Viêm mũi
(Kỳ 3)
3. Viêm mũi mạn tính.
Bao gồm:
- Viêm mũi mạn tính xuất tiết.
- Viêm mũi quá phát.
3.1. Viêm mũi mạn tính xuất tiết.
3.1.1. Triệu chứng: Viêm mũi mạn tính xuất tiết đặc trưng bởi xung huyết
lan tovà phù nnhiều niêm mạc mũi (đôi khi nề tím). Triệu chứng gần giống
như trong viêm mũi cấp tính.
Triệu chứng toàn thân: không có đặc biệt.
Triệu chứng tại chỗ:
- Ngạt mũi không thường xuyên, ngạt tăng lên theo thế bệnh nhân nằm
ngửa hay nghiêng. Thông thường trong những trường hợp này máu những
phần dưới thấp của mũi. Các mạch máu của tổ chức hang do mất trương lực,
trạng thái giãn nên máu, gây cản trở thở bằng đường mũi. Khi quay nghiêng
sang bên kia, ngạt mũi cũng chuyển sang lỗ mũi nằm ở thấp.
- Chảy mũi hầu như thường xuyên.
- Những biến chứng trong viêm mũi mạn tính thể ở dạng giảm ngửi hoặc
đôi khi mất ngửi, thường tổn thương cơ quan thính giác do dịch viêm chảy từ mũi
qua vòi tai vào hòm tai.
3.1.2. Chẩn đoán.
Chẩn đoán xác định thường khó.
Chẩn đoán phân biệt.
- Với viêm mũi quá phát: gây co niêm mạc mũi bằng dung dịch Cocain 1%
- 3% pha Adrenalin 1%0 hoặc dung dịch Ephedrin 2%-3%. Nếu hầu như hết
hoàn toàn sphù nniêm mạc mũi, sau khi nhỏ thuốc co mạch, chứng tỏ viêm
mũi mạn tính thường. Còn nếu không co chứng tviêm mũi quá phát. Thăm dò
niêm mạc mũi bằng que thăm đầu tù th cho ta hình dung được mức độ phù n
của nó.
- Trong viêm mũi xuất tiết nhất là xuất tiết nhiều, cần loại trừ bệnh
xoang là nguồn gốc có thể gây ra sự xuất tiết này.
3.1.3. Điều trị.
- Để giảm phù n và chống viêm, dùng các thuốc se hoặc các thuốc đốt
cuốn mũi.
- Bôi dung dịch Nitrat bạc 1%, 2%, 3% hoặc dung dịch Clorua kẽm.
- Nếu tái diễn dùng Napthasolin 0,5% hoặc Ephêdrin 1% có kết quả.
- Vliệu, thể khí dung, chiếu tia sóng ngắn vào vùng mũi, điện di
dung dịch Novocain 5%. Nếu không kết quthể chỉ định đốt cuốn mũi dưới
bằng côte điện.
3.2. Viêm mũi quá phát.
dạng viêm đặc trưng bởi sự tăng sinh của tchức liên kết. Sự tăng sinh
các thành phn tổ chức này không phải diễn ra mạnh trên toàn bniêm mạc mũi
mà chyếu các vị trítổ chức hang. Đó là đầu và đuôi cuốn mũi giữa và dưới.
Đôi khi chúng nở to chiếm toàn bvùng phía dưới cuốn dưới, bề mặt phần quá
phát thphẳng, song thường là gghề, nhất là vùng các đầu cuốn dạng múi,
thulồi ra. Đuôi cuốn quá phát thể dạng khối u lồi vào thầu. Mầu sắc bề
mặt phần quá phát tuỳ thuộc vào lượng tổ chức liên kết phát triển và cấp máu:
thể nâu đỏ hoặc đỏ thẫm hoặc tím xẫm.
3.2.1. Triệu chứng.
Triệu chứng của viêm mũi quá phát cũng ngạt tắc mũi và chảy mũi. tuy
vậy ngạt mũi đây là do nguyên nhân bền vững (quá phát niêm mạc) nên
thường xuyên n ít thấy giảm đi sau khi bôi thuốc co mạch. Thông thường
trong viêm mũi quá phát mạn tính, đuôi cuốn dưới có thể chắn trực tiếp vào lỗ hầu
của vòi tai hoặc tạo điều kiện cho viêm nhim vào vòi tai hòm tai. Đôi khi còn
tổn thương cả hệ thống tuyến lệ do đầu cuốn dưới quá phát bịt mất lỗ dưới của ống
lệ tỵ, gây chảy nước mắt, viêm túi lệ và viêm kết mạc.
Viêm mũi mạn tính cũng là nguyên nhân gây nhức đầu, khó thở, nhất là v
đêm, các cơn hen và những rối loạn thần kinh khác.
3.2.2. Điều trị.
Đề phòng bệnh trước hết phải loại hết tất cả c nguyên nhân gây viêm mũi
mạn tính. Như vậy trước hết phải chú ý tới thtrạng chung của thể (các bệnh
tim, thận nhiễm mỡ...), các điều kiện vệ sinh và nghnghiệp trong lao động của
bệnh nhân. Sau khi đã sáng tvà loi trnguyên nhân này stiến hành điều trị tại
chỗ.
Điều trị thuốc: Bôi thuốc với mục đích làm gim phù nniêm mạc mũi
thường dùng dung dịch Glyerin iôt 0,5 -1,5%. Đối với dạng viêm mũi quá phát đòi
hỏi điều trị kiên quyết hơn. Nếu niêm mạc chưa quá phát mạnh thì dùng hoá chất
đốt cháy: axit cromic, axit trcloaxetic, nitrat bạc...
Điều trị bằng đốt điện (côte): Trước khi đốt hãy bôi niêm mạc mũi bằng
dung dịch Cocain với Adrenalin 3-5% t1-2 lần. Khi đốt bằng que điện cần tuân
thủ theo các nguyên tắc sau:
- Không cần nung que điện đến sáng trắng vì tác dụng cầm máu chỉ cần tới
mức nung đỏ.
- Trong khi đốt cần quan sát để không bđốt đồng thời cả 2 bên đối diện
của hốc mũi tránh bị dính về sau do đốt.
- Không được rút đầu côte điện ra khỏi tổ chức bị đốt khi trạng thái nguội
vì skéo theo ra một mảng tổ chức gây chảy máu. Đưa côte điện ra ngoài mũi, vẫn
ở tình trạng nung đỏ.
- Thường làm 1 - 2 vết đốt từ sau kéo ra trước theo bờ cuốn để sau đó sẹo
tạo thành sau khi rụng đi sẽ co nhỏ niêm mạc phù nlại.
- Vi côte điện đôi khi chỉ cần một lần là được, nhưng khi phải đốt lại
lần 2, sau khi bong vẩy lần đầu.
- Cần phòng cho bệnh nhân viêm và ngạt mũi ngay mấy ngày sau khi đốt.
Điều trị phẫu thuật:
- Chđịnh: Khi có biểu hiện quá phát xương hoặc tăng sinh tổ chức liên kết,
không còn đáp ứng với thuốc co mạch, phải dùng đến biện pháp phẫu thuật.