BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN ---------------------------------- BÙI NHẬT QUỲNH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI DU LỊCH CÓ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2021
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN ---------------------------------- BÙI NHẬT QUỲNH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI DU LỊCH CÓ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM Chuyên ngành: KINH TẾ DU LỊCH Mã số: 9310101
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Trương Hoàng
HÀ NỘI, NĂM 2021
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật. Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.
Hà Nội, ngày tháng năm 2021 Nghiên cứu sinh
Bùi Nhật Quỳnh
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................... i MỤC LỤC ...................................................................................................................... ii DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .............................................................................. v DANH MỤC BẢNG ..................................................................................................... vi DANH MỤC HÌNH ..................................................................................................... vii CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU ................................................................ 1 1.1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................................... 1 1.2. Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................................... 4 1.3. Câu hỏi nghiên cứu ...................................................................................................... 4 1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................. 5 1.5. Khái quát về phương pháp nghiên cứu áp dụng trong luận án ........................... 7 1.5.1. Cách tiếp cận ............................................................................................................... 7 1.5.2. Khái quát về phương pháp thu thập dữ liệu ........................................................... 7 1.5.3. Khái quát về phương pháp phân tích dữ liệu ......................................................... 8 1.6. Những đóng góp mới của luận án.............................................................................. 9 1.7. Kết cấu của luận án.................................................................................................... 10 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ................ 11 2.1. Khái quát về du lịch có trách nhiệm ....................................................................... 11 2.1.1. Mối quan tâm và các giai đoạn phát triển trong nghiên cứu về DLTN ........... 11 2.1.2. Khái niệm du lịch có trách nhiệm .......................................................................... 12 2.2. Mối liên hệ giữa hành vi DLTN và hành vi đạo đức của doanh nghiệp .......... 15 2.3. Tổng quan nghiên cứu về các yếu tố tác động đến hành vi DLTN của doanh nghiệp .................................................................................................................................. 19 2.3.1. Các nghiên cứu về yếu tố tác động đến DLTN ..................................................... 19 2.3.2. Các cách tiếp cận giải thích hành vi DLTN của doanh nghiệp ......................... 22 2.3.3. Các nghiên cứu về yếu tố tác động đến hành vi trách nhiệm của doanh nghiệp . 35 2.4. Khoảng trống nghiên cứu ......................................................................................... 43 2.5. Lý thuyết về các yếu tố tác động đến hành vi DLTN của doanh nghiệp ............. 46 2.5.1. Lý thuyết hành vi động hợp lý và hành vi dự định .............................................. 46 2.5.2. Cơ sở của quyết định trong doanh nghiệp theo lý thuyết của Niklas Luhmann 49 2.5.3. Lý thuyết giải thích hành vi đạo đức/trách nhiệm của doanh nghiệp dựa trên cách tiếp cận quy chuẩn ..................................................................................................... 50 2.5.4. Lý thuyết thể chế ....................................................................................................... 51
iii
2.6. Mô hình nghiên cứu về các yếu tố tác động đến hành vi DLTN của các doanh nghiệp lữ hành quốc tế ở Việt Nam ................................................................................ 53 2.6.1. Căn cứ xây dựng mô hình nghiên cứu .................................................................. 53 2.6.2. Hành vi DLTN và các yếu tố tác động đến hành vi DLTN của doanh nghiệp trong mô hình nghiên cứu ................................................................................................. 55 2.6.3. Mô hình nghiên cứu đề xuất ................................................................................... 65 CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................................ 67 3.1. Các giả thuyết nghiên cứu ........................................................................................ 67 3.2. Thiết kế nghiên cứu ................................................................................................... 72 3.2.1. Phương pháp nghiên cứu lựa chọn ....................................................................... 72 3.2.2. Quy trình nghiên cứu ............................................................................................... 72 3.3. Phương pháp thu thập dữ liệu ................................................................................. 76 3.3.1. Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc (semi-structured interview) ................. 76 3.3.2. Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi ................................................................... 77 3.4. Xây dựng thang đo và các mệnh đề đo lường........................................................ 81 3.4.1. Thang đo cho dự định thực hiện và thực hiện hành vi DLTN .......................... 82 3.4.2. Thang đo cho thái độ về thực hiện DLTN ............................................................ 83 3.4.3. Thang đo cho áp lực xã hội về thực hiện DLTN được nhận thức .................... 84 3.4.4. Thang đo cho các yếu tố tổ chức tác động đến hành vi DLTN .......................... 86 3.4.5. Thang đo cho biến nhân khẩu học ........................................................................ 89 3.5. Phương pháp phân tích dữ liệu ............................................................................... 91 3.5.1. Phân tích dữ liệu định tính ...................................................................................... 91 3.5.2. Phân tích dữ liệu định lượng .................................................................................. 92 CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................. 95 4.1. Kết quả phỏng vấn sâu .............................................................................................. 95 4.2. Kết quả khảo sát bằng bảng hỏi .............................................................................. 97 4.2.1. Thống kê mô tả dữ liệu ............................................................................................ 97 4.2.2. Kết quả phân tích đánh giá thang đo ..................................................................... 99 4.2.3. Kết quả phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính và kiểm định giả thuyết 107 4.2.4. Kết quả đánh giá tác động biến nhân khẩu học đến dự định thực hiện DLTN . 114 4.2.5. Tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu ................................... 121 CHƯƠNG 5 BÀN LUẬN KẾT QUẢ VÀ HÀM Ý NGHIÊN CỨU ..................... 124 5.1. Thảo luận các kết quả nghiên cứu ......................................................................... 124 5.1.1. Mối quan hệ tương tác giữa Dự định và Thực hiện hành vi DLTN .............. 124 5.1.2. Tác động của Thái độ về thực hiện DLTN đến Dự định thực hiện DLTN . 124
iv
5.1.3. Tác động của áp lực xã hội về thực hiện DLTN được nhận thức tới hành vi DLTN .................................................................................................................................. 125 5.1.4. Mối quan hệ giữa thái độ về thực hiện DLTN, áp lực xã hội về DLTN được nhận thức, và dự định thực hiện DLTN ........................................................................ 127 5.1.5. Tác động của yếu tố tổ chức đến hành vi DLTN của doanh nghiệp .............. 129 5.1.6. Tác động của biến nhân khẩu học đến dự định thực hiện DLTN ................ 133 5.1.7. Thảo luận chung về kết quả nghiên cứu ............................................................. 136 5.2. Bối cảnh phát triển DLTN tại Việt Nam .............................................................. 137 5.3. Hàm ý nghiên cứu dựa trên kết quả nghiên cứu các yếu tố tác động đến hành vi DLTN của doanh nghiệp ở Việt Nam ...................................................................... 139 5.4. Những đóng góp của luận án .................................................................................. 144 5.4.1. Đóng góp về mặt lý luận và phương pháp nghiên cứu ..................................... 144 5.4.2. Đóng góp về mặt thực tiễn ..................................................................................... 147 5.5. Hạn chế của luận án và một số hướng nghiên cứu đề xuất ............................... 148 KẾT LUẬN ................................................................................................................ 151 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN .......................................................................................................... 154 TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 155 PHỤ LỤC 1 - TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ MỨC ĐỘ ĐẠO ĐỨC ... 182 PHỤ LỤC 2 - BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN ..................................................... 194 PHỤ LỤC 3 - CÁC TÌNH HUỐNG NGHIÊN CỨU .............................................. 199 PHỤ LỤC 4 - PHIẾU ĐIỀU TRA KHẢO SÁT ...................................................... 201 PHỤ LỤC 5 - KẾT QUẢ PHÂN TÍCH CFA .......................................................... 209 PHỤ LỤC 6 - KẾT QUẢ PHÂN TÍCH BẰNG MÔ HÌNH CẤU TRÚC SEM ... 211 PHỤ LỤC 7 - KẾT QUẢ PHÂN TÍCH HỒI QUY ................................................ 213 PHỤ LỤC 8 - KẾT QUẢ PHÂN TÍCH MỘT YẾU TỐ ANOVA ........................ 215 PHỤ LỤC 9 - THÔNG TIN CÁC DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH QUỐC TẾ THAM GIA PHỎNG VẤN ....................................................................................... 217
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Tên viết tắt Tên đầy đủ
1 DNLHQT Doanh nghiệp lữ hành quốc tế
2 DLTN Du lịch có trách nhiệm
3 MI Mức độ đạo đức
4 TRA Thuyết hành động hợp lý
5 TPB Thuyết hành vi dự định
6 TNHH Trách nhiệm hữu hạn
vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp một số yếu tố thuộc về tổ chức tác động đến hành vi ra quyết định đạo đức/trách nhiệm ..................................................................................... 39
Bảng 3.1: Các giả thuyết nghiên cứu ............................................................................. 71
Bảng 3.2: Kích cỡ mẫu .................................................................................................. 80
Bảng 3.3: Tổng hợp mệnh đề đo lường của các nhân tố trong mô hình nghiên cứu .... 89
Bảng 4.1: Thống kê mô tả số lượng doanh nghiệp tham gia khảo sát theo các biến nhân khẩu học (n=350) ......................................................................................... 98
Bảng 4.2: Tổng hợp kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA cho tình huống 1 ......................................................................... 101
Bảng 4.3: Tổng hợp kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA cho tình huống 2 ......................................................................... 102
Bảng 4.4: Tóm tắt kết quả phân tích CFA ở tình huống 1 và tình huống 2 ................ 106
Bảng 4.5: Kết quả mối quan hệ tác động giữa các biến trong mô hình ở tình huống 1...... 108
Bảng 4.6: Kết quả mối quan hệ tác động giữa các biến trong mô hình ở tình huống 2...... 111
Bảng 4.7: Kết quả đánh giá tác động tổng hợp của các nhân tố đến thực hiện DLTN của doanh nghiệp - tình huống 1 ................................................................ 113
Bảng 4.8: Kết quả đánh giá tác động tổng hợp của các nhân tố đến thực hiện DLTN của doanh nghiệp - tình huống 2 ................................................................ 114
Bảng 4.9: Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính tác động của biến nhân khẩu học đến dự định thực hiện DLTN ở hai tình huống nghiên cứu .............................. 116
Bảng 4.10: Kết quả kiểm định hậu định theo quy mô doanh nghiệp .......................... 118
Bảng 4.11: Kết quả kiểm định hậu định theo loại hình doanh nghiệp ........................ 119
Bảng 4.12: Kết quả kiểm định hậu định theo thị trường mục tiêu doanh nghiệp ....... 121
Bảng 4.13: Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu ................................. 122
vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Tiến trình thực hiện các phương pháp nghiên cứu của luận án ....................... 9
Hình 2.1: Mô hình kim tự tháp CSR của Baden (2016) và Visser (2006) .................... 18
Hình 2.2: Phân tích hành vi ra quyết định đạo đức của Dubinsky và Loken ................ 23
Hình 2.3: Tương tác của quá trình ra quyết định đạo đức trong các tổ chức ................ 27
Hình 2.4: Hành vi ra quyết định đạo đức trong các doanh nghiệp marketing.............. 28
Hình 2.5: Mô hình nghiên cứu của Hunt và Vitell (1986) ............................................ 29
Hình 2.6: Tổng hợp hành vi ra quyết định đạo đức của Ferrell và cộng sự (1989) ...... 30
Hình 2.7: Mô hình hành vi ra quyết định đạo đức của Fritzsche (1991) ....................... 31
Hình 2.8: Mô hình hành vi ra quyết định đạo đức của Jones (1991) ........................... 32
Hình 2.9: Mô hình hành động hợp lý - TRA ................................................................. 47
Hình 2.10: Mô hình hành vi dự định - TPB .................................................................. 47
Hình 2.11: Mô hình nghiên cứu về các yếu tố tác động đến hành vi DLTN của doanh nghiệp lữ hành quốc tế ............................................................................... 66
Hình 3.1: Quy trình thực hiện nghiên cứu ..................................................................... 75
Hình 3.2: Quy trình lựa chọn mẫu nghiên cứu khảo sát của đề tài ............................... 81
Hình 4.1: Kết quả phân tích CFA của tình huống 1 (chuẩn hóa) ................................ 104
Hình 4.2: Kết quả phân tích CFA của tình huống 2 (chuẩn hóa) ................................ 105
Hình 4.3: Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính tình huống 1 (chuẩn hóa).......... 107
Hình 4.4: Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính tình huống 2 (chuẩn hóa) ....... 110
1
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Lí do chọn đề tài
Phát triển du lịch không chỉ mang lại những lợi ích kinh tế, vai trò của du lịch trong xóa đói giảm nghèo, phát triển dân trí, tăng cường hội nhập, giao lưu văn hóa… đã được kiểm chứng cả trong lý luận và thực tiễn. Nhiều quốc gia vì vậy đầu tư và tạo mọi điều kiện thuận lợi để thu hút khách du lịch, dẫn đến sự xuất hiện của trào lưu du lịch đại chúng (mass tourism). Bên cạnh những lợi ích thu được, phát triển du lịch đại chúng mang đến những tiêu cực về mặt môi trường và xã hội như ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, phá hoại nguồn tài nguyên thiên nhiên, và các tệ nạn. Những tác động tiêu cực cùng suy thoái về mặt môi trường - xã hội do phát triển du lịch đại chúng gây ra là khởi nguồn cho sự ra đời của một khái niệm mới trong du lịch, đó là du lịch bền vững.
Nhiều thuật ngữ được sử dụng để cụ thể hóa mục tiêu của du lịch bền vững, trong đó du lịch có trách nhiệm (sau đây được viết tắt thành “DLTN”) được xem là một thuật ngữ có tính ứng dụng cao (Neto, 2003; Chetttiparamb và Kokkranikal, 2012). Khác với khái niệm du lịch bền vững mang tính phổ quát, lý thuyết, DLTN mang tính thực tiễn, đề ra những yêu cầu cụ thể cho các bên tham gia trong hoạt động du lịch xuất phát từ hành vi của mỗi cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức (Wheeller, 1993; Mihalic, 2016). DLTN còn chỉ ra những yêu cầu mà ngành du lịch phải thực hiện trên ba khía cạnh cân bằng trong phát triển du lịch bền vững gồm kinh tế, xã hội và môi trường. Chính vì vậy, khái niệm DLTN ra đời năm 2002 và ngày càng được thúc đẩy mạnh mẽ ở Việt Nam và trên thế giới.
