con cái.
Tác giả Vũ Tuấn Huy và Deborah S. Carr với nghiên cứu “ Phân công
lao động nội trợ trong gia đình” ( 2000) đã khẳng định sự bất bình đẳng trong
phân công lao động nội trợ- phụ nữ đẩm nhận là chủ yếu.
Nghiên cứu của Đặng Thị Hoa về “ Vị thế của người phụ nữ H’Mông
trong gia đình và trong xã hội” (2001) đã đề cập đến sự bất bình đẳng giữa
đóng góp lao động và vị thế xã hội thấp kém của phụ nữ H’Mông. Nguyễn
Linh Khiếu với công trình nghiên cứu có nhan đề “ Khía cạnh quan hệ giới
trong gia đình nông thôn miền núi” ( 2002) đã phác thảo những nét cơ bản về
phân công lao động theo giới của một số dân tộc thiểu số ở Miền Bắc và sự bất
bình đẳng giới trong gia đình của họ. Nghiên cứu của Lê Thị Quý về “ Vấn đề
giới trong các dân tộc ít người ở Sơn La, lai Châu hiện nay” ( 2004) đã đề cập
khá rõ nét về mối quan hệ giới của các dân tộc ít ngƣời thông qua phân công
lao động theo giới. Tác giả Lê Tiêu La và Nguyễn Đình Tấn với công trình
nghiên cứu: “ Phân công và hợp tác lao động theo giới trong phát triển hộ gia
đình và cộng đồng ngư dân ven biển Việt Nam hiện nay- Thực trạng và xu
hướng biến đổi” đã chỉ ra mô hình phân công lao động theo giới ở cộng đồng
ven biển trong đánh bắt, chế biến, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất nông nghiệp,
nội trợ,v.v…
Gia đình học (2007) của tác giả Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý. Các tác
giả đã chỉ ra 4 chức năng chính của gia đình là : 1) Xã hội hoá, chăm sóc và
giáo dục con cái; 2) Chức năng kinh tế; 3) Chức năng tái sản xuất ra con
ngƣời và xã hội; 4) Chức năng tình cảm. Các tác giả cho rằng đây là những
- 20 -
chức năng cơ bản nhất mà gia đình đã thực hiện mà không thể thiếu đƣợc trong
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
sự vận động của xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, các chức năng của gia đình
đang bị biến đổi, nảy sinh nhiều vấn đề, cả tích cực và tiêu cực, vì vậy chức
năng gia đình vẫn đang là điểm nóng của những cuộc tranh luận khoa học hiện
nay
Liên hệ với vấn đề nghiên cứu mà luận văn này sẽ triển khai, hy vọng sẽ
góp thêm vào những kiến thức rộng lớn về gia đình Việt Nam một số hình ảnh
về nhóm gia đình kinh doanh nhỏ ở thành phố Hà Nội, nhóm gia đình này sẽ
ngày càng đông đảo thêm trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội.
Những nghiên cứu liên quan trực tiếp đến vai trò giới trong các gia
đình buôn bán nhỏ còn rất ít. Trong khi đó loại hình gia đình này đang có xu
hƣớng phát triển, mở rộng trong tƣơng lai. Vì vậy, việc chọn đề tài này là
chúng tôi muốn tìm hiểu vai trò giới trong gia đình buôn bán nhỏ để có thể góp
phần vào việc mô tả bức tranh chung về gia đình Việt Nam nói chung và
nghiên cứu về giới nói riêng. Luận văn này kế thừa các nghiên cứu trƣớc và
tìm tòi cái mới về một loại hình gia đình còn chƣa đƣợc nghiên cứu nhiều.
1.2. Khái niệm then chốt:
1.2.1 Khái niệm Vai trò
Theo quan điểm xã hội học, vai trò là “các mẫu hành vi tƣơng ứng với địa
vị cụ thể” [10, 192]. Mỗi địa vị bao gồm các quyền lợi và nghĩa vụ khác nhau,
những ai nắm địa vị thƣờng đƣợc nghĩ là phải có vai trò hành xử theo những
cách phù hợp với địa vị đó.
Vai trò có mối quan hệ quan hệ trong khi tổ chức hành vi của chúng ta đối
với một số ngƣời khác. Vai trò của bố mẹ đƣợc định nghĩa là theo lý tƣởng là
tinh thần trách nhiệm với con cái, và cũng nhƣ vậy, vai trò của con cái đƣợc
định nghĩa là nghĩa vụ với bố mẹ.
Vì cá nhân nắm giữ nhiều địa vị trong cùng một thời điểm, vì thế họ phải
- 21 -
thực hiện nhiều vai trò cùng một lúc, và do một địa vị có thể có nhiều vai trò,
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
nên ngƣời ta thƣờng có nhiều vai trò hơn địa vị của ngƣời đó. Ví dụ, xem xét
ngƣời phụ nữ trong gia đình: ngƣời phụ nữ này có địa vị là “ngƣời vợ”, và
tƣơng ứng với địa vị này là tập hợp hành vi đối của vai trò vợ chồng; trách
nhiệm trong việc chăm sóc việc nhà nên thực hiện vai trò nội trợ; cô ta còn có
địa vị là “ngƣời mẹ”, kèm theo nó là tập hợp hành vi của vai trò chăm sóc con
cái, giáo dục con cái...
Do con ngƣời có nhiều địa vị, phải thể hiện nhiều vai trò cùng lúc nên
nhiều khi họ thể hiện những vai trò khác hẳn nhau và có thể mâu thuẫn nhau
trong cùng một lúc. Ví nhƣ một ngƣời vừa cho con ăn, vừa phải trả lời điện
thoại: cô ta thực hiện vai trò làm mẹ đối với đứa con trong cùng lúc đó thể hiện
vai trò làm chủ gia đình để trả lời khách, nếu làm tốt vai trò làm mẹ (cho con
ăn) thì việc trả lời khách sẽ không đƣợc thuận tiện và ngƣợc lại. Các nhà xã hội
học sử dụng khái niệm xung đột vai trò để ám chỉ sự xung khắc giữa các vai
trò tƣơng ứng với hai địa vị trở lên. Trong cuộc sống, ai cũng đã từng trải qua
xung đột vai trò khi nhận thấy bản thân không thể thực hiện tất cả các vai trò
tƣơng ứng với các địa vị mà chúng ta nắm giữ ở một thời điểm bất kỳ nào đó.
Ngay ở một địa vị riêng lẻ cũng có trƣờng hợp tạo cho cá nhân cảm giác
không thể thực hiện hết các vai trò của nó, vì ở địa vị này, các vai trò cạnh
tranh với nhau để giành đƣợc sự ƣu tiên. Khái niệm căng thẳng vai trò ám chỉ
sự xung khắc giữa các vai trò tƣơng ứng với một địa vị riêng lẻ. Ví dụ, địa vị
ngƣời mẹ mong muốn duy trì mối quan hệ thân thiết với con nhƣ một ngƣời
bạn, không có khoảng cách để con cái dễ dàng tâm sự, trao đổi ý kiến với
mình; nhƣng cùng lúc là trách nhiệm của ngƣời mẹ là phải duy trì một quan hệ
có kỷ luật với con cái do đó họ lại phải tạo ra một khoảng cách với con mình.
Các cá nhân thƣờng phải tìm cách để giải quyết trong các trƣờng hợp
căng thẳng vai trò hay xung đột vai trò. Một trong những cách đó là ƣu tiên vai
trò này quan trọng hơn các vai trò khác, hoặc cách ly các vai trò khác; thậm chí
- 22 -
có cách giải quyết là từ bỏ những vai trò ít quan trọng đối với họ.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Xung đột vai trò và căng thẳng vai trò thƣờng phát sinh trong xã hội công
nghiệp. Đời sống xã hội trong các xã hội hiện đại đều phức tạp và tạo ra nhiều
vấn đề, chúng ta thƣờng đảm nhận cùng một lúc nhiều địa vị và thực hiện
nhiều vai trò nhƣng chúng ta không thể rời bỏ tất cả địa vị và vai trò vì địa vị
và vai trò là phƣơng tiện qua đó các mối quan hệ đƣợc tổ chức và rõ ràng hoá
sao cho tƣơng tác xã hội có thể xúc tiến theo cách tƣơng đối hiệu quả. [10,192-
195]
1.2.2 Khái niệm giới
Giới là khái niệm dùng để chỉ những đặc điểm và sự khác nhau về mặt xã
hội giữa phụ nữ và nam giới.
Giới: Do quá trình xã hội hoá mà có.
Đứa trẻ thƣờng học hỏi, bắt chƣớc những ngƣời cùng giới tính với nó
Ở gia đình: thƣờng có cách ứng xử đối với con trai và con gái cũng nhƣ
hƣớng dẫn cho trẻ em trai và trẻ em gái khác nhau theo những giá trị,
chuẩn mực cụ thể của xã hội.
Ở nhà trƣờng: cũng có cách ứng xử với nhau đối với hai giới dựa theo
những giá trị, chuẩn mực của xã hội.
Ở xã hội: cũng có những cách ứng xử khác nhau giành cho mỗi giới
Vì thế, con trai và con gái luôn phải điều chỉnh hành vi của mình sao cho
phù hợp với suy nghĩ và sự mong đợi của mọi ngời về tính nam hay tính nữ đã
đƣợc chấp nhận phù hợp với khuôn mẫu xã hội đó.
Giới mang tính đa dạng và khác nhau giữa các nền văn hoá. Trong các
nền văn hoá có những giá trị, chuẩn mực khác nhau. Vì thế, các đặc trng xã hội
- 23 -
của phụ nữ và nam giới ở những nền văn hoá khác nhau có thể khác nhau.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Mối quan hệ về giới là mối quan hệ xã hội và quan hệ quyền lực. Thể
hiện trong mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, trong sinh hoạt gia đình,
trong sinh hoạt của cộng đồng xã hội.
Thuyết nam, nữ bình quyền cho rằng những thiệt thòi về mặt xã hội và
kinh tế của phụ nữ bắt nguồn từ những mong muốn theo tập tục có tính rập
khuôn của nam giới đƣợc phụ nữ chấp thuận và đƣợc thực hiện ở nội bộ giữa
hai giới, những mong muốn tập tục này đƣợc xã hội hoá từ đời này đến đời
khác. Những ngƣời ủng hộ ở thuyết này cho rằng có thể xoá bỏ đƣợc những
bất bình đẳng đối với phụ nữ bằng cách loại trừ những mong muốn theo rập
khuôn đó. Một điểm quan trọng của thuyết nam nữ bình quyền đó là làm sao
tạo ra đƣợc các cơ hội có việc làm ngang nhau cho phụ nữ.
1.2.3. Khái niệm Vai trò giới.
Vai trò giới là tập hợp những hành vi ứng xử mà xã hội mong đợi ở phụ nữ và nam giới liên quan đến những đặc điểm và năng lực mà xã hội coi là thuộc về đàn ông hoặc thuộc về đàn bà trong một xã hội hay là một nền văn hoá cụ thể nào đó.
Hay nói cách khác
Vai trò giới là những hành vi, công việc, hoạt động xã hội mà phụ nữ và
nam giới đang làm hoặc là những hành vi, nhiệm vụ, trách nhiệm đã đƣợc dịnh
rõ về mặt xã hội đối với phụ nữ và nam giới dựa trên sự khác biệt quy định họ
phải suy nghĩ, hành động và cảm nhận dựa trên giới tính của mình
Mọi thành viên trong gia đình đều có vai trò riêng, và kèm theo với vai
trò là những chức năng mà ngƣời đó phải thực hiện. Ngƣời phụ nữ trong gia
đình có các vai trò đƣợc phân biệt rõ ràng, đó là các vai trò làm mẹ, làm vợ,
làm con...nam giới là trụ cột, ra quyết định, kiếm tiền, nuôi sống gia đình… và
gắn liền với vai trò đó là công việc phải thực hiện.
Trong một ngày, cũng nhƣ trong cả cuộc đời, ngƣời phụ nữ và nam giới
- 24 -
có những xu hƣớng làm việc khác nhau, thực hiện các vai trò khác nhau.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Những công việc này có thể phân loại thành ba dạng vai trò, cụ thể là:
1/ Vai trò sản xuất
2/ Vai trò cộng đồng
3/ Vai trò sinh sản và nuôi dƣỡng
Việc phân loại các công việc nhƣ trên cho thấy việc thực hiện những vai
trò của phụ nữ thƣờng có những đặc điểm sau:
Phụ nữ thực hiện nhiều vai trò cùng một lúc, họ thƣờng thực hiện cả ba
vai trò sản xuất, cộng đồng, sinh sản và nuôi dƣỡng.
Phụ nữ thƣờng thừa hành công việc; trong khi đó nam giới thƣờng quyết
định công việc
Phụ nữ là ngƣời thực hiện chủ yếu vai trò sinh sản và nuôi dƣỡng gia
đình. Do định kiến, tập quán lạc hậu mà công việc mà phụ nữ thực hiện thƣờng
âm thầm, không đƣợc nam giới cũng nhƣ xã hội đánh giá một cách đầy đủ.
Các vai trò do ngƣời phụ nữ thực hiện thƣờng gắn bó với nhau, khi có
một chƣơng trình hoặc dự án phát triển nào đó tác động đến một vai trò, chúng
thƣờng kéo theo tác động dây chuyền đến các vai trò khác.
Trong gia đình, vai trò của các thành viên phụ thuộc lẫn nhau. Các vai trò
của nam giới thƣờng mang tính đối ngoại, kinh tế, định hƣớng nên dễ biểu
hiện, đƣợc xã hội đánh giá cao; còn vai trò của phụ nữ thƣờng là làm công việc
trong gia đình, nội trợ, nuôi dƣỡng nên khó thể hiện vì vậy không đƣợc nhìn
nhận đúng mức của xã hội và bị đánh giá thấp. [16, 84]
Vai trò của ngƣời phụ nữ trong quan niệm truyền thống không đƣợc bình
đẳng với nam giới. Họ đƣợc gán cho vai trò và trách nhiệm làm ngƣời nội trợ,
nuôi dƣỡng, chăm sóc con cái: “phụ nữ đảm đƣơng việc nhà và chăm sóc trẻ
con đƣợc xem là bổn phận của mình. Những hoạt động đó là những hoạt động
- 25 -
mà giới nữ xem nhƣ sở hữu của mình. Tất cả những đức tình này đang hay đã
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
liên kết vào với thế giới việc làm, nó cũng đựơc hình thành trong nhƣng phân
tích về trách nhiệm việc nhà đối với phụ nữ” [33, 321]
Trong quan hệ với ngƣời chồng, ngƣời phụ nữ đóng vai trò thụ động, là
ngƣời thực hiện; còn nam giới là ngƣời chủ động, ngƣời ra lệnh để phụ nữ thực
hiện. “Quyền hành trong gia đình nảy sinh ra lại dựa vào nguồn phân phối bất
công trong vòng gia đình; sự bất công về quyền lực, thiên về giới nam, cũng
định hình việc phân chia về nguồn lực” [33, 321].
1.2.4. Khái niệm Gia đình
Khái niệm gia đình là một khái niệm không cố định cho mọi địa điểm,
mọi nền văn hoá, và nó luôn biến đổi. Về khái niệm gia đình “Không có định
nghĩa phổ biến, có thể áp dụng đƣợc và chấp nhận phổ biến. Ngay trong nội bộ
một xã hội, một nền văn hoá, quan niệm về gia đình có thể thay đổi từ nhóm
này sang nhóm khác, từ nơi này sang nơi khác, và từ thời này sang thời kia”
[17, 19]
Nhƣ vậy, gia đình có nhiều định nghĩa và có những sự định nghĩa không
giống nhau là điều không thể tránh khỏi. Chúng tôi chọn định nghĩa trên làm
cơ sở cho nghiên cứu của luận văn: “Gia đình là một tập thể xã hội có từ hai
ngƣời trở lên, quan hệ trên cơ sở huyết thống, hôn nhân hay nghĩa dƣỡng cùng
sống với nhau” [10, 453].
Ta có thể thấy ở Việt Nam phổ biến là gia đình hôn nhân, là gia đình dựa
trên quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng, đƣợc xã hội thừa nhận, gồm sự hợp
tác giữa vợ và chồng và có các quan hệ huyết thống (con cái). Tuy nhiên, cũng
có kiểu dạng gia đình huyết thống, nuôi dƣỡng, gia đình này không có đủ vợ-
chồng mà chỉ còn các quan hệ bố/mẹ với con cái; đây có thể coi là một biến
thể của gia đình hôn nhân.
Về sự quan hệ của gia đình với xã hội, gia đình với các thành viên của nó,
- 26 -
các nhà xã hội học đã chỉ ra vị trí của gia đình: xã hội là một hệ thống những
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
quan hệ chồng chéo nhau, trong đó gia đình là “một hệ thống nhỏ trong hệ
thống xã hội”. Trong hệ thống gia đình lại có những hệ thống nhỏ hơn nhƣ hệ
thống quan hệ giữa mẹ - con, hệ thống quan hệ hôn nhân giữa vợ-chồng... Tất
cả các hệ thống nhỏ (gia đình), hoặc hệ thống nhỏ hơn (các quan hệ giữa các
thành viên trong gia đình) không tồn tại độc lập hoàn toàn, mà chúng luôn có
sự liên kết với các hệ thống khác [33, 296].
1.2.5. Khái niệm gia đình buôn bán nhỏ
Gia đình buôn bán nhỏ theo luận văn là gia đình có hoạt động kinh tế
chính là buôn bán nhỏ. Quy mô buôn bán của các gia đình này là nhỏ, lấy hàng
về bán lẻ, tự sản xuất rồi bán. Mặt hàng buôn bán có thể chuyên doanh một
mặt hàng hoặc tạp hoá.
Để thuận tiện trong việc đánh giá vai trò của ngƣời phụ nữ trong gia đình
buôn bán nhỏ, chúng tôi lựa chọn gia đình mà ngƣời vợ và chồng tham gia
hoạt động buôn bán, việc này giúp cho chúng tôi dễ dàng đánh giá đƣợc vai trò
của hai giới trong hoạt động buôn bán của gia đình, đồng thời những ảnh
hƣởng của chức năng kinh tế cũng dễ đƣợc nhận thấy ở trong các chức năng
khác.
1.2.6. Chức năng của gia đình
Chức năng của gia đình chỉ phƣơng thức biểu hiện hoạt động sống của gia
đình gắn liền với những nhu cầu của xã hội (với tƣ cách là thiết chế xã hội) và
những nhu cầu của cá nhân đối với gia đình( với tƣ cách là một nhóm tâm lý
xã hội)
Gia đình có nhiều chức năng, nhƣng “những chức năng cơ bản nhất có thể
nêu lên ở đây là : chức năng xã hội hoá cá nhân, chức năng kinh tế, chức năng
tái sinh sản ra con ngƣời và xã hội, chức năng tình cảm...”[3, 88]
Trong giai đoạn hiện nay, sự biến đổi kinh tế xã hội đã tác động vào chức
- 27 -
năng kinh tế gia đình, làm biến đổi chức năng này và đến lƣợt nó - chức năng
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
kinh tế làm biến đổi các chức năng khác. Nhƣng không phải chỉ có chức năng
kinh tế tác động vào các chức năng khác, mà các chức năng khác cũng có sự
tác động ngƣợc lại đến chức năng kinh tế và các chức năng của gia đình có sự
tác động lẫn nhau, không có chức năng nào có thể hoạt động độc lập, tách biệt
mà không chịu tác động của các chức năng khác, từ đó làm gia đình.biến đổi
không ngừng.
Các chức năng của gia đình có tác động tích cực đến thành viên, nhƣng
nó cũng tạo ra sự kiểm soát các hành vi của thành viên, làm giảm bớt cái tôi
trong mỗi thành viên của nó, có nghĩa là “gia đình có khả năng làm xói mòn sự
tự nhận thức bản thân mình, ảnh hƣởng đến sức khoẻ và hạnh phúc của các cá
nhân.” [10, 458].
1.3. Cách tiếp cận lý thuyết đƣợc vận dụng vào nghiên cứu:
1.3.1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước về việc phát triển
khu vực kinh tế gia đình.
Ngay từ khi thực hiện chính sách đổi mới, Đảng Cộng Sản Việt Nam,
Nhà nƣớc đã thay đổi quan niệm cũ của thời kỳ bao cấp , tiến tới công nhận sự
tồn tại, sự đóng góp của kinh tế gia đình và thừa nhận tƣ cách hợp pháp của
kinh tế gia đình, không còn coi đó chỉ là những việc làm thêm trong gia đình.
Đồng thời, cũng xoá đi mặc cảm đối với những ngƣời, những gia đình bị coi là
“con buôn”.
Nghị quyết hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khoá VI:
“Nhà nƣớc công nhận sự tồn tại lâu dài và tác dụng tích cực của kinh tế gia
đình, kinh tế cá thể, kinh tế tƣ nhân sản xuất, dịch vụ”... “thừa nhận tƣ cách
pháp nhân và đảm bảo địa vị bình đẳng trƣớc pháp luật trong hoạt động sản
xuất, kinh doanh của họ; xoá bỏ mọi định kiến hẹp hòi và phân biệt đối xử về
- 28 -
mặt chính trị và xã hội đối với họ và con cái họ.” [25, 96]
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Tiếp theo các Đại hội VII, VIII của Đảng đã có những đánh giá quan
trọng hơn về kinh tế gia đình, có những chính sách phát triển kinh tế gia đình
và khuyến khích sự phát triển của nó:
Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ƣơng: Tiếp tục đƣa sự nghiệp đổi mới
tiến lên theo con đƣờng xã hội chủ nghĩa đã ghi rõ: “Kinh tế gia đình không là
một thành phần kinh tế độc lập nhƣng đƣợc khuyến khích phát triển mạnh”
[27, 118]
Nghị quyết hội nghị lần thứ tƣ Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khoá
VIII: “Đảng và Nhà nƣớc có thiết chế tạo điều kiện cho mọi ngƣời dân, mọi
thành phần kinh tế chủ động tham gia phát triển kinh tế, làm giàu cho mình và
góp phần làm giàu cho đất nƣớc.” [25, 298]
Và hình thức hoạt động của kinh tế gia đình, kinh tế tƣ nhân cũng đƣợc
mở rộng hơn: Từ việc cho phép một cách hạn chế : “Mọi công dân đều đƣợc tự
do hành nghề, thuê mƣớn nhân công theo pháp luật”[28, 114]; đến một sự mở
rộng hình thức hoạt động: “Tạo môi trƣờng và điều kiện thuận lợi cho kinh tế
tƣ nhân phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những
lĩnh vực mà pháp luật không cấm, khắc phục sự giảm sút của khu vực kinh tế
này.” [25, 316]
Đại Hội IX của Đảng đã tiếp tục lập trƣờng về kinh tế gia đình, kinh tế tƣ
nhân của các Đại hội trƣớc: “Tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách kinh tế
nhiều thành phần theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, tạo mọi điều kiện thuận
lợi để doanh nghiệp và công dân đầu tƣ và phát triển sản xuất kinh doanh” [26,
318]; và “Mọi doanh nghiệp, mọi công dân đƣợc đầu tƣ kinh doanh theo các
hình thức do luật định và đƣợc pháp luật bảo vệ”[26, 352]
Gần đây nhất, trong Văn kiện đại hội X, hình thức kinh doanh, lĩnh vực
kinh doanh đƣợc một lần nữa nhắc lại và cụ thể hơn: “Đảm bảo cho mọi công
dân quyền tự do đầu tƣ, kinh doanh trong những lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn
- 29 -
mà pháp luật không cấm” [29, 230]. Đồng thời, nghị quyết cũng tiếp tục khẳng
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
định một sự ủng hộ mạnh mẽ đến sự hoạt động của các hộ gia đình kinh doanh:
“Tiếp tục phát triển mạnh các hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh
nghiệp của tƣ nhân” [29, 236]
Trải qua 20 năm đổi mới, Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nhà nƣớc đã xuất
phát từ công nhận sự tồn tại của kinh tế hộ gia đình, bảo vệ quyền lợi của các
gia đình kinh doanh, và tiến hơn nữa đến bảo vệ việc làm giàu chính đáng của
mọi công dân, mọi gia đình, và nêu rõ chủ trƣơng phát triển kinh tế gia đình
trong nền kinh tế quốc dân ngày một mở rộng hơn.
