
90
XÂY DỰNG MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG VÌ NGƯỜI
NGHÈO TẠI VIỆT NAM
Nguyễn Văn Hóa*
TÓM TẮT
Ngành du lịch là một trong những dịch vụ xuất khẩu chủ yếu với lợi thế so sánh mạnh mẽ
và giá trị của nó đã được chứng minh trong cuộc chiến chống đói nghèo. Đây là ngành quan trọng
giúp cho sự phát triển và thịnh vượng trong một nước đang phát triển để xoá đói giảm nghèo.
Ngành du lịch chịu trách nhiệm phát triển và phải tìm cách tận dụng các mô hình nâng cao khả
năng cạnh tranh với các lợi thế của nó. Du lịch cộng đồng (CBT) nhằm vào mục tiêu thu hút sự
tham gia của người dân địa phương vào việc vận hành và quản lý các dự án du lịch nhỏ như là một
phương tiện giảm nghèo và mang lại thu nhập cho cộng đồng. Các sáng kiến CBT còn khuyến khích
tôn trọng các truyền thống và văn hóa địa phương cũng như các di sản thiên nhiên. CBT là mội loại
hình du lịch mang tính bền vững thúc đẩy các chiến lược vì người nghèo trong môi trường cộng
đồng.
SET UP THE COMMUNITY- BASED TOURISM MODEL TO REDUCE POVERTY
IN VIETNAM
SUMMARY
Tourism is among the major exporting services with strong comparable advantages as its
values have bean proved in the war against poverty and starvation. This is an important business
field for the development and prosperity of a developing country against poverty and starvation.
The tourism is responsible to develop and apply models to enhance the competing abilities
regarding its advantages. CBT is supposed to attract the attention of local people to execute and
manage small tourism projects as a method to reduce the poor and bring income to the community.
CBT ideas also encourage to respect the local culture and traditions as well as the natural
heritages. CBT is a stable tourism model which takes effect on projects against poverty and
starvation in the community.
Trong Hội nghị Thượng đỉnh toàn cầu về
nghèo đói, cộng đồng trên thế giới đã cam
kết tăng cường năng lực của các nước đang phát
triển để giảm mức độ nghèo đói và cạnh
tranh trong thị trường thế giới. Các nước G8 và
các quốc gia công nghiệp hóa, cũng như Tổ chức
Liên Hợp Quốc và tổ chức Breton Woods, Ngân
hàng Thế giới và hệ thống Quỹ tiền tệ Quốc tế
(IMF) cam kết triển khai thực hiện các chương
trình phát triển vào năm 2015.
Hội nghị thượng đỉnh về khí hậu tại Bali-
Indonesia của Liên Hợp Quốc đã đặt nền
tảng cho một khuôn khổ mới là chuyển đổi sang
một nền kinh tế ít Carbon hơn bằng cách triệt
để giảm phát thải khí nhà kính vào năm 2020.
Kết quả của Hội nghị, các nước đã bắt đầu quá
trình đàm phán về chế độ giảm tải khí nhà kính
hậu Kyoto vào năm 2012. Điều này cuối cùng
sẽ đòi hỏi phải thay đổi các hoạt động quan
trọng của con người cho tất cả các lĩnh vực, bao
gồm các phương pháp tiếp cận để cạnh tranh.
* TS. Trưởng khoa Thương mại-Du lịch, trường Đại học Công nghiệp Tp.HCM

Tạp chí Đại học Công nghiệp
91
Biến đổi khí hậu là một thách thức toàn cầu và
cộng đồng thế giới đã đồng ý cam kết, song
song cam kết với các mục tiêu Phát triển Thiên
niên kỷ. Tại các nước nghèo nhất thế giới và các
nước mới nổi, ngành du lịch là một trong những
dịch vụ xuất khẩu chủ yếu với lợi thế so sánh
mạnh mẽ và giá trị của nó đã được chứng minh
trong cuộc chiến chống đói nghèo. Ngành du
lịch chịu trách nhiệm phát triển và phải tìm cách
tận dụng các mô hình nâng cao khả năng cạnh
tranh với các lợi thế của nó.