Tại Việt Nam, thực trạng ứng dụng và phát triển du lịch bền vững có nhiều khác biệt so với các quốc gia khác. Các tổ chức quốc tế như Tổ chức phát triển Hà Lan (SNV) hay Quỹ bảo vệ động vật hoang dã (WWF) đã có nhiều hoạt động thực tiễn hỗ trợ như đầu tư vào dự án, tổ chức hội thảo về DLTN, hay Chương trình phát triển năng lực có trách nhiệm với môi trường và xã hội (ESRT) do EU tài trợ đã đưa ra các nguyên tắc về DLTN ở Việt Nam. Câu lạc bộ DLTN (RTC) đã được thành lập năm 2009, là một hiệp hội liên kết các tổ chức, cá nhân, và doanh nghiệp lữ hành quốc tế để thúc đẩy thực hiện DLTN. Tuy vậy, một số công cụ và hướng dẫn thực hiện DLTN được xây dựng nhưng chưa phổ biến rộng rãi tới từng chủ thể tham gia hoạt động du lịch hay tại các điểm đến du lịch. Hơn nữa, những tài liệu này vận dụng những kinh nghiệm DLTN của nước ngoài, thiếu đi những nghiên cứu đầy đủ về bối cảnh và thực
2
trạng phát triển du lịch của Việt Nam. Điều này dẫn đến việc thực hiện DLTN ở Việt Nam vẫn chưa đúng hướng và đạt được hiệu quả mong muốn như trong các định hướng phát triển du lịch.
Ngoài ra, thực hiện hành vi DLTN ở Việt Nam vẫn còn ở giai đoạn giới thiệu ban đầu và mức độ nhận thức về DLTN của các bên tham gia vẫn còn hạn chế. Các nghiên cứu về DLTN vẫn chủ yếu đưa ra các giải pháp và mô hình cho các nhà quản lý, vẫn chưa chỉ ra được động cơ thúc đẩy các bên liên quan hay các rào cản hạn chế việc thực hiện hiệu quả hành vi DLTN. Ngoài ra, Việt Nam còn có một số đặc điểm khác biệt về cấu trúc các tổ chức về du lịch, chính sách về du lịch, vai trò của các trung gian (doanh nghiệp lữ hành quốc tế), ảnh hưởng của xã hội tới phát triển du lịch..., vì vậy, việc thực hiện DLTN của các bên liên quan cũng mang nhiều điểm riêng biệt.
Về mặt lý luận, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành trong lĩnh vực DLTN. Kết quả đã chỉ ra được định nghĩa, khái niệm, mô hình, giải pháp, các yếu tố tác động, và hướng dẫn thực hiện DLTN ở nhiều quốc gia khác nhau. Nghiên cứu tập trung nhiều vào phân tích nhận thức, thái độ và hành vi của các bên tham gia trong DLTN. Bên cạnh đó, các tác giả cũng dựa vào thuyết hành động hợp lý (theory of reasoned action) của Fishbein và Ajzen (1975) để giải thích cho ý định tham gia và dự đoán hành vi của các bên trong hoạt động DLTN. Kết quả chỉ ra rằng từ nhận thức, thái độ tới hành vi DLTN của các bên vẫn chưa thật sự thống nhất hoàn toàn (ví dụ, nghiên cứu của Budeanu, 2007).
Mặc dù một số nghiên cứu đã chỉ ra động lực thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện DLTN, nhưng các yếu tố này chưa thực sự rõ ràng. Thực hiện DLTN mang lại lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp, kết nối doanh nghiệp với xã hội và các bên liên quan, giúp mang lại giá trị gia tăng cho sản phẩm du lịch, cho khách du lịch và từ đó giúp doanh nghiệp tạo sự khác biệt trên thị trường (Krippendorf, 1987; Weeden, 2002; Camilleri, 2015). Đây là một trong những nguyên nhân để các doanh nghiệp lữ hành quốc tế thực hiện hành vi DLTN. Tuy nhiên, lợi thế này trên thực tế không phải dễ thực hiện được như lý thuyết đưa ra. Hành động của khách du lịch không phải lúc nào cũng đồng nhất với nhận thức của họ về DLTN (Goodwin và Francis, 2003). Mặc dù du khách luôn mong muốn các doanh nghiệp lữ hành quốc tế thực hiện DLTN, nhưng họ không sẵn sàng chi trả các mức giá của sản phẩm DLTN. Hành vi ra quyết định tiêu dùng du lịch của khách còn phụ thuộc vào khả năng chi trả của họ. Các doanh nghiệp lữ hành quốc tế không thể bỏ qua nguyện vọng của khách du lịch nhưng mặt khác họ không thể phát triển bền vững nếu không có lợi nhuận. Vì lí do này, các doanh nghiệp không thực sự gắn kết với thực hiện DLTN. Sheldon và Park (2012) cũng chỉ ra rằng
3
mặc dù có hướng dẫn thực hiện nhưng các doanh nghiệp lữ hành quốc tế vẫn gặp những trở ngại trong việc thực hành. Tỷ lệ thực hiện thành công rất thấp, chỉ chiếm 30% tổng số các doanh nghiệp ủng hộ hành vi DLTN.
Thêm vào đó, các nghiên cứu còn đưa ra yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện DLTN của một điểm đến, trong đó đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực du lịch. Tuy nhiên, đây lại là các nghiên cứu kiểu mẫu, không mang tính khái quát và kết quả thường chỉ phù hợp với một điểm đến cụ thể, chẳng hạn như nghiên cứu của Xin và Chan (2014), Chettiparamb và Kokkranikal (2012), và Tearfund (2000).
Như vậy, các nghiên cứu đã chỉ ra DLTN như một hiện tượng, DLTN có những giá trị và lợi ích khác biệt so với các khái niệm liên quan đến du lịch bền vững khác, tuy nhiên bản chất của DLTN, trong đó động cơ dẫn dắt các đối tượng liên quan thực hiện hành vi DLTN vẫn chưa được làm rõ. Một số công trình đã tìm ra yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện DLTN của doanh nghiệp, nhưng các nguyên tắc đó không mang tính hệ thống và khái quát, chưa đầy đủ. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu chỉ đưa ra mô hình lý thuyết mà không tiến hành kiểm định thực nghiệm, ngoài ra, có nghiên cứu thực nghiệm nhưng mô hình lý thuyết đơn giản, có đưa ra mô hình lý thuyết kèm kiểm định thực nghiệm nhưng lại nghiên cứu trong bối cảnh ở các nước phát triển. Điều này đặt ra sự cần thiết của việc thực hiện nghiên cứu đánh giá yếu tố tác động đến hành vi DLTN ở các nước đang phát triển, như ở Việt Nam.
Trong lĩnh vực du lịch, doanh nghiệp lữ hành được coi là trung tâm để kết nối các bên liên quan với nhau, và trong DLTN, các doanh nghiệp sẽ góp phần định hướng và thúc đẩy DLTN. Một doanh nghiệp lữ hành quốc tế thực hiện hành vi DLTN thì sẽ đưa ra những sản phẩm, dịch vụ DLTN, từ đó sẽ thu hút và thúc đẩy khách du lịch tiêu dùng sản phẩm và thể hiện hành vi đi DLTN, và do vậy nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư địa phương cũng như đóng góp cho điểm đến du lịch những lợi ích bền vững trên cả ba khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường (Camilleri, 2015; Vũ Quốc Trí, 2015). Hơn nữa, các doanh nghiệp biết làm thế nào để tiếp cận được du khách thông qua các ấn phẩm, các phương tiện truyền thông, do đó kết nối được các điểm du lịch bền vững với khách hàng. Vai trò trung tâm của các doanh nghiệp lữ hành quốc tế trong thực hiện DLTN đã được đề cập đến trong nhiều tuyên bố, trong đó có tuyên bố Cape Town năm 2002, tuyên bố Kerala năm 2008, và tuyên bố Alberta năm 2011 (Chettiparamb và Kokkranikal; 2012). Do vậy, cần thiết phải nghiên cứu những yếu tố tác động đến việc thực hiện hành vi DLTN của các doanh nghiệp lữ hành quốc tế.
4
Hơn nữa, các doanh nghiệp lữ hành quốc tế ở mỗi quốc gia có những đặc trưng riêng biệt do điều kiện kinh tế-văn hóa-xã hội, lịch sử hình thành phát triển khác nhau, và do vậy các yếu tố tác động đến hành vi của các doanh nghiệp khác nhau (Horner và Swarbrooke, 2007). Như vậy không có cơ sở để khẳng định yếu tố nào trong các nghiên cứu đã được thực hiện ở các nước phát triển phù hợp với bối cảnh của Việt Nam. Có thể xuất hiện yếu tố tác động mới do ảnh hưởng của môi trường, văn hóa bên ngoài, dẫn đến tác động nhiều hơn của yếu tố bên ngoài đến hành vi DLTN, lấn át yếu tố bên trong.
Những lí do trên đây đã chỉ ra tính cấp thiết để nghiên cứu đề tài “Các yếu tố
tác động đến hành vi DLTN của các doanh nghiệp lữ hành quốc tế ở Việt Nam”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu với mục tiêu chỉ ra các yếu tố tác động đến hành vi DLTN của các doanh nghiệp lữ hành quốc tế ở Việt Nam. Thông qua việc xây dựng và kiểm định mô hình về hành vi của doanh nghiệp, nghiên cứu sẽ đưa ra cơ chế của sự tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài đến quyết định thực hiện hành vi DLTN của các doanh nghiệp lữ hành quốc tế ở Việt Nam, đồng thời làm rõ quá trình diễn tiến của hành vi của doanh nghiệp.
Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu bao gồm:
- Xác định những yếu tố tác động đến thực hiện hành vi DLTN của các doanh
nghiệp lữ hành quốc tế ở Việt Nam.
- Đánh giá tác động của những yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp tới quá trình ra quyết định và hành vi tham gia vào hoạt động DLTN của các doanh nghiệp lữ hành quốc tế ở Việt Nam.
- Tìm ra mối quan hệ giữa các yếu tố tác động đến hành vi của doanh nghiệp lữ
hành quốc tế ở Việt Nam, góp phần xây dựng hành vi DLTN của doanh nghiệp.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Ba câu hỏi nghiên cứu được liệt kê bên dưới nhằm làm rõ các mục tiêu cụ thể
nêu trên, gồm có:
Câu hỏi 1: Yếu tố nào tác động đến thực hiện hành vi DLTN của doanh nghiệp
lữ hành quốc tế ở Việt Nam?
Câu hỏi 2: Các yếu tố khác nhau ở bên trong doanh nghiệp có mức độ tác động khác nhau như thế nào tới hành vi DLTN của doanh nghiệp lữ hành quốc tế ở Việt Nam?
5
Câu hỏi 3: Các yếu tố khác nhau ở bên ngoài có mức độ tác động khác nhau
như thế nào tới hành vi DLTN của doanh nghiệp lữ hành quốc tế ở Việt Nam?
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính là hành vi DLTN của các doanh nghiệp lữ hành. Hành vi của các doanh nghiệp không phải mang tính chất cá nhân, mà mang tính chất tổ chức. Do vậy, hành vi DLTN của các doanh nghiệp lữ hành cần được phân tích trong mối quan hệ tương tác với yếu tố tổ chức cũng như các đối tượng khác, như là các bên liên quan trong hoạt động du lịch bao gồm khách du lịch, cộng đồng dân cư địa phương, cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch, nhà cung cấp các sản phẩm và dịch vụ đầu ra cho doanh nghiệp, và nội bộ ban giám đốc và đội ngũ nhân viên bên trong doanh nghiệp.
Khách thể nghiên cứu chính của đề tài là các doanh nghiệp lữ hành quốc tế (sau đây viết thành “DNLHQT”) bởi hai lí do chính. Thứ nhất, chức năng, nhiệm vụ của các DNLHQT hoàn toàn phù hợp với phạm vi đánh giá của DLTN. Các doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trụ cột trong triển khai DLTN cũng như trong việc chuyển đổi cách tiếp cận và áp dụng các tiêu chí của phát triển du lịch bền vững vào quá trình của họ (UNWTO, 2017). Những doanh nghiệp này có thể điều chỉnh chiến lược của họ với mục tiêu phát triển bền vững bằng cách thúc đẩy DLTN (UNWTO, 2016). Vậy nên, nghiên cứu DNLHQT sẽ giúp đánh giá một cách tổng thể và toàn diện việc thực hiện hành vi DLTN của doanh nghiệp.
Thứ hai, nhóm doanh nghiệp lữ hành nội địa chưa có động cơ hay áp lực xã hội về thực hiện DLTN. Theo Tổng cục Du lịch (2015), số lượng các doanh nghiệp lữ hành nội địa tăng trưởng nhanh chóng về số lượng (hơn 13000 doanh nghiệp trên cả nước đi vào hoạt động), tuy nhiên quy định đối với nhóm này còn khá dễ dàng, chẳng hạn như không cần phải ký quỹ kinh doanh, không cần hướng dẫn viên, và không bắt buộc phải gửi báo cáo hoạt động kinh doanh, và duy trì các hoạt động. Cơ quan chính quyền địa phương vẫn chưa có chính sách kiểm soát và quản lý hiệu quả. Điều này dẫn đến việc một số doanh nghiệp không đủ năng lực kinh doanh, kinh doanh tự phát, manh mún, chạy theo lợi nhuận, và thiếu nghiêm túc trong việc chấp hành các quy định của pháp luật (Viện Nghiên cứu lập pháp, 2016).
Trong khi đó, các DNLHQT nâng cao cả về chất lượng và số lượng, nhiều doanh nghiệp xây dựng thương hiệu ngang tầm quốc tế và khu vực, nhiều tập đoàn lữ hành quốc tế đầu tư vào Việt Nam. Để có thể cạnh tranh trong môi trường quốc tế, các doanh nghiệp càng cần nắm bắt các xu hướng du lịch và đưa ra các sản phẩm phù hợp
6
để thỏa mãn khách du lịch đồng thời tuân thủ các quy định của cơ quan quản lý, mà xu hướng hiện nay là du lịch bền vững. Vậy nên, nghiên cứu sẽ chỉ tập trung vào các DNLHQT để thu thập dữ liệu và phân tích.
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi thời gian: Thời gian điều tra và thu thập dữ liệu của nghiên cứu kéo dài từ năm 2018 đến năm 2020. Trong đó, các cuộc phỏng vấn được thực hiện trong hai giai đoạn, cụ thể từ tháng 10/2018 đến tháng 01/2019 và trong tháng 5/2020. Dữ liệu từ điều tra bảng hỏi được thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 06/2019 đến tháng 02/2020.
Phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung điều tra các DNLHQT ở thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh bởi hai lí do chính sau. Thứ nhất, đặc điểm của phát triển du lịch có tính phân vùng do sự khác biệt về tài nguyên du lịch, điều kiện kinh tế xã hội và hạ tầng có sở vật chất kỹ thuật của từng vùng, do vậy việc lựa chọn các DNLHQT để khảo sát cũng sẽ phân theo vùng địa lý. Thứ hai, theo thống kê của Tổng cục Du lịch (2018a), tổng số các DNLHQT tập trung ở hai thành phố lớn của Việt Nam đã chiếm gần 80% tổng số DNLHQT trên cả nước. Ngoài ra, hai thành phố này thuộc hai vùng phát triển du lịch khác nhau là Vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc và Vùng Đông Nam Bộ. Vậy nên, việc lựa chọn tập trung nghiên cứu các DNLHQT ở thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh là hoàn toàn phù hợp.
Phạm vi nội dung và vấn đề nghiên cứu: Nghiên cứu của luận án sẽ tiếp cận DLTN theo cách chú trọng vào tính trách nhiệm trong việc thực hiện các hoạt động du lịch. Tính đạo đức được xác định một cấu phần của tính trách nhiệm, và có thể đại diện để giải thích cho hành vi có trách nhiệm của doanh nghiệp (Carroll, 1991; Carroll, 2016; Baden, 2016). Do vậy, luận án sẽ tập trung vào hành vi đạo đức, một khía cạnh của hành vi có trách nhiệm, để giải thích cho hành vi DLTN của doanh nghiệp. Phần giải thích chi tiết về cách tiếp cận sẽ được trình bày trong Chương 2 của luận án.
Burrai và cộng sự (2019) đã tổng quan các quan điểm và cách tiếp cận với DLTN, và đưa ra hai kết luận chính rằng: (1) Thứ nhất, vẫn còn tồn tại những tranh luận xung quanh khái niệm về DLTN. Tính trách nhiệm bao hàm nhiều khía cạnh, nhiều cấu phần khiến cho việc giải thích khái niệm DLTN cũng được tiếp cận theo các cách khác nhau. Trong một số tài liệu, các thuật ngữ góp phần giải thích cho DLTN có thể được sử dụng thay thế cho khái niệm này. Cụ thể hơn, Stanford (2008) kết luận rằng đạo đức và trách nhiệm là các thuật ngữ hay được nhắc đến trong các nghiên cứu về DLTN và được một số tác giả sử dụng thay thế lẫn nhau (Goodwin & Francis, 2003). (2) Thứ hai, DLTN có sự khác biệt về mặt khái niệm với du lịch bền
7
vững bởi lẽ DLTN nhấn mạnh vào tính thực tiễn, vào những hành vi thực hiện nhằm góp phần đạt được mục tiêu du lịch bền vững. DLTN được coi là thực tiễn hóa khái niệm bền vững vào hoạt động du lịch. Đến thời điểm hiện tại, nhận thức về DLTN trong xã hội nói chung và của các học giả nói riêng như phân tích ở trên là căn cứ để tác giả lựa chọn phạm vi nghiên cứu của luận án.
1.5. Khái quát về phương pháp nghiên cứu áp dụng trong luận án
Đề tài sẽ áp dụng kết hợp cả hai phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng để kiểm định giả thuyết nghiên cứu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu đã đưa ra. Phương pháp nghiên cứu định tính được tiến hành bằng phỏng vấn chuyên sâu các chuyên gia, đại diện DNLHQT, và cơ quan quản lý về du lịch nhằm mục đích kiểm tra đánh giá và phát hiện ra các nhân tố tác động mới trong bối cảnh văn hóa xã hội Việt Nam. Kết quả của nghiên cứu định tính sẽ làm tiền đề để xây dựng phiếu điều tra cho nghiên cứu định lượng được tiến hành sau đó.
1.5.1. Cách tiếp cận
Nghiên cứu về các yếu tố tác động đến hành vi DLTN của các DNLHQT ở Việt Nam được tiếp cận theo cách tiếp cận hệ thống. Hoạt động du lịch mang tính liên ngành, có nhiều bên tham gia, liên kết với nhau. Hành vi của các chủ thể tham gia trong hoạt động du lịch có tác động tương hỗ lẫn nhau và đều chịu tác động của bối cảnh như điều kiện kinh tế, chính trị, chính sách pháp luật, trình độ phát triển xã hội…Do vậy, việc phân tích đánh giá các yếu tố tác động ở Việt Nam cần đặt trong bối cảnh xã hội Việt Nam với các đặc trưng kinh tế - xã hội và các nét riêng biệt của điểm đến du lịch. Ngoài ra, phân tích hành vi của doanh nghiệp cần đặt trong mối quan hệ tương tác giữa yếu tố cá nhân và yếu tố tổ chức bởi vì doanh nghiệp là một tập hợp của những cá nhân có cùng mục đích, mong muốn và cùng thực hiện theo văn hóa doanh nghiệp. Mối quan hệ tương tác này sẽ tạo ra những tác động khác nhau đến từng giai đoạn trong hành vi ra quyết định tham gia vào thực hiện DLTN. Các yếu tố tác động sẽ được tổng hợp lại và phân tích trong các chương sau của luận án.
1.5.2. Khái quát về phương pháp thu thập dữ liệu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Nghiên cứu sẽ tập hợp và hệ thống các công trình nghiên cứu, các báo cáo khoa học, các bài viết, số liệu thống kê ngành du lịch và các ngành liên quan về vấn đề hành vi doanh nghiệp, hành vi đạo đức/trách nhiệm của doanh nghiệp, các yếu tố tác động đến hành vi trách nhiệm/ đạo đức của doanh nghiệp, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, phát triển DLTN, và phát triển du lịch bền vững. Trên cơ sở tổng hợp và đánh giá thông tin từ nguồn tài liệu có sẵn này,
8
nghiên cứu sẽ phác họa tổng quan về phát triển DLTN trong các doanh nghiệp lữ hành quốc tế ở Việt Nam, từ đó cũng đưa ra được khoảng trống nghiên cứu của luận án. Bên cạnh đó, trong quá trình phân tích tổng hợp tài liệu thứ cấp, luận án còn sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu. So sánh với hệ thống cơ sở lý luận đã có, so sánh giữa các tài liệu của Việt Nam và quốc tế nhằm xác định những khoảng trống về mặt thực tiễn và lý luận về thực hiện trách nhiệm trong phát triển du lịch của các doanh nghiệp lữ hành, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu của luận án.
Phương pháp phỏng vấn: Phương pháp này sẽ được áp dụng với ba nhóm đối tượng gồm có (1) DNLHQT (nhằm đánh giá mức độ phát triển DLTN ở Việt Nam dưới góc nhìn của tổ chức/doanh nghiệp, xác định nhận thức, thái độ, hành vi cũng như những yếu tố tác động tới các nội dung này của doanh nghiệp); (2) đại diện cơ quan quản lý về du lịch (để lấy ý kiến của họ về thực trạng phát triển du lịch, tính trách nhiệm và các yếu tố tác động đến thực hiện trách nhiệm của các doanh nghiệp lữ hành quốc tế), (3) chuyên gia trong lĩnh vực du lịch (để nhằm thu thập thông tin về đánh giá mô hình, đánh giá thang đo cho các biến trong mô hình và một số đề xuất giải pháp cho nghiên cứu).
Phương pháp bảng hỏi: Phương pháp này được áp dụng để thu thập thông tin định lượng bằng cách phát phiếu bảng hỏi đối với các doanh nghiệp. Phương pháp này sẽ giúp lượng hóa các nội dung liên quan đến nhận thức, thái độ, hành vi và mối quan hệ giữa các nhóm yếu tố. Quy mô mẫu thực tế thu thập được là 350 phiếu khảo sát từ 350 doanh nghiệp. Quy mô mẫu này đảm bảo với khả năng tiếp cận đồng thời đảm bảo tính thống kê trong phân tích.
1.5.3. Khái quát về phương pháp phân tích dữ liệu
Dữ liệu định tính sau khi thu thập sẽ được mô tả (descriptive), so sánh (the making of comparions), và phát hiện ra mối quan hệ bản chất, góp phần vào điều chỉnh và xây dựng mô hình nghiên cứu (pattern), đồng thời bàn luận và lý giải kết quả từ nghiên cứu định lượng.
Thông tin định lượng sẽ được phân tích với sự trợ giúp của phần mềm SPSS 22.0 và AMOS 22.0. Các kết quả thu được có tác dụng thống kê mô tả (sử dụng Descriptive statistics), giúp đưa ra các số liệu chứng minh cho mức độ dự định thực hiện hành vi, thực hiện hành vi cũng như mối quan hệ và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trong mô hình nghiên cứu (sử dụng phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM và phân tích hồi quy).
Sơ đồ tiến trình nghiên cứu xin xem hình 1.1 bên dưới.
9
Nghiên cứu, tổng hợp tài liệu thứ cấp
Phân tích, so sánh, đối chiếu các tài liệu
Phỏng vấn sâu
Điều tra bảng hỏi
Phân tích dữ liệu
Tổng hợp kết quả, viết đánh giá, và nhận xét
Hình 0.1: Tiến trình thực hiện các phương pháp nghiên cứu của luận án
Nguồn: Tác giả thiết kế
1.6. Những đóng góp mới của luận án
Luận án đã giải thích được mức độ tác động khác nhau của các yếu tố đến hành vi DLTN của DNLHQT ở Việt Nam bao gồm yếu tố cá nhân, yếu tố tổ chức, và áp lực xã hội, trong đó áp lực xã hội là yếu tố tác động chính. Trong các nghiên cứu trước, hành vi có trách nhiệm của doanh nghiệp chịu tác động chủ yếu bởi thái độ bên trong, tác động của yếu tố xã hội bên ngoài khá mờ nhạt; tuy nhiên nghiên cứu hiện tại đang chỉ ra xu hướng, đó là hành vi DLTN được quyết định bởi điều kiện xã hội bên ngoài.
Các nghiên cứu đi trước đã tiến hành kiểm chứng tác động của yếu tố xã hội đến hành vi trách nhiệm ở những khía cạnh khác nhau, lĩnh vực, và phạm vi nghiên cứu khác nhau; trong đó, chủ yếu tập trung vào doanh nghiệp trong lĩnh vực marketing, kế toán kiểm toán, sản xuất kinh doanh, ngân hàng, tại những nước phát triển như Bắc Âu, Úc, NewZealand, Bắc Mỹ, và một số đến từ Trung Quốc. Nghiên cứu của luận án được thực hiện ở Việt Nam, góp phần bổ sung một khía cạnh của khoảng trống nghiên cứu về
10
hành vi có trách nhiệm thay đổi theo bối cảnh. Nghiên cứu đã phân tích được yếu tố áp lực xã hội trong thực tiễn ngành du lịch ở Việt Nam, đồng thời chứng minh tác động chủ đạo của yếu tố này đến hành vi DLTN của các DNLHQT. Kết quả này đóng góp một kiểm định thực nghiệm để chỉ ra một hành vi cụ thể, trong một xã hội cụ thể, đó là xã hội Việt Nam.
1.7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận án được
kết cấu gồm 05 chương:
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Bàn luận kết quả và hàm ý nghiên cứu.
11
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Khái quát về du lịch có trách nhiệm
2.1.1. Mối quan tâm và các giai đoạn phát triển trong nghiên cứu về DLTN
Khái niệm DLTN ra đời từ những năm 1980, nhưng đến đầu những năm 2000 khái niệm này được đề cập rộng rãi ở Việt Nam. Hội thảo đầu tiên về chủ đề DLTN được tổ chức ở Cape Town năm 2002, ngay trước khi diễn ra Hội nghị thượng đỉnh về du lịch bền vững tại Johannesburg. Hội thảo này đã đưa ra Tuyên bố Cape Town về DLTN; theo đó DLTN được thực hiện trên ba phương diện: thứ nhất, phát triển du lịch giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư tại điểm đến du lịch; thứ hai, du lịch giúp tạo cơ hội kinh doanh tốt hơn; thứ ba, chương trình du lịch mang lại nhiều trải nghiệm cho du khách trong chuyến đi.
Ở Việt Nam, cách tiếp cận phổ biến vẫn coi DLTN là một phương thức của phát triển du lịch bền vững. Về mặt lý luận, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng DLTN là một định hướng mà các bên tham gia trong lĩnh vực du lịch cần phải nhận thức được, để từ đó có hành vi tương xứng nhằm hướng tới mục đích lâu dài là phát triển bền vững (Nguyễn Văn Lưu, 2012; Trang Lê, 2013; Dương Quế Nhu, 2013; Vũ Quốc Trí, 2015). Các nghiên cứu mới chỉ đưa ra các yếu tố tác động nhưng chưa làm rõ yếu tố tác động ra sao, mức độ tác động thế nào. Về mặt thực tiễn, các nghiên cứu đã chỉ ra được mô hình các bên liên quan trong DLTN, nêu rõ vai trò và vị trí của các bên liên quan, đề xuất yêu cầu cụ thể cho các bên liên quan trong phát triển DLTN.
Tuy vậy, Wheeler (1991) đã chỉ trích quan điểm này khi cho rằng không thể coi DLTN là một giải pháp để hướng tới phát triển bền vững bởi DLTN chỉ đưa ra những đề xuất tầm vi mô trong khi phát triển bền vững cần những giải pháp vĩ mô lâu dài. Goodwin (2011) cũng cho rằng bản chất của DLTN không đơn thuần là giải pháp của phát triển bền vững. Đó là sự nhận thức và thực hiện hành vi có trách nhiệm của các bên liên quan trong hoạt động du lịch, trong đó trách nhiệm lớn nhất thuộc về các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực du lịch và khách du lịch để có thể mang lại “những nơi tốt đẹp cho mọi người sinh sống và viếng thăm” (tr, 102). DLTN chỉ ra những tác động tiêu cực của phát triển du lịch đại chúng với mong muốn giảm thiểu tác động đó, đồng thời chỉ ra cách thực hiện hoạt động du lịch nhằm tăng cường những tác động tích cực.
Cách tiếp cận của Goodwin (2011) về DLTN được đồng thuận bởi Leslie (2012) và Mihalic (2016). Theo Leslie (2012), DLTN nên được hiểu là một đặc điểm
12
hành vi, ở đây là hành vi chịu trách nhiệm cho những hệ quả của việc sản xuất và tiêu dùng du lịch tạo ra. Bên cạnh đó, Mihalic (2016) đưa ra mô hình gồm 3 nhân tố - nhận thức (awareness), chương trình nghị sự (agenda), và hành động (action) giải thích rõ quá trình diễn biến từ nhận thức đến hành vi trong DLTN.