Cùng với những chính sách đổi mới kinh tế, trong quá trình đổi mới Đảng
và Nhà nƣớc cũng có những chính sách phát triển văn hoá, tạo cho ngƣời dân
một lối sống văn minh, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc, gia đình hạnh phúc.
Cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(1991) đã nêu rõ vị trí của gia đình trong bối cảnh đổi mới của đất nƣớc: “Gia
đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dƣỡng cả đời ngƣời, là môi
trƣờng quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách. Các chính sách
của Nhà nƣớc phải chú ý tới xây dựng gia đình ấm no, hoà thuận, tiến bộ.
Nâng cao ý thức về nghĩa vụ của gia đình đối với mọi lớp ngƣời.” [9, 15]
Cƣơng lĩnh cũng nêu cao nhiệm vụ là phải: “Chú trọng cải thiện điều kiện
sống, lao động và học tập của ngƣời mẹ và của thanh thiếu niên. Chăm sóc
giáo dục và bảo vệ trẻ em.” [9, 14]; “thực hiện bình đẳng nam nữ về mọi mặt”
[9, 16]
Đại hội VII đã nhấn mạnh đến việc xây dựng một gia đình hạnh phúc:
“Xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc, làm cho gia đình
thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm của mỗi ngƣời. Phát huy trách
nhiệm của gia đình trong việc lƣu truyền những giá trị văn hoá dân dân tộc từ
thế hệ này sang thế hệ khác. Thực hiện tốt luật Hôn nhân và gia đình.” [28,
- 30 -
112-113]
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Vai trò của ngƣời phụ nữ đƣợc đại hội IX đánh giá cao. Ngoài việc đấu
tranh cho sự bình đẳng của phụ nữ trong xã hội, Đảng còn quan tâm, phát triển
tốt vai trò của ngƣời phụ nữ trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình: “... tạo
điều kiện tốt để phụ nữ thực hiện tốt thiên chức làm mẹ; xây dựng gia đình no
ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.” [26, 126].
Và để nâng cao chất lƣợng sống của ngƣời dân, thực hiện chính sách kế
hoạch hoá gia đình, Đại hội Đảng X đã cụ thể hoá những hoạt động của mình
vào trong các chính sách đối với gia đình. Trong phƣơng hƣớng nhiệm vụ phát
triển kinh tế -xã hội 5 năm 2006-2010, Đảng chỉ đạo hƣớng phát triển gia đình:
“Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng
với những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Xây dựng gia
đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của mỗi ngƣời, là tế
bào lành mạnh của xã hội, là môi trƣờng quan trọng hình thành, nuôi dƣỡng và
giáo dục nhân cách con ngƣời, bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống tốt
đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.” [29,
103-104].
Và phƣơng hƣớng để nâng cao vai trò của ngƣời phụ nữ: “Đối với phụ nữ,
nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện bình đẳng
giới. Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò ngƣời công dân, ngƣời lao
động, ngƣời mẹ, ngƣời thầy đầu tiên của con ngƣời.” [29, 120]
1.3.2. Lý thuyết vai trò
Trong thực tế xó hội, mỗi ngƣời có một vị trí và vai trũ xó hội nhất định.
Ví dụ vai trũ xó hội của một giỏo viờn là giảng dạy, vai trũ một bỏc sĩ là chữa
bệnh... Do đó, có thể nói vai trũ xó hội của một cỏ nhõn là những gỡ cỏ nhõn
ấy phải làm ở một khụng gian và thời gian nhất định theo những qui tắc chuẩn
mực mà xó hội đó đặt ra.
- 31 -
Các tính chất cơ bản của vai trũ xó hội.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Theo cỏc lý thuyết xó hội học, vai trũ xó hội và việc đóng vai trũ xó hội
cú những tớnh chất đặc thù sau :
* Tớnh chất 1: éối với con ngƣời, đóng vai trũ xó hội và thay đổi vai trũ
là cụng việc hàng ngày diễn ra liờn tục, kế tiếp nhau và khụng trựng lắp về thời
gian. Ở mỗi hoàn cảnh khụng gian và thời gian khỏc nhau con ngƣời sẽ có
những vai trũ xó hội khỏc nhau.
* Tớnh chất 2: Khụng thể liệt kê số lƣợng vai trũ của mỗi cỏ nhõn, bởi lẽ
cỏ nhõn cú bao nhiờu mối quan hệ là cú bấy nhiờu vai trũ.
* Tớnh chất 3: Vai trũ xó hội phỏt sinh theo nhu cầu của cỏ nhõn. Theo
George Herbert Mead, ngƣời đứng đầu học thuyết Tƣơng tác tƣợng trƣng trong
xó hội học, sự tăng thêm các vai trũ xó hội trong một cỏ thể là bởi con ngƣời
“một mặt thừa nhận tính mong manh và hạn chế của bản thân khiến họ phải
tỡm kiếm những quan hệ với ngƣời khác để có thể sống cũn. Mặt khỏc là xu
hƣớng đi tỡm và lựa chọn những kiểu hành động có lợi cho sự hợp tác, giao
dịch xó hội”. Nhƣ vậy, tính đa phức của vai trũ xó hội phỏt sinh theo hai nhu
cầu :
- Nhu cầu bổ khuyết những mặt hạn chế của bản thõn.
- Nhu cầu giao dịch vỡ lợi ớch.
* Tớnh chất 4: Vai trũ xó hội đƣợc thể hiện ở nhiều mặt:
- Vai trũ thật là vai trũ diễn ra trong đời sống hàng ngày, ngƣợc lại là
các vai trũ giả thƣờng xuất hiện trong các mối quan hệ ngoại giao...
- Vai trũ định chế là vai trũ của một cỏ nhõn do một tổ chức qui định.
Ngoài ra là các vai trũ do cỏ nhõn tự chọn.
1.3.3. Lý thuyết lựa chọn hợp lý
Tiêu điểm của thuyết lựa chọn hợp lý là các chủ thể hành động. Các chủ
- 32 -
thể hành động đƣợc xem là có các mục đích hay mục tiêu về cái mà hành động
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
của họ hƣớng tới. Các chủ thể hành động đƣợc xem là có các sở thích. Thuyết
lựa chọn hợp lý không quan tâm đến tích chất các sở thích này, hay các nguồn
của chúng. Cái quan trọng là hành động đƣợc thực hiện để đạt đƣợc các đối
tƣợng phù hợp với hệ thống sở thích của chủ thể hành động.
Cho dù bắt đầu với các mục đích hay dự định, chủ thể hành động (actor)
quan tâm ít nhất đến hai sự kìm hãm hành động:
1) Nguồn kìm hãm thứ nhất là sự hiếm hoi các tiềm năng. Các chủ thể
hành động không giống nhau về tiềm năng, ngƣời có nhiều, ngƣời có ít. Đối
với ngƣời có nhiều tiềm năng thì dễ đạt đƣợc thành quả. Đối với ngƣời có ít
tiềm năng thì sự đạt đƣợc mục đích có thể khó hoặc không thể làm đƣợc.
Liên quan đến sự hiếm hoi tiềm năng là ý tƣởng về cái giá phải trả cho
các cơ hội, hay “cái giá đó gắn liền với chuỗi hành động lôi cuốn nhất kế tiếp”,
nghĩa là trong cuộc theo đuổi mục đích đƣa ra, các chủ thể hành động (actor)
phải để mắt tới cái giá của hành động lôi cuốn nhất kế tiếp của họ; điều này
dẫn đến một chủ thể hành động có thể chọn cách không theo đuổi mục đích có
giá trị cao nhất nếu tiềm năng của họ không đáng kể, nếu kết quả cơ may
không nhiều hoặc trong khi cố gắng đạt đƣợc mục đích họ huỷ hoại các cơ
may đạt đƣợc mục đích giá trị nhất kế tiếp khác của mình. Các chủ thể hành
động (actor) đƣợc xem là tối đa hoá các điều lợi của họ, và mục tiêu đó có thể
bao gồm việc đánh giá mối quan hệ giữa các cơ may đạt đƣợc với mục đích sơ
khởi, và điều mà thành tựu đó thực hiện đối với các cơ may để đạt đƣợc đối
tƣợng giá trị nhất thứ hai.
2) Nguồn kìm hãm thứ hai tác động lên hành động của các cá thể là các
thể chế xã hội. Một cá thể hành động một cách khuôn sáo, tìm ra các hành
động của anh ta đƣợc kiểm lại từ đầu đến cuối bởi các nguyên tắc của gia đình
và trƣờng học; các luật lệ, mệnh lệnh; các chính sách cứng rắn: các nhà thờ,
giáo đƣờng Do Thái, nhà thờ Hồi giáo; các bệnh viện và các nhà mai táng.
- 33 -
Bằng cách hạn chế tập hợp các hành động có sẵn cho các cá thể, luật chơi có
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
tính cƣỡng ép - bao gồm các tiêu chí, các quy luật, các lịch trình, các nguyên
tắc bầu chọn - ảnh hƣởng một cách có hệ thống tới các kết quả xã hội.
Các kìm hãm có tính thể chế này đƣa ra cả các hình phạt cho sự tích cực
và tiêu cực giúp cho sự động viên các hành động nhất định và khƣớc từ hành
động khác. [32, 409-410]
Vận dụng của lý thuyết lựa chọn hợp lý trong luận văn này để giải thích
sự lựa chọn giữa các vai trò mà ngƣời phụ nữ và nam giới trong các gia đình
buôn bán nhỏ muốn thực hiện và khƣớc từ những vai trò mà họ tạm không
hoặc không thực hiện trong một thời điểm nào đó.
1.3.4. Lý thuyết phân công lao động
Bắt đầu từ A. Smith, “Phân công lao động là sự chuyên môn hoá lao
động, sự phân chia quá trình lao động thành các công đoạn, các khâu, các thao
tác kỹ thuật mà trong đó một ngƣời lao động tập trung vào thực hiện một số
thao tác nhất định trong một khâu hay một công đoạn sản xuất. Sự phân công
lao động nhƣ vậy làm tăng năng suất, chất lƣợng và hiệu quả làm việc” [12,
253].
Khái niệm về sự phân công lao động của A. Smith đƣợc các nhà kinh tế
học ủng hộ, họ chú ý nhiều đến ý nghĩa kinh tế của sự phân công lao động, có
nghĩa là làm cho năng suất lao động tăng lên, hiệu quả lao động cao hơn và từ
đó tạo ra lợi nhuận. E. Durkheim không phản đối những nhà kinh tế học,
nhƣng ông còn thêm rằng: “so sánh với chức năng kinh tế thì chức năng xã hội
của sự phân công lao động còn có ý nghĩa to lớn hơn, quan trọng hơn nhiều”
[12, 125]. Ông cho rằng “Sự phân công lao động xã hội không đơn thuần là sự
chuyên môn hoá lao động mà thực chất là quá trình gắn liền với sự phân hoá
xã hội, phân tầng xã hội và bất bình đẳng xã hội” [12, 253].
Ông cho rằng, khi xã hội phát triển, sự phân công lao động càng cao thì
- 34 -
vai trò và nhiệm vụ càng bị phân hoá thì cá nhân càng phải bị lệ thuộc vào
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
nhau, tƣơng tác với nhau và do đó tạo ra sự đoàn kết giữa các cá nhân trong
một tổ chức xã hội. Họ đoàn kết với nhau để cho cả hai đều đƣợc thêm những
lợi ích có từ sự quan hệ này đem lại. Căn cứ vào tính chất của sự đoàn kết, E.
Durkheim phân loại thành hai sự đoàn kết: Đoàn kết cơ học (hay còn gọi là
máy móc) và đoàn kết hữu cơ.
Đoàn kết cơ học dựa trên sự gắn bó do giống nhau giữa các thành viên
của xã hội, do sự tƣơng tự nhau về cả các đặc điểm về niềm tin, ý thức, tôn
giáo... Đoàn kết hữu cơ lại là sự khác nhau giữa các thành viên trong xã hội.
Các thành viên xã hội đƣợc chuyên môn hoá vào một số lĩnh vực nào đó, họ
cần phải liên kết và thụ hƣởng không chỉ sản phẩm trong họ mà sản phẩm của
thành viên khác trong xã hội khác họ, do vậy họ phải lệ thuộc vào mối trao đổi
khác nhau, tạo lên sự đoàn kết cơ giới dựa trên sự khác biệt nhau giữa các
thành viên xã hội. E. Durkheim cũng chỉ ra rằng đoàn kết cơ học đặc trƣng cho
xã hội ở trình độ phát triển thấp, còn đoàn kết hữu cơ đặc trƣng cho trình độ
phát triển cao của xã hội trong đó sự phân công lao động diễn ra theo hƣớng
chuyên môn hoá sâu sắc.
Ý tƣởng quan trọng, cơ bản của Durkheim là : “Để cho sự phân công lao
động tạo ra đƣợc sự đoàn kết xã hội thì việc giao cho mỗi cá nhân một nhiệm
vụ, một việc làm là chƣa đủ; điều cần thiết là làm cho mỗi cá nhân có khả năng
phù hợp với nhiệm vụ đó” [12, 127].
Trong xã hội nay, “sự phụ thuộc lẫn nhau cùng các trách nhiệm nghĩa vụ
đƣợc chia sẻ do sự phân công lao động tạo ra đã gắn kết các các nhân và các
nhóm xã hội với nhau” [12, 128]. Sự giống nhau, tƣơng trợ do giống nhau
không tạo ra sự liên kết quan trọng, do các cá nhân có thể tách nhau ra mà
không lệ thuộc vào ngƣời khác; sự tƣơng trợ, hợp tác do khác nhau mới là điều
quan trọng: cá nhân không thể tách khỏi nhau trong một xã hội đã phân công
sâu sắc, họ phải lệ thuộc vào sản phẩm của nhau để tồn tại do vậy bắt buộc họ
- 35 -
phải đoàn kết với nhau.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Tuy nhiên, không phải bất cứ sự phân công lao động xã hội nào cũng tạo
ra sự đoàn kết. Theo ông, sự phân công lao động xã hội bình thƣờng tạo ra sự
đoàn kết, còn sự phân công lao động bất bình thƣờng không tạo ra sự đoàn kết
mà nó còn gây mất trật tự, hỗn loạn và phân rã xã hội.
Phân công lao động bất bình thƣờng theo Durkheim là sự phân công lao
động “phản chức năng”, dẫn đến hậu quả của nó là kìm hãm sản xuất, cản trở
sự phát triển. ông chỉ ra một số hình thức bất bình thƣờng của phân công lao
động nhƣ sau:
Hình thức rối loạn: Phân công lao động không có sự phối hợp, kết hợp hài
hoà giữa các chức năng lao động.
Hình thức cực đoan, “thái quá” xảy ra khi chuyên môn hoá quá cao, hạn
chế sự tiếp xúc, giao lƣu giữa các cá nhân thực hiện các nhiệm vụ, chức năng
khác nhau của cùng một quá trình lao động. Các cá nhân khi đó không đƣợc
thoải mái tinh thần, không đƣợc trao đổi tình cảm với nhau nên dễ dẫn đến
không hợp tác với nhau, xung đột nhau.
Hình thức “cƣỡng bức” xảy ra khi các cá nhân bị bắt buộc chấp nhận
những vị trí, vai trò lao động không phù hợp, không tƣơng xứng với năng lực,
trình độ, nguyện vọng của họ; kết quả là giảm sút chất lƣợng, năng suất lao
động. [12, 253-257]
Về sự phân công lao động trong gia đình, E. Durkheim cũng có những lý
luận:
“Sự khác biệt giữa nam và nữ dẫn đến sự phân công lao động nam-nữ
trong xã hội và gia đình. Sự phân công lao động theo giới (nam-nữ) thể hiện
trong các tổ chức cuộc sống gia đình nơi phụ nữ làm việc nội trợ và nam giới
làm việc nặng và công việc ngoài gia đình. Phân công lao động nam-nữ là yếu
tố hình thành vai trò giới trong gia đình và xã hội. Phụ nữ có vai trò-biểu đạt
- 36 -
tình cảm, nam giới có vai trò-nhiệm vụ (còn gọi là vai trò-công cụ) tạo ra thu
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
nhập. Theo thuyết chức năng, lao động của phụ nữ có chức năng tình cảm và
lao động của nam giới có chức năng tƣ duy và hành động giải quyết nhiệm
vụ.” [12, 255].
Sự phân công lao động trong gia đình theo quan điểm của Emile
Durkheim nhƣ vậy mang nặng tính phân biệt giới, gán cho phụ nữ và nam giới
những chức năng và nhiệm vụ khác nhau, từ đó dễ dàng ghép họ vào những
địa vị khác nhau trong gia đình. Thƣờng thì theo quan điểm này, ngƣời chịu
- 37 -
nhiều thiệt thòi là ngƣời phụ nữ, ngƣời vợ trong gia đình.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
CHƢƠNG 2: VAI TRÒ GIỚI TRONG THỰC HIỆN CÁC CHỨC NĂNG GIA ĐÌNH
2.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu và các gia đình buôn bán nhỏ
2.1.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Phƣờng Trung Liệt là một phƣờng thuộc quận Đống Đa, Hà Nội. Phƣờng
có địa lý tiếp giáp với 7 phƣờng của quận Đống Đa: Phía Tây giáp phƣờng
Láng Hạ và phƣờng Thịnh Quang; Phía Đông giáp phƣờng Quang Trung và
phƣờng Khƣơng Thƣợng; Phía Bắc giáp phƣờng Quang Trung, phƣờng Ô Chợ
Dừa; Phía Nam giáp phƣờng Khƣơng Thƣợng, phƣờng Ngó Tƣ Sở (Phƣũng
Nguyễn Trói). Địa bàn phƣờng chủ yếu nằm vào khu vực đã phát triển, với
những công trình dân cƣ tự nhiên, khu tái định cƣ, khu quy hoạch đã đƣợc định
hình và không còn nhiều biến động. Phƣờng vẫn đƣợc xếp vào nhóm phƣờng
đô thị hoá của quận Đống đa và toàn thành phố.
Tổng diện tích toàn phƣờng là 75.0168 ha. Phƣờng có khoảng 5200 hộ
dân, với hơn 28.000 nhân khẩu. Trục đƣờng giao thông nội thị chính chạy qua
địa bàn phƣờng gồm Thái Hà, Tây Sơn, Thái Thịnh, Đặng Tiến Đông, Trung
Liệt.
Mặt các phố chính nhƣ Thái Hà, Tây Sơn, Thái Thịnh thực sự là những
khu buôn bán sầm uất, san sát cửa hàng, cửa hiệu với rất nhiều nhóm ngành
nghề kinh doanh. Phố Đặng Tiến Đông, Trung liệt có phần khuất nẻo hơn
nhƣng cũng có nhiều cửa hàng kinh doanh. Chợ Thái Hà là chợ thuộc diện
trung bỡnh ở Hà Nội với gần 300 hộ đăng ký kinh doanh thƣờng xuyên. Hoạt
động kinh doanh của các gia đỡnh buụn bỏn vừa và nhỏ cũng rải rỏc cú trong
cỏc cụm dõn cƣ.
Tổng số hộ gia đỡnh kinh doanh trờn địa bàn phƣờng gần 750 hộ. Trong
đó khoảng một nửa có hộ khẩu thƣờng trú tại phƣờng. Các hộ kinh doanh đều
- 38 -
nghiêm túc chấp hành các chủ trƣơng chính sách của chính quyền đề ra, đảm
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
bảo giữ an ninh trật tự. Hoạt động của các hộ thuộc nhóm loại hỡnh kinh
doanh “nhạy cảm” nhƣ karaoke, băng hỡnh, internet…. luụn đƣợc sự phối hợp
giữa chính quyền phƣờng, công an phƣờng, Hội đồng nhân dân, tổ dân phố
trong công tác giám sát thực hiện quy định quản lý văn hoá của thành phố.
Theo bỏo cỏo kinh tế - xó hội phƣờng năm 2006, lƣợng thuế ngoài quốc
doanh thu đƣợc từ nhóm các hộ kinh doanh trên địa bàn phƣờng đạt hơn 7 tỷ
đồng. Ghi nhận rằng các hộ kinh doanh, kể cả các hộ có hộ khẩu tại chỗ và từ
nơi khác tới thuê địa điểm vào các hoạt động từ thiện, ủng hộ hoạt động phong
trào văn thể, khuyến học… cho cộng đồng dân cƣ phƣờng là đáng kể.
Hội Phụ nữ phƣờng có nhiều nỗ lực hiệu quả trong việc thu hút chị em
thuộc các gia đỡnh buụn bỏn tham gia vào hoạt động. Có thể nói làm đƣợc
điều này là dấu ấn sáng tạo trong hoạt động của Hội, vỡ kinh nghiệm cỏc địa
bàn khác trong thành phố cho thấy nhóm phụ nữ này thƣờng do mải mê việc
buôn bán, rất ít tham gia hoạt động phụ nữ tại khu phố. Trong năm 2006, Hội
Phụ nữ đó thu hỳt họ cựng tham gia cỏc hoạt động liên hoan văn nghệ, tham
quan du lịch, sinh hoạt truyền thông dân số, kế hoạch hoá gia đỡnh, sức khoẻ
sinh sản, phỏp luật… Đáng nói là các hoạt động cho vay vốn tín dụng trong
các nhóm phụ nữ tiết kiệm, vay vốn ngân hàng chính sách, quỹ hỗ trợ việc
làm, cũng đối với phụ nữ thuộc nhóm hộ kinh doanh đó gúp phần nhất định
vào việc giúp họ mở rộng khả năng kinh doanh, giải quyết việc làm, nâng cao
thu nhập gia đỡnh và vị thế bản thõn.
2.1.2. Đặc điểm của các gia đình buôn bán nhỏ được nghiên cứu
Các gia đình buôn bán nhỏ đƣợc điều tra có quy mô nhân khẩu trung bình
là 3,9 ngƣời, tƣơng đƣơng với nhân khẩu bình quân của một hộ gia đình sống ở
Hà Nội. Theo điều tra của Tổng cục Thống kê, nhân khẩu trung bình của một
hộ gia đình ở Hà Nội (2004) là 3,96 ngƣời [11, 58] và ít hơn nhân khẩu trung
- 39 -
bình của cả nƣớc (2004) là 4,36 ngƣời [11, 23]. Các hộ gia đình trong mẫu
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
khảo sát chủ yếu là gia đình hạt nhân, chiếm 82,1%. Trong đó, số hộ gia đình
có 3 nhân khẩu chiếm 40,4%, hộ gia đình 4 nhân khẩu chiếm 37,7%.
Về địa điểm buôn bán, 53,6 gia đình phải đi thuê cửa hàng; 44,4% buôn
bán tại nhà do những lợi thế về vị trí nhà ở; 2,0% buôn bán tại vỉa hè - số gia
đình này họ không có cửa hàng để kinh doanh, và cũng không phải trả tiền
thuê cửa hàng.
Những gia đình thuê cửa hàng buôn bán, hàng tháng họ phải trả tiền thuê
tính trung bình là 2.255.600 đồng.
Về trình độ học vấn, trong các gia đình này tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông
trung học của vợ: 59,6%, chồng: 48,3%, tỷ lệ tốt nghiệp đại học cũng tƣơng
đối cao chồng:28,9%; vợ: 15,2%. Thời gian trung bình đi học của ngƣời vợ là
12,2 năm; của ngƣời chồng là 12,8 năm.
Về nhà ở, đa số các gia đình này có nhà ở tƣơng đối tốt, tỷ lệ nhà nhiều
tầng chiếm đến 51,7%, nhà mái ngói chiếm 7,9%.
Đánh giá mức sống của các gia đình có thể căn cứ vào mức thu nhập bình
quân đầu ngƣời. Theo cuộc điều tra về mức sống hộ gia đình năm 2004, “Thu
nhập bình quân 1 ngƣời 1 tháng ở khu vực thành thị đạt 815.400 đồng” [11,
31]. Theo khảo sát của luận văn này, bình quân thu nhập hàng tháng của gia
đình kinh doanh, buôn bán nhỏ khá cao: 2.000.000đồng/ngƣời, thu nhập họ
tƣơng đối cao so với thu nhập bình quân đầu ngƣời của ngƣời dân thành thị.
