Phân tích đoạn trích: "Người cầm quyền
khôi phục uy quyền"
Cui cùng thì người cm quyn cũng khôi phục li uy quyn ca mình sau hơn hai mươi
năm đổi mi và cải cách. [Đoạn văn trên đưc rút ra t cun tiu thuyết rt ni tiếng ca
Victor Hugo Những người khn kh (1869)]. Đoạn trích ging này từng được s dng
trong sách giáo khoa trích giảng văn học cp ba nhữngm tám mươi trở v trước, nay
nó tr li vi bạn đọc hc sinh trong mt hoàn cnh khác. Dĩ nhiên như một vòng tròn
bin chng, s tr lại này sau hai ơi năm không h là mt s lp đơn thuần mà là
nâng cao thông qua cách hiểu, cách đọc mi cũng như theo yêu cầu ca cách ging dy
tích hp mà người son sách dành cho học sinh. Sách giáo khoa đã s dng bn dch duy
nhất sau năm 1945 ở min Bc ca nhóm dch gi Lê Quý Đôn cho việc ging dy trong
nhà trường. Đoạn văn trích trên nằm cui phn th nht, trn vẹn chương 4 Người cm
quyn khôi phc uy quyền (l’autorité reprend ses droits) sau khi Giăng Van-giăng quyết
định ra t thú trước pháp luật để cu một ngưi b Gia-ve bt nhm. Cnh miêu t cuc
gp g của ba người: Gia-ve, Giăng Van-giăng và Phăng-tin đang hấp hối dưới s chng
kiến của bà xơ Xem-pli-xơ. Nhân vật bà được nhắc đến mt ln duy nht trong cnh
không đóng vai trò đáng kể nào cho hành đng kch ca cnh truyện, nhưng giúp cho
vic dn dt cách din gii câu chuyện, định hướng người đọc.
Đoạn văn dịch gm bảy câu, trong đó có bn câu hi, mt câu tr li trc tiếp, mt câu
phc m rng miêu t mang giọng điệu tr tình cm thán. Trong s bn câu hi, xét thc
cht ch có một câu được láy đi láy lại vi những biên độ, chiu kích m rng khác nhau
mang du n phong cách tu t hc rt rõ và tiêu biu ca Hugo. Ông nói gì vi chị, đó là
ni dung câu hi duy nhất được đặt ra. Nhưng với cách sp xếp các câu được lp ý trong
đoạn văn theo trt t đan xen ngắn-dài, nên người đọc như nghe thấy nhịp điệu luyến láy
ca thut hùng bin. Câu khẳng định Chng ai trên thế gian này nghe được va láy li ý
hai câu hỏi trước (nói cái gì), va chuyển hướng sang câu hi tu t cuối cùng để làm đà
bật lên câu văn trữ tình quen thuc ca Hugo (hiu qu việc nghe như thế nào). Câu văn
va mang tính triết lý, li vừa có tính khoa trương hùng bin, va để tr li li vừa để suy
tư thông qua phần miêu t. S kết hp ca nhng hình ảnh tương phản trong câu văn: nụ
cười và cái chết, nht nhạt và xa xăm, bà xơ (đại diện cho đức Chúa) và Phăng tin (từng
làm ngh bán thân) đã làm cho câu văn mang giọng điệu tha thiết, buồn nhưng không đau
xót. Ngh thut tr tình hùng bin này, hn là Hugo học được trong các tác phm c đại,
đã góp phn làm cho tác phm ca ông mang âm vang s thi.
Các thao tác din ging truyn thống như thế góp phn truyn cm hứng đọc thông qua
vic khám phá nhng th pháp ngh thut thiên v tu t hc. Thế mà có mt câu hi bng
được đặt ra: ai nói trong đoạn văn trên? Nói với ai? Cách đọc truyn thng s tr li rng
đó chính là Hugo. Theo cách nói mới hơn, người ta có th tr li rng đây là chuyện
giữa người k chuyện (narrator/narrateur) và người nghe k (narrataire). Tr li câu hi
này, chúng ta r sang hướng nghiên cứu văn bản.