Bên cạnh cách tiếp cận về DLTN như một phương thức để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, một số nghiên cứu đã đề cập đến nội hàm bên trong, cho thấy DLTN tập trung nhiều vào ý thức và hành vi của các bên liên quan (Đỗ Cẩm Thơ, 2012; Zhang và Lei, 2012; Ayazlar và Ayazlar, 2016). Tác giả Phạm Trương Hoàng (2015) đã đưa ra các giai đoạn triển khai DLTN tại doanh nghiệp, cho rằng từ nhận thức đến hành vi là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau của mỗi cá nhân và tổ chức tham gia.
Như vậy, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng DLTN thực chất là quá trình diễn tiến của hành vi, từ nhận thức tới dự định thực hiện, và ra quyết định thực hiện. Quá trình này chịu sự tác động của các yếu tố nội bộ bên trong và yếu tố bên ngoài doanh nghiệp.
2.1.2. Khái niệm du lịch có trách nhiệm
Khái niệm DLTN (responsible tourism) được nhìn nhận với nhiều quan điểm khác nhau. Spenceley và cộng sự (2002) đưa ra một cách giải thích dễ hiểu về DLTN. Theo các tác giả, DLTN nghĩa là mang lại những trải nghiệm du lịch tốt hơn cho khách du lịch, những cơ hội kinh doanh tốt hơn cho các doanh nghiệp DLTN cũng như đảm bảo cho cộng đồng dân cư địa phương có cuộc sống tốt hơn thông qua việc gia tăng các lợi ích kinh tế xã hội và nâng cao việc quản lý tài nguyên tự nhiên. Ngoài ra, Bramwell và các cộng sự (2008) đã chỉ ra một số cách tiếp cận khác nhau trong các nghiên cứu về DLTN. Cách tiếp cận đầu tiên chú trọng vào việc tiêu dùng và sản xuất các sản phẩm dịch vụ du lịch, hay nói cách khác gắn DLTN với hành vi mua và tiêu dùng các sản phẩm du lịch của khách du lịch (Budeanu, 2005; Budeanu, 2007; Kasim, 2007; Caruana và cộng sự, 2014; Stanford, 2014).
Cách tiếp cận thứ hai tập trung vào phân tích các bên liên quan và mối liên hệ giữa các bên quá trình thực hiện DLTN, cụ thể là doanh nghiệp, nhân viên trong các doanh nghiệp, khách du lịch, cộng đồng dân cư địa phương, và cơ quan quản lý du lịch. Mối liên hệ giữa các bên là một trong những quan tâm hàng đầu của phát triển du lịch bền vững, cụ thể là giữa lợi ích, nhu cầu, nguồn cung, tiêu dùng và sản xuất. Driha (2018) đã chỉ ra nhiệm vụ, thách thức, và mối liên kết giữa các bên liên quan trong phát triển du lịch bền vững. Camilleri (2015) cho rằng du lịch và các sáng kiến trách nhiệm tạo ra những lợi ích chung cho cả doanh nghiệp và các bên liên quan trong du
13
lịch. Cùng với đó, DLTN còn giúp thắt chặt mối quan hệ giữa doanh nghiệp với cộng đồng xã hội và các cơ quan quản lý du lịch, chia sẻ các lợi ích trong việc quản lý nhân lực, phát triển thị trường, tiết kiệm chi phí, và vận hành kinh doanh. Trong khi đó, Byrd (2007) lại nhấn mạnh vào vai trò của khách du lịch và cộng đồng chủ nhà trong phát triển DLTN tại điểm đến, cụ thể là trong phát triển sản phẩm DLTN. Bởi theo tác giả, mặc dù có nhiều bên liên quan trong quá trình phát triển du lịch nhưng không nhất thiết tất cả các bên đều tham gia với vai trò và vị trí như nhau. Ngoài ra, Godfrey (1998) tìm hiểu về thái độ của các nhà quản lý du lịch đối với việc thực hiện DLTN và kết luận rằng thái độ của cán bộ quản lý sẽ ảnh hưởng đến thái độ của họ đối với việc thực hiện và sự thành công của việc thực hiện DLTN, du lịch bền vững trong thực tế. Tác giả cũng chỉ ra tính cấp thiết của mối liên hệ giữa cơ quan quản lý và cộng đồng dân cư địa phương - quan hệ công tư trong lập kế hoạch phát triển du lịch bền vững.
Cách tiếp cận thứ ba xuất phát từ việc lựa chọn phân tích hành vi trách nhiệm và đạo đức của cá nhân hay hành vi trách nhiệm và đạo đức của tổ chức. Giá trị đạo đức của cá nhân và các tiêu chuẩn xã hội có mối liên hệ tương hỗ lẫn nhau. Theo Fennell và Malloy (2007), những tiêu chuẩn về đạo đức là cơ sở cho ý định về DLTN. Các nhà nghiên cứu về DLTN tập trung vào phân tích thái độ, hành vi, và quá trình ra quyết định của cá nhân khách du lịch, hay còn được gọi là “khách DLTN” (Caruana và cộng sự, 2014; Goodwin và Francis, 2003; Stanford, 2014; Lee và cộng sự, 2017). Những người khác nghiên cứu về hành vi trách nhiệm của doanh nghiệp và đặt trong mối quan hệ với “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp”. Raviv và cộng sự (2013) đã thực hiện nghiên cứu phỏng vấn với 24 quản lý cấp cao trong các doanh nghiệp lữ hành quốc tế và tìm ra rằng các doanh nghiệp kinh doanh trách nhiệm hiếm khi bị tác động bởi yếu tố bên ngoài, họ sẽ có xu hướng thực hiện nhiều hơn và đầu tư tiền vào thực hiện; ngược lại các doanh nghiệp hoạt động theo xu hướng cạnh tranh sẽ chịu nhiều tác động từ môi trường kinh doanh bên ngoài và các lợi thế cạnh tranh để tham gia vào thực hiện DLTN, và họ giải thích DLTN như một cơ hội kinh doanh. Ngoài ra, các doanh nghiệp này cũng cho thấy nhiều rào cản ngăn cản họ thực hiện các biện pháp thúc đẩy DLTN hơn.
Bên cạnh đó, các nghiên cứu còn tiếp cận DLTN dưới góc nhìn hành vi thực
hiện hoạt động du lịch, đi từ nhận thức, thái độ, đến hành động. Cụ thể như sau:
“DLTN xuất phát từ nhận thức đến hành vi và trách nhiệm của mỗi cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức đối với môi trường tự nhiên và xã hội, DLTN đưa ra những yêu cầu cụ thể đối với các bên tham gia trong hoạt động du lịch. Quá trình thực hiện DLTN không chỉ là những hành động nhất thời mà là cả một quá trình thay đổi từ
14
nhận thức cho tới cách thức thực hiện hành vi trong hoạt động du lịch của tất cả các bên có liên quan” (Phạm Trương Hoàng, 2015, tr. 42).
Cách tiếp cận này có sự kế thừa và phát triển các quan điểm về DLTN trong nghiên cứu của Husbands và Harrison (1996), Bramwell và cộng sự (2008), Goodwin (2011), và Leslie (2012). DLTN không phải là một sản phẩm hay một thương hiệu du lịch, mà nó đại diện cho các kế hoạch, chính sách, và các chiến lược phát triển du lịch nhằm đảm bảo rằng lợi ích được phân chia tối ưu giữa các bên liên quan như cộng đồng dân cư, chính quyền, khách du lịch, và các doanh nghiệp lữ hành quốc tế (Husbands and Harrison, 1996; trích trong Leslie, 2012, tr. 20). DLTN không phải đề cập đến cách thức thực hiện du lịch với quy mô nhỏ thay cho du lịch đại chúng; thay vào đó nhấn mạnh vào hành vi của cá nhân, cụ thể hơn là nhận thức được tầm quan trọng cũng như cảm thấy được trách nhiệm của mình trong việc phát triển du lịch tại các điểm đến du lịch cùng với các bên liên quan khác (Gilbert và cộng sự, 1994). DLTN đòi hỏi sự thay đổi của một tập hợp các giá trị, hành động để tiến tới một sự cải tiến trong cách triển khai hoạt động du lịch của tất cả các bên liên quan bao gồm khách du lịch, nhà cung cấp sản phẩm dịch vụ du lịch, cộng đồng địa phương, và Nhà quản lý về du lịch. Sự biến chuyển này có thể là nhận thức hơn về các tác động tiêu cực của du lịch đến văn hóa - xã hội, quan tâm hơn đến cộng đồng chủ nhà và môi trường của điểm đến du lịch, hay có thể là chiến lược phát triển du lịch chi tiết và có tính khả thi hơn.
Quan điểm của UNWTO về DLTN cũng nhấn mạnh vào cách thức hoạt động và vận hành của toàn ngành du lịch theo cách có trách nhiệm nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. UNWTO (2016) cho rằng phát triển DLTN phải trở thành cam kết và trách nhiệm của toàn cầu. Để du lịch đạt được mục tiêu phát triển bền vững và mang lại nhiều lợi ích hơn cho xã hội, việc cần thiết là phải hoạt động một cách có trách nhiệm. Cụ thể hơn, đó là ngành du lịch sẽ “… mang lại điều kiện làm việc tốt cho tất cả mọi người, thúc đẩy văn hóa và các sản phẩm địa phương, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, và do vậy sẽ bảo tồn được tính hấp dẫn độc đáo của mỗi điểm đến du lịch” (tr.5).
Như vậy, qua các định nghĩa và quan điểm khác nhau về DLTN, có thể nhận thấy rằng DLTN không phải là một loại hình du lịch dựa trên nguyên tắc cơ bản là tôn trọng những người khác và tôn trọng môi trường. DLTN đơn thuần là sự thay đổi, cải tổ trong quá trình thực hiện hoạt động du lịch để nhằm hạn chế những tác động tiêu cực do du lịch mang lại. DLTN đòi hỏi các DNLHQT phải thể hiện tính trách nhiệm trong việc ra quyết định và thực thi các hành động của mình, đảm bảo mục tiêu gia
15
tăng lợi ích kinh tế cho các bên tham gia, bảo tồn văn hóa xã hội, và bảo vệ môi trường - tài nguyên thiên nhiên tại điểm đến du lịch, đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực (UNEP và WTO, 2005). DLTN bao gồm một tập hợp các “nguyên tắc có trách nhiệm” (responsible principles) mà mọi loại hình du lịch, bao gồm cả các loại hình du lịch thay thế nên thực hiện theo (Kilipirisa và Zardava, 2012). DLTN thực chất là cách thức thực hiện hoạt động du lịch, đi liền với tất cả các loại hình du lịch thay thế cho du lịch đại chúng (Leslie, 2012), hay nói cách khác DLTN chính là những thay đổi trong hành vi tham gia vào hoạt động du lịch của tất cả các bên liên quan - theo hướng có trách nhiệm với môi trường, xã hội, và kinh tế (Goodwin, 2011). Theo đó, DLTN nhấn mạnh vào hành vi có trách nhiệm với kinh tế, xã hội, và môi trường trong các hoạt động du lịch, và đây chính là cách tiếp cận về DLTN được sử dụng xuyên suốt trong luận án.
Cách tiếp cận này cũng chỉ ra rằng DLTN chính là cách thức doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội của mình (CSR) trong lĩnh vực du lịch. Định nghĩa về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được đưa ra bởi Sexty (2011) đã khẳng định thêm sự tương đồng giữa quan điểm DLTN và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực du lịch.
“Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) được hiểu là những hành vi có trách nhiệm của doanh nghiệp với kinh tế, xã hội, và môi trường để đảm bảo đáp ứng được kỳ vọng của các cổ đông và các bên liên quan khác trong quá trình vận hành kinh doanh” (Sexty, 2011: tr. 139).
2.2. Mối liên hệ giữa hành vi DLTN và hành vi đạo đức của doanh nghiệp
Hành vi đạo đức của doanh nghiệp đã được đề cập từ những năm đầu của thế kỷ 20, cụ thể là nghiên cứu của Ross (1930). Tuy nhiên, phải đến cuối những năm 1980 chủ đề này thực sự trở thành mối quan tâm lớn của các nhà triết học, nghiên cứu, tư vấn, và quản lý. Hành vi đạo đức được hiểu là những hành vi hợp pháp và được chấp nhận về mặt đạo đức trong cộng đồng xã hội (Jones, 1991).
Carroll (1991) đưa ra một kim tự tháp để giải thích bản chất hành vi trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội. Theo đó, trách nhiệm xã hội mà doanh nghiệp phải thực hiện bao gồm bốn cấu phần, sắp xếp thứ tự như bốn nấc thang của một kim tự tháp, lần lượt là trách nhiệm kinh tế (kinh doanh thu được lợi nhuận); trách nhiệm tuân theo luật pháp; trách nhiệm thực hiện quy chuẩn đạo đức, tránh gây tổn hại cho xã hội; trách nhiệm là một doanh nghiệp kinh doanh tốt, mang lại nhiều giá trị cho cộng đồng xã hội. Trách nhiệm kinh tế ở phía dưới cùng, được coi là nền tảng, chủ đạo. Chỉ khi doanh nghiệp hoàn thành trách nhiệm kinh tế thì mới thực hiện đến các trách
16
nhiệm tiếp theo. Tuy nhiên, Noamene và Elouadi (2015) cũng chỉ ra rằng mặc dù các nghiên cứu đều công nhận bốn cấu phần tạo nên trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội nhưng mức độ quan trọng của mỗi thành phần là khác nhau tùy thuộc vào văn hóa của từng quốc gia cũng như cấu trúc của mỗi doanh nghiệp.
(1) Carroll (2016) đã thực hiện nghiên cứu đánh giá lại mức độ quan trọng của bốn yếu tố cấu thành nên tính trách nhiệm như trong mô hình kim tự tháp đưa ra năm 1991. Tác giả cho rằng yếu tố đạo đức “thấm vào” (permeate) trong các khái niệm, các cấu phần của hành vi có trách nhiệm của doanh nghiệp. “… Mặc dù trách nhiệm đạo đức được mô tả là một nấc thang riêng trong kim tự tháp trách nhiệm của doanh nghiệp với xã hội, nó cũng nên được xem như một yếu tố “cắt xuyên qua” (cut through) và “nhúng” (saturate) trong toàn bộ kim tự tháp. Những cân nhắc về đạo đức có trong các nấc thang trách nhiệm khác...” (Carroll, 2016, tr.5).