Khi quan sát nhà ở, tiện nghi sinh hoạt... và so sánh với những loại hình gia
đình khác, chúng tôi nhận thấy mức sống của những gia đình này nhìn chung
là khá.
Về quyền sở hữu nhà, ngƣời chồng đứng tên sở hữu tƣơng đối cao:
- 40 -
56,3%, trong khi đó ngƣời vợ chỉ 6,6%, cả hai: 22,5%.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Khi so sánh tƣơng quan giữa thời gian kết hôn với chủ sở hữu nhà ở cho
thấy tỷ lệ cả hai vợ chồng cùng sở hữu nhà không giống nhau khi đối chiếu với
thời gian của cuộc hôn nhân ( xem bảng 1).
Bảng 1 : Sở hữu nhà ở và thời gian kết hôn (%)
Chủ sở hữu nhà ở Chồng Vợ Cả hai Ngƣời Tổng
khác Thời gian kết hôn
62,5 0 12,5 25,0 100,0 Từ 5 năm trở xuống
54,3 8,7 19,6 17,4 100,0 Từ 6 đến 10 năm
56,2 6,7 25,8 11,2 100,0 Trên 10 năm
56,3 6,6 22,5 14,6 100,0 Tổng
Từ bảng trên cho thấy, có 12,5% cặp vợ chồng kết hôn dƣới 5 năm trong
tổng những cặp kết hôn dƣới 5 năm đứng chung trong giấy sở hữu nhà; con số
này ở những cặp 6-10 năm là 19,8% và trên 10 năm là 25,8%.
Liên quan đến xác định chủ sở hữu nhà ở là xác định chủ hộ. Ngƣời
chồng là chủ hộ chiếm 72,8% số gia đình đƣợc hỏi; ngƣời vợ là chủ hộ chiếm
20,5%. Sự chênh lệch về giới tính của chủ hộ của các hộ buôn bán nhỏ lớn hơn
sự chênh lệch của chủ hộ trong cuộc khảo sát về mức sống hộ ở các thành phố
(nam chỉ chiếm 61,0% và nữ chiếm 39,0%) [11, 60].
Tỷ lệ ngƣời chồng đứng tên chủ hộ chiếm tỷ lệ cao có thể là do việc sở
hữu nhà đất. Nhà và đất là một tài sản lớn luôn có giá trị đối với ngƣời dân,
trong gia đình Việt Nam, ngƣời con trai thƣờng đƣợc hƣởng thừa kế nên đa số
họ là chủ hộ gia đình.
Một lý do khác, trong suy nghĩ của ngƣời dân ảnh hƣởng quan niệm
truyền thống thƣờng đề cao nam giới, gán cho nam giới những phẩm chất nhƣ
- 41 -
là thông minh, lý trí, khoẻ mạnh... và đặt họ vào vị trí làm trụ cột trong gia
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
đình, gắn với vị trí đó là vai trò lãnh đạo gia đình, và việc làm chủ hộ là một
trong những sự thể hiện của vai trò đó.
Việc làm chủ hộ tạo cho ngƣời đàn ông, ngƣời chồng có những lợi thế: họ
là ngƣời thay mặt gia đình trong các tiếp xúc với chính quyền, thay mặt gia
đình trong các hoạt động công cộng cho nên họ thƣờng thay mặt gia đình đứng
tên trong giấy phép kinh doanh, vay tiền ngân hàng và từ đó uy thế của họ lại
càng cao hơn.
Tiền tiết kiệm là một trong những thƣớc đo của sự thành công trong kinh
doanh, buôn bán. Có 80,8% số gia đình khảo sát cho biết tích luỹ đƣợc một số
tiền nhất định
Tóm lại: Phƣờng Trung Liệt là một phƣờng đã phát triển ổn định. Khu dân cƣ
của phƣờng gồm có các mô hình dân cƣ lâu năm, khu dân cƣ quy hoạch. Các
khu dân cƣ này thƣờng nằm ở những địa điểm không thuận tiện cho việc làm
trụ sở của công ty, văn phòng lớn, nhƣng lại thuận tiện cho việc kinh doanh,
buônbán nhỏ, là môi trƣờng lý tƣởng cho kinh doanh quy mô gia đình.
Cũng nhƣ các khu vực đô thị đã trải qua quá trình đô thị hoá khác, phƣờng
có đủ các cơ sở vật chất, tinh thần nhƣ: chợ, trƣờng học, đền chùa, nhà trẻ,
trạm y tế, nơi vui chơi giải trí...
Về các gia đình buôn bán nhỏ đƣợc khảo sát, thu nhập của nhóm này cao
hơn các gia đình trung bình của khu vực, thể hiện qua thu nhập hàng tháng,
tiền tiết kiệm và nhà cửa. Một số gia đình có điều kiện kinh doanh, buôn bán
ngay tại nhà do lợi thế về vị trí nhà ở; số còn lại phải thuê của hàng để buôn
bán. Tuy là gia đình buôn bán, nhƣng thu nhập đa dạng. Về trình độ học vấn,
đa số đã tốt nghiệp lớp 12, nhiều ngƣời có trình độ cao hơn. Về nhân khẩu, các
gia đình thƣờng là gia đình hạt nhân, với quy mô nhân khẩu thấp. Chủ yếu chủ
hộ là nam giới, đồng thời ngƣời chồng là ngƣời đứng tên nhiều nhất trong giấy
- 42 -
tờ sở hữu nhà và đất.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
*
* *
2.2. Vai trò giới trong chức năng kinh tế của gia đình
2.2.1 Trong hoạt động buôn bán
Chức năng kinh tế gia đình là những hoạt động mà gia đình thực hiện
nhằm bảo đảm các nhu cầu cơ bản của các thành viên.
Trong các gia đình buôn bán nhỏ thì hoạt động tạo thu nhập nhằm đảm
bảo các nhu cầu cơ bản của các thành viên chính là công việc buôn bán hàng
ngày của họ.
Công việc buôn bán thu hút cả nam giới và phụ nữ tham gia. Điều này
cho thấy rằng: buôn bán không chỉ là là kế sinh nhai chủ yếu của cả gia đình
mà còn là lĩnh vực mà ở đó phụ nữ ( ngƣời vợ) và nam giới ( ngƣời chồng) thể
hiện sự đóng góp công sức, thời gian, khả năng của mình vào kinh tế của gia
đình.
Qua việc tham gia vào công việc buôn bán, làm ăn đã cho thấy vai trò của
từng ngƣời.
Bảng 2: Sự tham gia của phụ nữ và nam giới vào công việc buôn bán (%)
Công việc
Ngƣời Nhập hàng Bán hàng Đứng tên buôn bán QĐ đầu tƣ phát triển Giữ tiền vốn QĐ chọn ngành hàng tham gia
25,2 3,3 31,8 Vợ 70,2 59,6 61,6
11,3 6,0 13,9 11,9 4,0 33,8 Chồng
- 43 -
18,5 26,5 34,4 0,7 Cả hai 60,3 79,5
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Ngƣời khác 5,3 7,9 0,7 2,0 0 0,7
Không thực hiện 0 0 0 3,3 0 33,0
Tổng 100 100 100 100 100 100
Từ bảng 2, khi xem xét các chỉ báo nhƣ nhập hàng, bán hàng, giao dịch…
cho thấy mức độ tham gia, đóng góp công sức của phụ nữ rất cao. Số liệu định
lƣợng cho thấy công việc nhập hàng do phụ nữ thực hiện là 70,4%; công việc
bán hàng là 59,6%; trong khi cũng công việc đó nam giới chỉ thực hiện lần lƣợt
là 11,3% và 6%.
“Phụ nữ bán hàng tốt hơn nhiều chứ, do tác phong bán hàng của phụ nữ.
Bao giờ người phụ nữ cũng nhanh nhẹn, mau mồm mau miệng hơn, người ta
gọi là tháo vát ấy; biết được khách hàng cần gì, khách hàng yêu cầu như thế
nào thì mình đáp ứng “ (PVS 3 - Nữ )
Phụ nữ dƣờng nhƣ đƣợc coi là rất phù hợp với việc bán hàng, vì phụ nữ
có ƣu thế hơn nam giới ở sự nhanh nhẹn, khéo léo. Điều này cũng phù hợp với
suy nghĩ của nhiều ngƣời từ xƣa tới nay, cho rằng phụ nữ thƣờng khéo ăn nói,
nam giới thì nói năng vụng về hơn. Chúng ta cũng thấy không riêng gì ở nhóm
gia đình buôn bán nhỏ mà ở những nơi giao dịch, bán hàng khác phụ nữ cũng
xuất hiện nhiều.
Để đạt hiệu quả cao trong buôn bán không chỉ đòi hỏi việc trực tiếp thực
hiện buôn bán mà còn đỏi hỏi phải có những quyết định hợp lý và đúng lúc.
Ngoài việc nhập hàng, bán hàng còn có các công việc khác cũng rất quan trọng
trong buôn bán đó là quyết định chọn ngành hàng, mặt hàng; đầu tƣ phát triển;
giữ tiền vốn …ta thấy phụ nữ tham gia cùng nam giới chiếm tỷ lệ cao ( 60,3%
và 79,5%). Rõ ràng, những công việc ra quyết định – rất quan trọng đến sự
phát triển buôn bán thƣờng đƣợc coi là của nam giới, vì nam giới đƣợc nhìn
nhận là những ngƣời có tính quyết đoán, táo bạo, duy lý thì trong nhóm gia
- 44 -
đình buôn bán này phụ nữ đã cùng tham gia rất cao.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Nhƣ trên đã phân tích, ngƣời vợ tham gia hầu hết mọi công việc trong các
hoạt động buôn bán. Tuy nhiên, khi đƣợc hỏi về những công việc phải làm thì
những phụ nữ này đều cho thấy hầu hết các công việc buôn bán họ tham gia
đóng góp công sức rất nhiều, kể cả quyết định các việc lớn; nhƣng nhìn nhận,
đánh giá về những đóng góp của mình lại rất khác nhau ở nhóm phụ nữ này.
Họ cho biết, chồng đóng góp nhiều hơn : “Chồng tôi quyết định việc kinh
doanh buôn bán này, đàn ông là người quyết định, với lại đàn bà thì chồng
quyết thế nào mình làm theo thế, đàn bà không quyết định được, tôi nghĩ như
vậy.” (PVS 2 - nữ 40 tuổi). Có thể do ảnh hƣởng của cách nói đề cao ngƣời
chồng của ngƣời phụ nữ Việt Nam, thực tế ngƣời phụ nữ trong các gia đình
này tham gia buôn bán nhiều hơn chồng một cách rõ rệt.
Nhƣ vậy có hai khả năng về việc ra quyết định: 1) phụ nữ là ngƣời chịu
trách nhiệm nhiều trong hoạt động buôn bán thì ra quyết định ; 2) phụ nữ tham
gia nhiều hay ít không quan trọng, việc ra quyết định là việc phải thống nhất
của cả hai .
Chính vì những sự khác nhau nhƣ vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu về
việc ra quyết định nhằm so sánh vai trò của phụ nữ và nam giới.
Lấy số liệu định tính cho thấy, ngƣời thực hành buôn bán cũng là ngƣời ra
quyết định: “tôi quyết định luôn, mua gì, bán gì mọi việc tôi lo lắng ” (PVS 3 -
Nữ ). “ Tôi làm mọi việc, quyết định gì cũng tôi làm ” (PVS 4- Nữ ); “ Vợ tôi là
người quyết định, đã có thời gian là mậu dịch viên, bán hàng quen rồi, nhìn
chung là hiểu công việc buôn bán, nắm bắt được biến đổi của thị trường, tôi
cũng tham gia nhưng chủ yếu là vợ quyết” (PVS 5- Nam)
Qua số liệu ở bảng 2 cho thấy tỷ lệ ngƣời vợ hoặc ngƣời chồng độc lập
đƣa ra các quyết định trong buôn bán đều không lớn; mà chúng tôi thấy nổi rõ
tỷ lệ cả hai cùng quyết định. Có thể do ngƣời chồng không trực tiếp tham gia
- 45 -
nhiều vào việc buôn bán, nhƣng buôn bán tạo ra thu nhập và cũng là một trong
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
những vấn đề quan trọng của gia đình, ngƣời vợ cũng có trách nhiệm bàn bạc
với chồng và cả hai cùng đồng lòng ra quyết định.
Lý giải về việc cả hai vợ chồng cùng quyết định, chúng tôi thấy rằng đó là
do đặc điểm của nghề nghiệp và sự cùng nhau quyết định trong việc buôn bán
của gia đình là không thể tránh khỏi: “Bất cứ việc to, việc nhỏ chúng tôi vẫn
phải bàn bạc, trao đổi với nhau, không thể tránh được. Vẫn phải hỏi ý kiến,
không phải lúc nào người phụ nữ cũng được quyết định việc buôn bán của gia
đình . Nếu mình đi làm, ví dụ như làm công nhân viên chức nhà nước, mỗi
người một nơi thì đấy mới là quyết định riêng của mình. Còn làm ăn buôn bán
cửa hàng này phải cả hai, không thể tránh được” (PVS 1- Nữ ).
Chúng tôi đồng ý với nhận xét của một nghiên cứu về giới khi cho rằng
sự ra quyết định thƣờng đƣợc bàn bạc giữa vợ và chồng để lựa chọn những
quyết định tốt nhất: “Trên thực tế mô hình khá phổ biến hiện nay là vợ chồng
cùng bàn bạc, quyết định những việc lớn của gia đình, những khoản chi tiêu
lớn.” [13, 112]
Cùng với lý do nghề nghiệp buôn bán, chúng tôi còn thấy sự tác động của
vấn đề tình cảm giữa vợ và chồng đến sự quyết định buôn bán; ở đây, ngƣời vợ
có lựa chọn, từ bỏ sự độc lập quyết định khi nó có thể gây hại đến hạnh phúc
gia đình để chọn một phƣơng án hợp lý hơn: “Nếu không muốn va chạm, xung
đột thì cả hai cùng quyết định, nhập hàng này, nhập vào số lượng bao nhiêu,
đi bán hàng này, bán như thế nào, nhiều việc đều phải cả hai, chứ không phải
phụ nữ quyết định được. Muốn có sự đoàn kết trong gia đình thì hai vợ chồng
cùng quyết định.” (PVS 1- Nữ ).
Cũng có một nghiên cứu về sự hợp tác trong quyền quyết định của vợ
chồng đối với các công việc quan trọng của gia đình. Theo nghiên cứu về giá
trị trong gia đình, các tác giả phát hiện ra rằng trong gia đình hạt nhân thì sự
hợp tác giữa vợ và chồng nhiều hơn trong các gia đình có nhiều thế hệ: “Về
- 46 -
quyền quyết định trong gia đình, thì gia đình hạt nhân (trƣớc hết là bố mẹ)
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
thƣờng bàn bạc nhau để có những quyết định các vấn đề đời sống gia đình.” [4,
629].
Nhƣ vậy, việc ra quyết định thƣờng có sự bàn bạc của cả hai vợ chồng là
do đặc điểm về khả năng của mỗi ngƣời; đặc điểm về ngành hàng buôn bán,
đặc điểm về sự đoàn kết, tình cảm và do đặc điểm gia đình quy mô nhỏ.
Nhƣ vậy, để đảm bảo chức năng kinh tế của gia đình phụ nữ đã đóng góp
công sức vào công việc buôn bán của gia đình rất tích cực. Phụ nữ đã thể hiện
rõ vai trò của họ trong đời sống kinh tế của gia đình
Vận dụng lý thuyết lựa chọn hợp lý vào giải thích xem tại sao có những
gia đình do ngƣời vợ quyết định các công việc làm ăn, có gia đình do ngƣời
chồng hoặc có gia đình do cả hai vợ chồng. Có thể lý giải rằng, có thể trong
gia đình mà ngƣời vợ quyết định công việc buôn bán là do ngƣời vợ có những
tiềm năng hơn hẳn so với ngƣời chồng, ví dụ nhƣ sự tháo vát, nhanh nhẹn, nói
năng giao tiếp tốt, nhạy bén với thị trƣờng …nên dễ đạt đƣợc kết quả. Bên
cạnh đó, có gia đình mà ngƣời chồng quyết định công việc làm ăn buôn bán do
họ có những tiềm năng hơn hẳn ngƣời vợ, ví dụ nhƣ sự nhạy bén, quyết đoán,
thạo việc, không bận bịu trong việc chăm sóc gia đình…nên dễ đạt đƣợc kết
quả. Trong khi đó, có những gia đình do cả hai vợ chồng cùng quyết định công
việc làm ăn, dù ngƣời chồng không tham gia nhiều bằng vợ trong công việc,
thuyết lựa chọn hợp lý cũng giải thích rằng, các chủ thể hành động bao giờ
cũng tối đa hoá cái đƣợc cái có lợi, tối thiểu hoá cái thiệt hại; trong trƣờng hợp
này, ngƣời vợ và ngƣời chồng sẽ cân nhắc xem nếu một trong hai giành lấy
quyền ra quyết định về mình thì có thể xảy ra mâu thuẫn, xung đột vợ chồng,
gây nên sự căng thẳng trong gia đình nên họ lựa chọn là cả hai cùng thống nhất
đƣa ra quyết định, sao cho vẫn đảm bảo hài hoà giữa công việc và hạnh phúc,
yên ấm trong gia đình, đó mới là mục đích cuối cùng mà họ lựa chọn
Thuyết lựa chọn hợp lý cho rằng, tác động lên hành động của mỗi cá nhân
- 47 -
là do các thể chế xã hội. Để giải thích cho việc ngƣời vợ luôn nghĩ rằng quyền
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
quyết định là do đàn ông, ngƣời chồng, ngƣời vợ chỉ là phụ, làm theo quyết
định chồng là vì, ngƣời phụ nữ đã đƣợc các thể chế (gia đình, nhà trƣờng, xã
hội) xã hội hoá vai trò giới rằng, đàn ông là trụ cột, là ngƣời chịu trách nhiệm
kiếm tiền nuôi sống gia đình, vợ là phụ, quan niệm này đã ăn sâu trong nhận
thức của họ, và họ cho rằng lựa chọn để nam giới quyết định cuộc sống, phụ
nữ là ngƣời thực hiện quyết định, nhƣ vậy là hợp lý.
Để đánh giá sự tham gia của phụ nữ và nam giới trong hoạt động buôn
bán của gia đình một chỉ báo quan trọng nữa đó là xem xét về thu nhập. Trong
những gia đình buôn bán nhỏ , tỷ lệ gia đình có thu nhập chính từ buôn bán rất
cao, chiếm 81,5% số ngƣời đƣợc hỏi; chỉ có 17,9% số gia đình nói rằng thu
nhập chính của họ không phải từ kinh doanh.
Thu nhập trung bình hàng tháng của gia đình buôn bán nhỏ là 7.657.000đ.
Khi hỏi về thu nhập của vợ và chồng thì ngƣời đƣợc hỏi (thƣờng là nữ) cho
rằng thu nhập của ngƣời chồng cao hơn.
Ngƣời chồng trong các gia đình này thƣờng đƣợc coi là ngƣời chín chắn
hơn, kinh nghiệm hơn, giỏi giang hơn... ngƣời chồng đƣợc đánh giá cao: do
việc buôn bán là của nhà chồng, ngƣời phụ nữ khi lấy chồng tham gia buôn
bán “Chồng tôi thì làm kinh doanh từ lâu rồi. Tôi học xong cũng làm nhì
nhằng kiếm sống, khi tôi lấy anh ấy thì theo chồng, làm kinh doanh này, hai vợ
chồng cùng làm, cùng ăn” (PVS1-Nữ 34 tuổi), “Lấy chồng là tôi tham gia kinh
doanh luôn . Chồng tôi dẫn dắt cho tôi làm, bây giờ quen việc, chủ động rồi”
(PVS2-Nữ ), và họ tự đánh giá mình chỉ là ngƣời phụ cho ngƣời chồng nên thu
nhập phải kém ngƣời chồng: “ vợ chỉ là phụ thôi, tô điểm thôi, chứ phần chính
phải là chồng chứ. Vả lại vợ bao giờ cũng kém chồng. Chồng phải gánh vác
giang sơn, phụ nữ chỉ là phụ thôi, tiền nong, thu nhập anh ấy nhiều hơn tôi”.
(PVS2 - Nữ ).
Khi đi sâu vào phân tích chi tiết hơn, xem xét riêng vai trò của ngƣời phụ
- 48 -
nữ trong buôn bán tƣơng quan theo lứa tuổi, ta thấy một chiều hƣớng của biểu
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
đồ: hầu nhƣ trong mọi lĩnh vực, hoạt động trực tiếp buôn bán, ngƣời vợ ở
nhóm tuổi từ 34 trở xuống đều tham gia với tỷ lệ cao; và tỷ lệ này càng thấp
hơn ở nhóm phụ nữ từ 35 trở lên (tỷ lệ so sánh tƣơng quan là phụ nữ các nhóm
tuổi khác nhau thực hiện công việc buôn bán )
Biểu đồ 1: Tƣơng quan theo nhóm tuổi của phụ nữ trong việc thực hiện
công việc buôn bán
Ngƣợc lại so với sự tham gia trực tiếp buôn bán của phụ nữ ở nhóm tuổi
trẻ hơn, tỷ lệ hai vợ chồng cùng tham gia bàn bạc, trao đổi để quyết định công
việc buôn bán có chiều hƣớng tăng lên ở những gia đình có ngƣời vợ thuộc
- 49 -
nhóm tuổi cao hơn.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Biểu đồ 2: Sự tham gia của hai vợ chồng vào các công việc buôn bán
theo nhóm tuổi của vợ
Nhƣ vậy, vai trò trực tiếp buôn bán của những ngƣời ở nhóm tuổi từ 49
trở xuống mạnh hơn so với những ngƣời vợ ở nhóm tuổi từ 50 trở lên. Còn
những ngƣời vợ ở nhóm tuổi từ 35 trở lên có vai trò ra quyết định (cùng với
chồng) mạnh hơn so với phụ nữ ở các nhóm tuổi từ 34 trở xuống.
Sự khác nhau giữa nhóm tuổi của phụ nữ về quyết định và thực hiện
công việc là do tác động của sự lựa chọn để hợp lý giữa vai trò và địa vị của
họ trong gia đình.
Ngƣời vợ trong nhóm tuổi trẻ hơn trong các gia đình buôn bán này tham
gia hoạt động trực tiếp buôn bán nhƣ bán hàng, nhập hàng nhiều hơn là do họ
đang dần khẳng định vai trò đóng góp kinh tế, dần dần nâng cao địa vị của
mình trong gia đình. Ngƣời vợ trong nhóm tuổi lớn hơn do đã trải qua thời
gian buôn bán, cùng với tuổi đời, sự phát triển của đời sống gia đình có tác
động rõ rệt đến quyền quyết định của họ trong gia đình, ngƣời phụ nữ cao tuổi
hơn có xu hƣớng ra quyết định nhiều hơn, cho thấy địa vị của họ đƣợc nâng
lên. Phụ nữ cùng chồng ra quyết định là thể hiện địa vị đó, vì vậy việc cùng
chồng ra quyết định cho công việc buôn bán của những ngƣời phụ nữ ở nhóm
tuổi từ 35 trở lên cao hơn so với ngƣời phụ nữ ở nhóm tuổi từ 34 trở xuống.
Một yếu tố nữa của buôn bán gia đình là cửa hàng; cửa hàng thuê hay nhà
ở đồng thời là cửa hàng của gia đình là một yếu tố quan trọng đối với những
gia đình buôn bán nhỏ, vì hàng tháng họ phải chi trả một khoản tiền thuê cửa
hàng, nhƣng khi thuê cửa hàng họ có điều kiện để chọn lựa giữa vị trí, ƣu thế
của cửa hàng để phù hợp loại ngành hàng và cân đối với khoản tiền bỏ ra, do
đó khoản thu lợi sẽ khác vì nếu cửa hàng là của nhà thì họ sẽ không có điều
- 50 -
kiện để chọn lựa, đó là bài toán kinh tế rất hóc búa.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Theo mục đích nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xem xét vấn đề giữa việc
phải thuê cửa hàng với không phải thuê cửa hàng dƣới góc độ phát hiện việc
thực hiện vai trò của ngƣời phụ nữ và nam giới trong công việc buôn bán.