1. MỘT SỐ KẾT QUẢ GIẢM NGHÈO
VIỆT NAM ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC
Việt Nam, đất nước chịu đựng sự tàn phá
suốt thời gian dài của chiến tranh và hàng chục
năm trong thời kỳ bao cấp nghèo khổ. Tuy
nhiên, Việt Nam đã về đích sớm trong việc thực
hiện mục tiêu đầu tiên về xoá nghèo trong 8
mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ với việc giảm
tỷ lệ người nghèo trong dân cư từ 58,1% năm
1993 xuống còn 9,45% trong năm 2010. Đại sứ
Bùi Thế Giang, Phó trưởng Phái đoàn Đại diện
thường trực Việt Nam tại Liên Hợp Quốc đã
nêu rõ, chính sách xoá đói giảm nghèo của Việt
Nam không chỉ giúp tăng thu nhập cho người
nghèo mà còn giúp họ cải thiện sinh kế và tiếp
cận các dịch vụ xã hội như chăm sóc sức khoẻ,
giáo dục, hoà nhập xã hội…
Các biện pháp thực hiện giảm nghèo của
Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đưa ra khá đa
dạng như:
- Mục tiêu Quyết định 167 của Thủ
tướng Chính phủ về hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo
dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng Hoàng Trung
Hải là hỗ trợ xây dựng nhà mới cho 500 ngàn hộ
nghèo giai đoạn 2008- 2012. Trong năm 2010
thực hiện hỗ trợ được 190 ngàn hộ, có 9 tỉnh và
thành phố đã hoàn thành chương trình xây nhà
mới cho người nghèo, về đích trước kế hoạch 2
năm là các tỉnh Ninh Bình, Quảng Ninh, Bắc
Ninh, Lào Cai, Lâm Đồng, Phú Thọ, Thái
Nguyên, Đắc Lắc, Đắc Nông. Trong 2 năm qua,
nguồn vốn trung ương huy động cho chương
trình là 8.275 tỷ đồng, địa phương là 464 tỷ
đồng, nguồn vốn khác là 1700 tỷ đồng. Năm
2010, toàn tỉnh Long An có 30 cơ sở dạy nghề,
đã đào tạo nghề cho 19.027 lao động, tổ chức
310 lớp dạy nghề cho lao động nông thôn, người
tàn tật và người nghèo, với 8.677 học viên.
- Hội Chữ thập đỏ thành phố Hồ Chí
Minh cho biết, cơ quan này vừa chi hơn 220 tỷ
đồng cho các hoạt động nhân đạo, cứu trợ các cá
nhân có hoàn cảnh khó khăn và đối tượng chính
sách.
- Các mô hình Tổ phụ nữ tiết kiệm, Tổ
phụ nữ tình thương, Tổ phụ nữ tín dụng- tiết
kiệm theo hướng dẫn của T.Ư Hội, Tổ phụ nữ
làm kinh tế, Câu lạc bộ nuôi trồng thuỷ sản, Câu
lạc bộ V.A.C… tiếp tục duy trì và phát triển có
hiệu quả. Qua đó đã tạo được thói quen tiết
kiệm cho phụ nữ, mặt khác tạo được sự gắn bó,
tương trợ giúp nhau trong tổ nhóm.
2. ĐỊNH HƯỚNG VÀ MÔ HÌNH
PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG VÌ
NGƯỜI NGHÈO TẠI VIỆT NAM ĐẾN
NĂM 2002 VÀ HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
2.1. Định hướng và mô hình phát triển
du lịch cộng đồng vì người nghèo tại Việt Nam
đến năm 2020 và hướng đến 2030
Những nhân tố tác động trực tiếp đến
ngành du lịch, dẫn đến việc hình thành xu thế
phát triển của ngành Du lịch trong tương lai như
thế nào? Xu hướng đó là:
a. Du lịch vẫn là một ngành thương mại
lớn. Tuy nhiên, du lịch đại chúng vẫn sẽ phát
triển. Du lịch theo nhóm được đặt chỗ trước sẽ
ngày càng giảm, các kỳ nghỉ cá nhân được đặt
ngẫu nhiên sẽ ngày càng tăng. Các yếu tố văn
hóa truyền thống bản địa sẽ được pha trộn với
các dịch vụ hiện đại theo yêu cầu của từng cá
nhân cũng là đòi hỏi trong tương lai.
b. Bên cạnh đó, con người ngày càng
mong muốn hiểu biết hơn về cộng đồng. Trong
nhiều trường hợp, con người đi du lịch xuất hiện
từ nhu cầu các mối liên hệ cá nhân hay nhu cầu

Xây dựng mô hình phát triển du lịch…
92
được nghỉ ngơi cùng với gia đình và bạn bè.