Quan điểm về trách nhiệm đạo đức được hiểu là việc doanh nghiệp thực hiện các hoạt động theo các quy chuẩn và chính sách được mong đợi và không bị cấm bởi toàn xã hội, hướng tới những điều tốt đẹp (Carroll, 2016; Singhapakdi và cộng sự, 1996a; Jones, 1991; Rest, 1986). Theo đó, doanh nghiệp sẽ chịu trách nhiệm và đáp ứng đầy đủ những kỳ vọng của khách hàng, của nhân viên, cổ đông của doanh nghiệp, và cộng đồng cùng với các bên liên quan khác. Yếu tố đạo đức xuất hiện trong cả trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm tuân thủ luật pháp và trách nhiệm từ thiện. Trong trách nhiệm kinh tế, kỳ vọng phải kinh doanh có lợi nhuận như một phần thưởng xứng đáng cho những gì đã đầu tư của chủ doanh nghiệp và các cổ đông mang tính đạo đức. Với trách nhiệm pháp lý, cần thừa nhận rằng hầu hết các luật và quy định được đưa ra, phát triển dựa trên một số vấn đề đạo đức, ví dụ: mối quan tâm về an toàn tiêu dùng, an toàn của nhân viên, môi trường tài nguyên, cộng đồng xã hội. Cuối cùng, trách nhiệm từ thiện sẽ được thúc đẩy bởi yếu tố đạo đức khi mà doanh nghiệp cố gắng để thực hiện những hành vi đúng đắn mặc dù một số doanh nghiệp theo đuổi các hoạt động từ thiện như một quyết định thực dụng chỉ để được coi là một doanh nghiệp tốt của xã hội, họ coi đó là điều đạo đức cần làm.
Nhiều học giả cũng đồng tình với quan điểm của Carroll (2016) rằng đạo đức là khía cạnh chủ đạo trong trách nhiệm mà doanh nghiệp thể hiện với xã hội. Porter và Kramer (2006) cho rằng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có liên quan đến bốn luận điểm chính, bao gồm nghĩa vụ đạo đức, tính bền vững, danh tiếng doanh nghiệp, và giấy phép kinh doanh. Theo Puncheva-Michelotti và cộng sự (2018), các vấn đề đạo đức trong kinh doanh buộc doanh nghiệp phải thực hiện hành vi phù hợp với kỳ vọng xã hội hoặc tiêu chuẩn xã hội, do vậy, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cũng
17
là các vấn đề đạo đức bởi vì nó đòi hỏi nhận thức về các nghĩa vụ đạo đức mà doanh nghiệp phải thực hiện hướng tới xã hội.
(2) Bên cạnh đó, Baden (2016) bằng nghiên cứu thực tiễn đã chỉ ra một sự tái thiết cho mô hình kim tự tháp trách nhiệm của Carroll (1991), cho rằng nó phù hợp với thế kỷ 21. Trong đó, Baden vẫn giữ nguyên bốn yếu tố cấu thành nên mô hình trách nhiệm, tuy nhiên có sự khác biệt về thứ tự bậc thang và mức độ quan trọng của yếu tố trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm kinh tế. Theo Baden, trách nhiệm chủ đạo mà doanh nghiệp phải thực hiện là khía cạnh đạo đức thay vì kinh tế; để thể hiện được tính trách nhiệm, trước hết doanh nghiệp cần tránh gây tổn hại cho xã hội, môi trường, góp phần mang lại lợi ích cho xã hội và các bên liên quan. Tác giả đưa ra ba lập luận chính giải thích cho sự tái thiết mô hình mang tính chính xác và thuyết phục hơn ở thời điểm hiện tại. Thứ nhất, giữa trách nhiệm kinh tế và trách nhiệm đạo đức có mối tương quan nghịch chiều mạnh mẽ, những doanh nghiệp càng chú trọng lợi ích kinh tế thì sẽ càng ít quan tâm đến vấn đề đạo đức trong kinh doanh. Thứ hai, trách nhiệm kinh tế không nên được ưu tiên hơn các trách nhiệm khác với xã hội bởi lẽ nó đòi hỏi phải đối xử với con người như một phương tiện để kiếm tiền, điều này vi phạm các nguyên tắc đạo đức. Thứ ba, các doanh nghiệp cần phải tuân thủ các quy định luật pháp và quy chuẩn đạo đức thì mới nhận được sự hỗ trợ từ các bên liên quan để tự do theo đuổi mục tiêu kinh tế, tìm kiếm lợi nhuận. Nói cách khác, để được cấp giấy phép kinh doanh và được tin cậy trao cho sử dụng các nguồn tài nguyên khan hiếm, nguồn nhân lực trình độ cao thì doanh nghiệp phải thực hiện hành vi đạo đức, sao cho phù hợp với chuẩn mực và kỳ vọng của toàn xã hội.
Latapí Agudelo và cộng sự (2019) trong một nghiên cứu tổng quan về các quan điểm và cách tiếp cận với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp từ những năm 1950 cho đến năm 2019 đã đưa ra kết luận rằng: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã chuyển từ chú trọng vào mục tiêu tạo ra lợi nhuận kinh tế sang mối quan tâm chính yếu là mang lại những giá trị cho cả cộng đồng và xã hội, tuân thủ những chuẩn mực đạo đức, hướng tới những giá trị tốt đẹp, và trở thành một doanh nghiệp tốt. Như vậy, đến thời điểm hiện tại, các học giả, các nhà nghiên cứu có sự thừa nhận rằng hành vi đạo đức là một cấu phần quan trọng, là nền tảng của hành vi có trách nhiệm. Để có thể được coi là có trách nhiệm với xã hội, doanh nghiệp trước hết phải có đạo đức.
(3) Visser (2006) dựa trên các nghiên cứu thực chứng của Edmondson và Carroll (1999), và Burton et al. (2000) để nhấn mạnh thực tế rằng văn hóa có thể có ảnh hưởng đến thứ tự ưu tiên của các cấp bậc trách nhiệm trong kim tự tháp CSR của
18
Carroll (1991). Kim tự tháp trách nhiệm vì vậy nên được xem xét lại phù hợp với bối cảnh các nước đang phát triển.
Thực hiện các quy tắc tự nguyện về quản trị và đạo đức
Bậc 4: Trách nhiệm từ thiện
Bậc 4: Trách nhiệm đạo đức
Đảm bảo quan hệ tốt với các quan chức chính quyền
Bậc 3: Trách nhiệm kinh tế
Bậc 3: Trách nhiệm pháp lý
Bậc 2: Trách nhiệm pháp lý
Bậc 2: Trách nhiệm từ thiện
Tích quỹ cho các dự án xã hội/ cộng đồng của doanh nghiệp
Bậc 1: Trách nhiệm đạo đức
Bậc 1: Trách nhiệm kinh tế
Cung cấp đầu tư, tạo việc làm và đóng thuế
Nghiên cứu của Carroll được thực hiện ở nước phát triển, theo đó trong mô hình kim tự tháp, hành vi có trách nhiệm ở bên trên hành vi đạo đức. Tuy nhiên, Visser (2006) cho rằng thứ tự của các cấp bậc trách nhiệm ở các nước đang phát triển khác với kim tự tháp của Carroll (1991). Ở các nước đang phát triển, trách nhiệm kinh tế vẫn được nhấn mạnh nhất, hoạt động từ thiện được ưu tiên cao thứ hai, tiếp theo là trách nhiệm pháp lý và ở mức cao nhất là trách nhiệm đạo đức. Như vậy, hành vi đạo đức đã vượt lên trên hành vi có trách nhiệm. Ngay cả ở nước đang phát triển, doanh nghiệp cần phải đạt được hành vi có trách nhiệm thì mới được coi là có đạo đức. Điều này được giải thích một phần bởi truyền thống văn hóa, phong tục và lịch sử phát triển đã tồn tại lâu đời ở các nước đang phát triển; đó là nền văn hóa của chủ nghĩa phụ thuộc, bao cấp hay niềm tin rằng những hoạt động từ thiện là cách trực tiếp nhất để cải thiện điều kiện sống của mọi người. Áp lực phải tuân thủ quy định luật pháp ở các nước đang phát triển cũng ít hơn so với ở nước phát triển.
Mô hình kim tự tháp CSR của Baden (2016)
Mô hình kim tự tháp CSR của Visser (2006)
Hình 0.1: Mô hình kim tự tháp CSR của Baden (2016) và Visser (2006)
Nguồn: Baden (2016) và Visser (2006)
(4) Hệ thống cơ sở lý luận cũng chỉ ra rằng hành vi đạo đức được sử dụng khá phổ biến để giải thích cho hành vi có trách nhiệm trong hoạt động du lịch. Trước hết, Bramwell và các cộng sự (2008) cho rằng DLTN nhấn mạnh vào các giá trị đạo đức,
19
thái độ đạo đức, và các hành vi đạo đức của cá nhân (được gọi là khách hàng đạo đức) và các doanh nghiệp (thông qua việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp). Theo Fennell và Malloy (2007), những suy xét về đạo đức là cơ sở cho ý định về DLTN. Goodwin và Francis (2003) cũng đồng ý rằng khát vọng để trở nên tốt hơn là một trong những động lực chính của DLTN. Cũng như vậy, Leslie (2012) cho rằng mục tiêu của DLTN trong thực tế là phải dẫn dắt các bên tham gia vào hoạt động du lịch trở nên đạo đức hơn theo hướng sẵn sàng chịu trách nhiệm trong mọi hành vi và hành động theo những nguyên tắc đạo đức đã có. Lovelock và Lovelock (2013) tranh luận rằng DLTN về cơ bản là cam kết của các doanh nghiệp trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh tuân thủ theo những nguyên tắc đạo đức với môi trường và xã hội. Du lịch đạo đức (ethical tourism) cũng giống với DLTN, không đơn thuần là một loại hình du lịch, mà là cách nghĩ áp dụng cho tất cả các hình thức du lịch thay thế cho du lịch đại chúng. Theo UNWTO (2017), kế hoạch về việc thực hiện DLTN toàn cầu dựa trên mô hình kinh doanh, mà một trong những trụ cột của mô hình là các cam kết đạo đức. Burrai và cộng sự (2019) đề xuất rằng DLTN có thể được nghiên cứu thông qua khái niệm về đạo đức, mong muốn của các bên liên quan trong DLTN; và rằng mối liên hệ giữa nhận thức, hành động, và mong muốn trong DLTN có thể được xem xét dưới góc độ đạo đức.
Như vậy, bốn lập luận ở trên đã chỉ ra rằng dù tiếp cận theo góc độ nào, từ trên xuống, từ dưới lên, từ bên trong, hay bên ngoài, thì hành vi đạo đức cũng có thể đại diện cho hành vi có trách nhiệm. Các học thuyết và mô hình nghiên cứu về hành vi ra quyết định đạo đức vì vậy có thể được vận dụng để giải thích cho hành vi DLTN được đề cập trong luận án.
2.3. Tổng quan nghiên cứu về các yếu tố tác động đến hành vi DLTN của doanh nghiệp
2.3.1. Các nghiên cứu về yếu tố tác động đến DLTN
Các tổ chức quốc tế về du lịch đã đưa ra các chỉ số đánh giá hiệu quả của DLTN. Có thể kể đến Bộ công cụ về DLTN ở Việt Nam được soạn thảo bởi Chương trình Phát triển Năng lực DLTN với Môi trường và Xã hội do Liên minh Châu Âu tài trợ (2013) chỉ ra các giải pháp, chính sách, định hướng để thúc đẩy DLTN trên góc độ nhà hàng, doanh nghiệp kinh doanh lưu trú, cơ quan quản lý, và điểm đến du lịch. Global sustainable tourism council (2013) cũng xây dựng bộ tiêu chí, chỉ số đánh giá và hướng dẫn thực hiện DLTN cho các điểm đến, nhà hàng và doanh nghiệp lữ hành quốc tế, trong đó có 8 tiêu chí dành cho phát triển điểm đến bền vững và 9 tiêu chí để
20
tăng cường lợi ích, giảm thiểu các tác động tiêu cực cho cộng đồng dân cư địa phương điểm đến du lịch. Ngoài ra, The DG Enterprise and Industry (2016) cũng đưa ra Hệ thống các chỉ số về du lịch Châu Âu nhằm kiểm soát, quản lý và nâng cao việc thực hiện du lịch bền vững tại điểm đến ở Châu Âu. Với 40 chỉ số chính, đây là hướng dẫn thực hiện du lịch bền vững cho các bên liên quan tại điểm đến du lịch.
Mặc dù hệ thống các chỉ số giúp định hướng và thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện hành vi DLTN, nhưng vẫn chưa chỉ ra được bản chất của DLTN, hay chỉ ra các yếu tố nào tác động đến hành vi DLTN, vẫn chưa hệ thống được yếu tố nội tại bên trong có thể kiểm soát, hay yếu tố bên ngoài tạo ra những khó khăn cho việc thực hiện DLTN.
Nghiên cứu của Frey và George (2010) chỉ ra những rào cản khiến các doanh nghiệp không chú trọng vào DLTN mặc dù họ có nhận thức và thái độ tích cực với việc thực hiện. Trong đó, khó khăn lớn nhất là việc thiếu thốn nguồn lực, tiếp theo là chi phí để thực hiện DLTN cao, thiếu sự hỗ trợ của cơ quan quản lý, và môi trường cạnh tranh ngành khốc liệt. Nghiên cứu đã phản bác lại lập luận đã có rằng nhận thức và thái độ sẽ dẫn đến hành vi của doanh nghiệp, hay nói cách khác hành vi phản ánh nhận thức và thái độ đối với một vấn đề, mà cụ thể ở đây là DLTN. Nguyên nhân chính của sự không đồng nhất này là thiếu sự chủ định, sự cam kết của chính doanh nghiệp trong việc đầu tư nguồn lực vào thay đổi hành vi. Mặc dù có các chính sách hỗ trợ và hướng dẫn, nhưng việc thay đổi từ du lịch đại chúng sang DLTN không phải dễ dàng. Các doanh nghiệp lữ hành quốc tế phải đối đầu với nhiều khó khăn để có thể thực hiện thay đổi. Do vậy, thật sự cần thiết để tìm ra được các động cơ thúc đẩy các doanh nghiệp đồng nhất nhận thức, thái độ, và hành vi, tìm ra các yếu tố tác động để doanh nghiệp cam kết và thực hiện hành vi DLTN.