Trong tổng số các gia đình đƣợc khảo sát có 44,4% số gia đình có điều
kiện buôn bán tại nhà , còn lại 53,6% phải thuê cửa hàng.
Ở những gia đình phải thuê cửa hàng để buôn bán thì ngƣời phụ nữ tham
gia hoạt động buôn bán nhiều hơn so với những ngƣời phụ nữ mà gia đình họ
có điều kiện buôn bán tại nhà. Con số tiêu biểu nhất: trong số những gia đình
đi thuê cửa hàng 72,8% ngƣời phụ nữ làm là chính trong việc mua hàng; con
số này ở những gia đình buôn bán tại nhà của gia đình là 67,2%.
Bảng 3: Sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động buôn bán theo địa
điểm cửa hàng (%)
Công việc Quyết định Nhập Đứng tên Quyết định đầu chọn ngành hàng kinh doanh tư lớn hàng Địa điểm
Thuê 33.3 72.8 33.3 4.9
Nhà của gia 67.2 29.9 14.9 1.5 đình
Địa điểm của hàng do thuê, phụ nữ phải làm việc, hoạt động nhiều hơn so
với phụ nữ có cửa hàng tại nhà. Bởi vì, đối với của hàng thuê nhiều lúc chỉ có
một mình phụ nữ có mặt và đảm nhận mọi việc; trong khi buôn bán tại nhà thì
có chồng, bố mẹ... tham gia giúp đỡ. Còn những ngƣời thuê cửa hàng khó có
đƣợc sự trợ giúp của gia đình, họ phải tìm sự trợ giúp bằng cách thuê ngƣời
giúp việc.
Nhƣ vậy, vai trò trực tiếp buôn bán của ngƣời phụ nữ rất quan trọng, họ
- 51 -
càng quan trọng hơn khi gia đình phải thuê cửa hàng để buôn bán.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
2.2.2. Trong hoạt động phục vụ buôn bán
Vốn đƣợc xem là điều kiện đầu tiên và quan trọng nhất trong buôn bán,
kinh doanh. Điều này cũng không là ngoại lệ trong các gia đình buôn bán nhỏ.
Để phục vụ buôn bán, từ gây dựng ban đầu cho đến duy trì và phát triển mở
rộng công việc buôn bán các gia đình này đã tìm vốn từ nhiều nguồn.
Về vốn để buôn bán, trong tổng số 151 gia đình đƣợc khảo sát, số gia
đình phải đi vay vốn tƣơng đối lớn, lên đến 73 gia đình (48.3%). Ngoài số vốn
liếng mà gia đình có họ cần phải đi vay vốn bên ngoài ( bố mẹ, bạn bè, anh em,
họ hàng, ngân hàng…) để duy trì và phát triển buôn bán.
Trong việc tìm nguồn vốn cũng thể hiện vai trò của phụ nữ và nam giới
Biểu đồ 3: Ngƣời đi vay vốn
Thông tin thu đƣợc từ phân tích định lƣợng cho thấy ngƣời vợ và ngƣời
chồng đi vay vốn tƣơng đƣơng nhau trong các gia đình này( vợ 33% chồng
34%). Điều này cho thấy phụ nữ không chỉ dừng ở việc bán hàng, giao dịch
nhỏ nữa mà tích cực đóng góp sức mình vào hoạt động nhƣ vay vốn nhằm phát
triển buôn bán
Tìm kiếm nguồn cho vay cũng không kém phần quan trọng, bởi vì làm
thế nào để vay đƣợc tiền đòi hỏi rất nhiều yếu tố, nhƣ mối quan hệ của từng
- 52 -
ngƣời với đối tƣợng cho vay ở mức độ nào, độ tin cậy, khả năng trả nợ…
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Tìm hiểu về nguồn vay, chúng tôi đƣa ra câu hỏi lựa chọn nguồn vay từ
đâu, thông tin thu đƣợc cho thấy chủ yếu nguồn vốn đƣợc vay từ bố mẹ, anh
em, họ hàng ( 75%) ; nguồn vay từ ngân hàng, tín dụng chiếm tỷ lệ nhỏ (25%).
Đặc biệt tỷ lệ vay từ bố mẹ, anh em, họ hàng bên vợ và bên chồng tƣơng
đƣơng nhau.
Biểu đồ 4: Nguồn vay vốn
Thực tế, để buôn bán có hiệu quả, đảm bảo kinh tế gia đình cả vợ và
chồng đều cố gắng tìm kiếm mọi điều kiện tốt nhất mà bản thân có đƣợc
không phân biệt cứ phải là chồng. Với việc tìm kiếm nguồn vốn phục vụ buôn
bán vai trò của ngƣời phụ nữ đã thể hiện rất rõ rệt trong nhóm gia đình này.
“Khi làm ăn buôn bán tất nhiên là cần lưng vốn, muốn nhập thêm hàng
mà đại lý không cho nợ hoặc quá số vốn mình có, cũng có thể vào thời điểm đó
mình không đủ tiền thì phải đi vay. Cả hai vợ chồng tôi cùng đi vay, vay cả
bạn bè, gia đình, cả nội, ngoại, chỗ nào có thể vay đều hỏi vay.” (PVS 2- Nữ )
“Ngày đầu buôn bán, cho đến bây giờ đã vững vẫn cần vốn thì vay mượn
của hai bên bố mẹ, anh em, bạn bè của cả vợ và chồng. Phân biệt gì vợ với
chồng đâu; bố mẹ, anh em vợ quan tâm giúp đỡ vốn liếng nhiều chứ.” (PVS 6 -
- 53 -
Nam )
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Sự chuẩn bị vốn buôn bán nhƣ vậy là một sự bàn bạc và đóng góp ngang
nhau giữa vợ và chồng. Ngoài ra cũng cho thấy, việc làm ăn buôn bán nói
riêng và cuộc sống nói chung không chỉ dừng lại là công việc của riêng vợ
chồng, mà còn là một sự đóng góp, trợ giúp và khuyến khích của cả bố mẹ, họ
hàng, bạn bè, thể hiện sự gắn kết mang tính chất đùm bọc “ đại gia đình” của
gia đình Việt Nam.
Trong nghiên cứu này, số gia đình vay ngân hàng hoặc tín dụng của địa
phƣơng không cao, chỉ có 25%. Khi đặt câu hỏi vì sao họ thƣờng chú ý ƣu tiên
vay gia đình nội ngoại, mà không tính đến việc vay ngân hàng, quỹ tín dụng,
đa số trả lời: “Vay ngân hàng đâu có dễ, chúng tôi làm ăn chúng tôi biết chứ,
ngay cả quỹ tín dụng của phường cũng khó, rất là khó, thủ tục vay phức tạp
lắm, bao nhiêu giấy tờ, đi đi lại lại không biết bao nhiêu lần, chứng nhận nọ,
xác nhận kia xem mình có khả năng trả nợ hay không, ngay như quỹ tín dụng
của địa phương họ cũng phải xem xét hoàn cảnh như thế nào, ví dụ như hộ
nghèo vay tối đa cũng chỉ được 3 triệu thôi” (PVS 2- Nữ).
Có thể đối với gia đình buôn bán nhỏ, nhu cầu về vốn không cao: “Nhà
tôi buôn bán chị biết đấy, nhỏ thôi vốn khoảng vài ba chục triệu, không nhiều,
đấy là vốn cố định còn lại thì bán đến đâu trả đại lý đến đấy chứ , có khi mình
cứ lấy hàng về bán rồi trả tiền sau cũng được, cho nên chúng tôi buôn bán nhỏ
nhỏ cũng đủ vốn rồi, làm ăn buôn bán nhỏ mà, không cần vốn to.”(PVS 1- Nữ
) là giải thích cho sự không cần thiết phải tiếp cận ngân hàng- nguồn vay phải
chịu lãi và các vấn đề pháp lý của mô hình buôn bán nhỏ.
Mặt khác cũng cho thấy quy mô buôn bán của bộ phận kinh tế này là nhỏ,
ngƣời kinh doanh chỉ cần huy động vốn từ các nguồn là gia đình, bạn bè, họ
hàng thân thuộc là đủ; không làm ăn lớn nên không cần thiết phải tìm nguồn
vốn từ ngân hàng, chỉ khi nào họ cần nguồn vốn lớn, khi các nguồn vốn khác
không đáp ứng đủ thì họ mới tìm đến nguồn vốn là ngân hàng hoặc quỹ tín
- 54 -
dụng địa phƣơng: “Hoạt động của quỹ tín dụng địa phương cũng ở múc độ
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
nhỏ, cơ chế cho vay cũng khác hơn với ngân hàng, người vay có khi không cần
phải thế chấp sổ đỏ nhưng phải xem xét hoàn cảnh gia đình, hoặc là hội viên
của các hội, đoàn thể của địa phương” ( PVS 10- CB phƣờng)
2.2.3. Hiệu quả hoạt động buôn bán
Đánh giá hiệu quả từ buôn bán có thể biểu hiện qua các chỉ báo: thu nhập,
tích luỹ, tính bền vững và mở rộng buôn bán… Trong phạm vi đề tài chúng tôi
tiến hành đo và phân tích hai yếu tố biểu hiện là thu nhập và tích luỹ. Hiệu quả
của hoạt động buôn bán chính là thông qua sự tham gia đóng góp công sức của
phụ nữ và nam giới.
Bảng 4: Đánh giá về kinh tế của gia đình (%)
Đánh giá kinh tế gia đình
Khá giả 28 18,5%
Trung bình 109 72,2%
Khó khăn 9,3% 14
Chúng tôi đƣa ra câu hỏi để cho ngƣời đƣợc hỏi tự đánh giá về kinh tế của
gia đình. Theo kết quả thu nhận đƣợc, có 18,5% nhận là có kinh tế khá giả,
72,2% nhận là trung bình, còn 9,3% cho rằng kinh tế vẫn khó khăn. Theo
nhiều cuộc điều tra xã hội học khác, phần lớn ngƣời dân khi đƣợc hỏi đều cho
rằng khả năng kinh tế của gia đình mình ở mức trung bình; tâm lý chung của
ngƣời dân, họ không muốn nói về thu nhập của mình, thƣờng không nhận
mình hơn ngƣời khác, nhất lại là những gia đình buôn bán, kinh doanh, họ
càng không muốn cho ngƣời ngoài biết về thực trạng kinh tế của họ.
Khi hỏi về hiệu quả của việc buôn bán đối với kinh tế của gia đình, có tới
- 55 -
95,4% trả lời kinh tế gia đình họ đã khá hơn so với trƣớc; trong khi đó chỉ có
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
4,6% trả lời kinh tế gia đình họ nhƣ cũ, và đặc biệt, không gia đình nào nói là
kinh tế gia đình họ kém đi.
Nhƣ vậy, việc buôn bán đem lại hiệu quả kinh tế rất tốt cho các gia đình,
mà ngƣời đóng góp chính của việc buôn bán của các gia đình này là phụ nữ.
Một chỉ báo để đo hiệu quả từ việc buôn bán đó là số tiền tiết kiệm của
gia đình. Thực tế, để hỏi và biết về tiền tiết kiệm của một cá nhân hay một gia
đình là rất khó, nên con số chỉ tƣơng đối trong một khoảng nào đó.
Mục đích của việc tìm hiểu này là xem xét ngƣời phụ nữ trong vai trò là
tay hòm chìa khoá của gia đình, cân đối thu- chi cũng nhƣ quyết định đầu tƣ
phát triển kinh tế gia đình nhƣ thế nào.
Qua số liệu định lƣợng thu thập đƣợc cho thấy, hầu hết các gia đình này
đều có khoản tiền tiết kiệm, chiếm 98%, chỉ có 2% gia đình trả lời không có
tiết kiệm.
Đối chiếu với thời gian buôn bán cho thấy không có tiền tiết kiệm rơi vào
những gia đình buôn bán dƣới 5 năm. Ở nhóm gia đình này họ đang trong thời
gian khởi đầu của việc buôn bán, có rất nhiều lý do về việc họ chƣa thể có tiền
tiết kiệm, hoặc thua lỗ, hoặc mới chỉ đạt mức độ hoà vốn, hoặc họ phải trả dần
số nợ đã vay, hoặc tiếp tục đầu tƣ hơn nữa … và trong những gia đình mà thời
gian buôn bán dƣới 5 năm thƣờng là gia đình mới thành lập, việc nuôi con nhỏ
, gây dựng kinh tế gia đình, sắm đồ dùng sinh hoạt…khiến cho họ phải chi tiêu
nhiều và chƣa có tích luỹ.
Số tiền tiết kiệm đƣợc tăng dần cùng với thời gian buôn bán của họ, ở
nhóm gia đình có thời gian buôn bán từ 6 đến 10 năm có tiền tiết kiệm từ 20
triệu trở lên chiếm 58,2%; trong khi đó ở nhóm gia đình có thời gian buôn bán
trên 10 năm có tiền tiết kiệm từ 20 triệu trở lên lên tới 80,6%
- 56 -
Bảng 5: Tƣơng quan giữa thời gian buôn bán với tiền tiết kiệm (%)
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Thời gian buôn bán Từ 6 đến 10 năm Trên 10 năm
Tiền tiết kiệm
Dƣới 20 triệu đồng 41,8 19,4
Trên 20 triệu đồng 58,2 80,6
Những gia đình đã buôn bán trên 10 năm phần lớn có độ dài về thời gian
kết hôn, gia đình có sự ổn định, không chỉ ổn định về kinh tế mà còn ổn định
các mặt khác của đời sống gia đình.
Dù rằng, thừa nhận sự đóng góp của những yếu tố kinh tế, văn hoá, xã
hội, giai đoạn của cuộc sống gia đình... tác động vào sự tăng trƣởng kinh tế của
gia đình, tuy nhiên, chúng tôi cho rằng các thành quả gặt hái từ việc buôn bán
của các gia đình này cũng chịu tác động lớn từ kinh nghiệm buôn bán lâu năm
của ngƣời buôn bán.
Tiểu kết
Ngƣời phụ nữ tham gia nhiều vào hoạt động trực tiếp buôn bán hơn nam
giới, nhất là các gia đình phải thuê nơi bán hàng. Những ngƣời phụ nữ này độc
lập ra quyết định kinh tế tƣơng đối cao, tuy nhiên, tỷ lệ cả hai vợ chồng cùng
ra quyết định chiếm tỷ lệ cao hơn cả.
So sánh tƣơng quan giữa độ tuổi của phụ nữ với ra quyết định buôn bán
cho thấy phụ nữ ở nhóm tuổi 34 trở xuống tham gia vào hoạt động trực tiếp
buôn bán cao hơn so với phụ nữ ở nhóm tuổi từ 35 trở lên nhƣng độc lập ra
quyết định kinh tế thấp hơn; trong khi đó, phụ nữ ở nhóm tuổi từ 35 trở lên ra
quyết định kinh tế cao hơn nhóm tuổi 34 trở xuống.
Trong huy động vốn, tỷ lệ phụ nữ là ngƣời đi vay ngang bằng với tỷ lệ
- 57 -
của
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
nam giới đi vay. Trợ giúp cho vay vốn từ phía bố mẹ, họ hàng, bạn bè…của
phụ nữ và nam giới ngang nhau.
Hầu hết các gia đình buôn bán đều cho biết kinh tế gia đình khá hơn so
với trƣớc khi buôn bán, không có gia đình nào bị kém đi.
Những gia đình có thời gian buôn bán từ 10 năm trở lên có tỷ lệ tiết kiệm
tiền nhiều hơn so với các gia đình khác.
Thông qua phân tích sự tham gia vào công việc buôn bán của gia đình,
thực hiện chức năng kinh tế của gia đình đã cho thấy hình ảnh của ngƣời phụ
nữ trong nhóm gia đình này thực sự năng động, góp sức mình vào nuôi sống
gia đình, vai trò của họ đƣợc thể hiện rất rõ nét.
2.3. Vai trò giới trong chức năng tái sản xuất con ngƣời
Hoạt động tái sản xuất của gia đình bao gồm cả tái sản xuất con ngƣời
(sinh đẻ) và tái sản xuất sức lao động. Phần này đề tài xem xét việc thực hiện
vai trò giới trong chức năng tái sản xuất trong gia đình buôn bán nhỏ có những
đặc điểm gì , và ảnh hƣởng từ các vai trò khác, nhất là vai trò kinh tế có tác
động nhƣ thế nào đến việc thực hiện chức năng tái sản xuất của ngƣời phụ nữ.
Ăng Ghen cho rằng “ Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong
lịch sử, quy đến cùng là sự sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp… là sự
sản xuất ra bản thân con ngƣời, là sự truyền giống nòi”. [14,127].
Cho đến nay tái sản xuất con ngƣời vẫn đƣợc thực hiện trong thiết chế
gia đình; tái sản xuất con ngƣời là chức năng quan trọng của thiết chế gia đình
mà không thiết chế xã hội nào có thể thay thế đƣợc. “Quan niệm về tầm quan
trọng của chức năng này của gia đình hiện nay đã có thay đổi nhƣng không
đáng kể, chủ yếu là thay đổi chuẩn mực số con mong muốn, về giá trị con trai
con gái” [14,127].
Trong các nghiên cứu xã hội học cũng nhƣ dân số học cho thấy tác động
- 58 -
lên chức năng tái sản xuất con ngƣời của gia đình bao gồm các yếu tố: thứ
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
nhất, nhóm tác động trực tiếp: chấp nhận kiểm soát sinh, sử dụng biện pháp
tránh thai, kết hôn và vô sinh tạm thời sau sinh đẻ; thứ hai, nhóm các yếu tố
tâm lý xã hội trung gian: chuẩn mực xã hội về quy mô gia đình, số con mong
muốn, các chuẩn mực xã hội liên quan nhƣ quan niệm của xã hội về hôn nhân;
thứ ba, nhóm các yếu tố hạ tầng: mức độ tử vong và các điều kiện kinh tế, xã
hội. Nhƣ vây, có rất nhiều nội dung phân tích , nhƣng trong khuân khổ của đề
tài này chỉ xin đề cập đến nhóm yếu tố thứ nhất, đó là chấp nhận kiểm soát
sinh, sử dụng biện pháp tránh thai, mục đích là đo sự tham gia của phụ nữ và
nam giới vào hoạt động này trong nhóm gia đình buôn bán nhỏ trong chức
năng tái sản xuất con ngƣời.
2.3.1. Quyết định số con và thời gian sinh con
Trong gia đình buôn bán nhỏ đƣợc khảo sát, số con trung bình là 1,70
(con trai là 0,84; con gái là 0,87).
Bảng 6: Quyết định số con và thời gian sinh con
quyết Số con Thời gian sinh con Ngƣời định
Vợ 4 8
4,2% 5,3%
Chồng 2 2
1,3% 1,3%
Cả hai 133 113
88,1% 74,8%
Không thực hiện 12 28
7,9% 18,5%
Tổng 151 151
100% 100%
- “Ngày nay yêu cầu của cuộc sống cao hơn ngày xưa, chi tiêu đủ thứ,
- 59 -
thấy kinh tế không đủ để nuôi con bằng người nên đẻ ít thôi. Đẻ ra phải nuôi,
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
cho ăn học, mà còn lo hư hỏng , với lại bây giờ có ai đẻ nhiều con đâu, nhà
nước cho đẻ 2 thôi” (PVS 3- Nữ).
- “Phụ nữ rất yêu con, thích con, vẫn muốn nữa đẻ, vẫn muốn có năm,
bẩy nữa. Nhưng tôi nghĩ, phải làm sao nuôi được chúng nó, nuôi con bây giờ
tốn kém lắm, nào sữa, nào ăn uống, rồi học hành đóng góp, học thêm nhiều
tiền lắm, kinh tế là vấn đề.” (PVS 2- Nữ)
- “Đẻ ít để nuôi con cho tốt chứ sao, nuôi nó, dậy nó, cho con nó ăn học.
Đài báo cũng nói, đài phường cũng nói. Con mình mình phải nuôi!” (PVS 1-
Nữ)
- “Thực ra tuyên truyền cũng có tác dụng, lâu dần cũng đi vào nhận thức
của người dân người ta không muốn đẻ nhiều, bên cạnh đó từ thực tế cuộc
sống hiện nay của các gia đình họ cũng tự thấy sinh con, nuôi con khổ. Bây
giờ nuôi một đứa con tốn kém lắm, lại còn bao nhiêu chuyện nữa. Mà có nhiều
con thì khổ chứ có sướng gì, rồi phải tìm việc, lo lắng việc làm, nhà cửa cho
chúng nó, đủ chuyện. Tâm lý đông con nhiều cháu vẫn còn, tuy nhiên, tuổi trẻ
bây giờ cũng suy nghĩ tiến bộ hơn ” (PVS 10 - Cán bộ phường)
- “Xã hội bây giờ phát triển rồi, thông tin đài báo rất nhiều mà cứ nhắm
mắt, nhắm mũi sinh vô tội vạ, không dùng biện pháp kế hoạch hoá gia đình,
thỉnh thoảng mang đi giải quyết này nọ... tôi không cho rằng không tốt.”
(PVS8 - Nam)
Rõ ràng, tƣ tƣởng muốn nhiều con vẫn còn trong suy nghĩ của nhiều cặp
vợ chồng, nhiều gia đình; Họ phải lựa chọn cuộc sống, họ cho rằng kinh tế của
họ không phù hợp cho đứa con của mình sống một cuộc sống tốt, đầy đủ, đƣợc
chăm sóc, có thể họ không có đủ điều kiện chăm sóc cho chúng lớn khôn,
thành đạt trong tƣơng lai. Vì vậy, ít con để nuôi dạy con cho tốt là sự lựa chọn
- 60 -
hợp lý của họ.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Với đặc điểm nghề nghiệp là buôn bán nhỏ, tự do những gia đình buôn
bán nhỏ này thƣờng không tham gia hay là đoàn viên, hội viên của một tổ chức
đoàn thể nào ở địa phƣơng. Họ ít đƣợc tham gia các hoạt động phong trào tại
địa phƣơng, nhƣng những thông tin về kế hoạch hoá gia đình họ tiếp nhận qua
các kênh thông tin nhƣ báo chí, truyền hình… Họ đã có suy nghĩ lựa chọn sinh
ít con để chuẩn bị cuộc sống cho con tốt hơn, suy nghĩ này phù hợp với những
mục tiêu mà các chƣơng trình kế hoạch hoá gia đình đề ra. Xét từ góc độ học
vấn phụ nữ và nam giới trong nhóm gia đình này tƣơng đối cao cho nên nhận
thức của họ về vấn đề kế hoạch hoá gia đình rất tốt.
2.3.2. Quyết định biện pháp kế hoạch hoá gia đình
Trong phạm vi toàn quốc các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ có hiểu
biết về các biện pháp tránh thai hiện đại ngày càng cao: 99% (1997). Tỷ lệ sử
dụng các biện pháp tránh thai tăng nhanh, từ 53,75% (1993) lên 68,3% (1996),
75,31% (1997) cho đến năm 2003 đạt 76,9%. Đó cũng là kết quả của hơn hai
thập kỷ nƣớc ta thực hiện chính sách dân số- kế hoạch hoá gia đình.
Bảng 7: Thực hiện tránh thai và quyết định thực hiện tránh thai
Thực hiện biện pháp tránh thai Quyết định thực hiện biện pháp tránh thai
Vợ 83 58
55,0% 38,4%
Chồng 40 2
26,5% 1,3%
Cả hai 17 78
11,3% 51,7%
Không thực hiện 11 13
7,3% 8,6%
Tổng 151 151
- 61 -
100% 100%
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Với số con trung bình thấp nhƣ vậy đã phụ thuộc vào nhận thức về số con
của những cặp vợ chồng này cũng nhƣ các biện pháp tránh thai mà họ đã thực
hiện. Trong tổng số gia đình này có tới 80,3% cặp đang thực hiện các biện
pháp tránh thai (phụ nữ 85, 5%, nam giới 14,5%)
Trong nhóm gia đình buôn bán nhỏ đƣợc khảo sát, ngƣời vợ chủ động
thực hiện biện pháp tránh thai cao hơn so với chồng: ngƣời vợ 55,0%; chồng
26,5%; lúc vợ, lúc chồng: 11,3%. Có thể thấy tƣơng quan về giới trong thực
hiện các biện pháp tránh thai nghiêng về phía phụ nữ.
