
LUẬN VĂN:
Vai trò kinh tế của nhà nước
trong nền KTTT định hướng XHCN ở
nước ta hiện nay

Đặt vấn đề
Cách đây khoảng 20 năm (trước cải cách kinh tế) người ta còn khá mơ hồ về
kinh tế thị trường (KTTT) và khái niệm này dường như không được nói đến nhiều và bị
tẩy chay trong xã hội. Những năm gần, từ sau cải cách kinh tế 1986, đây nhờ chính sách
của Đảng và nhà nước nhằm truyền bá sâu rộng đường lối phát triển KTTT định hướng
XHCN, nên nó không còn là vấn đề quá cao sang và ngày nay việc sinh viên nghiên cứu
về vấn đề này đã trở thành phổ biến và cần thiết để tạo nền tảng về tư tưởng chính trị
cho thế hệ sau này.
KTTT là sản phẩm, thành tựu chung của nền văn minh nhân loại chứ không của
một chế độ xã hội nào. Ngay từ khi ra đời nó đã thể hiện ưu điểm của mình, nhưng cái
gì cũng có mặt tốt và sấu của nó, KTTT cũng có những khuyết tật. Trước kia các nước
đi theo con đường CNXH cho rằng KTTT là nền kinh tế của CNTB. Từ đại hội Đảng
VI Đảng ta đã khẳng định :”Nhà nước chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính
sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có
sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Đó chính là nền KTTT định hướng
XHCN” nhằm tận dụng ưu thế của cơ chế kinh tế này và khắc phục nhưng nhược điểm
của nó, sử dụng nó như một công cụ kinh tế để tiến lên CNXH. Phương hướng này tiếp
tục được triển khai đến các đại hội sau này.
Vai trò kinh tế của nhà nước trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện
nay là vô cùng quan trọng. Làm thế nào để hiểu và giúp đỡ nhà nước trong quản lý kinh
tế không phải là vấn đề của riêng các cơ quan hay các cấp chính quyền nào.Bài viết này
không có tham vọng trìng bầy toàn bộ những vấn đề liên quan và hoàn toàn đầy đủ về
vai trò kinh tế của nhà nước trong nền KTTT, nhưng em hy vọng rằng nó nói nên hiểu
biết của mình về vai trò kinh tế của nhà nước và từ đó có những bài học cho bản thân.
Rất mong có sự góp ý của thầy để hoàn thiện bài viết cũng như tăng tầm hiểu biết về
vai trò kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta
hiện nay.

Phần 4 : Giải pháp nâng cao vai trò kinh tế của nhà nước đối với nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN.
1) Thực trạng vai trò quản lý vĩ mô nền kinh tế của nhà nước ở nước ta 20
2) Giải pháp đổi mới và tăng cường vai trò kinh tế của nhà nước..........22
Kết luận..............................................................................................24
Tài liệu tham khảo...............................................................................25
Nội dung cơ bản.
Phần 1: Tính tất yếu khách quan,vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước đối với nền
kinh tế.
1) Tính tất yếu chuyển sang KTTT.
Cơ chế kế hoạch hoá tập trung đã tích góp những xu hướng tiêu cực, làm nảy sinh
sự trì trệ, hình thành cơ chế kìm hãm sự phát triển kinh tế _ xã hội. Cơ chế này chỉ hợp
với nền kinh tế còn thấp kém sau chiến tranh, càng ngày nó càng thể hiện sự không phù
hợp với sự phát triển kinh tế của đất nước. Như chúng ta đã biết tính tự cung tự cấp của
nền kinh tế ở nước ta nếu không có một cơ chế thay đổi thì không thể có dư thừa sản
phẩm để trao đổi và phát triển. Mặt khác nền kinh tế kế hoạch hoá mà chúng ta đang áp
dụng thực tế đưa nước ta vào tình trạng nghiêm trọng, cung không đủ cầu thậm chí
chúng ta phải nhập khẩu lương thực (thứ hàng hoá thế mạnh của một nước nông nghiệp)
từ nước ngoài.Lúc này nền kinh tế của các nước XHCN vận hành theo cơ chế cũ liên
tiếp tan vỡ. Các nước này phải chuyển sang cơ chế thị trường. Trên thực tế các nhân tố
thị trường đã có ở nước ta tuy nhiên còn nhiều ý kiến khác nhau về sự tồn tại của nó.
KTTT hình thành do phân công lao động xã hội và các hình thức sở hữu khác
nhau về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động. Đối chiếu hai điều kiện đó ở nước ta
hiện nay ta thấy :
Thứ nhất : Sự phân công lao động xã hội không những không mất đi mà còn tồn
tại và phát triển ở nước ta cả về chiều rộng và chiều sâu. ở nước ta ngày càng có nhiều
ngành nghề mới ra đời và phát triển, thêm vào đó trong nội bộ từng ngành và địa
phương phân công lao động ngày càng rõ rệt và chi tiết hơn.Cuối thập kỷ 70 đầu thập
kỷ 80 một loạt các hình thức phân công lao động ra đời như xí nghiệp đánh cá Vũng