Nghiên cứu của Chettiparamb và Kokkranikal (2012) đã chỉ ra bốn nguyên tắc để các doanh nghiệp thực hiện hành vi DLTN, đó là (1) sự cưỡng ép, (2) sự phổ cập thông tin, (3) sự gắn kết của cộng đồng địa phương và (4) sự lãnh đạo của chính quyền. Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ tập trung nghiên cứu vào các doanh nghiệp lớn và chủ đạo trong ngành, trong khi các doanh nghiệp vừa và nhỏ không được chú trọng. Hơn nữa, trong các yếu tố trên, sự cưỡng ép có thể khiến hành vi được thực hiện không mang lại hiệu quả và thành công như mong đợi.
Nghiên cứu của Xin và Chan (2014) đưa ra bốn chỉ số chính (được diễn giải thông qua 17 chỉ số phụ) để đánh giá các vấn đề, rủi ro, động cơ và tác động của DLTN dưới góc nhìn của các doanh nghiệp tại Vườn Quốc gia Kinabalu, Malaysia. Đó là các yếu tố thuộc về (1) quản lý điểm đến (chính sách du lịch bền vững, sự tham gia
21
của chính quyền địa phương, sự thỏa mãn của khách hàng, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của điểm đến); (2) giá trị kinh tế (đóng góp của du lịch vào nền kinh tế địa phương, số lượng lao động, chất lượng lao động, quản lý chuỗi cung ứng trong du lịch); (3) môi trường sinh thái (kiểm soát sức chứa, giảm thiểu tác động của các phương tiện vận chuyển, bảo đảm đa dạng sinh học, vấn đề về bảo tồn, xử lý chất thải); (4) văn hóa và xã hội (bảo vệ các di sản văn hóa, giữ gìn bản sắc và tài sản của địa phương điểm du lịch, nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất). Nghiên cứu này cũng mang tính kiểu mẫu, không có tính khái quát rộng.
Ngoài ra, Tearfund (2000) đã đưa ra các ấn phẩm để kêu gọi và hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện hành vi DLTN. Tearfund (2001) đã tiến hành nghiên cứu về thái độ của các doanh nghiệp lữ hành quốc tế đối với hoạt động DLTN và chỉ ra 7 lí do để các doanh nghiệp lữ hành quốc tế thực hiện DLTN, gồm có nguyên tắc hoạt động của doanh nghiệp, thúc đẩy khách du lịch thực hiện, chứng tỏ cho các nhà cung cấp biết được chính sách hoạt động của doanh nghiệp, khác biệt hóa để tạo lợi thế, mục đích quảng bá và kinh doanh, sức ép từ phía các NGO và du khách, và nhắc nhở nhân viên doanh nghiệp về nguyên tắc, giá trị của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ thực hiện với số mẫu nhỏ, 65 doanh nghiệp, nên chưa mang tính đại diện cao.
Hines và các cộng sự (1987) dựa vào hệ thống cơ sở lý luận đã có về các yếu tố tác động đến hành vi có trách nhiệm với môi trường đã chia các yếu tố tác động thành bốn nhóm yếu tố lớn, bao gồm (1) Nhóm nhận thức (Nhận thức); (2) Nhóm tâm lý xã hội (gồm có Dự định thực hiện hành vi, Thái độ, Tác động về kinh tế - xã hội - môi trường, Thái độ đối với các vấn đề về môi trường và về thực hiện hành vi có trách nhiệm với môi trường); (3) Nhóm nhân khẩu học; (4) Nhóm các nghiên cứu, các hướng dẫn về thực hiện hành vi có trách nhiệm với môi trường, đạt được mục tiêu thực hiện hành vi có trách nhiệm với môi trường. Ngoài ra các tác giả còn đề cập đến yếu tố bối cảnh (Situational factors). Đây được coi là yếu tố thúc đẩy, có thể làm tăng hoặc giảm việc thực hiện hành vi. Yếu tố này không tác động đến quyết định thực hiện hành vi, mà tác động đến mức độ thực hiện hành vi nhiều hay ít.
Các nghiên cứu học thuật về DLTN cũng chủ yếu tập trung tiếp cận hành vi theo quá trình hoặc tổng thể chứ chưa làm rõ cơ chế các yếu tố tác động đến hành vi. Goodwin, tác giả nổi tiếng với những nghiên cứu về DLTN, cũng đề cập đến DLTN dưới góc độ định nghĩa, tiêu chí đánh giá, thực trạng phát triển du lịch ở một số quốc gia, và hướng dẫn thực hiện (Goodwin, 2015; Goodwin, 2016). Goodwin (2011) chỉ ra nhiều bước khác nhau mà các doanh nghiệp phải nỗ lực thực hiện để đạt được mục tiêu “sự bền vững của DLTN”. Ngoài ra, Goffi và cộng sự (2018) nghiên cứu kiểm
22
định mức độ nhận thức và cam kết thực hiện của các doanh nghiệp lữ hành đối với phát triển bền vững, đồng thời đánh giá các yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách phát triển bền vững của các công ty này. Frey và George (2010) đề xuất mô hình đánh giá về mối liên hệ giữa thái độ, dự định và hành vi của các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực du lịch ở Cape Town, và chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến tương quan của các giai đoạn này.
Tóm tắt lại, các nghiên cứu ở trên mới chỉ đánh giá yếu tố tác động đến DLTN ở một cách khái quát, đánh giá ở phía bên ngoài, mà chưa có sự tổng hợp phân tích động cơ chủ đạo bên trong dẫn đến việc thực hiện DLTN. Hơn nữa, các nghiên cứu mới chủ yếu tập trung vào hành vi DLTN của cá nhân (chủ yếu là khách du lịch), ít đi sâu vào nghiên cứu hành vi DLTN của doanh nghiệp nói chung, cũng như chưa giải thích được hành vi DLTN ở Việt Nam.
2.3.2. Các cách tiếp cận giải thích hành vi DLTN của doanh nghiệp
Hành vi của doanh nghiệp đã được nghiên cứu và giải thích bởi nhiều học giả, với cách tiếp cận đa dạng dựa trên những lý thuyết/mô hình khác nhau. Dựa vào hệ thống nghiên cứu đi trước, có thể kết luận rằng hành vi của doanh nghiệp nói chung và hành vi đạo đức/trách nhiệm của doanh nghiệp nói riêng có thể giải thích với ba cách tiếp cận chính, đó là: (1) Hành vi của doanh nghiệp là một tập hợp các hành vi của cá nhân trong doanh nghiệp đó (Dubinsky và Loken, 1989); (2) Doanh nghiệp là một thực thể hoàn toàn độc lập, do vậy hành vi của doanh nghiệp được biểu hiện thông qua hành vi ra quyết định, và ra quyết định dựa trên các tiền đề của tổ chức, không một yếu tố nào bên ngoài có thể tác động đến hệ thống quyết định cũng như không một quyết định nào bên trong tổ chức có thể đi lệch khỏi hệ thống (Zeleny, 2005; Seidle, 2006; Seidl và Mormann, 2015; Luhmann, 2006); (3) Hành vi của doanh nghiệp là hành vi của cá nhân trong doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi cấu trúc bên trong tổ chức và các thể chế xã hội bên ngoài, đưa đến quyết định là lựa chọn của doanh nghiệp (Scott, 2005;
Suddaby, 2010; Ferrell và Gresham, 1985; ; Kohlberg, 1986; Trevino, 1986; Hunt và Vitell, 1986; Fritzsche, 1991; Jones, 1991; Roozen và cộng sự, 2001; Valentine và Bateman, 2011; Shawver và cộng sự, 2015).
2.3.2.1. Cách tiếp cận giải thích hành vi DLTN của doanh nghiệp dựa trên hành vi của cá nhân trong doanh nghiệp
Dubinsky và Loken (1989) đã đưa ra mô hình về hành vi ra quyết định đạo
đức/trách nhiệm của doanh nghiệp dựa trên lý thuyết hành động hợp lý (Fishbein và
Ajzen, 1975; Ajzen, 1985) để đánh giá hành vi trách nhiệm/đạo đức của các doanh
23
nghiệp – là thành viên của hai Câu lạc bộ Giám đốc điều hành bán hàng và marketing
(sales and marketing executives Club) và Hiệp hội bán hàng chuyên nghiệp
(professional sales Association). Phiếu điều tra được gửi email cho người quản lý/giám
đốc của các doanh nghiệp thuộc hai tổ chức này. Với những người quản lý/giám đốc
đồng ý tham gia điều tra, họ sau đó chuyển tiếp các phiếu cho nhân viên bán hàng
(salespeople) trong doanh nghiệp của mình trả lời. Kết quả nghiên cứu thu được phiếu
điều tra của hơn 300 nhân viên, từ khoảng 100 doanh nghiệp trên toàn nước Mỹ.
Mặc dù đã thành công trong việc dự đoán hành vi trách nhiệm/đạo đức của doanh nghiệp trong lĩnh vực marketing thời điểm đó, tác giả thừa nhận rằng một trong những hạn chế của mô hình là không lý giải được hết những khác biệt trong việc ra quyết định. Một khả năng giải thích cho hạn chế này là mô hình vẫn còn thiếu một số các biến khác tác động đến dự định thực hiện hành vi. Các biến (chẳng hạn như kinh nghiệm, chuẩn mực, văn hóa, hoặc môi trường) có thể tác động trực tiếp lên dự định thực hiện hành vi thay vì đánh giá thông qua tác động của chúng đối với niềm tin về thực hiện hành vi, đánh giá kết quả, niềm tin chuẩn mực về nhóm tham khảo, và động lực để tuân thủ. Tác giả cũng đề xuất các nghiên cứu về sau có thể bổ sung thêm các biến khác ngoài thành phần của mô hình ảnh hưởng đến ý định thực hiện hành vi đạo đức/trách nhiệm.
Hình 0.2: Phân tích hành vi ra quyết định đạo đức của Dubinsky và Loken Nguồn: Dubinsky và Loken (1989)
24
2.3.2.2. Cách tiếp cận giải thích hành vi DLTN của doanh nghiệp coi doanh nghiệp là một thực thể độc lập
Vào những năm cuối của 1940, Simon (1947) đã lập luận rằng các hành vi quản
trị chỉ có thể được giải thích thông qua quá trình ra quyết định, và cơ sở của các quyết
định (decision premises) là yếu tố chủ đạo trong quá trình ra quyết định, và rằng cơ sở
của các quyết định và cấu trúc doanh nghiệp (organizational structure) tác động qua lại
lẫn nhau (Theo Hodgkinson và Starbuck, 2008). Cũng theo Simon, các quyết định là
yếu tố trọng tâm trong nghiên cứu hành vi doanh nghiệp.
Về sau này, Niklas Luhmann, một nhà lý thuyết gia nổi tiếng người Đức, được
biết đến với những nghiên cứu chuyên sâu về hành vi của tổ chức/ doanh nghiệp, cũng
nhấn mạnh yếu tố cơ cấu tổ chức và các quyết định trong hành vi doanh nghiệp.
Luhmann đã định nghĩa tổ chức là một hệ thống độc lập trong xã hội, được tạo ra trên
cơ sở các quyết định (trích dẫn trong Seidl, 2006, tr. 39).
Quan điểm khởi đầu của Luhmann về tổ chức dựa trên cấu trúc, cơ cấu của tổ chức (trích dẫn trong Seidl và Mormann, 2015, tr. 129). Theo đó, tổ chức là một hệ thống phân biệt với môi trường bên ngoài thông qua những hoạt động và cơ cấu thiết lập bên trong, và chính cơ cấu này sẽ định rõ hành vi phù hợp cho tổ chức/doanh nghiệp đó.
Sau đó, trong những năm 1980, Luhmann đã đưa ra quan điểm thứ hai giải thích cho bản chất của tổ chức. Luhmann (2006) cho rằng tổ chức là một trong ba hình thức cấu thành nên hệ thống xã hội, do vậy tổ chức cũng sẽ có đặc điểm về tính khép kín, cụ thể là vận hành khép kín và cấu trúc khép kín. Vận hành khép kín được giải thích rằng tổ chức hoạt động dựa trên cơ sở những quyết định của chính bản thân đó đưa ra, không một yếu tố nào bên ngoài có thể tác động đến hệ thống quyết định cũng như không một quyết định nào bên trong tổ chức có thể đi lệch khỏi hệ thống. Điều này cũng có nghĩa quá trình ra quyết định của tổ chức không có tương tác với môi trường xung quanh nó, mà là một quá trình khép kín chỉ liên quan đến bên trong tổ chức. Quá trình ra quyết định diễn ra liên tục, quyết định này dựa trên quyết định khác.
Như vậy, theo cách tiếp cận này, tổ chức được biểu thị thông qua một hệ thống các quyết định, hệ thống tạo ra các quyết định, phát triển các quyết định, và có khả năng thực hiện các quyết định. Vậy nên, hành vi của tổ chức được biểu hiện thông qua hành vi ra quyết định, và ra quyết định dựa trên ba tiền đề chính của tổ chức là các chương trình kế hoạch, kênh truyền thông, và con người (trích dẫn trong Seidl, 2006, tr. 42; trích dẫn trong Seidl và Mormann, 2015, tr. 141-142).
25
Với quan điểm tổ chức là một tập hợp của các quyết định, có thể hiểu quyết định trong tổ chức cũng chính là những định hướng, chính sách của doanh nghiệp, được đưa ra để hướng mọi người trong tổ chức cùng thực hiện nhằm tạo nên sự thống nhất, giảm thiểu những bất đồng. Trong khi quyết định của cá nhân được đưa ra sau quá trình tìm hiểu, lựa chọn và thỏa mãn nhu cầu mong muốn của cá nhân, thì quyết định của tổ chức hướng tới thực hiện một mục tiêu của cả tổ chức, sẽ tác động đến nhận thức, thái độ và dự định thực hiện của từng cá nhân trong tổ chức để cuối cùng hướng mọi người thực hiện theo quyết định này. Như vậy, hành vi tổ chức/doanh nghiệp được hiểu là sự tương tác và giao tiếp giữa cá nhân, nhóm và người quản lý bên trong tổ chức, từ đó nhóm và người quản lý tạo ra những tác động đến hành vi ra quyết định của cá nhân nhằm hướng quyết định này theo mục tiêu, văn hóa doanh nghiệp, và quyết định của người quản lý doanh nghiệp.