Đã có nhiều cuộc nghiên cứu, khảo sát về thực trạng sử dụng các biện
pháp tránh thai, đặc biệt là phân tích tƣơng quan giữa hai giới trong việc sử
dụng các biện pháp tránh thai đều cho thấy kết quả thực hiện biện pháp tránh
thai thƣờng không cân bằng giữa nam và nữ “có một thực tế cần khắc phục là
hiện nay việc sử dụng các biện pháp tránh thai chủ yếu mới nhằm vào ngƣời
phụ nữ,” [19, 188-189].
Thông tin định tính cũng cho thấy, trong tƣ tƣởng của cả phụ nữ và nam
giới, việc tránh thai vẫn là nhiệm vụ của phụ nữ:
“Thực hiện các biện pháp tránh thai thì thường là phụ nữ dùng, tôi uống
thuốc, thuốc tránh thai không đắt lắm, nhiều người uống bị khó chịu chút
nhưng tôi thì thấy tốt, hợp. Còn các ông ấy thì không. Mình sợ vỡ kế hoạch thì
phải tự mà dùng” (PVS 2- Nữ );
“Thường thì người vợ, chị biết đấy, hiện nay các biện pháp tránh thai
dành cho nữ vẫn nhiều hơn. Hội phụ nữ phường có tuyên truyền giáo dục thì
đối tượng để tuyên truyền giáo dục cũng lại là phụ nữ, nam cũng có nhưng ít
hơn.” (PVS 10 - Cán bộ phường)
“Phụ nữ mình phải quyết định, để cho các ông ấy tự giác thì mệt lắm, có
- 62 -
khi cãi nhau, rồi mình lại phải giải quyết hậu quả, tôi cũng bị một lần rồi, sợ
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
đến già. Cái đấy là nam giới họ không để ý gì đâu, mình thấy cần thì tự quyết
định thôi” (PVS 2- Nữ)
Qua điều tra, chúng tôi phát hiện ra một số lý do mà những ngƣời phụ nữ
trong gia đình buôn bán nhỏ sử dụng biện pháp tránh thai nhiều hơn nam giới.
Lý do từ yếu tố sức khoẻ: “Sử dụng biện pháp gì hữu hiệu nhất và tốt nhất thì
dùng, nhỡ ra khổ lắm, hại sức khoẻ.” (PVS 1- Nữ ). Sử dụng biện pháp đặt
vòng “Vì phương pháp này tốt” (PVS 4- Nữ ). Phƣơng pháp dùng bao cao su
cũng đƣợc sử dụng vì độ an toàn về sức khoẻ lẫn tránh thai.
Nhƣng một trong những lý do quan trọng khác giải thích cho việc tránh
thai thƣờng do ngƣời phụ nữ đảm nhiệm là do hiện có ít các phƣơng pháp
tránh thai dùng cho nam giới. Theo sự am hiểu của một ngƣời phụ nữ đã qua
tuổi sinh đẻ thì : “Đa số là phụ nữ dùng các biện pháp tránh thai. Ngày xưa thì
nam giới sử dụng, bây giờ đa số là phụ nữ sử dụng. Bây giờ phương pháp
tránh thai cho nữ nhiều, nên người ta dùng nhiều. Đàn ông nam giới có mỗi
phương pháp dùng bao cao su và triệt sản, có ông nào chịu đi triệt sản đâu.
Phụ nữ có nhiều phương pháp, uống thuốc, đặt vòng, bây giờ lại còn có cả
tiêm.” (PVS 3 - Nữ). Cán bộ phƣờng cũng có nhận xét tƣơng tự về việc ít có
biện pháp tránh thai dành cho nam giới: “Các ông chỉ có mỗi biện pháp là bao
cao su. Nhưng họ , có nhiều lý do để không sử dụng thường xuyên, ngay nhà
tôi cũng vậy, thế là người vợ lại phải thực hiện.” (PVS 10 - Cán bộ phường).
Thực tế, nam giới có quan tâm đến việc tránh thai của phụ nữ “ Có quan
tâm nhưng vợ đã sử dụng rồi thì chồng thôi.” (PVS 5 - Nam); “Mình phải
quan tâm đến việc sinh đẻ của vợ chứ, phải biết để chăm sóc vợ cho tốt. (PVS
6 - Nam)
Việc quan tâm đến tránh thai đƣợc ngƣời chồng chú ý là vì vấn đề số con.
Họ thƣờng nói rằng trƣớc đây họ rất quan tâm đến việc sinh bao nhiêu con,
- 63 -
khoảng cách sinh và dùng biện pháp gì. Tuy nhiên, vì ngƣời vợ sử dụng biện
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
pháp tránh thai mà không có vấn đề gì khó khăn, nên dần dần việc sử dụng
biện pháp tránh thai không trở thành vấn đề cần đƣợc chú ý của chồng.
Sự quan tâm của ngƣời chồng còn đƣợc thể hiện qua số liệu định lƣợng
“hai vợ chồng bàn bạc, quyết định sử dụng biện pháp tránh thai”. Tỷ lệ cả hai
cùng bàn bạc, quyết định rất cao, chiếm tới 51,7%, so sánh giữa nam và nữ về
quyền quyết định thì thấy ở đây có sự vƣợt trội của phụ nữ so với nam giới:
38,4% số gia đình đƣợc hỏi thì quyền quyết định là nữ; chỉ 1,3% là nam giới
quyết định (8,6% không thực hiện biện pháp tránh thai).(Bảng 7)
Nhƣ vậy, quan tâm đến kế hoạch hoá gia đình nhƣ vậy tƣơng đối bình
đẳng giữa vợ và chồng, nhƣng việc thực hiện chƣa tƣơng xứng với sự quan
tâm. Do nhiều lý do nên phần lớn ngƣời vợ đảm nhiệm. Sự đảm nhiệm vai trò
tránh thai là vai trò nặng nề mà xã hội đặt ra cho phụ nữ, có nhiều nguyên
nhân: một là bắt nguồn tƣ tƣởng xã hội cho rằng việc sinh đẻ là trách nhiệm
của phụ nữ, vì vậy các biện pháp tránh thai thƣờng hƣớng vào đối tƣợng là phụ
nữ; và hai là tƣ tƣởng của nhiều ngƣời cho rằng nam giới không cần thực hiện
việc liên quan đến sinh đẻ.
Cho dù có nhiều nguyên nhân, nhƣng ngƣời phụ nữ lại phải chịu thêm vai
trò kiểm soát việc sinh đẻ nhằm duy trì sự ổn định kinh tế của gia đình, và
cũng qua sự chấp nhận vai trò này, họ củng cố thêm địa vị của họ trong quan
hệ với ngƣời chồng.
Có thể thấy, ngƣời phụ nữ có vai trò cũng rất lớn trong việc thực hiện kế
hoạch hoá gia đình. Họ chiếm tỷ lệ cao hơn trong cả số ngƣời quyết định và
cả số ngƣời thực hiện biện pháp tránh thai. Việc thực hiện kế hoạch hoá gia
đình ở đây rất tốt, tỷ lệ con thấp, phù hợp với mục tiêu của nhà nƣớc là có sự
cố gắng rất nhiều từ phía phụ nữ. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy rằng do vai
trò thực hiện này quá nghiêng về ngƣời phụ nữ, sự tham gia thực hiện của nam
giới ở đây không cao. Sự bất bình đẳng trong thực hiện biện pháp tránh thai
- 64 -
gây thiệt thòi cho phụ nữ, nhất là những ngƣời có những khó khăn, vƣớng mắc
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
trong việc thực hiện các biện pháp tránh thai (ốm yếu, không phù hợp... thƣờng
ngƣời phụ nữ ít nói với chồng).
Quyết định nạo phá thai
Việt Nam đã đạt đƣợc những kết quả đáng mừng trong việc kìm hãm sự
tăng dân số, những chính sách, chƣơng trình vận động đã đem lại kết quả là
giảm nhanh chóng mức sinh, nhƣng có một điểm tối trong những thành quả
này là việc phòng ngừa thai chƣa đƣợc thực hiện chu đáo, dẫn đến tỷ lệ nạo hút
thai lại cao. Nạo hút thai không phải là một biện pháp tránh thai, là một
phƣơng pháp cuối cùng để thực hiện kế hoạch hoá gia đình “Nạo hút thai là
một biện pháp tình thế mà phụ nữ phải gánh chịu để kiểm soát sinh đẻ.” [13,
103]. Nạo phá thai là một hành động không nên thực hiện nhiều vì nó gây ảnh
hƣởng rất lớn đến cả sức khoẻ của ngƣời phụ nữ, đồng thời nó còn ảnh hƣởng
đến cả tín ngƣỡng, tâm lý của cặp vợ chồng.
Trong các hộ gia đình mà đề tài này khảo sát, tỷ lệ thực hiện biện pháp
nạo phá thai khá cao, có tới 57,0% số gia đình đã từng thực hiện nạo phá thai -
đây là một con số đáng báo động; chắc chắn công tác tuyên truyền cho việc
phòng tránh thai còn cần có nhiều vấn đề cần phải thực hiện.
Trong số những cặp đã nạo phá thai, tỷ lệ bàn bạc, quyết định của cả hai
vợ chồng là 50%, sau đó là quyết định độc lập của ngƣời vợ: 47,7%; trong khi
- 65 -
đó tỷ lệ ngƣời chồng độc lập quyết định việc nạo phá thai chỉ có 2,3%.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Biểu đồ 7: Tỷ lệ phụ nữ và nam giới quyết định nạo hút thai
Nhƣ vậy, hoặc vợ quyết định hoàn toàn ( 47,7%) hoặc cả hai bàn bạc rồi
quyết đinh (50%) cho thấy trong việc phải giải quyết có thai ngoài ý muốn phụ
nữ vừa chịu thiệt hại về sức khoẻ vừa phải lo lắng quyết định.
Thông tin định tính cũng cho thấy, việc nạo hút thai thƣờng đƣợc quyết
định bởi ngƣời vợ vì: “Chồng có biết đấy là đâu, mình thông báo vỡ kế hoạch
ông ấy chẳng nói gì, bảo chở đi bệnh viện ông ấy nói nhờ Dì ( em gái) chở đi,
phụ nữ thấy là tự quyết định, tự đi giải quyết thôi.” (PVS 3 - Nữ); “Thực tế,
phụ nữ có gia đình rồi mà đi nạo phá thai cũng lớn lắm, chứ chả cứ đám thanh
niên như báo chí nói nhiều, cũng đáng báo động đấy, có người 45, 46 tuổi rồi
kinh nguyệt thất thường tưởng không vấn đề gì, cũng lại phải đi nạo thai, đến
khổ. Chị em quyết định thôi.”(PVS 10 - Cán bộ phƣờng)
Ngƣời vợ đơn phƣơng quyết định nạo phá thai còn cao (47,7%) cho thấy
sự thiếu quan tâm của ngƣời chồng trong vấn đề qua trọng của gia đình này.
Ngƣời vợ vẫn bị coi là “con ngƣời của sinh đẻ”, việc đẻ con là của phụ nữ, còn
nam giới lo lắng những công việc trụ cột của gia đình. Sự quá thiên lệch việc
quyết định nạo phá thai thuộc vào vai trò của ngƣời vợ cho thấy sự bất bình
đẳng vai trò giới trong gia đình này vẫn còn lớn.
Trong số các gia đình cho biết có sự bàn bạc giữa hai vợ chồng về vấn đề
nạo hút thai cho thấy quyền quyết định của nam giới vừa thể hịên vai trò ngƣời
chồng, vừa thể hiện tình cảm chia sẻ : “Tất nhiên là phải bàn bạc với nhau
chứ. Con cái đủ rồi, hai gái, quyết định không đẻ nữa, chẳng may nhỡ ra có
bảo với chồng, cũng đắn đo nhưng rồi lại bảo thôi thế là đi giải quyết, có bàn
với nhau, Hai vợ chồng phải bàn bạc. Vợ chồng cùng quyết định.” (PVS 2-
Nữ); “Cũng có bị vỡ kế hoạch, mình cũng lo cho vợ, không biết vợ nghĩ thế
nào, làm thằng đàn ông mình cũng thấy ái ngại, cuối cùng bàn bạc với nhau
rồi quyết định ” (PVS 6 - Nam )
- 66 -
Chăm sóc sức khoẻ sinh sản
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản, giai đoạn trƣớc và sau khi sinh là một
giai đoạn quan trọng. Trong thời gian này, ngƣời phụ nữ cần đƣợc nghỉ ngơi
hoàn toàn để cơ thể phục hồi, đồng thời cần có thời gian để chăm sóc con, để
tạo sữa nuôi con...
Nhà nƣớc đã rất chú trọng đến vấn đề bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ sơ
sinh. Sự quan tâm này đã đƣợc thể hiện trong nhiều văn bản pháp luật.
“1. Ngƣời lao động nữ đƣợc nghỉ trƣớc và sau khi sinh con, cộng lại từ
bốn đến sáu tháng do Chính phủ quy định, tuỳ theo điều kiện lao
động, tính chất công việc nặng nhọc, độc hại và nơi xa xôi hẻo lánh.
Nếu sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, ngƣời
mẹ đƣợc nghỉ thêm 30 ngày. Quyền lợi của ngƣời lao động nữ trong
thời gian nghỉ thai sản đƣợc quy định tại Điều 141 và Điều của Bộ
luật này.
2. Hết thời gian nghỉ thai sản quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có
nhu cầu, ngƣời lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không
hƣởng lƣơng theo thoả thuận với ngƣời sử dụng lao động.”[7, 70-
71].
Trong các gia đình đƣợc khảo sát họ là lao động tự do, theo nghĩa họ
không phải làm trong các doanh nghiệp, nhà nƣớc,… họ không bị quản lý về
kỷ luật lao động cho nên có thể số ngày nghỉ sinh đẻ do hai vợ chồng tự quyết
định. Trong khi tìm hiểu đối tƣợng này, chúng tôi hy vọng ngƣời phụ nữ sẽ
đƣợc nghỉ nhiều hơn so với quy định chung của luật pháp, nhƣng những số
liệu thu thập đƣợc đã làm chúng tôi ngạc nhiên. Theo số liệu đề tài có đƣợc,
ngƣời phụ nữ trong gia đình buôn bán nhỏ có thời gian nghỉ trung bình là 2,6
tháng, trong đó, ngƣời đƣợc nghỉ hoàn toàn ít nhất là 1 tháng và ngƣời đƣợc
nghỉ lâu nhất là 12 tháng; cụ thể là 73,5% số ngƣời phụ nữ buôn bán nhỏ chỉ
đƣợc nghỉ từ 2 tháng trở xuống (1 tháng chiếm 29,8% ; 1,5 tháng chiếm
- 67 -
11,3%; 2 tháng chiếm 32,5%).
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Tất cả các phỏng vấn sâu đều công nhận là nghỉ sinh con ít: “... cũng nghỉ
trong cữ, buôn bán nó cũng có thời điểm của nó nên cố bán hàng, vẫn phải
chạy ra chạy vào giặt giũ quần áo, không làm việc nặng thôi như chuyển hàng,
khuân vác.. .” (PVS 3- Nữ ); “Nói chung là dân làm ngoài thì ở đâu cũng vậy
thôi, làm ngoài lo mà làm ăn, nhà nước có trả lương đâu mà nghỉ, làm nhà
nước nghỉ có chế độ thì nghỉ theo đúng quy định.” (PVS 2- Nữ ); “ Chị em
trong các gia đình buôn bán nhỏ, tự do thường không có chế độ, họ cũng làm
việc sớm hơn đấy. Cũng tuỳ điều kiện gia đình và sức khoẻ, có người cũng
nghỉ lâu hơn” (PVS 10 - Cán bộ phụ nữ phƣờng); “ Tôi có đâu hơn 3 tháng là
làm việc luôn, ngắn hơn so với những người bình thường.” (PVS7 - Nữ) (
Ngƣời bình thƣờng ở đây theo nghĩa là ngƣời đi làm trong cơ quan nhà nƣớc).
Lý do nghỉ đẻ ít có hai loại chính, nhƣng đây đối với ngƣời phụ nữ buôn
bán nhỏ thì đây là những lý do chính đáng.
Nguyên nhân thời gian nghỉ đẻ ít:
Do hoàn cảnh kinh doanh bắt buộc:
“Nhưng mình nghỉ mình lại không có thu nhập, cho lên phải đi làm sớm,
làm nhà nước thì nghỉ theo đúng chế độ nhà nước quy định mà vẫn được
hưởng lương, đây chúng tôi tự làm tự ăn thì lo làm sao tranh thủ làm được thì
làm. Mình nghỉ ngồi một chỗ bí người lắm” (PVS 7- Nữ)
“Thường thì những phụ nữ này họ nghỉ đẻ ngắn thôi. Họ phải lo kiếm
sống, vì cuộc sống trông đợi vào của hàng của họ, nghỉ là không có tiền”
(PVS 10 - Cán bộ phƣờng);
Do việc làm nhẹ nhàng, điều kiện sống đảm bảo, không ảnh hƣởng nhiều
đến sức khoẻ:
“Thường thì họ có kiêng cữ, làm việc nhẹ nhàng, gọi là kết hợp vừa chăm
- 68 -
con vừa trông nom của hàng” (PVS 10 - Cán bộ phụ nữ phường);
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
“Bây giờ nhà cửa tốt, khăn áo cho con cẩn thận rồi để nó ở cửa hàng
cũng được chứ sao? Cửa hàng cũng như nhà mình mà.” (PVS9 -Nữ)
Có thể những lý do mà ngƣời kinh doanh đƣa ra cũng có phần hợp lý,
nhƣng chúng tôi cho rằng thì thời gian nghỉ việc của ngƣời phụ nữ nhƣ vậy là
quá ngắn. Thời gian mà ngƣời phụ nữ đƣợc nghỉ nhƣ vậy không thể đảm bảo
cho họ phục hồi tốt sức khoẻ sau khi sinh, điều này chính những ngƣời phụ nữ
cũng biết. Tuy nhiên, họ vẫn tham gia vào hoạt động kinh tế và sinh hoạt của
gia đình để không bị coi là ngƣời thụ hƣởng phúc lợi gia đình, họ chứng tỏ vai
trò kinh tế gia đình của họ đảm nhiệm tốt, tốt hơn vị trí của họ trong giai đoạn
nghỉ ngơi.
Đây là sự xung đột vai trò mà ngƣời phụ nữ không thể nào tránh khỏi: vai
trò nghỉ ngơi để đảm bảo sức khoẻ mâu thuẫn với vai trò hoạt động kinh tế và
chăm sóc gia đình. Để xoá bỏ sự xung đột vai trò này của phụ nữ, cộng đồng
cần phải có những suy nghĩ tiến bộ không nên gán hoàn toàn trách nhiệm sinh
đẻ vào ngƣời phụ nữ, và phải nhận thức đƣợc tầm quan trọng của nhiệm vụ tái
sản xuất con ngƣời của họ.
Đồng thời, ngƣời chồng và những thành viên khác của gia đình cần tạo
điều kiện tốt hơn, cho ngƣời phụ nữ thực sự đƣợc nghỉ nhiều hơn để họ phục
hồi sức khoẻ và và đảm bảo sức khoẻ sinh sản cho phụ nữ..
Khi xem xét điều kiện nghỉ đẻ của phụ nữ ở những gia đình kinh doanh
tại nhà và gia đình phải thuê cửa hàng để kinh doanh, chúng tôi cũng thấy có
một điểm đáng chú ý sau: Gần một nửa (46,3%) số phụ nữ ở gia đình có điều
kiện kinh doanh ở nhà là chỉ có thời gian nghỉ hoàn toàn 1 tháng sau khi sinh;
còn những phụ nữ ở các gia đình phải thuê cửa hàng thì thƣờng có thời gian
nghỉ nhiều hơn, 67,9% số phụ nữ đƣợc nghỉ từ 2 tháng trở lên. Ngƣời phụ nữ ở
gia đình có điều kiện kinh doanh ở nhà thƣờng làm việc sớm hơn do họ dễ thực
hiện việc kinh doanh hơn so với những ngƣời phải đi ra nơi thuê vì những điều
- 69 -
kiện sinh hoạt, buôn bán khó hơn. Đây là yếu tố kinh doanh tác động đến vấn
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
đề sức khoẻ sinh sản của phụ nữ, ngƣời đƣợc nghỉ nhiều hơn là ngƣời đi thuê
cửa hàng.
Trong thời gian ngƣời phụ nữ nghỉ khi sinh, công việc kinh doanh phần
lớn do ngƣời chồng (57,1%) đảm nhiệm; còn công việc nội trợ, việc nhà thì
các thành viên trong gia đình đóng vai trò quan trọng (45,7%) (xem bảng 4)
Bảng 4: Ngƣời làm việc nhà và buôn bán khi ngƣời phụ nữ nghỉ sinh (%)
Chồng Ngƣời trong gia đình Thuê
Làm việc nhà 31,1 45,7 23,2
Kinh doanh 57,1 34,0 8,8
Nhƣng nếu so sánh hai hình mẫu: gia đình đi thuê cửa hàng và gia đình
buôn bán tại nhà thì thấy rằng: cửa hàng tại nhà ở sự trợ giúp của chồng và
ngƣời nhà cao hơn so với những gia đình phải thuê cửa hàng, sự trợ giúp của
chồng và ngƣời nhà không chỉ trong buôn bán mà cả trong các công việc nôi trợ
gia đình. Hoạt động của ngƣời chồng ở những gia đình thuê cửa hàng kém đi thì
nhƣờng vào đó là vai trò hoạt động của những ngƣời giúp việc (xem bảng 5).
Bảng 5: Tỷ lệ ngƣời làm buôn bán thay vợ khi sinh
đối chiếu với địa điểm buôn bán của gia đình
Khi đó ai buôn bán
Tổng Người trong gia đình Chồng Thuê
Địa điểm Thuê 56,3% 30,0% 13,8% 100,0%
buôn bán Nhà của gia đình 57,8% 39,1% 3,1% 100,0%
Ngƣời chồng là ngƣời đóng vai trò quan trọng nhất thay ngƣời phụ nữ
trong việc buôn bán khi ngƣời phụ nữ không thể thực hiện buôn bán, nhƣng họ
không đóng vai trò tốt nhƣ vậy trong việc thực hiện các công việc khác trong
- 70 -
gia đình. Việc này không phải do ngƣời chồng không làm tốt công việc nội trợ,
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
mà do khi ngƣời phụ nữ nghỉ sinh con, ngƣời họ hàng của cả hai bên vợ, chồng
đều đến giúp họ. Quan niệm truyền thống bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại,
biểu hiện ở suy nghĩ cho rằng đàn ông không thích hợp cho việc nội trợ nên
đƣợc những thành viên trong gia đình, họ hàng giúp nhiều, còn việc buôn bán
họ tham gia ít hơn vì ngại việc kinh tế.
Vai trò ngƣời giúp việc đã trở lên quan trọng hơn ở trong những gia đình
phải thuê cửa hàng, nhất là trong việc chăm sóc hoạt động buôn bán và hoạt
động sinh hoạt gia đình ở giai đoạn này. Sự phân công lao động, nhƣờng một
số công việc cho ngƣời làm thuê này theo chúng tôi là tốt, phát huy đƣợc các
vai trò của các thành viên trong gia đình, kể cả vai trò ngƣời giúp việc (với
điều kiện ngƣời giúp việc là ngƣời tin tƣởng đƣợc).
Tiểu kết
Trung bình các gia đình buôn bán có số con thấp. Ngƣời chồng cũng quan
tâm đến biện pháp tránh thai nhƣng ít thực hiện biện pháp tránh thai, tỷ lệ
ngƣời vợ thực hiện các biện pháp tránh thai nhiều gấp đôi ngƣời chồng. Các
cuộc nạo thai thƣờng có quyết định của cả hai vợ chồng, tỷ lệ vợ độc lập quyết
định nạo thai tƣơng đối cao, trong khi tỷ lệ ngƣời chồng độc lập quyết định nạo
thai là không đáng kể.