Những người độc thân đi du lịch vì muốn gặp
gỡ, hẹn hò và tìm bạn lứa đôi.
c. Khi xã hội ngày càng trở nên phức
tạp, con người bắt đầu thể hiện sự hứng thú với
những nền văn hoá khác. Con người phát triển
nhân cách thông qua việc khám phá các nền văn
hóa bên ngoài và các loại hình nghệ thuật nơi
đến. Do vậy, du lịch là một cách thức hữu hiệu
giúp con người tìm hiểu, giao lưu với các nền
văn hóa bên ngoài. Bên cạnh đó, việc phát triển
cơ sở hạ tầng, sự hỗ trợ của các phương tiện
giao thông mới, thu nhập tăng khiến du lịch trở
thành một hiện tượng phổ biến trong xã hội.
Dự báo khách du lịch quốc tế và nội địa của du lịch Việt Nam đến năm 2030.
(Báo cáo của Viện nghiên cứu Phát triển du lịch, Tổng cục Du lịch Việt Nam)
Định hướng phát triển sản phẩm du lịch
Việt Nam đến năm 2020 và 2030 chủ yếu là
phát triển loại hình du lịch nghỉ dưỡng biển, du
lịch MICE. Trong các sản phẩm du lịch chủ đạo
vẫn dựa vào:
- Tập quán, truyền thống và lối sống của
đồng bào các dân tộc.
- Các làng nghề sản xuất sản phẩm thủ
công truyền thống và độc đáo: Bát Tràng, làng
làm nón (Chuông, Hà Tây), làng dệt lụa Vạn
Phúc (Hà Tây), làng đúc đá Ngũ Hành Sơn,...
khôi phục và phát triển các làng nghề thành các
điểm du lịch.
- Du lịch sinh thái tại các rừng quốc gia,
khu bảo tồn thiên nhiên, vùng núi phía Bắc, Tây
nguyên, miền Trung và đồng bằng sông Cửu
Long; phát triển du lịch sinh thái biển…
Nơi để phát triển các sản phẩm chủ đạo
trên là những vùng mà đa số có tài nguyên còn
hoang sơ và đời sống người dân còn nghèo
2.2. Một số khái niệm liên quan đến
phát triển du lịch cộng đồng vì người nghèo
Ngày 10/2/2011, tại trụ sở Liên Hợp Quốc
ở New York, Uỷ ban Phát triển xã hội Liên Hợp
Quốc đã tiến hành phiên họp khoá 49 với chủ đề
“Xóa nghèo, mối quan hệ qua lại giữa hòa nhập
xã hội với việc làm đầy đủ và tốt đẹp cho mọi
người” . Theo tinh thần của Phiên họp thì ngành
du lịch của các nước chậm phát triển và đang
nổi cần phát triển du lịch cộng đồng nhằm xóa
đói giảm nghèo.
Các chỉ tiêu/năm 2010* 2015 2020 2030
Tổng số khách quốc tế vào VN:
- Lượt khách (ngàn) 4.800 8.000 12.000 19.500
- Ngày lưu trú trung bình 7,0 7,3 7,5 8,0
- Tổng số ngày khách (ngàn) 33.600 58.400 90.000 156.000
Tổng số khách du lịch nội địa:
- Lượt khách (ngàn) 22.000 32.000 45.000 70.000
- Ngày lưu trú trung bình 4,4 5,4 6,0 6,5
- Tổng số ngày khách (ngàn) 96.800 172.800 270.000 455.000
Tổng số lao động du lịch trực tiếp (ngàn) 420 1.600 2.200 3.000

Tạp chí Đại học Công nghiệp
93
2.2.1. Nghèo là gì?
Các Mục tiêu Thiên niên Kỷ 21 của Liên
Hợp Quốc định nghĩa cực nghèo là sinh sống
với mức thu nhập ít hơn 1 đô la Mỹ một ngày.
Nghèo được định nghĩa là những người không
có khả năng tiếp cận những điều kiện sống được
xã hội chấp nhận. Thuật ngữ “những điều kiện
sống được xã hội chấp nhận” kết hợp giữa các
nhu cầu thiết yếu như: thu nhập, lương thực,
trang phục và nơi ở với các lợi ích về sinh lý và
xã hội như y tế, dinh dưỡng, giáo dục và cơ hội
việc làm. Tuyệt đối nghèo là thiếu khả năng tiếp
cận các nhu cầu thiết yếu đối với sự sinh tồn của
con người. Tương đối nghèo là so sánh giữa
điều kiện sống của những người thuộc bộ phận
thấp thấp trong dân cư với những người thuộc
tầng lớp cao nhất.