Nhiều nghiên cứu về hành vi doanh nghiệp cũng ủng hộ quan điểm của Luhmann về sự tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau trong doanh nghiệp. Luthans (1973) đã chỉ rõ hành vi của tổ chức được tạo ra do sự tương tác của chính tổ chức và con người. Tổ chức ở đây được hình thành thông qua ba yếu tố gồm cấu trúc, công nghệ, và quy trình quản lý; trong khi đó con người được khái quát hóa thành hệ thống với các đặc điểm về tâm sinh lý, vật lý, và tính cách. Sự tương tác diễn ra giữa các yếu tố thuộc hệ thống và cái thuộc về con người hoặc cũng có thể là tương tác giữa các yếu tố khác nhau. Bên cạnh đó, Zeleny (2005) cũng đồng ý rằng tổ chức là một mạng lưới các tương tác, các phản ứng và các quy trình bên trong (theo nguyên tắc phối hợp lẫn nhau) và khác biệt với các tổ chức khác bởi cấu trúc tổ chức của nó.
Tuy nhiên, bên cạnh sự thừa nhận và ủng hộ, vẫn tồn tại những ý kiến về hạn chế trong quan điểm của Luhmann (Teubner, 1992; Baxter, 1998). Thứ nhất, cách tổ chức vận hành như một hệ thống khép kín sẽ cản trở sự phát triển của doanh nghiệp vì nó hạn chế sự tiếp nhận thông tin từ môi trường bên ngoài, từ khách hàng hoặc sẽ không có cơ hội tiếp thu kinh nghiệm kiến thức từ môi trường xung quanh. Thứ hai, có sự không rõ ràng trong cách giải thích và phân biệt giữa hai loại vận hành của hệ thống đóng – mở. Mặc dù còn tồn tại tranh cãi, quan điểm và học thuyết của Luhmann về tổ chức mang lại nhiều đóng góp giá trị không chỉ trong lĩnh vực xã hội mà còn trong luật pháp đặc biệt trong các nghiên cứu liên ngành (McCrudden, 2006).
2.3.2.3. Cách tiếp cận giải thích hành vi DLTN của doanh nghiệp dựa trên hành vi của cá nhân trong doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi cấu trúc và thể chế
Cách tiếp cận thứ ba nhấn mạnh vai trò tác động của cấu trúc bên trong và cơ chế bên ngoài đến hành vi của doanh nghiệp. Cách tiếp cận này phổ biến trong lĩnh
26
vực quản lý và kinh doanh, do vậy mang tính thực tiễn cao (Donaldson và Dunfee, 1994; O’Fallon và Butterfield, 2005).
Trước hết, Kohlberg (1976) đưa ra mô hình giải thích cho sự phát triển của nhận thức đạo đức của cá nhân trong các doanh nghiệp. Kohlberg cho rằng cùng một vấn đề đạo đức sẽ có những cách giải quyết khác nhau bởi vì mỗi cá nhân đang ở vào những giai đoạn khác nhau trong quá trình phát triển nhận thức đạo đức cá nhân. Quá trình phát triển của nhận thức đạo đức được chia thành ba cấp độ, mỗi cấp độ gồm hai giai đoạn. Mỗi cá nhân sẽ từng bước trải qua từng giai đoạn từ thấp đến cao, không thể đảo ngược bất kỳ bước nào.
Mỗi cấp độ phát triển lại thể hiện mối liên hệ khác nhau giữa suy nghĩ, đánh giá của cá nhân với kỳ vọng của xã hội. Nếu như ở cấp độ thứ nhất, các quy định và kỳ vọng xã hội không được cá nhân suy xét thì ở cấp độ thứ hai, cá nhân đặt mình trong mối quan hệ với toàn xã hội, cho rằng cá nhân là một thực thể trong xã hội vì vậy sẽ phải xem xét đến những quy tắc, giao ước xã hội cũng như những mong đợi mà xã hội muốn cá nhân thực hiện. Đến bước cuối cùng, cá nhân lại tách biệt giữa suy nghĩ của cá nhân với mong đợi của toàn xã hội, lúc này cá nhân sẽ tự phán đoán và suy luận để hình thành nên quan điểm đạo đức của riêng bản thân. Có thể thấy rằng quá trình nhận thức đạo đức đi từ bước suy xét vấn đề một cách lô gíc đến tham khảo, đánh giá các nhận định/ quan điểm của xã hội, và cuối cùng hình thành những quy tắc đạo đức của bản thân.
Mô hình của Kohlberg được xây dựng dựa trên lý thuyết về các giai đoạn phát triển của nhận thức. Qua tiến trình này, các nhà quản lý sẽ thay đổi nhận thức, và từ đó sẽ dẫn đến thay đổi hành vi.
Trevino (1986) cũng đưa ra mô hình về hành vi ra quyết định đạo đức/trách nhiệm của doanh nghiệp, bao gồm các yếu tố tương đồng như mô hình của Rest (1986) và có xuất phát từ nghiên cứu của Kohlberg (1976). Theo đó, hành vi ra quyết định đạo /trách nhiệm của doanh nghiệp có khởi nguồn từ những nhận thức của các cá nhân về các vấn đề liên quan đến đạo đức/trách nhiệm, đến những tranh luận xem cái gì đúng, cái gì sai. Dần dần quá trình nhận thức sẽ giúp xác định xem các cá nhân nghĩ thế nào về việc thực hiện hành vi đạo đức/trách nhiệm, giúp xác định được cái gì đúng, cái gì sai. Tuy nhiên, nhận thức của từng cá nhân chưa đủ để giải thích hay phán đoán hành vi của doanh nghiệp, mà còn bị chi phối bởi yếu tố bối cảnh của doanh nghiệp (bao gồm loại hình kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp, khả năng kinh doanh của doanh nghiệp tại thời điểm ra quyết định). Hai yếu tố cá nhân và bối cảnh của doanh nghiệp cùng phối hợp tác động đến hành vi thực hiện, đáp lại những tranh luận về vấn đề đạo đức/trách nhiệm.
27
“Hành vi ra quyết định đạo đức/trách nhiệm của doanh nghiệp được giải thích bởi sự tương tác giữa các yếu tố cá nhân và yếu tố thuộc về tổ chức….các yếu tố cá nhân và tổ chức cùng tác động vào quá trình nhận thức của một cá nhân để xác định cách cá nhân đó cư xử trước các vấn đề đạo đức” (Trevino, 1986, tr. 602).he
Hình 0.3: Tương tác của quá trình ra quyết định đạo đức trong các tổ chức
Nguồn: Trevino (1986)
Bên cạnh những mô hình và học thuyết về hành vi ra quyết định đạo đức trong các tổ chức nói chung, Ferrell và Gresham (1985), Hunt và Vitell (1986) thảo luận về việc ra các quyết định đạo đức trong lĩnh vực marketing.
Ferrell và Gresham (1985) đã xây dựng và phân tích một mô hình đa biến của các yếu tố tác động đến các hành vi đạo đức của doanh nghiệp. Trong đó, các yếu tố cá nhân (gồm có nhận thức, thái độ, dự định, giá trị) cùng với các yếu tố tổ chức (gồm có các nhóm tương tác, và cơ hội để thực hiện hành vi) có ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định đạo đức của từng cá nhân. Nhóm tương tác bao gồm đồng nghiệp và các nhà quản lý cấp cao trong doanh nghiệp. Yếu tố cơ hội để thực hiện hành vi bao gồm sự chuyên nghiệp, chính sách doanh nghiệp, chế độ đãi ngộ (Cloward và Ohlin, 1960; Zey-Ferrell và Ferrell, 1982; Weaver và Ferrell, 1977). Ngoài ra, các cá nhân sẽ bị tác động bởi các triết lý đạo đức (lĩnh hội thông qua giao tiếp xã hội), trình độ học vấn và nền tảng văn hóa. Cũng
28
tương tự như Kohlberg và Trevino, Ferrell và Gresham cũng cho rằng yếu tố môi trường đóng vai trò quan trọng trong quá trình ra các quyết định đạo đức.
Hình 0.4: Hành vi ra quyết định đạo đức trong các doanh nghiệp marketing
Nguồn: Ferrell và Gresham (1985)
Mô hình đã chỉ ra rằng hành vi thể hiện ra bên ngoài là kết quả của mối quan hệ tác động giữa bản chất của các vấn đề đạo đức với đặc điểm của các cá nhân và môi trường bên trong tổ chức. Quyết định sẽ dẫn đến hành vi, tiếp đó những nhận xét đánh giá về hành vi này sẽ quay ngược trở lại với vai trò là thông tin phản hồi có tác động tác đến yếu tố cá nhân và yếu tố tổ chức, và tiếp tục tác động đến việc ra quyết định ở những lần tiếp theo. Mối quan hệ giữa cá nhân và nhóm tương tác (đồng nghiệp, nhà quản lý) càng gắn bó thì tác động của nhóm lên cá nhân càng nhiều. Những nhà quản lý có khả năng tác động đến quá trình ra quyết định bởi vì họ có quyền lực và họ tạo ra chính sách trong doanh nghiệp. Các cá nhân có nhiều khả năng thực hiện hành vi phi đạo đức nếu họ chứng kiến nhiều những hành vi ở những nhóm tương tác xung quanh. Ngoài ra, nếu doanh nghiệp không quy định chặt chẽ những chế tài xử phạt hành vi thì các cá nhân càng có nhiều cơ hội hành vi phi đạo đức, và ngược lại môi trường doanh nghiệp chuyên nghiệp, có chính sách thưởng phạt nghiêm minh thì sẽ thúc đẩy nhiều hành vi đạo đức. Mô hình của Ferrell và Gresham (1985) xây dựng dựa trên lý thuyết học tập xã hội (social learning), các nhóm tương tác và một tập hợp các vai trò mà cá nhân đảm nhận ở vị thế của mình (Sutherland và Cressey, 1970; Merton, 1957).
Hunt và Vitell (1986) đưa ra lý thuyết chung về hành vi đạo đức trong lĩnh vực marketing, trong đó giải thích về quá trình ra quyết định của những vấn đề thuộc về
29
đạo đức, trách nhiệm. Lý thuyết được đưa ra dựa trên hai triết lý đạo đức là nhiệm vụ luận (deontological theory) và mục đích luận (teleologial theory). Hunt và Vitell cho rằng, trong thực tế, các nhà quản lý vận dụng cùng lúc cả hai triết lý đạo đức để giải quyết các vấn đề liên quan đến đạo đức, do vậy quá trình ra quyết định cần phải bao trùm cả hai triết lý này.
Hình 0.5: Mô hình nghiên cứu của Hunt và Vitell (1986)
Nguồn: Hunt và Vitell (1986)
Mô hình của Hunt và Vitell nhấn mạnh vào quá trình con người áp dụng các triết lý đạo đức để đánh giá các cách hành xử đạo đức/ phi đạo đức. Các cá nhân trước hết phải nhận thức được vấn đề cần ra quyết định có liên quan đến khía cạnh đạo đức thì mới tiến vào được quá trình ra quyết định đạo đức của Hunt và Vitell. Môi trường bên ngoài (bao gồm các yếu tố thuộc về doanh nghiệp, lĩnh vực kinh doanh, và văn hóa) cùng với kinh nghiệm của bản thân ảnh hưởng đến nhận thức của cá nhân về các vấn đề có tính đạo đức. Tiếp đó, cá nhân sẽ đưa ra một vài phương án giải quyết và có sự đánh giá các phương án dựa trên đồng thời hai triết lý đạo đức là nhiệm vụ luận và mục đích luận. Quá trình đánh giá các khía cạnh đạo đức, cùng với yếu tố bối cạnh sẽ tác động đến dự định thực hiện hành vi. Hành vi thể hiện ra bên ngoài có thể không tương thích với những đánh giá đạo đức và dự định thực hiện do tác động của bối cảnh. Cuối cùng, cá nhân sẽ đánh giá, phản hồi lại các hệ quả của hành vi thực hiện và quay trở về thành kinh nghiệm của bản thân.
30
Như vậy, mỗi cá nhân và tổ chức có những cách đánh giá khác nhau dựa trên nền tảng triết lý đạo đức và kinh nghiệm, nhận thức của cá nhân. Mặc dù không đề cập rõ nhưng diễn tiến từng giai đoạn trong mô hình của Hunt và Vitell cho thấy chúng được xây dựng dựa trên lý thuyết hành động hợp lý của Fishbein và Ajzen (1975). Cả hai lý thuyết đều giống nhau ở điểm cho rằng mỗi cá nhân đều xem xét kỹ lưỡng tác động của mỗi hành xử trước khi ra quyết định thực hiện hành vi.
Ferrell và cộng sự (1989) tổng hợp mô hình Của Kohlberg (1976), Ferrell và Gresham (1985), và Hunt và Vitell (1986) để đưa ra giai đoạn của quá trình ra quyết định đạo đức. Nhận biết (về vấn đạo đức), nhận thức (quá trình phát triển của nhận thức đạo đức), đánh giá các khía cạnh đạo đức (đánh giá dựa trên triết lý về nhiệm vụ luận và mục đích luận), dự định thực hiện hành vi, và hành vi thể hiện ra bên ngoài (đạo đức/ phi đạo đức) là 05 giai đoạn tuần tự được liệt kê trong mô hình. Bên cạnh đó, những phản hồi sau khi thực hiện hành vi tác động ngược trở lại đến quá trình nhận biết, nhận thức, đánh giá và dự định thực hiện hành vi. Mô hình cũng chỉ ra ba yếu tố tác động chính đến quá trình ra quyết định thực hiện hành vi bao gồm yếu tố cá nhân, yếu tố thuộc về tổ chức và các cơ hội thúc đẩy hoặc cản trở hành vi xảy ra.
Hình 0.6: Tổng hợp hành vi ra quyết định đạo đức của Ferrell và cộng sự (1989)
Nguồn: Ferrell và cộng sự (1989)
Fritzsche (1991) đưa ra mô hình giải thích cho việc ra quyết định khi gặp phải các vấn đề, khía cạnh liên quan đến lĩnh vực đạo đức. Cụ thể hơn, quá trình ra quyết định của cá nhân với các đặc điểm của cá nhân, bị tác động và chi phối bởi các yếu tố
31
tổ chức. Mô hình chú trọng vào sự kết hợp giữa yếu tố cá nhân và tổ chức trong quá trình ra quyết định thực hiện hành vi đạo đức, bởi theo quan điểm của tác giả việc ra quyết định liên quan đến đạo đức của cá nhân trong tổ chức có sự khác biệt đáng kể so với việc ra quyết định của cá nhân độc lập. Việc bổ sung các giá trị cá nhân làm yếu tố đầu vào quá trình ra quyết định trong mô hình cho thấy sự tương tác giữa yếu tố tổ chức với giá trị cá nhân ảnh hưởng đến các khía cạnh đạo đức của các quyết định. Đồng thời, Fritzsche chỉ ra rằng yếu tố các bên liên quan của doanh nghiệp có tác động đến thái độ của các cá nhân trong doanh nghiệp về việc thực hiện hành vi đạo đức. Mô hình của Fritzsche (1991) được xây dựng dựa trên việc tổng hợp, đánh giá những mô hình về hành vi đạo đức của Trevino (1986), Ferrell và Gresham (1985), và Hunt và Vitell (1986).
