THIÊN 68: THƯỢNG CÁCH
Hoàng Đế hỏi: "Do khí bị uất mà thành chứng Thượng ch, khi ăn uống vào
thì phải ói ra ngay, chứng bệnh này ta đã biết rồi[1]. Giun thì gây ra chứng Hạ
cách - Chứng Hạ cách nghĩa là khi ăn vào khoảng tròn 1 chu kỳ ngày và
đêm mi ói ra[2]. Đối với chứng này, ta vẫn chưa hiểu như thế nào cả, ta mong
được nghe thầy giải thích về việc này”[3].
Kđáp : "Những người mà cuộc sống về vui giận không thoải i, vic ăn
uống không điều độ, giữ ấm lạnh không đúng với thời, như vậy sẽ làm tn
thương đến Vkhí, và chất hàn trấp sẽ chảy xuống đến Đại và Tiểu trường[4].
Khin trp chảy xung đến Đại và Tiểu trường sẽ làm cho giun bị lạnh, giun
bị lạnh chúng sẽ tích tụ lại để cố thvùng Hhoãn, làm cho khí của Trường
V bị đầy, vệ kng đó sẽ không còn vận hành m rộng được nữa, tà khí s
chiếm chỗ để ở tại đó[5]. Mỗi lần người ta ăn uống vào tgiun s theo lên để
ăn, khi giun theo lên trên để ăn thì vùng H hoãn sbị hư, hạ hoãn b hư thì tà
khí s thắng, lưu lại đó để thành tích tụ. nhân vì tích t bị lưu lại, nó sẽ y
thành chng nội ung kết thành rồi thì vùng H hoãn bị trngại, bất li[6]. Vết
ung trong Hhoãn khiến cho sự đau đớn thấu suốt trong sâu, vết ung ở ngoài
H hoãn tkhí của phát tác bên ngoàim cho sự đau đớn nổi ra phía
ngoài, da vùng ung b nhiệt”[7].
Hoàng Đế hỏi: "Phép trị phải như thế nào ?”[8].
Kđáp : "Ấn nhẹ trên vết ung, xét được hưng đi của ung khí, trước hết
châm nh bên cạnh của bvị vết ung, dần dần xê vào trong t cm u hơn,
sau đó lại cm trở lại như lần trước, không được cm quá 3 lần, nên xét rõ tà
khí trong tình trng trầm hay phù để mà châm sâu hay cạn[9]. Mỗi lần châm
xong, n áp dụng phương pp chườm hơi nóng lên vết châm nhằm mục đích
làm cho hơi nóng nhp vào bên trong, nhờ đó mà tà khí ny giảm dn, vết ung
lớn sẽ ngày giảm và v ra, lành ln[10]. Phải phối hợp các phép trị liu và điều
dưỡng, phải tôn trọng những điều cm k, nhằm loại trừ được tà độc bên
trong[11]. Cuộc sng phải điềm đạm, không làm điều trái với thiên nhiên,
vậy thì khí trong thân th mi vậnnh điều hòa, sau đó cho dùng các loại
dược v vị mặn đắng để làm tiêun vết ung, ung độc sẽ theo con đường
tiêu a của cốc k để đại tin ra ngoài vậy”[12].
THIÊN 69: ƯU KHUỂ VÔ NGÔN
Hoàng Đế hỏi Thiếu sư: "Con người mỗi khi có việc lo sợ và nổi giận 1 cách đột
ngột, tiếng nói sẽ bị mất âm thanh, đó là do con đường khí đạo nào b tắc nghẽn ?
Hay là knào bị ngưng vận hành ? Khiến cho âm thanh không còn có thể phát ra
được nữa ? Ta mong được nghe gii thích về nguyên nhân đã gây nên như thế
?”[1].
Thiếu sư đáp: “Yết hầu là con đường của thủy cốc, hầu lung là con đường lên
xuống của khí, hội yếm là của âm thanh, môi và ming là cánh cửa của âm thanh,
lưỡi là bmáy của âm thanh, lưỡi gà là quan i của âm thanh, kháng tảng là ranh
giới nơi để cho khí ra vào, ơng cuống lưỡi là nơi để thần khí sai khiến làm cho
lưỡi động và phát ra âm thanh[2]. Vì thế nếu người nào mà hốc mũi chảy ớc mũi
ra không ngừng, đó là do kháng tng không mở ra, vùng ranh giới của khí phận b
trở ngại[3]. Nếu hội yếm nhỏ mà mỏng, nó sẽ phát ra khí được nhanh, smở đóng
được thuận lợi, con đường xuất ra k tạo ra âm thanh cũng dễ dàng[4]. Nếu hội
yếm to mà dày thì s mở đóng khó khăn, con đường xuất khí ra bị trì trệ, do đó mà
sẽ nói cà lăm[5]. Trường hợp mà 1 người nào đó bị mất tiếng nói 1 cách đột ngột
đó là do hàn khí ở khách tại hội yếm, làm cho âm thanh không thtừ hi yếm để
phát ra âm thanh, cho dù có phát ra được âm thanh thì âm thanh đó cũng kng thể
thành ngôn ngữ 1 cách mạch lạc bình thường được, ngay nơi cánh cửa của sự mở
đóng, nó đã mất đi tác dụng, vì thế tiếng nói sẽ mất đi âm thanh”[6].
Hoàng Đế hỏi: "Phép châm trị bệnh này phải thế nào ?”[7].
Kỳ Bá đáp : "Mạch khí của kinh túc Thiếu âm (Thận) đi từ chân lên tn để buộc
vào cuống lưỡi, liên lạc với hoành cốt (xương cuống lưỡi) và chm dứt ở hội
yếm[8]. Phép châm trị là phi châm tả cả 2 kinh Thận, mạch Nhậm và huyết mạch,
như vậy mới bài trừ được trọc k (ngoại cảm, hàn tà)[9]. Mch của hội yếm lên
trên liên hệ với Nhậm mạch, vì thế ta thủ huyệt Thiên Đột, sẽ khôi phục lại khí ở
hội yếm để phát ra âm thanh trở lại”[10].