Thời gian nghỉ sinh con của ngƣời phụ nữ ngắn; ngƣời phụ nữ buôn bán
tại nhà nghỉ ít thời gian hơn ngƣời thuê cửa hàng để buôn bán. Trong thời gian
ngƣời vợ nghỉ buôn bán, chồng là ngƣời chủ yếu thay vợ buôn bán; còn công
việc nội trợ chủ yếu do thành viên khác trong ngoài gia đình làm thay.
2.4. Vai trò giới trong chức năng chăm sóc, giáo dục của gia đình
2.4.1. Trong hoạt động chăm sóc gia đình
Tái sản xuất sức lao động là việc bù đắp sức lực ngƣời lao động sau thời
- 71 -
gian sản xuất. Việc tái sản xuất sức lao động thƣờng đƣợc diễn ra trong gia
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
đình, thể hiện qua hoạt động nội trợ gia đình và những hoạt động nghỉ ngơi,
giải trí.
Khi tìm hiểu về vai trò giới trong gia đình không thể không quan tâm đến
các chỉ báo về việc phân công lao động giữa họ trong các công việc gia đình.
Nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy, trong lĩnh vực tái sản xuất sức lao động,
cho đến nay dù đã có biến đổi nhƣng vẫn còn tồn tại rất rõ nét phân công lao
động truyền thống theo giới. Nghĩa là, trong số các công việc kể trên thì phụ
nữ là ngƣời đảm nhiệm chính. Số liệu điều tra cơ bản về gia đình của Trung
tâm nghiên cứu khoa học về Gia đình và Phụ nữ, năm 1998- 2000 cho thấy.
Trong gia đình hiện nay có tới 77,9% ngƣời vợ đảm nhiệm việc nấu nƣớng,
86,9% đảm đƣơng việc mua bán, 77,6% là giặt giũ quần áo, trong khi đó tỷ lệ
làm việc tƣơng ứng của nam giới là 2,1%; 2,3%; 1,9%. Tỷ lệ gia đình do cả hai
vợ chồng cùng chia sẻ công việc trên chƣa nhiều.[14, 45]
Việc phân công lao động truyền thống, bất bình đẳng trong gia đình đã
gán công tác tái tạo sức lao động cho phụ nữ đã trở thành quan niệm của nhiều
ngƣời trong xã hội Việt Nam : Quan niệm “việc nhà là việc của đàn bà” còn rất
nặng nề trong nhận thức và hành động của mỗi ngƣời... Kiểu phân công lao
động theo giới này đã định hình từ rất sớm, rất rõ, rất lâu bền và rất khó thay
đổi.” [13, 78]
Những lao động phục vụ tái sản xuất sức lao động trong gia đình thƣờng
do phụ nữ đảm nhận và vẫn chƣa đƣợc xã hội nhìn nhận đúng giá trị của nó.
Các nhà nghiên cứu xã hội đã đánh giá: “Lao động không đƣợc trả lƣơng
nhƣng lại thu hút nhiều sức lực và thời gian của phụ nữ là lao động gia đình.
Ngoài việc mang thai và sinh đẻ theo “thiên chức”, phụ nữ phải thực hiện các
công việc nhà mà quan niệm truyền thống đã gán cho họ thành vai giới đặc
trƣng “vai ngƣời mẹ, ngƣời vợ, ngƣời chị, ngƣời em gái”. Họ phải làm các
- 72 -
công việc nội trợ từ chăm sóc đến dạy dỗ con cái, từ đi chợ nấu cơm đến giặt
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
giũ, lau dọn nhà cửa, từ quản lý “tay hòm chìa khoá” đến quan hệ nội ngoại.”
[13, 77]
Ở phần này, đề tài chỉ tập trung vào một số dạng hoạt động nhƣ đi chợ,
nấu ăn, giặt quần áo, chăm sóc con cái. Muốn tập trung tìm hiểu vai trò giới
trong công việc nội trợ trong các gia đình buôn bán nhỏ có sự biến đổi nào
khác không so với gia đình nói chung, khi mà ngƣời phụ nữ ở gia đình này
đảm nhận hầu hết các công việc buôn bán trong gia đình, đồng thời là ngƣời
tƣơng đối bình đẳng với chồng trong việc ra các quyết định buôn bán.
Chúng tôi lựa chọn những công việc hàng ngày mà các gia đình hay thực
hiện để tìm hiểu sự tham gia của phụ nữ và nam giới vào trong các công việc
này.
Qua kết quả của điều tra, chúng tôi thấy tỷ lệ “ngƣời phụ nữ đảm nhận
- 73 -
chính” chiếm gần một nửa số công việc
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Bảng 6: Sự đảm nhận chính trong các công việc nội trợ hàng ngày (%)
Người đảm nhiệm Không Cả Ngƣời Công việc Vợ Chồng Tổng thực hai khác hiện
Giặt giũ 0,7 9,3 39 0,0 100 51,0
Nấu ăn 2,0 9,3 3,8 0,0 100 84,9
Rửa bát đĩa 1,0 9,9 41,7 0,0 100 47,7
Mua thức ăn, đi chợ 3,3 3,3 10,0 0,0 100 83,4
1,3 19,2 2,0 0,0 100 77,5
11,3 32,5 0,0 7,9 100 48,3
26,5 23,8 2,0 9,3 100 38,4 Mua sắm đồ dùng sinh hoạt hàng ngày Dạy con, quản lý con học Đưa đón con đi học
Quan sát bảng trên cho thấy hầu hết các công việc nội trợ đƣợc thực hiện
bởi phụ nữ. Việc đi chợ, mua thức ăn phụ nữ thực hiện là 83,4% trong khi đó
nam giới chỉ có 3,3 % . Tuy nhiên, có một việc mà trong gia đình buôn bán
nhỏ nam giới có vƣợt trội hơn nữ giới đó là việc đƣa đón con đi học. Có thể
những phụ nữ này bận với việc mở của hàng buổi sáng cũng nhƣ đông khách
mua hàng vào giờ tan tầm.
Qua phỏng vấn sâu, việc nội trợ cũng đƣợc nhiều ngƣời cho là của phụ
nữ: “ Tôi làm những công việc đó từ giặt giũ, cơm nước, con cái. Phụ nữ phải
làm các công việc đó chứ để chồng làm thì có mà cơm không có mà ăn. Đi chợ
thì nam giới không thạo, mua đắt, không ngon không biết chọn” (PVS 4- Nữ).
. “ Hầu như các bà mẹ về nhà lại làm cơm nước, giặt giũ. ” (PVS 10 - Cán bộ
phƣờng); “Hầu như vợ làm, tôi thỉnh thoảng tôi có đi mua thức ăn lúc nhỡ, dạy
con học thì có.” (PVS 5 - Nam)...
Mức độ nam giới làm công việc nội trợ, theo điều tra của chúng tôi, nhiều
ngƣời chồng công nhận là có tham gia vào công việc nội trợ, nhƣng khi hỏi kỹ
- 74 -
hơn thì họ là ngƣời tham gia, chứ không phải làm chính. Về vấn đề này, chúng
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
tôi cũng lấy đƣợc nhiều ý kiến: “Tôi nghĩ là vợ tôi làm việc cũng mệt nhọc,
công việc nội trợ nam giới cũng làm được, mình đỡ được lúc nào thì đỡ, nhưng
đàn ông vụng về, làm nói chung là kém hơn phụ nữ, mình làm sao nấu ngon
như phụ nữ được.” (PVS 6 - Nam); “Có, chồng tôi có làm, à nhưng mà, phải
nhờ mới làm, các ông ấy ngại nhất rửa bát.” (PVS7 - Nữ).
Suy nghĩ của ngƣời chồng là công việc nội trợ nam giới làm cũng đƣợc,
chứ không riêng của phụ nữ; nhƣng trong hành động thực tế, công việc nội trợ
vẫn là của phụ nữ làm là chính. Theo chúng tôi, đây là một khoảng cách khá
lớn giữa suy nghĩ và hành động, ngƣời chồng đã suy nghĩ tiến bộ, nhƣng hành
động còn mang tính bất bình đẳng
Bên cạnh công việc nội trợ, chăm sóc trẻ em là một nhiệm vụ quan trọng
của gia đình, nó góp phần tạo cho thế hệ kế tiếp một sự khởi đầu tốt nhất cả về
thể chất lẫn tinh thần.
Không chỉ là một nhiệm vụ đơn thuần là chăm sóc thế hệ kế cận, việc
chăm sóc trẻ em còn có tác dụng tạo dựng quan hệ thân mật giữa các cá nhân
trong gia đình, qua việc làm đó những tình cảm giữa các cá nhân trong gia đình
đƣợc nảy sinh và phát triển : “Chúng ta đều biết việc quan tâm, chăm sóc trẻ
em có ý nghĩa quan trọng đối với gia đình và xã hội. Trong phạm vi mỗi gia
đình, việc thực hiện tốt công việc này sẽ làm thoả mãn nhu cầu tình cảm của
mỗi thành viên trong gia đình, duy trì sự ổn định và phát triển liên tục của các
thế hệ.” [2, 77]
Chăm sóc con cái cũng thể hiện rất rõ nét vai trò của phụ nữ và nam giới.
Bảng 7: công việc chăm sóc con (%)
Người thực hiện Công việc Vợ Chồng Cả hai Tổng Ngƣời khác Không thực hiện
Ăn uống, ngủ nghỉ 4,6 11,3 0,7 1,3 100 82,1
- 75 -
Tắm giặt 9,3 11,3 0,0 13,2 100 66,2
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Trông nom, nhắc nhở 38,4 15,2 0,7 4,0 100 41,7
Sức khoẻ 2,6 21,2 0,7 3,3 100 72,2
Kết quả từ bảng trên cho thấy, phụ nữ thực hiện nhiều hơn hẳn nam giới
ở tất cả các công việc nuôi dƣỡng nhƣ ăn, mặc, tắm giặt vệ sinh, ngủ nghỉ, sức
khoẻ của con. Thông tin trên càng khẳng định hơn nữa về cái gọi là “thiên
chức” của phụ nữ.
Việc nuôi dƣỡng con, nói chung cũng gần nhƣ trùng vào việc nuôi dƣỡng
gia đình, và ngƣời vợ thƣờng là ngƣời đảm nhận chính. Kể cả khi con cái đã
lớn hơn chúng có khả năng tự chăm sóc thì ngƣời phụ nữ, ngƣời mẹ vẫn dành
sự quan tâm của mình đến chúng từ ăn uống, sức khoẻ… Ngƣời phụ nữ trong
các gia đình buôn bán nhỏ vẫn là ngƣời nội trợ chính và nuôi dƣỡng con cái,
cho dù họ đóng góp rất nhiều cho kinh tế, và thành quả kinh tế đã chứng minh
khả năng của họ.
Ngƣời mẹ, cho dù họ có bận bán hàng, mua hàng và lo lắng việc buôn bán
đến đâu thì họ vẫn phải làm nhiệm vụ chăm sóc con cái; tới 92,1% ngƣời đƣợc
hỏi cho rằng nữ tốt hơn nam, 2,0% cho rằng nam tốt hơn nữ và 6,0% cho rằng
nam nữ nhƣ nhau. Ở một số gia đình buôn bán nhỏ, ngƣời phụ nữ lại cho rằng
việc buôn bán tại nhà ở tạo điều kiện thuận tiện cho việc chăm sóc con, có điều
kiện hơn để lo lắng, để ý đến cái ăn, cái mặc của con: “Buôn bán tại nhà thuận
tiện chăm nom con cái. Như nhà tôi, tôi lo cho ăn sáng chu đáo, không máy khi
cho tiền đi ăn quà sáng. Cơm mình nấu lấy, ngon lại rẻ, bảo đảm vệ sinh con
cái ăn vào yên tâm. Mấy đứa con tôi nuôi đứa nào cũng khoẻ mạnh” (PVS 3 –
Nữ).
Vai trò giới trong hoạt động nội trợ, chăm sóc con trong nhóm gia đình
buôn bán nhỏ nghiêng về ngƣời thực hiện cũng nhƣ quyết định là phụ nữ. Thực
tế này cũng có sự tƣơng đồng với các nhóm gia đình khác, ở các vùng miền
- 76 -
khác nhau. Không có sự khác biệt nào đáng kể.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
2.4.2.Trong hoạt động giáo dục con cái
Gia đình là môi trƣờng xã hội hoá đầu tiên của mỗi con ngƣời, gia đình là
cái nôi nuôi dƣỡng con ngƣời, là môi trƣờng quan trọng hình thành và giáo dục
nhân cách, ở đó cá nhân đƣợc tạo những điều kiện phát triển hoàn thiện nhất
mà các thiết chế khác không thể thay thế đƣợc. Chính vì vậy, trong chỉ thị số
55- CT/TW ngày 28 tháng 6 năm 2000 của Bộ Chính trị đã yêu cầu “ Đề cao
vai trò và trách nhiệm của gia đình, giúp đỡ và tạo điều kiện cần thiết để các
gia đình thực hiện trách nhiệm đối với thế hệ trẻ, tạo môi trƣờng lành mạnh
cho sự phát triển của trẻ em. Tôn trọng và bảo đảm cho trẻ em đƣợc thực hiện
các quyền và bổn phận trƣớc gia đình và xã hội”
Trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội hiện nay, lựa chọn tƣơng lai cho
con đóng vai trò quan trọng trong các quyết định của đời sống gia đình, nhiều
gia đình không ngần ngại đầu tƣ tiền của để con cái đƣợc nhận những phƣơng
tiện học tập tốt nhất.
Trong khuân khổ đề tài này chỉ đi vào một số nội dung giáo dục con cái
và thông qua đó mô tả vai trò giới.
Bảng 8: Quyết định việc học tập, hƣớng nghiệp cho con cái (%)
Không Người thực hiện Ngƣời Vợ Chồng Cả hai Tổng thực Công việc khác hiện
Quyết định chọn 11,3 9,3 0,0 13,2 100 66,2 trường, lớp cho con
Quyết định học thêm 38,4 4,0 15,2 100 0,7 41,7
0,7 3,3 2,6 21,2 100 72,2 Định hướng nghề nghiệp cho con
- 77 -
100 32,5 11,3 0,0 7,9 48,3 Dạy, kèm, quản lý con học tại nhà
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Nếu ăn uống, ngủ nghỉ, sức khoẻ…của con thiên về phụ nữ chăm sóc thì
những việc nhƣ quyết định chọn trƣờng, chọn lớp; học thêm; định hƣớng nghề
nghiệp cũng nhƣ dạy, kèm cặp học tập cho con cái đƣợc cả hai bố mẹ cùng bàn
bạc. quyết định với tỷ lệ cao nhất, lần lƣợt là 66,2%, 41,7%, 72,2% và 48,3%.
Mức độ cả hai cùng quyết định cho thấy tƣơng quan về mức độ quan tâm của
cả phụ nữ và nam giới đối với những việc liên quan đến sự phát triển của con
cái, tƣơng lai của chúng và vì đó cũng là việc quan trọng, đặc biệt khi mà việc
đầu tƣ cho con cái trở thành một mục tiêu của gia đình.
Mô hình gia đình truyền thống thƣờng nam giới là trụ cột và ra quyết định
những việc liên quan đến tƣơng lai của con cái thì trong nghiên cứu này đã cho
thấy sự bình đẳng tƣơng đối, có sự bàn bạc ra quyết định giữa vợ và chồng.
Trong các quyết định trên số liệu lại cho thấy phụ nữ độc lập ra quyết
định cao hơn nam giới ( trừ quyết định hƣớng nghiệp). Để tìm hiểu vấn đề này
các thông tin định tính cho thấy: “Vợ tôi lo lắng việc học hành của con cái,
xung quanh con nhà người ta đi học thêm vợ tôi cũng quyết cho con đi học
thêm, ai mách ở đâu thầy hay là cho đi. ở trường thì chọn cô, chọn cho con
vào lớp cô dạy tốt, chọn cô hơn chọn trường. Những việc đó vợ tôi quyết định,
vì cũng chiu khó tìm hiểu”. (PVS 6 - Nam); “ Tôi trong ban phụ huynh của
lớp, việc học của con có thế nào tôi quyết luôn” (PVS 1- Nữ).
Cũng có ý kiến cho rằng nam giới ít dạy con, kèm cặp con học bài hơn
phụ nữ là do: “Tại bố nó chiều các con hơn, nhất là con trai thì càng chiều, bố
chiều thì con càng nhũng nhiễu hơn. Mình nghiêm khắc hơn; bố nó chiều con
hơn thì khó nói được nó.” (PVS 1- Nữ); “Tính nóng như lửa ấy, dạy được câu
trước câu sau đã quát ầm ĩ, mình ngồi ngoài sót ruột, lắm lúc cũng cãi nhau,
thế là mình phải vào dạy.” (PVS7 - Nữ,)
Cũng có những nhận thức cho rằng ngƣời đàn ông là quan trọng trong
việc dạy con, họ có cái “uy”, nhƣng cái “uy” đó nên đƣợc sử dụng tiết kiệm,
- 78 -
còn bình thƣờng thì là ngƣời vợ đảm nhận là đủ: “Con do vợ mình dạy học,
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
nhưng mình là đàn ông, các cụ nói “một tiếng cha bằng ba tiếng mẹ” mình
cũng phải để ý vấn đề đó chứ không phải để tất cả cho vợ, không được. Trẻ
con bao giờ cũng sợ bố hơn sợ mẹ.” (PVS 8 - Nam)
Sự giúp đỡ việc học tập của con cái thƣờng chỉ dừng lại ở hành động
giám sát học tập của con, “về cơ bản đối với việc giáo dục trẻ em gia đình chỉ
còn đóng vai trò giám sát, nhắc nhở con thực hiện giờ giấc nội quy học tập của
trƣờng, học và làm bài tập ở nhà.” [31, 323]. Trong nhóm gia đình tham gia
khảo sát, việc bảo ban, giám sát con cái học thể hiện vai trò giữa phụ nữ và
nam giới tƣơng quan nhau ( phụ nữ 32,5%, nam giới 11,3%, cả hai 48,3%).
Lý giải về việc chỉ giám sát con học, theo nhƣ những phỏng vấn sâu mà
chúng tôi thu đƣợc, thì là sự thiếu trình độ để dạy con: “Chương trình học bây
giờ khác ngày xưa, bố mẹ không biết dậy con đâu, chỉ trông xem nó học, nó
chơi thì nhắc nhở nó.”(PVS 10 - Cán bộ phƣờng);
Hƣớng nghiệp, theo nhƣ các nghiên cứu đã khẳng định, không phải chỉ
đƣợc thực hiện khi đứa trẻ đã rời ghế nhà trƣờng : “Giáo dục hƣớng nghiệp
đƣợc thực hiện trong thời gian trẻ em đang học trong các trƣờng phổ thông.
Gia đình trong thời gian này có trách nhiệm định hƣớng cho trẻ thực hiện.”
[30, 21]. Chính vì những vậy, trong thời gian đứa trẻ đi học, nhiều gia đình đã
không chỉ đầu tƣ cho con học (tiền bạc, tìm thầy cô giáo tốt, thời gian học tập,
phƣơng tiện..) mà còn quan tâm đến việc định hƣớng nghề nghiệp cho con.
Định hƣớng nghề nghiệp của con là một vấn đề ảnh hƣởng lớn đến tƣơng
lai của đứa trẻ. Vì vậy, hƣớng nghiệp đƣợc thực sự quan tâm từ cả phụ nữ và
nam giới, tỷ lệ độc lập ra quyết định của nam giới và của phụ nữ không cao,
nhƣờng vào đó là cùng bàn bạc, thực hiện lên tới 72,2%. Rõ ràng, những gia
đình buôn bán nhỏ đã có sự quan tâm định hƣớng nghề nghiệp cho con cái, vai
- 79 -
trò này tƣơng quan giữa hai giới.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Có nhà nghiên cứu cho rằng ngƣời dân ở đô thị đang gặp phải những vấn
đề khó khăn trong việc giáo dục con cái do chịu ảnh hƣởng của vai trò phát
triển kinh tế gia đình : “Lao động gia đình của các gia đình Thủ đô hiện cũng
đang gặp nhiều khó khăn, nổi cộm là thiếu thời gian làm việc nhà, nhất là thiếu
thời gian chăm sóc, giáo dục con, do phải tập trung vào lao động kiếm sống; hệ
thống dịch vụ phục vụ lao động gia đình chƣa phù hợp với mức thu nhập của
nhiều ngƣời và chất lƣợng phục vụ chƣa đƣợc nhƣ mong muốn.” [30, 191-192]
Việc giáo dục con đƣợc thể hiện ở việc chuẩn bị cơ sở vật chất cho con
ngay cả khi đến trƣờng, hƣớng nghiệp, hƣớng dẫn con trong các ứng xử với xã
hội. Theo số liệu của chúng tôi, hầu nhƣ tất cả các công việc liên quan đến học
tập của con cái thì sự tham gia của độc lập của ngƣời phụ nữ hoặc cả hai vợ
chồng cùng thực hiện chiếm tỷ lệ cao. Ngƣời chồng không chiếm tỷ lệ cao
trong sự tham gia độc lập, trừ việc đƣa đón con đi học (xem bảng 9).
Tuy các bậc cha mẹ biết rằng việc chăm sóc cho việc học hành của các
con nhƣ vậy là không đủ, nhƣng do tác động của hoạt động buôn bán (thời
gian làm việc quá dài) và do sự thay đổi nhanh đến chóng mặt của các giáo
trình giáo dục nên các bậc cha mẹ chỉ biết làm nhƣ vậy. Khó khăn trong giáo
dục con của các gia đình buôn bán nhỏ cũng không khác nhiều so với các gia
đình khác ở đô thị, theo số liệu của một cuộc điều tra xã hội học về vai trò giới
trong gia đình ở Hà Nội năm 2004 thì: “Có đến 37% các bậc cha mẹ thấy khó
khăn trong giáo dục con, trong đó thiếu kiến thức, kỹ năng là 19,3% và thiếu
thời gian là 15%.” [30, 113]
Theo kết quả điều tra các của chúng tôi, hầu hết (82,8%) các gia đình
buôn bán nhỏ xác nhận rằng họ gặp một hoặc nhiều khó khăn trong việc giáo
dục con. Chúng tôi đã liệt kê 4 khó khăn thƣờng gặp nhất của bậc cha mẹ trong
giáo dục con và nhận thấy rằng: Các khó khăn trong giáo dục con là “không có
- 80 -
thời gian” và “không có kiến thức” đều chiếm tỷ lệ cao, nhƣng “môi trƣờng xã
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
hội phức tạp” gây khó khăn lớn nhất cho các bậc cha mẹ. Những số liệu về khó
khăn gây cho cha mẹ trong giáo dục con đƣợc xếp thứ tự nhƣ sau:
Bảng 9: Những khó khăn trong việc dạy con (%)
Môi trƣờng xã hội phức tạp 68,9
Không có đủ kiến thức dạy con 47,7
Không có thời gian dạy con 33,8
Mâu thuẫn về cách dạy 9,9
Khác 0,7
Quan sát bảng trên cho thấy nổi lên biến số “Môi trƣờng xã hội phức tạp”
gây khó khăn cho việc giáo dục con chiếm tỷ lệ cao nhất (68,9%) trong tổng số
các gia đình đƣợc điều tra, sau đó mới đến các vấn đề nhƣ không có đủ kiến
thức để dạy con (47,7%) và không có thời gian dạy con (33,8%).
Những ngƣời làm kinh doanh tiếp xúc nhiều với xã hội, thậm chí có thể
nói là họ tiếp xúc trong môi trƣờng xã hội nhiều hơn cả môi trƣờng gia đình.
Họ có thể nhận biết môi trƣờng xã hội nơi họ sống rất rõ, mà môi trƣờng xã
hội đó đang đƣợc cảnh báo là: “tình trạng trẻ em hƣ, vị phạm pháp luật và tệ
nạn xã hội có chiều hƣớng gia tăng, đặc biệt là ở các thành phố lớn." [19, 183].
Khó khăn “môi trƣờng xã hội” và khó khăn về “không có đủ kiến thức
dạy con” là hai khó khăn khách quan, do tác động từ phía bên ngoài đến việc
dạy dỗ con cái.