Thủ tướng vừa ký quyết định ban hành
chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo mới áp dụng cho
giai đoạn 2011-2015. Theo đó, hộ nghèo ở nông
thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ
400.000 đồng/người/tháng (4,8 triệu
đồng/người/năm) trở xuống. Hộ nghèo ở thành
thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000
đồng/người/tháng (6 triệu đồng/người/năm) trở
xuống.
Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức
thu nhập bình quân từ 401.000 - 520.000
đồng/người/tháng. Hộ cận nghèo ở thành thị là
hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 -
650.000 đồng/người/tháng. Mức chuẩn nghèo
quy định nêu trên là căn cứ để thực hiện các
chính sách an sinh xã hội và chính sách kinh tế,
xã hội khác. Quyết định này có hiệu lực thi hành
từ ngày 01-01-2011.
Trước đó, UBND TP. Hà Nội cũng đã ban
hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng
cho giai đoạn 2011-2015 trên địa bàn. Cụ thể,
tại khu vực thành thị những hộ có mức thu nhập
bình quân từ 750.000đồng/người/tháng trở
xuống là hộ nghèo, còn tại nông thôn là 550.000
đồng/người/tháng trở xuống. Hộ cận nghèo tại
khu vực thành thị là những hộ có mức thu nhập
bình quân từ 751.000 đến 1.000.000 đồng/
người/tháng. Hộ cận nghèo tại nông thôn sẽ là
những hộ có mức thu nhập bình quân từ
551.000 đến 750.000 đồng/người/tháng.
Còn tại TP. Hồ Chí Minh, theo chuẩn
nghèo trong giai đoạn 2009-2015, hộ nghèo tại
khu vực nội thành là những hộ có thu nhập bình
quân dưới 12 triệu đồng/người/năm. Tại các
quận mới, huyện ngoại thành, những hộ thuộc
diện nghèo là hộ có thu nhập dưới 10 triệu
đồng/người/năm./.
2.2.2. Du lịch vì người nghèo là gì?
Du lịch vì người nghèo (PPT) là một
phương thức tiếp cận mới về lập kế hoạch và
quản lý du lịch trong đó những người sống trong
điều kiện nghèo được đưa lên vị trí ưu tiên hàng
đầu trong chương trình nghị sự. Các chiến lược
PPT về giảm thiểu cả tình trạng tuyệt đối nghèo
lẫn tương đối nghèo bằng cách tạo ra các cơ hội
tạo thu nhập liên quan đến du lịch cho những
người có hoàn cảnh khó khăn. Cần tiến hành
công tác giám sát để đánh giá xem các chiến
lược đó có hiệu quả hay không.
2.2.3. Du lịch cộng đồng là gì?
Du lịch cộng đồng (CBT) là mội loại hình
du lịch bền vững thúc đẩy các chiến lược vì
người nghèo trong môi trường cộng đồng. Các
sáng kiến CBT nhằm vào mục tiêu thu hút sự
tham gia của người dân địa phương vào việc
vận hành và quản lý các dự án du lịch nhỏ như
là một phương tiện giảm nghèo và mang lại thu
nhập cho cộng đồng. Các sáng kiến CBT còn
khuyến khích tôn trọng các truyền thống và văn
hóa địa phương cũng như các di sản thiên nhiên.
2.3. Mô hình phát triển du lịch cộng
đồng vì người nghèo
Một số mô hình dự án CBT được thực
hiện và quản lý bởi một hoặc nhiều hộ kinh
doanh sử dụng lao động là người địa phương, và
bằng cách đó phân chia lợi ích kinh tế cho toàn
cộng đồng. Các mô hình khác có thể được quản
lý và vận hành bởi hợp tác xã hoặc nhóm cộng

Xây dựng mô hình phát triển du lịch…
94
đồng, có thể với sự hỗ trợ của một cơ quan tài
trợ hoặc một Tổ chức Phi chính phủ (NGO).
Thông thường, các dự án CBT phát triển một hệ
thống tái phân chia thu nhập từ du lịch cho cộng
đồng thông qua các dự án giáo dục hoặc y tế.