Chính thực người k chuyện toàn năng (narrateur omniprésent) – nhân vật thường gp
trong tiu thuyết c điển, trong đó có Hugo là k dn chuyn duy nht cho tác phm
cũng như trong đoạn trích này. Người k chuyện đó hiện ra với tư cách người biết hết,
thông báo cho người nghe tt c mi chuyn. K y thâm nhp vào mi ngóc ngách tâm
hn ca tt thy các nhân vật, để mách bảo cho người nghe chuyện, để báo trước cho
người nghe. Ông ta có th nói tt c hay ch mt phn nhm phc v cho tiến trình k
chuyn ca mình, la chn những điều cn nói tng thời điểm sao cho câu chuyn tr
nên hp dn. th hiu một cách đơn giản, ít nht là đoạn trích này, đó chính là tác
gi. Mặc định là người k toàn năng trong các tiu thuyết c điển luôn có quyn lc dàn
xếp tt thy mi th cho phù hp với ý đồ riêng mình. Người nghe chuyn (narrataire) có
th hiu một cách đơn giản chính là người đọc. Do thế, trong mt s trường hp khi nhân
vật được bạn đọc yêu thích, h có th yêu cu tác gi kéo dài tác phẩm để có được mt
kết qu như ý.
Quay tr lại văn bản ca Hugo, câu phỏng đoán có nhng ảo tưởng cm động có th
nhng s thc cao c có th là của chính người k Hugo. Nó thc ra là mt li khng
định theo li hàm n nhng chuyện mà Giăng Van-giăng đã và s làm cho Phăng-tin (cu
Cô-dét khi nhà Tê-nác-đivà nuôi dạy cô bé thành người). Người k chuyn này gi
quyn chi phi góc nhìn ca ít nht là toàn b đoạn văn này, và nói chung là ca toàn b
tiu thuyết. Người k chuyn y thuyết minh, lý gii, trình bày cho người nghe, định
hướng cách hiểu cho người đọc, không cho phép hiu sai. Trong tiu thuyết ca Hugo
cũng như của những nhà văn đương thời, ta bt gp mu hình người k chuyện toàn năng
(hay toàn tri – tùy theo cách diễn đạt). Có th ly mt ví d như câu văn sau ca Hugo
cũng ở trong đoạn trích:
Ch không th chịu đựng được b mt gm ghiếc y, ch thấy như chết lịm đi, chị ly tay
che mt và kêu lên hãi hùng.
Câu k dường như miêu tả t điểm nhìn ca nhân vt với động t thy, ch ng là ch
(ch Phăng-tin), nhưng thực ra li do người k chuyn nhn xét vi nhng tính t gm
ghiếc, hãi hùng gn với đim nhìn t bên ngoài. Chúng là lời đnh giá của người k
chuyn v cm xúc, phn ng ca nhân vt ch không th là ca nhân vt. Hãy hình
dung, nếu là Phăng-tin, cô không th diễn đạt mt cách rõ ràng, minh bch, và ngn gn
những điều ấy đến như thế. Chính điu này lý gii vì sao tâm lý nhân vt của Hugo đơn
gin, nguyên phiến. Tt c các nhân vật đều chu s qun lý ca một điểm nhìn, mt
giọng điệu duy nhất. Đơn giản là ông đã “chuyn mã” chúng theo mt giọng điệu ca
chính mình. Giọng điệu ca tiu thuyết Hugo tr nên đơn thanh chứ không đa thanh như
trong tiu thuyết ca Flaubert sau này. M. Bakhtine không xếp ông vào diện nhà văn đa
thanh đã đành, mà ngay cả mt nghiên cu v phong cách và tính cht thc ti cuc sng
ca E. Auerbach cũng không đặt ông vào dòng chảy các nhà văn hiện thc. Dù cho có s
xut hin nhiu loi ngôn ng xã hội khác nhau trong văn bn ca ông thì không có nghĩa
là ông với tư cách người k đã chp nhn chúng, cho phép chúng tn ti mt cách bình
đẳng vi mình. Giọng điệu ca ông với tư cách người k chuyện toàn năng luôn lấn át
toàn b các giọng điệu khác, đồng hóa chúng, đưa tt c v cùng mt mt phng, v cùng
mt góc nhìn và lập trường của người k chuyện để đánh giá, phán xét mọi s.
Trong cnh này, có những đoạn vẫn như được nhìn dưới góc độ ca nhân vt của Phăng-
tin qua nhiu cách diễn đạt: ch ly tay che mt; nghe thy tiếng Gia-ve, Phăng tin lại m