Còn khó khăn “không đủ thời gian để dạy con” là khó khăn chủ quan, thể
hiện xung đột vai trò của ngƣời phụ nữ, vì nếu họ dành thời gian cho con nhiều
thì không đảm nhiệm tốt vai trò kinh tế; còn nếu đảm nhiệm tốt vai trò kinh tế
thì phải xao nhãng việc chăm sóc, quản lý con cái, đặc trƣng hoạt động của các
- 81 -
gia đình buôn bán thƣờng làm việc rất nhiều giờ trong ngày.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Chúng tôi cũng phát hiện đƣợc sự khác nhau giữa những khó khăn của
ngƣời buôn bán tại nhà ở với những ngƣời phải thuê cửa hàng
Nếu so sánh giữa những gia đình buôn bán tại nhà và đi thuê cửa hàng, thì
tỷ lệ những gia đình đi thuê cửa hàng gặp nhiều khó khăn trong việc giáo dục
con hơn
Bảng 10 : Tƣơng quan gia đình gặp khó khăn khi dạy con
với địa điểm buôn bán khác nhau (%)
Mâu tuẫn về cách dạy Không có kiến thức dạy con Môi trường xã hội phức tạp
Địa điểm Thuê Không có thời gian dạy con 62,8 48,8 58,3 52,9
kinh doanh Nhà của gia đình 37,2 51,2 41,7 47,1
Khó khăn của những gia đình phải thuê cửa hàng không phải là “môi
trƣờng xã hội phức tạp” mà “không có thời gian dạy con”. Những ngƣời đi
thuê cửa hàng thƣờng tách biệt với gia đình, họ không thƣờng xuyên có mặt ở
nhà, do vậy họ không thƣờng xuyên tiếp xúc với con, 60,8% số gia đình đi
thuê cửa hàng gặp khó khăn này, trong khi đó chỉ có 37,3% những ngƣời buôn
bán tại nhà gặp khó khăn này; điều này làm rõ thêm sự xung đột vai trò giữa
hoạt động buôn bán và hoạt động giáo dục con.
Ngoài việc tìm hiểu những khó khăn của cha mẹ trong giáo dục con cái,
chúng tôi còn tìm hiểu những sự lo lắng của cha mẹ đối với con. Những khó
khăn là những điều mà họ đã gặp phải.
Nói chung, việc giáo dục con cái của các gia đình buôn bán nhỏ, nhất là
của ngƣời phụ nữ đã đƣợc chú ý (tuy khả năng mà mức độ thực hiện là có
hạn), và các gia đình ở đô thị hiện nay đã có những thái độ tiến bộ trong việc
giáo dục con cái: “Hiện nay nhìn chung các bậc cha mẹ đã chú ý theo dõi uốn
nắn hành vi của con cái (57,2% số gia đình đƣợc hỏi).” [2, 90]. Một biểu hiện
- 82 -
của sự quan tâm này thể hiện ở lo lắng cho các quan hệ của con; cho dù họ
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
đang gặp phải những khó khăn đang cần khắc phục hoặc tìm giải pháp giải
quyết, họ đã có những quan tâm đến những vấn đề có thể chƣa xảy ra.
Việc giáo dục con lối sống, cách ứng xử có sự tham gia nhiều của ngƣời
phụ nữ, còn việc giúp đỡ, hƣớng dẫn, quản lý việc hƣớng nghiệp và học tập ở
nhà trƣờng cũng có sự đóng góp không nhỏ của phụ nữ.
Các câu trả lời lo lắng về vấn đề xã hội chiếm tỷ lệ cao ví dụ nhƣ: lo con
quan hệ bạn bè không tốt (69,1% đối với con trai; 61,3% đối với con gái); lo
con bị nhiễm tệ nạn xã hội (63,6% đối với con trai). Sự lo lắng của ngƣời cha
mẹ đối với con cái tập trung vào việc giáo dục con, điều này có thể thấy cho
thấy cha mẹ đã bắt đầu thấy sự thiếu hụt trong việc giám sát, giáo dục con.
- 83 -
Những lo lắng về vấn đề sức khoẻ, việc làm không chiếm tỷ lệ cao.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Bảng 11: Lo lắng đối với con cái hiện nay (%)
Đối với con trai Đối với con gái
Lo con không có việc làm 36,4 33,3
Lo con học hành không đến nơi, đến chốn 57,3 48,1
Lo con quan hệ bạn bè không tốt 69,1 61,3
Lo con bị nhiễm tệ nạn xã hội 63,6 40,7
Lo con sức khoẻ không tốt 31,8 64,8
Lo con bất hiếu với ông bà/cha mẹ. 13,6 12,0
Lo lắng khác 1,8 7,4
Một điều đáng ngạc nhiên là biến “Lo lắng con bất hiếu với ông bà/cha
mẹ” chiếm tỷ lệ thấp nhất trong những lo lắng của bố mẹ đối với con cái (đối
với con trai: 13,8%; đối với con gái: 12,0%).
Trong việc giáo dục con, ngƣời bố đóng vai trò quyền uy nhiều hơn là chỉ
bảo thực tế hàng ngày, nhƣng khi đánh giá về việc dạy bảo, giáo dục con, các
đối tƣợng đƣợc điều tra vẫn thiên lệch về vai trò của ngƣời bố trong giáo dục
con: chỉ còn 29,1% đồng ý rằng phụ nữ tốt hơn nam giới, còn đến 31,1% cho
rằng nam giới tốt hơn phụ nữ và 39,7% cho rằng nam nữ nhƣ nhau.
Tiểu kết
Nhìn chung, phần lớn công việc nhà mang tính chất nội trợ, phục vụ cho
cuộc sống gia đình thì ngƣời phụ nữ thực hiện với tỷ lệ cao, trong khi đó ngƣời
chồng thực hiện có tỷ lệ rất thấp; ngƣời chồng ít làm việc nội trợ không phải vì
họ coi đấy là công việc của đàn bà, mà vì là họ bận làm các công việc khác của
gia đình, họ có tham gia vào công việc nội trợ với vai trò phụ giúp khi cần.
Bên cạnh đó, những công việc mang tính chất phải lựa chọn để quyết
- 84 -
định cả hai vợ chồng cùng bàn bạc, thực hiện chiếm tỷ lệ lớn hơn đơn phƣơng
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
quyết định. Ngoài ra, các ý kiến cho rằng ngƣời vợ nuôi dƣỡng con tốt hơn,
nam giới giáo dục con tốt hơn.
Các công việc đôn đốc, quản lý con học tại nhà chiếm tỷ lệ cao nhất là do
phụ nữ thực hiện. Việc đầu tƣ cho con đƣợc thực hiện ở cả hai giới.
Những khó khăn trong việc giáo dục con một phần là do sự xung đột với
vai trò kinh tế mà ngƣời phụ nữ đảm nhận.
2.5 Vai trò giới trong chức năng tình cảm, tinh thần của gia đình
2.5.1 Tăng cường mối quan hệ tình cảm trong gia đình
Chức năng tình cảm là một trong bốn chức năng cơ bản của gia đình, nó
tạo sự đoàn kết của trong gia đình, tạo cho gia đình là một tổ ấm của mỗi cá
nhân, tăng cƣờng sự bền chặt của các quan hệ giữa vợ và chồng và giữa cha
mẹ và con cái.
Trong giai đoạn hiện nay, khi các gia đình dành sự quan tâm nhiều đến
phát triển kinh tế, có nhà khoa học đã lo lắng về vai trò của gia đình trong việc
thực hiện chức năng tình cảm: “Gia đình tập trung làm kinh tế hộ nên cũng có
thể coi nhẹ chức năng tình cảm và tổ ấm gia đình. Có thể nói đây không phải là
yếu tố chủ đạo trong phát triển của gia đình...” [18, 139-140]
Vậy thì, có phải việc quá tập trung vào vai trò phát triển kinh tế gia
đình sẽ làm giảm bớt vai trò thoả mãn tình cảm của các thành viên? Trong các
gia đình buôn bán nhỏ, công việc buôn bán thu hút phần lớn thời gian của cả
phụ nữ và nam giới, họ đã thực hiện vai trò xây dựng tổ ấm gia đình nhƣ thế
nào? Vì những lý do đó, chúng tôi xem xét vai trò giới trong việc thực hiện các
chức năng tăng cƣờng mối quan hệ của các thành viên.
“Ngày nay sự phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị
trƣờng có khả năng đem lại những tác động khác nhau đối với đời sống gia
đình và vị trí ngƣời phụ nữ. Có thể hoạt động kinh tế gia đình nhộn nhịp hơn,
- 85 -
chị em phát huy đƣợc phần chủ động của mình hơn trong việc tăng thêm nguồn
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
thu nhập chung cho ngân sách gia đình. Ngƣợc lại, quỹ thời gian bị hạn chế do
quá bận rộn với mục tiêu kinh tế chị em lại ít chú ý đến khía cạnh văn hoá tâm
lý làm cho hạnh phúc gia đình đôi lúc vƣợt khỏi tầm tay...” [19, 161-162]
Ở nghiên cứu này tập trung xem xét đến các hoạt động chung, những tiếp
xúc giữa các thành viên trong gia đình để tìm hiểu các hoạt động tạo ra sự gắn
kết của các gia đình buôn bán ở địa bàn nghiên cứu và vai trò của phụ nữ trong
các hoạt động chung đó. Những hoạt động chung đó nổi lên là ăn chung, giải
chí chung của gia đình và nói chuyện và chia sẻ giữa vợ chồng trong những
vấn đề cuộc sống thƣờng ngày.
Theo nhƣ số liệu điều tra của chúng tôi, trung bình các gia đình tổ chức
đƣợc 11,56 bữa ăn trong một tuần. Nếu chia theo ngày, tới 79,5% các gia đình
chỉ tổ chức ăn chung trong ngày đƣợc 1 bữa trở lên (xem biểu đồ 8).
Biểu đồ 8: Tổ chức bữa ăn
Chƣa có nhiều cuộc điều tra nào về tần xuất bữa ăn chung trong các gia
đình, nhƣng theo nhƣ thực tế quan sát tại nhiều đô thị, đặc biệt là các đô thị lớn
các gia đình thƣờng chỉ tổ chức đƣợc một bữa ăn tối trong gia đình. Con số
79,5% các gia đình đƣợc khảo sát tổ chức đƣợc bữa ăn chung ngày một lần là
phản ánh đại diện cho gia đình đô thị hiện nay. Những gia đình tổ chức đƣợc 3
- 86 -
bữa ăn một ngày có tỷ lệ 14,6%, và 17,2% tổ chức đƣợc hơn hai bữa/ngày.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Nếu xem xét việc tổ chức bữa ăn chung đối chiếu với địa điểm buôn bán,
chúng tôi thấy có một chiều hƣớng: những gia đình buôn bán tại nhà thƣờng tổ
chức đƣợc nhiều bữa ăn chung hơn những gia đình phải thuê của hàng (xem
bảng 12)
Bảng 12: Tƣơng quan số bữa ăn chung của cả gia đình
với địa điểm buôn bán (%)
Tổng Ngày Ngày Ngày
1 lần 2 lần 3 lần
Địa Thuê 54,3 29,6 26,1 100
điểm Nhà của
kinh gia đình 25,3 23,8 50,9 100 doanh
Rõ ràng, lợi thế về địa điểm buôn bán có tác động đến sự tập trung cả nhà
vào những sinh hoạt chung, cụ thể là tạo ra bữa ăn chung. Việc thƣờng xuyên
gặp gỡ nhau qua bữa ăn sẽ tạo ra những mối quan hệ tình cảm chặt chẽ hơn.
Công việc buôn bán, do vậy không phải toàn là những hạn chế đến tình cảm
gia đình, mà nó còn có chiều hƣớng tích cực, củng cố quan hệ giữa các thành
viên gia đình.
Có thể khẳng định, bữa ăn chung có vai trò quan trọng trong gắn kết tình
cảm và một lần nữa ngƣời phụ nữ lại thể hiện vai trò của mình. Trong các
nghiên cứu về gia đình cũng cho thấy nét tƣơng đồng “ngày chủ nhật rảnh rỗi,
đông đủ cả nhà tôi cố gắng bày ra một chƣơng trình gì đó, có khi chỉ là nấu
một món ăn ngon, xem chung một bộ phim rồi bình luận hoặc chơi chung một
ván bài…Theo tôi ngày chủ nhật rất quan trọng, nó kết nối các thành viên
trong gia đình và là dịp để bố mẹ lắng nghe con cái, cùng nhau bàn bạc những
- 87 -
công việc đại sự” [14,213].
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Ngƣời phụ nữ trong gia đình buôn bán nhỏ bên cạnh việc thực hiện thành
công phát triển kinh tế gia đình họ còn là ngƣời tạo dựng không khí đầm ấm,
sự chia sẻ và cũng làkhẳng định vị trí của mình trong gia đình.
Nhƣ đã đƣợc phân tích ở những phần trên, ngƣời phụ nữ là ngƣời thƣờng
tổ chức bữa ăn, và những ngƣời phụ nữ có điều kiện buôn bán tại nhà ngoài
việc thuận tiện cho việc buôn bán, đi lại họ còn có điều kiện hơn trong việc
củng cố mối quan hệ tình cảm của các thành viên.
Ngoài việc tổ chức bữa ăn, nhiều hình thức nghỉ ngơi trong khi rảnh rỗi
nhiều khi cũng là một cách tạo lên những quan hệ tình cảm thân thiết của gia
đình. Thông qua các hình thức nghỉ ngơi có tiếp xúc giữa các thành viên, quan
hệ giữa bố mẹ và con cái, vợ- chồng cũng đƣợc đƣợc củng cố và phát triển.
Bảng 14: Những hoạt động trong thời gian rỗi
Hoạt động Tỷ lệ (%)
Đọc báo 25,8
Trò chuyện với con cái 66,9
Tâm sự vợ chồng 49,6
Xem ti vi 63,6
Không có thời gian rỗi 17,9
Hình thức trò chuyện với con trong thời gian rảnh rỗi chiếm tỷ lệ cao
nhất: 66,9% số ngƣời đƣợc hỏi nói rằng họ thƣờng nói chuyện với con trong
khi rảnh rỗi; 49,0% tâm sự vợ chồng. Hình thức xem tivi chiếm đến 63,6%.
Hình thức đọc sách báo, và chuyện trò với bạn đều thấp, chỉ 26,5% và 25,8%.
Chỉ có 17,9% số gia đình đƣợc hỏi nói rằng họ không có thời gian rảnh rỗi.
Ngƣợc lại với các hình thức nghỉ ngơi mang tính trong nhà đƣợc các
thành viên áp dụng nhiều, các hình thức nghỉ ngơi mang tính dã ngoại chƣa
- 88 -
đƣợc chú ý nhiều. Chúng tôi thƣờng đƣợc nhận những câu trả lời cho rằng họ
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
không có đủ thời gian, vì buôn bán hàng suốt ngày, nhất là thứ bẩy chủ nhật;
còn những ngày lễ thƣờng đến thăm ông bà... Các hoạt động dã ngoại, là một
trong những hình thức củng cố tính đoàn kết gia đình chƣa đƣợc các gia đình
này tổ chức nhiều, một phần là vì hoạt động kinh doanh của các gia đình này
chiếm nhiều thời gian, đặc biệt cả ngày nghỉ, ngày lễ.
2.5.2 Kiểm soát, điều hoà mối quan hệ trong gia đình
Cuộc sống gia đình không tránh khỏi những lúc mâu thuẫn, căng thẳng
trong các thành viên. Ngƣời giải quyết những xung đột này phải là ngƣời có uy
tín cao trong gia đình và phải hiểu biết những vấn đề của gia đình.
Trong những gia đình đƣợc khảo sát, khi đƣợc hỏi : Khi gia đình có mâu
thuẫn, căng thẳng ai là ngƣời giải quyết, hoá giải cho thấy: ngƣờtỷ lệ ngƣời vợ
là ngƣời giải quyết những căng thẳng, mâu thuẫn rất cao: 78,8%; trong khi đó
ngƣời chồng chỉ có 10,6% và ông bà là 10,6%.
Bảng 15: Ngƣời điều hoà mối quan hệ trong gia đình (%)
Chồng 16
10,6%
Vợ 119
78,8%
Ông, Bà 16
10,6%
Phụ nữ hơn hẳn nam giới trong vai trò xây dựng gia đình nhƣ một tổ ấm,
với nghĩa là phụ nữ làm tan đi những căng thẳng, mâu thuẫn có thể giữa vợ –
chồng, bố mẹ –con cái và con cái với nhau.
Ngƣời chồng đƣợc lý giải là chỉ lo những việc lớn, vì vậy, ngƣời phụ nữ
- 89 -
trở thành ngƣời thƣờng xuyên tiếp xúc với con cái, thƣờng xuyên đƣa ra những
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
ý kiến dạy dỗ con và do vậy có thể nói ngƣời phụ nữ đóng vai trò quan trọng
trong nhất trong mối liên hệ giữa cha mẹ và con cái.
Ngƣời vợ không chỉ đóng vai trò chính trong giải quyết những xung đột,
mà họ còn chiếm tỷ lệ cao trong việc tƣ vấn, hƣớng dẫn quan hệ của con cái.
Những số liệu thu thập đƣợc đã cho thấy ngƣời vợ luôn luôn là ngƣời đƣợc cả
con trai lẫn con gái tìm đến khi cần lời khuyên và họ cũng là ngƣời thƣờng
xuyên hƣớng dẫn, khuyên nhủ con trong cuộc sống hàng ngày.
Bảng 16 : Ngƣời trò chuyện với con cái (%)
Chồng Vợ Ông bà
Hƣớng dẫn,khuyên nhủ con trai 31 3 75
28,5% 2,5% 69,0%
Hƣớng dẫn, khuyên nhủ con gái 12 3 93
11,2% 2,5% 86,3%
Con trai tìm đến ai để nghe tƣ vấn 31 3 73
29,0% 2,5% 68,5%
Con gái tìm đến ai để nghe tƣ vấn 7 6 94
6,5% 4,5% 89,0%
Sự hơn hẳn của ngƣời phụ nữ trong việc tiếp xúc, trao đổi trực tiếp với
con cái đã cho thấy vai trò giới vẫn nghiêng về phụ nữ trong chức năng tình
cảm của gia đình.
Hài lòng với cuộc sống chính là một chỉ báo đánh giá hạnh phúc của gia
đình. Theo điều tra của chúng tôi về sự hài lòng với cuộc sống hiện tại cho
thấy: 77,5% ngƣời đƣợc hỏi hài lòng và 78,1% ngƣời chồng/vợ của họ hài lòng
về nhau.
- 90 -
Tiểu kết
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Những gia đình có điều kiện buôn bán tại nhà tổ chức đƣợc nhiều bữa ăn
chung hơn so với những gia đình phải thuê cửa hàng. Hầu hết các bữa ăn
chung thƣờng đƣợc chuẩn bị bởi ngƣời phụ nữ. Tỷ lệ phụ nữ là ngƣời hoà giải
các xung đột, căng thẳng trong gia đình rất cao, vƣợt trội hẳn hơn so với những
thành viên khác.
Phụ nữ đóng vai trò việc khuyên nhủ các con (kể cả con trai và con gái);
cao hơn nam giới, đồng thời họ cũng là ngƣời hay đƣợc các con tìm đến khi
muốn đƣợc khuyên nhủ, tƣ vấn.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Điều kiện kinh tế-xã hội ở đô thị đã tạo ra những cơ hội cho hoạt động
buôn bán, kinh tế phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là mô hình gia đình làm nghề
buôn bán nhỏ.
Vai trò giới trong gia đình buôn bán nhỏ đƣợc phân tích thông qua thực
hiện các chức năng của gia đình.
Phân công lao động theo giới trong thực hiện chức năng kinh tế ở các gia
đình này rất rõ nét. Phụ nữ tham gia nhiều hơn nam giới trong hoạt động trực
tiếp buôn bán nhƣ bán hàng, nhập hàng, đặc biệt những phụ nữ trong những
gia đình phải thuê của hàng để buôn bán thì ngƣời phụ nữ lại càng phải hoạt
động tích cực hơn. Nam giới cũng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động
buôn bán, tuy ít tham gia trực tiếp buôn bán so với phụ nữ nhƣng thƣờng đóng
vai trò định hƣớng, giao dịch, đứng tên giấy tờ, thủ tục giao dịch buôn bán.
Mô hình ra quyết định kinh tế trong nhóm gia đình buôn bán nhỏ đƣợc
khảo sát thể hiện sự bình đẳng giới tƣơng đối rõ nét. Nam giới thƣờng giữ vai
trò chủ hộ và là ngƣời đứng tên nhiều nhất trong giấy tờ sở hữu nhà, nhƣng
không vì thế mà họ áp đặt các quyết định. Thậm chí, trong một số công việc
- 91 -
nhƣ nhập hàng và bán hàng phụ nữ độc lập ra quyết định cao hơn nam giới.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Trong việc vay vốn phục vụ nhiệm vụ duy trì và phát triển buôn bán cho thấy
vai trò của nam giới và phụ nữ là tƣơng đƣơng nhau.
Vai trò giới trong việc thực hiện chức năng tái sản xuất con ngƣời( sinh
đẻ) ở nhóm gia đình đƣợc khảo sát vẫn phổ biến tình trạng bất bình đẳng. Sự
bất bình đẳng này thể hiện ở chỗ nam giới tham gia thực hiện và đƣa ra quyết
định rất ít trong khi đó phụ nữ là ngƣời thực hiện và quyết định nhiều hơn. Cụ
thể, sử dụng và quyết định sử dụng các biện pháp tránh thai đều là phụ nữ,
trong đó kể cả quyết định nạo phá thai phụ nữ vẫn là ngƣời ra quyết định nhiều
hơn nam giới, thậm chí có tình trạng nam giới tỏ ra không quan tâm, hoàn toàn
do phụ nữ lo toan quyết định. Công việc chăm sóc sức khoẻ bà mẹ khi sinh con
cũng phần lớn do phụ nữ đảm nhiệm và quyết định, kể cả thời gian nghỉ sinh.
Sự bất bình đẳng này làm cho ngƣời phụ nữ phải gánh trên vai mình những
khó khăn, thiệt hại sức khoẻ, ít đƣợc chia sẻ của nam giới.
Khi phân tích vai trò giới trong thực hiện chức năng giáo dục con cái và
chăm sóc gia đình cũng cho thấy chƣa có sự bình đẳng trong phân công lao
động giữa nam giới và phụ nữ. Phụ nữ vẫn tiếp tục là ngƣời tham gia trực tiếp
công việc nuôi dƣỡng gia đình nhƣ nấu ăn, đi chợ, giặt quần áo, sức khoẻ,
trông nom con cái… trong khi đó nam giới thực hiện chiếm tỷ lệ nhỏ. Trong
việc giáo dục con cái nhƣ : dạy con học bài ở nhà, quyết định học thêm cho
con, chọn trƣờng lớp, đầu tƣ phƣơng tiện học tập, định hƣớng nghề nghiệp tỷ
lệ nam giới thực hiện và quyết định cao hơn so với công việc nuôi dƣỡng. Giáo
dục con cái cũng là công việc đƣợc thực hiện ngang nhau giữa nam giới và phụ
nữ.
Phụ nữ trong gia đình thƣờng là ngƣời tăng cƣờng sự đoàn kết trong gia
đình, giải quyết các xung đột, căng thẳng cuộc sống hàng ngày và là ngƣời
chăm lo nhiều đến tâm lý, tình cảm của các con, trong khi nam giới tham gia
- 92 -
vào việc này với vai trò uy quyền.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Qua nghiên cứu bƣớc đầu nhận diện vai trò giới trong các gia đình buôn
bán nhỏ- loại hình gia đình đang có xu hƣớng phát triển mạnh cho thấy vai trò
giới, phân công lao động theo giới trong các gia đình này không khác biệt
nhiều với các loại hình gia đình khác ( công nhân, nông dân, công chức, trí
thức…) trong xã hội.
2. Khuyến nghị
Với những kết luận về vai trò giới trong gia đình buôn bán nhỏ, luận văn
đƣa ra một số khuyến nghị sau:
+ Đối với các cấp chính quyền và các hội, đoàn thể xã hội.