Tàu Côn Đảo thực hiện khoán cho từng con tàu đánh cá. Trong nông nghiệp nhiều địa
phương thực hiện khoán đến từng hộ gia đình. Năm 1981 theo chỉ thị 100 của ban bí thư
thực hiện khoán sản phẩm cho hộ gia đình được khuyến khích mở rộng phổ biến. Việc
mua bán nông sản và vật tư nông nghiệp được nới lỏng theo xu hướng tự do trên thị
trường là cơ sở cho trao đổi vẫn còn tồn tại và tạo diều kiện tự do cạnh tranh, tự do
kinh doanh. Sự chuyên môn hoá và hợp tác hoá lao động đã vượt khỏi phạm vi quốc gia
và trỏ thành phân công lao động trên phạm vi quốc tế.
Thứ hai : Toàn bộ nền kinh tế quốc dân xét về mặt cơ cấu vẫn tồn tại nhiều thành
phần kinh tế khác nhau trong đó có thành phần kinh tế tư hữu dẫn đến còn nhiều chủ sở
hữu khác nhau và giữa họ có tính độc lập tương đối về kinh tế.Hơn nữa trình độ xã hội
hoá giữa các ngành và các đơn vị sản xuất trong cùng một thành phần kinh tế không đều
nhau. Do vậy việc hoạch toán kinh doanh và phân phối, trao đổi sản phẩm lao động tất
yếu phải thông qua hình thái hàng hoá - tiền tệ. Khi nghị quyết 10 của bộ chính trị ra đời
thì kinh tế hộ gia đình được coi là đơn vị kinh tế tự chủ bên cạnh thành phần kinh tế
quốc doanh và hợp tác xã.Bên cạnh đó hàng loạt các biến đổi về kinh tế xã hội to lớn
trong nông thôn làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta theo chiều hướng mới. Trong
đó các chủ sở hữu muốn sử dụng sản phẩm của nhau không thể tiến hành trực tiếp mà
gián tiếp thông qua trao đổi dưới hình thái hàng hoá. Vì thế kinh tế hàng hoá hay KTTT
tồn tại ở nước ta là một tất yếu khách quan.
8 Năm 1986 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự đổi mới nền kinh tế của
nước ta. Từ đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định “ Tiếp tục xoá bỏ cơ
chế tập trung quan liêu bao cấp hình thành đồng bộ và vận hành có hiệu quả cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà nước”. Ta thấy chủ chương chuyển sang KTTT là hợp với
quy luật khách quan và xu thế của thời đại.
2) Ưu thế và khuyết tật của KTTT.
*KTTT : Là cách tổ chức nền kinh tế xã hội của các cá nhân, các doanh nghiệp đều
biểu hiện qua mua bán hàng hoá dịch vụ trên thị trường và thái độ cư xử của từng thành
viên chủ thể kinh tế là hướng vào việc tìm kiếm lợi ích của chính mình theo sự dẫn dắt
của giá cả thị trưòng.( Tìm hiểu về KTTT_nhà xuất bản chính trị Quốc gia ).KTTT là
kinh tế hàng hoá phát triển ở trình độ cao khi tất cả các quan hệ kinh tế trong quá trình

tái sản xuất đều được tiền tệ hoá.(Kinh tế hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế _ xã hội
mà trong đó hình thái phổ biến của sản xuất là sản xuất ra sản phẩm để bán, để trao đổi
trên thị trường. Giáo trình Kinh tế chính trị )
*Ưu thế.
Kinh tế hàng hoá có những ưu thế như :
_ Thúc đẩy quá trình xã hội hoá sản xuất nhanh chóng, làm cho sự phân công lao
động, chuyên môn hoá sản xuất ngày càng sâu ssắc, hình thành các mối quan hệ kinh tế
và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các doang nghiệp và người sản xuất. tạo tiền đề cho hợp
tác lao động ngày càng chặt chẽ.
_ Thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất.
_ Thúc đẩy quá trình tích tụ tập chung sản xuất. Mở rộng giao lưu kinh tế trong
nước và hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
_ Giải phóng các mối quan hệ kinh tế ra khỏi sự ràng buộc của nền sản xuất khép
kín đã từng chói buộc và kìm hãm sự phát triển.
Kinh tế hàng hoá đã góp phần tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội và nâng cao
mức sống của nhân dân. Nó đảm bảo cho nền kinh tế có năng suất, chất lượng và hiệu
quả cao, dịch vụ được mở rộng, khoa học kỹ thuật được cải tiến.
*Khuyết tật.
Tuy nhiên nền kinh tế thị trường có những khuyết tật của nó như : Chỉ chú ý đến
các nhu cầu cơ bản có khả năng thanh toán, không chú ý các nhu cầu cơ bản khác của
xa hội do đó phúc lợi xã hội không phát triển. Đặt lợi nhuận lên hàng đầu và làm đủ mọi
cách để đạt được lợi nhuận nên làm tha hoá đạo đức kinh doanh. Tạo ra tình trạng thất
nghiệp, phân hoá giầu nghèo...Kinh tế thị trường cùng với sự mở của của nó còn tạo đà
du nhập những luồng gió độc vào nền kinh tế _ xã hôị trong nước. Sự phát triển của sản
xuất còn kéo theo sự khan hiếm tài nguyên do khai thác không khoa học, sự ô nhiễm
nguồn nước, không khí và môi trường. Do tính tự phát vốn có của KTTT nên khó kiểm
soát khủng hoảng kinh tế, hoạt động đầu cơ trên thị trường. Ngoài ra khủng hoảng theo
chu kỳ cũng là một khuyết tật vốn có của nó.
3) Tính tất yếu khách quan có sự quản lý vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh
tế.