Tuy mỗi điểm đến du lịch hay mỗi dự án
đều có những đặc thù riêng, trong du lịch cộng
đồng lại có những chủ đề chung cần được kiểm
nghiệm trong phần giới thiệu này.
Bốn nhóm tiêu chí được lựa chọn để xây
dựng và đánh giá mô hình phát triển du lịch
cộng đồng vì người nghèo là: bình đẳng giới,
giảm nghèo, kinh doanh bền vững, và phát triển
năng lực địa phương.
Nhóm tiêu chí thứ 1: Giám sát bình
đẳng giới và tham gia của xã hội
Du lịch có thể mang lại tác động tích cực
đối với đói nghèo nhờ vào việc mở rộng các cơ
hội tăng thu nhập cho phụ nữ có thu nhập thấp,
những người có hoàn cảnh khó khăn như người
dân tộc thiểu số và thanh niên không có tay
nghề. Phụ nữ, ngay cả trong những xã hội bảo
thủ và truyền thống cũng thường được coi là
những đối tượng có tiềm năng về cung cấp dịch
vụ du lịch. Do phụ nữ thường là những người
chăm lo chính trong gia đình, thu nhập từ du
lịch có thể tác động trực tiếp đến chất lượng
cuộc sống gia đình.
Du lịch đặc biệt thuận lợi đối với phụ nữ,
là ngành thường tuyển nhiều phụ nữ hơn nam
giới. Tuy nhiên, bình đẳng giới không chỉ đơn
giản là việc phụ nữ có được việc làm trong
ngành du lịch mà còn tham gia đảm nhiệm vị trí
cao, các cơ hội đào tạo, tăng tỷ lệ làm việc toàn
thời gian hay bán thời gian và khả năng phát
triển. Ở những xã hội truyền thống, tiêu chí phụ
nữ và nam giới có bình đẳng trong việc tiếp cận
với hệ thống tín dụng và vay vốn mua đất để
phụ nữ trở thành người chủ kinh doanh du lịch.
Một tiêu chí khác cần xem xét là du lịch tác
động khác nhau như thế nào đối với đời sống
của nam giới và nữ giới. Ví dụ, phụ nữ thường
là người đầu tiên cảm nhận được tình trạng thất
thoát tài nguyên thiên nhiên, nhưng đồng thời
họ cũng có thể là những người đầu tiên được
hưởng lợi từ việc cải thiện cơ sở hạ tầng thường
đi kèm với việc phát triển du lịch như cấp nước
và điện. Một số tiêu chí chính cần quan tâm về
bình đẳng giới và phát triển du lịch liên quan
đến hạnh phúc gia đình, cơ hội việc làm bình
đẳng, vai trò của giới trong các xã hội truyền
thống, tiếp cận vốn vay và tín dụng, kiểm soát
lợi ích.
a. Hạnh phúc gia đình
Đối với nhiều người tại các quốc gia đang
phát triển, cả nam giới cũng như phụ nữ, du lịch
có thể mang lại cơ hội đầu tiên để có việc làm
chính thức. Nhưng đi đôi với lợi ích về kinh tế,
việc làm trong ngành du lịch còn mang lại
những hậu quả tiêu cực đối với hạnh phúc gia
đình, như thời gian làm việc dài và sức ép do
nhu cầu làm việc theo ca. Các lĩnh vực cần xem
xét bao gồm:
- Hậu quả của làm việc trong ngành du
lịch đối với mối liên kết gia đình, khối lượng
công việc của phụ nữ, sức ép và sức khỏe sinh
sản.
- Những khó khăn mà phụ nữ nuôi con
nhỏ gặp phải.
- Sự an toàn của phụ nữ đối với các công
việc nguy hiểm, quấy rối tình dục, đường đi từ
nhà đến nơi làm việc và làm ca.
b. Các cơ hội bình đẳng để có việc làm
chính thức
Thu nhập thường là động cơ quan trọng
nhất để phụ nữ cũng như nam giới tham gia vào
ngành du lịch, vì du lịch đem lại cơ hội cho
những người có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt là
ở những vùng nông thôn và đảo nhỏ. Các lĩnh
vực cần kiểm tra gồm:
- Tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao
động chính thức và không chính thức trong
ngành du lịch; tỷ lệ phụ nữ giữ vị trí cao so với