Phụ nữ và nam giới trong các gia đình buôn bán nhỏ thuộc nghề nghiệp
buôn bán tự do, đa số họ không là đoàn viên, hội viên của một tổ chức nào, vì
vây, nên kết nạp họ trở thành đoàn viên, hội viên của các tổ chức hội, đoàn thể
ở địa phƣơng Vừa là để quản lý xã hội tốt hơn vừa là để hoạt động của các hội,
đoàn thể đƣợc sâu rộng, có hiệu quả cao khi huy động đƣợc một lực lƣợng
quần chúng đông đảo mà từ trƣớc tới nay chƣa đƣợc chú ý.
Đặc biệt là hội phụ nữ, trong hoạt động hội không chỉ nhằm vào đối
tƣợng là phụ nữ để triển khai hoạt động mà nên hƣớng tới đông đảo nam giới
để tuyên truyền, giáo dục để họ tham gia tích cực hơn nữa vào thực hiện kế
hoạch hoá gia đình, bình đẳng giới. Nâng cao địa vị, vai trò của phụ nữ và sự
tiến bộ của phụ nữ không chỉ do một mình phụ nữ thực hiện đƣợc mà rất cần
sự hiểu biết, chia sẻ và hành động của nam giới.
Thƣờng xuyên tổ chức tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng nam- nữ kể cả
nam giới và phụ nữ ở mọi lứa tuổi trong các gia đình buôn bán nhỏ, thậm chí
có thể mở rộng cho các loại hình gia đình khác bằng cách tổ chức các buổi nói
chuyên, trao đổi với chủ đề: “ Nam giới chia sẻ trách nhiệm hơn nữa với phụ
- 93 -
nữ trong công việc gia đình và xã hội”.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Sử dụng các hình thức tuyên truyền, tập huấn bằng hình ảnh, pa-nô, áp
phích, phát thanh …để nâng cao nhận thức cho cộng đồng về bình đẳng giới.
Tại các tổ dân phố đều có một cán bộ dân số theo dõi việc chăm sóc sức
khoẻ bà mẹ và trẻ em, kế hoạch hoá gia đình…vì vậy chính quyền địa phƣơng,
trung tâm y tế thông qua ngƣời cán bộ dân số này triển khai tuyên truyền, giáo
dục, giúp đỡ, hƣớng dẫn cho phụ nữ trong gia đình buôn bán nhỏ nhận thức
đƣợc tầm quan trọng và hành động nhằm bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ sinh
sản. Ngƣời chồng là ngƣời cần đƣợc tuyên truyền, vận động để chia xẻ, gánh
vác hơn nữa các trách nhiệm gia đình hành ngày nhất là khi ngƣời vợ sinh đẻ.
Các cơ quan y tế có thể nghiên cứu, sản xuất dụng cụ tránh thai cho nam
giới. Ngoài phƣơng pháp tránh thai dùng bao cao su có hiệu quả trong nhiều
phƣơng diện, các trung tâm nghiên cứu khoa học y tế cần phải nghiên cứu,
phát triển và phổ biến các biện pháp tránh thai kiểu nhƣ thuốc uống dành cho
nam giới, hoặc thuốc tiêm cho nam giới sao cho họ có thể thực hiện một lần
mà có tác dụng lâu dài. Những biện pháp này sẽ giảm bớt áp lực tránh thai cho
phụ nữ, nhất là những ngƣời gặp khó khăn nhƣ đau đớn, khó chịu, bị phản ứng
phụ khi sử dụng biện pháp tránh thai.
+ Đối với các cá nhân.
Nam giới trong các gia đình buôn bán nhỏ nói riêng và các loại hình gia
đình khác cần phải tham gia tích cực hơn nữa vào việc nội trợ của gia đình,
chăm sóc con cái, sức khoẻ… xoá bỏ tƣ tƣởng của chính mình cho rằng việc
nhà là của phụ nữ, nam giới chỉ là phụ.
Nam giới không chỉ quan tâm đến số con, khoảng cách sinh con mà còn
cần phải hiểu biết, quan tâm đến sức khoẻ sinh sản của phụ nữ.
Phụ nữ cũng cần có nhận thức đúng đắn về vai trò và địa vị của mình, yêu
- 94 -
cầu nam giới giúp đỡ, không định kiến về vai trò của mình, hiểu biết về phải
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
chú ý để nâng cao ý thức bảo vệ sức khoẻ sinh sản, bảo đảm sức khoẻ của
- 95 -
chính bản thân.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1. Ăngghen, Ph. (1971). Biện chứng của tự nhiên. Hà Nội: Nxb. Sự thật.
2. Đặng Cảnh Khanh biên soạn (2003). Gia đình, trẻ em và sự kế thừa các
giá trị truyền thống. Hà Nội : Nxb. Lao động xã hội. - 171 tr.
3. Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý (2007). Gia đình học. Hà Nội: Nxb. Lý
luận Chính trị. - 687 tr.
4. Đặng Phƣơng Kiệt chủ biên (2006). Gia đình Việt Nam : Những giá trị
truyền thống và các vấn đề tâm - bệnh lý xã hội. Hà Nội : Lao động. -
636 tr.
5. Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Văn, Nguyễn Linh Khiếu (2002). Gia đình Việt
Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Hà Nội : Nxb. Khoa học Xã hội. - 238 tr.
6. Điều tra di cư Việt Nam năm 2004: Những kết quả chủ yếu. (2005). Hà
Nội: Nxb. Thống kê. - 196 tr.
7. Bộ luật Lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam : Văn
bản hợp nhất Bộ luật lao động qua các lần sửa đổi, bổ sung các năm
2002, 2006. (2007). Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia. - 139 tr.
8. Các Mác, Phri-đrích ăng-ghen: Tuyển tập. Tập VI. (1984). Hà Nội: Nxb.
Sự thật.- 932 tr.
9. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội. (1991). - Hà Nội : Nxb. Sự thật. - 22 tr.
10. John J. Macionis; Trần Nhựt Tân hiệu đính (2004). Xã hội học. - Hà Nội:
- 96 -
Nxb. Thống kê. - 778 tr.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
11. Kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2004 = Result of the
Survey on Household Living Standards 2004. (2006) - Hà Nội: Nxb. :
Tổng cục thống kê. - 280 tr.
12. Lê Ngọc Hùng (2004). Xã hội học kinh tế : Sách chuyên khảo . - Hà
Nội: Nxb. : Lý luận chính trị. - 366 tr., 21 cm.
13. Lê Ngọc Hùng chủ biên (2000). Xã hội học về giới và phát triển . - Hà
Nội: Nxb. : Đại học Quốc gia Hà Nội. - 191 tr.
14. Lê Ngọc Văn chủ biên (2004). Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối
với gia đình Việt Nam hiện nay. Hà Nội: Uỷ ban Dân số, gia đình và trẻ
em, 288 tr.
15. Lê Quý Đức, Vũ Thị Huệ (2003). Người phụ nữ trong văn hoá gia đình
đô thị . - Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia. - 202 tr.
16. Lê Thị Chiêu Nghi (2001). Giới và dự án phát triển. - Tp. Hồ Chí Minh :
Nxb. Tp. Hồ Chí Minh. - 238 tr.
17. Mai Huy Bích (2003). Xã hội học gia đình. - Hà Nội, Nxb. Khoa học xã
hội, 250 tr.
18. Nguyễn Thanh Tuấn (2006). Biến đổi văn hoá đô thị Việt Nam hiện nay.
- Hà Nội: Nxb. : Văn hóa thông tin. - 279 tr.
19. Nguyễn Thị Hoà chủ biên (2007). Giới, việc làm và đời sống gia đình . -
Hà Nội: Nxb. : Khoa học xã hội. - 314 tr.
20. Nguyễn Thị Thiền cùng các tác giả khác chủ biên (2006). Đô thị Việt
- 97 -
Nam trong thời kỳ quá độ. Hà Nội: Nxb. Thế giới. - 323 tr.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
21 Phạm Văn Quyết (2001). Chương 3: Phương pháp nghiên cứu xã hội
học thực nghiệm (trong: Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng đồng chủ biên.
Xã hội học, In lần thứ 2). Hà Nội: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. - 326 tr.
22. Sổ tay công tác nữ công : Lưu hành nội bộ. (2006). Hà Nội: Nxb. : Lao
động. - 176 tr.
23. Trịnh Duy Luân (2004). Xã hội học đô thị. Hà Nội: Nxb. Khoa học xã
hội. - 239 tr.
24. Trịnh Duy Luân, Han Schenk chủ biên (2000). Nơi ở và cuộc sống của
cư dân Hà Nội . - Hà Nội: Nxb. : Văn hoá thông tin . - 142 tr.
25. Văn kiện Đảng thời kỳ đổi mới : Đại hội VI, VII, VIII, IX: Về phát triển
kinh tế xã hội. (2005). - Hà Nội: Nxb. : Chính trị Quốc gia, . - 419 tr.
26. Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX. (2001). - Hà Nội: Nxb.
: Chính trị Quốc gia. - 352 tr.
27. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII : Diễn văn khai mạc
đại hội; Báo cáo chính trị; Báo cáo về các văn kiện đại hội; Kết quả
thảo luận các văn kiện đại hội; Nghị quyết của đại hội; Diễn văn bế
mạc đại hội. (1991). - Hà Nội: Nxb. : Sự thật. - 171 tr.
28. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. (1996). - Hà Nội:
Nxb. : Chính trị Quốc gia. - 251 tr.
29. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. ( 2006). - Hà Nội: Nxb. :
Chính trị quốc gia. - 375 tr.
30. Vai trò giới và lượng hoá giá trị gia đình : Một số giải pháp hỗ trợ xây
- 98 -
dựng gia đình thủ đô theo hướng bình đẳng, hiện đại. (2006). Hà Nội:
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Nxb. : Trung tâm Nghiên cứu phụ nữ [Trƣờng Cán bộ phụ nữ trung
ƣơng]. - 222 tr.
31. Vũ Hào Quang chủ biên (2006). Gia đình Việt Nam quan hệ quyền lực
và xu hướng biến đổi . - Hà Nội: Nxb. : Đại học quốc gia. - 347 tr.
32. Vũ Quang Hà (2001). Các lý thuyết xã hội học hiện đại : Tập 1 . - Hà
Nội: Nxb. : Đại học Quốc gia. - 543 tr.
33. Warren Kidd ... [et al.]; Nguyễn Kiên Trƣờng dịch (2006). Những bài
giảng về xã hội học. - Hà Nội: Nxb. : Thống kê; Công ty Văn hóa Minh
- 99 -
Trí; Nhà sách Văn Lang. - 839 tr.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
PHỤ LỤC
BẢNG HỎI VỀ VAI TRÒ GIỚI TRONG GIA ĐÌNH BUÔN BÁN NHỎ
Lời giới thiệu
Chào anh/chị, chúng tôi là học viên cao học của Khoa Xã hội học, trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Chúng tôi đang tiến hành nghiên cứu về đời sống và vai trò giới trong gia đình buôn bán nhỏ ở Hà Nội. Rất mong anh/chị giúp đỡ trả lời một số câu hỏi sau.
--------------------------
I - ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA HỘ GIA ĐÌNH
C.1: Số ngƣời đang sinh hoạt trong gia đình: ............ ngƣời
C.2: Số thế hệ:............. thế hệ
C.3: Xin anh/chị cho biết đôi nét về những ngƣời hiện đang sinh hoạt chung
trong gia đình.
Stt Quan
hệ
với
Giớ
Năm
Tình trạng
Học
Nghề nghiệp hiện nay
người được hỏi
i
sinh
hôn nhân
vấn
tính
(1)
(2)
(3)
(4)
(6)
(7)
(5)
1-Ngƣời đƣợc hỏi
1.
2.
3.
4.
5.
6.
- 100 -
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Anh/chị kết hôn năm nào: .........................
Hướng dẫn điền bảng
(1) Khoanh tròn số thứ tự của ngƣời chủ hộ
(2) Ngƣời đƣợc hỏi:1; Vợ/chồng 2; Con: 3; Cháu 4; Bố/mẹ 5
(3) Giới tính: Nam: 1; Nữ 2
(5) Đã kết hôn: 1; Chƣa kết hôn: 2; Ly hôn 3; Goá 4;
(6) Ghi số năm đi học ; trung cấp 14; đại học 16; trên nữa: 18
(7) Ghi nghề nghiệp chính đang làm
C.4: Gia đình mình có những nguồn thu nhập nào:
Kinh doanh
(1)
Lƣơng của các thành viên gia đình (2)
Cho thuê cửa hàng, nhà
(3)
Các nguồn trợ giúp
(4)
Khác:
(5) ghi rõ ........................................
C.5: Nguồn thu nhập chính của gia đình là (chọn 1 nguồn quan trọng nhất):
(1)
Kinh doanh
Lƣơng của các thành viên gia đình (2)
(3)
Cho thuê cửa hàng, nhà
(4)
Các nguồn trợ giúp
Khác:
(5) ghi rõ ......................................
C.6: Thu nhập hàng tháng trung bình của:
Cả gia đình:
(1).............................. triệu đồng
Vợ:
(2).............................. triệu đồng
- 101 -
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Chồng :
(3).............................. triệu đồng
C.7: Tình trạng nhà ở:
Nhiều tầng
(1)
Một tầng, mái bằng
(2)
Mái ngói
(3)
Khu tập thể
(4)
C.8: Ai đứng tên trong giấy tờ chủ sở hữu căn nhà chị đang ở
Chồng (1)
Vợ (2)
Cả hai (3)
Ngƣời khác (4)
II - HOẠT ĐỘNG KINH TẾ
C.9: Cửa hàng gia đình đang buôn bán là (chọn 1 phương án):
Thuê
(1)
Nhà của gia đình
(2)
Khác
(3)
(ghi rõ)............................................................
C.10: Tình trạng cửa hàng:
Nhiều tầng
(1)
Một tầng, mái bằng
(2)
Mái ngói
(3)
Khác
(4)
(ghi) .................................................................
C.11: Tiền thuê cửa hàng một tháng là : ................................. triệu đồng.
C.12: Địa điểm buôn bán ?
Trong ngõ
(1)
Mặt phố
(2)
Trong khu tập thể
(3)
Trong chợ
(4)
- 102 -
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
(5)
Khác
C.13: Nhà ta đã buôn bán đƣợc khoảng bao nhiêu năm? .......................
năm
C.14: Mặt hàng chính là (chọn 1):
- Bánh kẹo
(1)
- Đồ uống
(2)
- Văn phòng phẩm (3)
- Nhà thuốc (4)
- Quần áo
(5)
- Thực phẩm (6)
- Tổng hợp
(7)
- Khác
(8)
..............................
C.15: Gia đình mình có đăng ký kinh doanh không ?
Có
(1)
Không (2)
- 103 -
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
C.16: Xin anh/chị cho biết ai là ngƣời làm chính các công việc trong buôn
bán sau:
Vợ Chồng Cả hai Ngƣời
Không
Ngƣời đảm nhận chính
khác
ai làm
Công việc
1. Nhập hàng, mua hàng hoá cho gia đình 2. Bán hàng
3. Giữ tiền vốn buôn bán
4. Đứng tên trong giấy phép kinh doanh của gia đình 5. Quyết định việc chọn ngành hàng 6. Quyết định trong các việc đầu tƣ lớn
Có
(1)
Không (2)
(chuyển sang câu 20)
C.17: Từ trước đến nay gia đình mình có phải vay nợ để buôn bán không ?
C.18: Nếu có, ai là ngƣời đi vay: (chọn 1)
Chồng (1)
Vợ (2)
Cả hai (3)
C.19: Vay ở đâu là chính (chọn 1 phương án quan trọng nhất):
Bên họ hàng/bạn bè chồng
(1)
Bên họ hàng/bạn bè vợ (2)
Đoàn thể (3)
Ngân hàng/chính quyền
(4)
C.20: Khoảng 12 tháng vừa qua gia đình mình có dành đƣợc tiền tiết kiệm
không
Có
(1)
Không (2)
C.21: Nếu có, khoảng bao nhiêu tiền: ................ triệu đồng
- 104 -
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
C.22: Tự xếp loại kinh tế gia đình hiện nay:
Khá giả
(1)
Trung bình (2)
Khó khăn (3)
C.23: So với trƣớc khi kinh doanh, kinh tế của gia đình ta là:
Khá hơn (1)
Nhƣ cũ (2)
Kém đi (3)
III- SINH ĐẺ - KẾ HOẠCH HOÁ GIA ĐÌNH
C.24: Anh /chị có mấy ngƣời con: ……... Trai................... Gái...................
C.25: Xin anh/chị cho biết ai là thực hiện những công việc kế hoạch hoá gia
đình sau:
Vợ
Chồng Cả
Người
Không
Ngƣời đảm nhận chính
hai
khác
ai làm
Công việc
1. Quyết định số con
2. Quyết định thời gian sinh con
3. Quyết định biện pháp tránh thai
4. Thực hiện biện pháp tránh thai
5. Quyết định bỏ thai (nếu có)
C.26: Khi sinh con, chị đƣợc nghỉ ngơi hoàn toàn bao lâu ..............................
C.27: Khi đó ai là ngƣời đảm nhận việc kinh doanh (chọn 1, người quan
trọng nhất):
Chồng (1)
Ngƣời trong gia đình (2)
Thuê(3)
C.28: Khi đó ai là ngƣời chăm sóc việc nội trợ gia đình (chọn 1, người quan trọng
nhất):
Chồng (1)
Ngƣời trong gia đình (2)
Thuê(3)
C.29: Sau thời gian nghỉ hoàn toàn, chị đã:
Chỉ làm việc nhà (1)
- 105 -
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Chỉ làm kinh doanh
(2)
Làm việc nhƣ bình thƣờng
(3)
IV - Hoạt động sinh hoạt gia đình hàng ngày
C.30: Xin anh/chị cho biết ai là ngƣời thƣờng thực hiện những việc sau:
Vợ
Chồng
Người
Không
Cả
Ngƣời đảm nhận chính
hai
khác
ai làm
Công việc
1. Giặt giũ
2. Nấu ăn
3. Rửa bát
4. Mua thức ăn
5. Chăm sóc ngƣời nhà khi bị ốm
tiếp với chính quyền,
6. Mua sắm đồ dùng trong sinh hoạt hàng ngày 7. Quyết định việc mua sắm đồ dùng đắt tiền 8. Giao khách 9. Quyết định trƣờng lớp cho con học 10. Đƣa đón con đi học, họp phụ huynh 11. Dạy con/quản lý việc học của con 12. Quyết định việc học thêm, mua sắm đồ dùng cho học tập 13. Định hƣớng việc nghề nghiệp cho con
- 106 -
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
C.31: Xin anh/chị cho biết quan điểm của mình về những vấn đề sau:
Quan điểm
Chồng
Chồng
Vợ hoàn
Vợ
Không
Như
hoàn toàn
làm tốt
toàn làm
làm tốt
đánh giá
nhau
làm tốt hơn
hơn
tốt hơn
hơn
được
Lĩnh vực đánh giá
1. Làm ăn kinh tế
2. Làm việc nội trợ
nuôi
sóc,
3. Dạy bảo, giáo dục con 4. Chăm nấng con 5. Hiểu biết kiến thức
C.32: Hiện nay, anh/chị có lo lắng gì nhất đối với con cái hiện nay
(Chọn 3 cho từng đối tượng)
Đối với con trai Đối với con gái
1. Lo con không có việc làm
2. Lo con học hành không đến nơi, đến chốn
3. Lo con quan hệ bạn bè không tốt
4. Lo con bị nhiễm tệ nạn xã hội
5. Lo con sức khoẻ không tốt
6. Lo con bất hiếu với ông bà/cha mẹ.
7. Khác (ghi cụ thể)
- 107 -
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
C.33: Anh/chị thƣờng gặp khó khăn gì trong việc giáo dục con (chọn 2 hoặc 3)
Không có thời gian dạy dỗ con
(1)
Không đủ kiến thức để dạy con
(2)
Mâu thuẫn về cách dạy con (3)
Môi trƣờng xã hội phức tạp (4)
Không có khó khăn gì
(5)
Khác (6)
(ghi: ...................................)
V - HOẠT ĐỘNG TÌNH CẢM GIA ĐÌNH
C.34:Gia đình mình thƣờng tổ chức đƣợc bữa ăn chung :......................... lần /
tuần
C.35: Những lúc rảnh rỗi, anh/chị thƣờng làm những gì (chọn nhiều phương án):
Nói chuyện, đi chơi với bạn bè
(1)
Đọc sách báo (2)
Nói chuyện với con (3)
Tâm sự với chồng
(4)
Xem tivi
(5)
Không có thời gian rỗi
(6)
C.36: Trong gia đình, ai là ngƣời đóng vai trò chính trong việc điều hoà
các mối quan hệ trong gia đình (chọn 1, người quan trọng nhất)
Chồng
(1)
Vợ
(2)
ông/bà
(3)
Con cái (4)
Ngƣời khác
(5)
C.37: Trong gia đình ai hƣớng dẫn/khuyên nhủ con trong quan hệ với bạn bè,
xã hội,
a) đối với con trai (chọn 1, người hay hướng dẫn nhất)
- 108 -
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
Chồng (1)
Vợ (2)
ông/bà(3)
Ngƣời khác (4)
b) đối với con gái (chọn 1, người hay hướng dẫn nhất)
Chồng (1)
Vợ (2)
ông/bà(3)
Ngƣời khác (4)
C.38: Khi con cái cần lời khuyên trong những tình huống khó ứng xử, chúng
thƣờng tìm gặp ai để nghe tƣ vấn
a) đối với con trai (chọn 1, người hay hướng dẫn nhất)
Chồng (1)
Vợ (2)
ông/bà(3)
Ngƣời khác (4)
b) đối với con gái (chọn 1, người hay hướng dẫn nhất)
Chồng (1)
Vợ (2)
ông/bà(3)
Ngƣời khác (4)
C.39. Khi gặp các trƣờng hợp khó xử, hai vợ chồng sẽ: (chọn 1 phương án quan
trọng nhất)
Chồng đƣa ra quyết định cuối cùng
(1)
Vợ đƣa ra quyết định cuối cùng
(2)
Cả hai vợ chồng cùng bàn bạc, quyết định
(3)
C.40: Anh/chị có hài lòng với cuộc sống hiện nay của mình không? (chọn 1)
Hài lòng
(1)
Khó trả lời
(3)
Không hài lòng
(2)
- 109 -
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
C.41: Vợ/chồng của anh chị có hài lòng về công việc của anh/chị hiện nay
không? (chọn 1)
Hài lòng
Khó trả lời
(3)
(1)
Không hài lòng
(2)
Vì sao: …………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….……...
- 110 -
Xin chân thành cảm ơn anh/chị đã trả lời phỏng vấn.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
HƢỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU CÁ NHÂN TẠI GIA ĐÌNH
1. Mục tiêu phỏng vấn: Tìm hiểu quan điểm của các cá nhân về các vấn đề
liên quan đến vai trò giới, phân công lao động theo giới, cơ sở của sự
phân công lao động này ra quyết định và thực hiện các công việc của gia
đình.
2. Đối tƣợng phỏng vấn sâu: Nam giới (chồng)và phụ nữ (vợ) trong các gia
đình buôn bán nhỏ.
3. Nội dung cần phỏng vấn:
+ Thông tin cá nhân của ngƣời đƣợc phỏng vấn: Họ tên, tuổi, giới tính, con
cái.
+ Hoạt động của đối tƣợng trong thực hiện các chức năng gia đình: Ai làm?
Ai tham gia ý kiến? Ai quyết định? Ai thực hiện?...
……………………………………………………………………..
HƢỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU CÁN BỘ PHỤ NỮ
1. Mục tiêu phỏng vấn: Tìm hiểu quan điểm của cán bộ hoạt động hội
phụ nữ về các vấn đề liên quan đến vai trò giới, phân công lao động
theo giới, cơ sở của sự phân công lao động này ra quyết định và thực
hiện các công việc của gia đình.
2. Đối tƣợng phỏng vấn sâu: Cán bộ phụ nữ phƣờng
3. Nội dung cần phỏng vấn:
+ Đánh giá về thực trạng phân công lao động theo giới, bình đẳng giới
trong gia đình hiện nay.
+ Các hoạt động của hội tại địa phƣơng trong việc nâng cao địa vị, vai trò
- 111 -
của phụ nữ, bình đẳng nam nữ.
LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc
- 112 -