Hình 0.7: Mô hình hành vi ra quyết định đạo đức của Fritzsche (1991)
Nguồn: Fritzsche (1991)
Jones (1991) dựa trên lại những nghiên cứu đã có về hành vi ra quyết định đạo đức của doanh nghiệp để đưa ra một mô hình tổng quan. Mô hình này bổ sung chứ không phải thay thế hoàn toàn những mô hình trước đó. Mô hình của Jones (1991) chú trọng vào yếu tố các vấn đề đạo đức (moral issues), coi các vấn đề đạo đức là nền tảng của quá trình ra quyết định đạo đức. Những vấn đề đạo đức được thể hiện ra thông qua những hành động, được tự do thể hiện có thể gây ra những tổn hại hoặc lợi ích cho những người khác. Những vấn đề đạo đức chỉ tồn tại khi những hành động hoặc
32
quyết định được đưa ra mang lại những tác động cho những người khác, và phải được đưa ra sau quá trình lựa chọn, dựa trên lý trí của người thực hiện hành động/người ra quyết định. Mô hình của Jones (1991) có sự tổng hợp của những nghiên cứu của Rest (1986), Trevino (1986), Hunt và Vitell (1986), Dubinsky và
Loken (1989), Ferrell và Gresham (1985).
Jones (1991) đã đơn giản hóa quá trình ra quyết định hành vi đạo đức (bỏ qua vòng lặp phản hồi thông tin) và sử dụng mô hình bốn giai đoạn của Rest (1986) làm nền tảng, trong đó đặc điểm của các vấn đề đạo đức được thể hiện rõ ràng. Nhận thức vấn đề, Đánh giá các vấn đề, Dự định thực hiện và Thực hiện hành vi là bốn giai đoạn chính của quá trình ra quyết định đạo đức của các cá nhân trong doanh nghiệp. Các giai đoạn này đều chịu ảnh hưởng của yếu tố nhận thức về đặc điểm của vấn đề đạo đức. Lập luận của Jones về hành vi đạo đức dựa trên phân tích về khả năng các hậu quả xấu có thể xảy ra, và tác giả tách biệt hẳn quan điểm này với các yếu tố tổ chức khác như văn hóa doanh nghiệp, môi trường doanh nghiệp, hay chính sách.
Hình 0.82: Mô hình hành vi ra quyết định đạo đức của Jones (1991)
Nguồn: Jones (1991)
Jones (1991) đã đưa vào mô hình một biến độc lập/ biến kiểm soát, đó là mức độ đạo đức. Mức độ đạo đức (moral intensity), là cách một người đánh giá một việc làm, dự định của họ về các vấn đề đạo đức như thế nào và họ liên quan tới hành vi đạo đức đó ra sao. Đây là yếu tố quyết định quan trọng đến quá trình quyết định hành vi đạo đức. Con người có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề đạo đức ảnh
33
hưởng đến những người gần gũi họ hơn là những người mà họ có ít hoặc không có liên hệ. Cá nhân cũng phản ứng mạnh mẽ hơn đối với những bất công có ảnh hưởng tức thời hơn là ảnh hưởng trong tương lai xa.
Nhiều nghiên cứu thực tiễn đã chứng minh lập luận của Jones (1991) là đúng khi đưa ra kết quả cho rằng các đặc điểm của mức độ đạo đức là yếu tố quan trọng tác động đến hành vi đạo đức trong doanh nghiệp. Fritzsche và Becker (1983) đã bác bỏ giả định rằng hành vi của các nhà quản lý luôn không đổi đối với các vấn đề đạo đức. Họ có xu hướng sẽ thực hiện hành vi đạo đức nhiều hơn trong những tình huống cấp bách gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn là trong những tình huống ít nguy hiểm. Bên cạnh đó, Weber (1990) cho thấy đối với các vấn đề đạo đức khác nhau, các nhà quản lý doanh nghiệp sẽ ứng dụng những phương thức lý luận và nhận thức khác nhau. Nghiên cứu đã chứng minh rằng con người sẽ có phản ứng khác nhau đối với các vấn đề đạo đức do đặc điểm khác nhau của từng vấn đề đạo đức.
Các mô hình ở trên có sự kế thừa và kết hợp giữa cách tiếp cận quy chuẩn với cách tiếp cận giải thích hành vi để giải thích việc ra quyết định hành vi đạo đức một cách đầy đủ nhất. Điều này tạo nên sự khác biệt giữa hành vi ra quyết định đạo đức/trách nhiệm so với hành vi ra quyết định thông thường. Đạo đức về bản chất chính là những quy tắc, chuẩn mực xã hội đưa ra mà nhờ đó các cá nhân điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp. Vậy nên, quá trình ra quyết định hành vi đạo đức/trách nhiệm đều tập trung xem xét và đánh giá những ảnh hưởng của chuẩn mực đạo đức đến quyết định đưa ra bên cạnh những tác động của yếu tố cá nhân, tổ chức và bối cảnh.
Trevino (1986), Hunt và Vitell (1986), Ferrell, Gresham và Fraedrich (1989), và Fritzsche (1991) mặc dù tiếp cận theo cách giải thích hành vi nhưng vẫn đề cập đến cách tiếp cận quy chuẩn trong mô hình. Cách thức đánh giá các vấn đề đạo đức của các tác giả dựa trên triết lý đạo đức, đó là mục đích luận (teleological) và nhiệm vụ luận (deontological). Hai triết lý này đều dựa trên việc đặt lợi ích của những người khác, lợi ích của cộng đồng và toàn xã hội làm trung tâm và hướng hành động theo cách mang lại nhiều lợi ích cho xã hội nhất (Rachels, 1992). Hành động được đánh giá theo hướng đúng và sai, có đạo đức hay phi đạo đức, được thừa nhận hay không thừa nhận, dựa trên các quy tắc, nguyên tắc có sẵn hoặc theo luật pháp (Wimbush và Shepard, 1994; Laczniak và Murphy, 2006).
Ngoài ra, cũng theo cách tiếp cận này, một số nghiên cứu khác lý giải hành vi trách nhiệm theo hướng khái niệm hóa quá trình ra quyết định đạo đức theo hướng thuần
34
túy hơn về mặt xã hội, diễn giải hành vi như một quá trình xã hội. Ngược với cách tiếp cận coi hành vi là quá trình tương tác tâm lý của cá nhân, quan điểm hành vi là quá trình xây dựng xã hội đặt quyết định hành vi trách nhiệm trong bối cảnh xã hội. Cách tiếp cận này nhấn mạnh vào tương tác giữa hành vi ra quyết định trách nhiệm với bối cảnh xã hội. Việc ra quyết định trở thành một quá trình đàm phán giữa các cá nhân với nhau (negotiating), tìm kiếm sự đồng thuận (consensualizing), sự phân xử, giải quyết tranh cấp (arbitrating) (Cottone, 2001). Cottone và cộng sự (1994) cũng chỉ ra rằng tất cả suy nghĩ và hành vi ra quyết định đạo đức đều chịu ảnh hưởng từ xã hội và các mối quan hệ tương quan lẫn nhau, cả số lượng và loại mối quan hệ cũng có khả năng tác động đến suy nghĩ và hành vi trách nhiệm của cá nhân. Hill và cộng sự (1998) đã phát triển một mô hình ra quyết định hành vi trách nhiệm dựa trên lý thuyết về nữ quyền.
Một số tác giả khác cũng đề xuất mô hình hành vi đạo đức/trách nhiệm theo cách diễn giải hành vi là quá trình xã hội, chẳng hạn như nghiên cứu của Forester-
Miller và Davis (1996), Driscoll và Hoffman’s (2000), và Rossouw và van Vuuren (2003),Corey và cộng sự (1998), Keith-Spiegel và Koocher (1985), Stadler (1986), Steinman và cộng sự (1998), Tarvydas (1998), Tymchuk (1986), và Welfel (1998) (trích dẫn từ Cottone và Claus, 2000), và Garcia và cộng sự (2003). Mỗi mô hình này đều liệt kê các giai đoạn hoặc thứ tự các bước của hành vi ra quyết định đạo đức dựa trên bối cảnh nghề nghiệp hoặc môi trường làm việc thực tế.
Như vậy, theo cách tiếp cận thứ ba này, hành vi của doanh nghiệp có thể hiểu là sự tương tác giữa cá nhân, nhóm bên trong doanh nghiệp cùng với các thể chế bên ngoài doanh nghiệp, từ đó tạo ra những tác động nhằm định hướng hành vi ra quyết định của cá nhân trong doanh nghiệp. Nói cách khác, hành vi của doanh nghiệp chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau: các tiến trình riêng (quá trình phát triển nhận thức cá nhân, quá trình ra quyết định thực hiện hành vi của cá nhân, quá trình học tập xã hội - giao tiếp giữa các cá nhân trong cùng một tổ chức, quá trình tuyền thông tin từ người quản lý đến các nhóm và cá nhân), tiêu chuẩn chung (yếu tố tổ chức - tương tác nhóm, văn hóa doanh nghiệp, mục tiêu doanh nghiệp, quyết định của người quản lý), và thể chế xã hội bên ngoài (chẳng hạn như các bên liên quan đến doanh nghiệp).
Mỗi cách tiếp cận ở trên có những đóng góp và cách giải thích riêng, giúp đưa ra một cách khái quát và đầy đủ về hành vi đạo đức/trách nhiệm trong các doanh nghiệp. Như vậy, hành vi DLTN với những bản chất riêng của hoạt động DLTN thì cách tiếp cận nào sẽ phù hợp để đánh giá. Thứ nhất, DLTN có tính mới, thể hiện ở việc DLTN bao hàm những đặc trưng của phát triển du lịch bền vững, nhưng mang tính phổ quát, thực tiễn cao hơn, giúp chỉ ra những cách thức thực hiện hoạt động du lịch
35
hướng đến mục tiêu phát triển bền vững của ngành du lịch. Thứ hai, nội hàm của DLTN chưa có sự thống nhất, có sự đảo ngược thứ tự của các cấp bậc trách nhiệm, như được thể hiện trong mô hình của Visser (2006) và Baden (2016). Thứ ba, DLTN chú trọng vào mối liên hệ giữa các bên liên quan trong quá trình thực hiện hoạt động du lịch, vậy nên DLTN sẽ chịu tác động bởi các yếu tố cả trong và ngoài doanh nghiệp, với những đặc trưng khác nhau.
Do vậy, nếu chỉ xem xét tác động của yếu tố cá nhân hoặc yếu tố tổ chức đều sẽ hạn chế giải thích những khác biệt trong quá trình ra quyết định hành vi DLTN, như Dubinsky và Loken (1989) thừa nhận. Với những lập luận trên, tác giả lựa chọn cách tiếp cận thứ ba, kết hợp yếu tố cá nhân, tổ chức, và thể chế bên ngoài để giải thích các yếu tố tác động đến hành vi DLTN của các DNLHQT. Mô hình kết hợp này tương đối hợp lý để giúp đưa ra câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu của luận án.
2.3.3. Các nghiên cứu về yếu tố tác động đến hành vi trách nhiệm của doanh nghiệp
Bốn thập kỷ qua đã chứng kiến hàng trăm nghiên cứu về hành vi đạo đức/trách nhiệm trong kinh doanh. Một mặt, nghiên cứu về hành vi trách nhiệm được thực hiện thông qua các nghiên cứu kiểm chứng, sử dụng các khái niệm để mô tả và giải thích các tình huống thực tế, chẳng hạn như mối quan hệ giữa hành vi đạo đức/trách nhiệm và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác, các nghiên cứu về đạo đức/trách nhiệm trong kinh doanh được tiến hành theo cách tiếp cận quy chuẩn. Tuy nhiên, các nghiên cứu về sau này đã sử dụng nhiều kỹ thuật để giải thích về hành vi trách nhiệm trong doanh nghiệp và các tổ chức, trong một số ngành/lĩnh vực kinh doanh, phát triển các mô hình, đưa ra và kiểm định các giả thiết về mối quan hệ giữa các biến hành vi, vận dụng học thuyết vào giải thích mối liên hệ, và kết hợp giữa các luồng nghiên cứu khác nhau. Các nghiên cứu theo hướng này chiếm đa số trong những bài viết về hành vi trách nhiệm của doanh nghiệp từ những năm 80 đến nay, và đã chỉ ra nhiều yếu tố tác động khác nhau đến hành vi đạo đức/trách nhiệm của doanh nghiệp. Các yếu tố này được phân chia thành yếu tố cá nhân, yếu tố tổ chức, và yếu tố mức độ đạo đức.
2.3.3.1. Yếu tố cá nhân
Yếu tố cá nhân được thể hiện thông qua các tiến trình mà mỗi cá nhân trong doanh nghiệp trải qua, chẳng hạn như quá trình phát triển nhận thức cá nhân, quá trình ra quyết định thực hiện hành vi của cá nhân, quá trình học tập xã hội - giao tiếp giữa các cá nhân trong cùng một tổ chức, quá trình tuyền thông tin từ người quản lý đến các nhóm và cá nhân. Các tiến trình sẽ chịu sự tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài để dẫn đến quyết định cuối cùng là hành vi của doanh nghiệp.
36
Các yếu tố cá nhân được nghiên cứu rộng rãi trong các nghiên cứu về hành vi đạo đức/trách nhiệm, chủ yếu dựa trên quá trình phát triển nhận thức đạo đức giữa các cá nhân của Kohlberg (1976) và Rest (1986) (Beu và Buckley, 2001; Marquardt và Hoeger, 2009; Lenert và cộng sự, 2015). Ví dụ, sự giải thích của Kohlberg về phát triển nhận thức đạo đức dựa trên cách tiếp cận quy chuẩn, cho thấy rằng quá trình ra quyết định đạo đức/trách nhiệm cá nhân được tạo ra dựa trên ba giai đoạn phát triển từ thấp đến cao của các đánh giá đạo đức. Tương tự, quá trình ra quyết định đạo đức/trách nhiệm của Rest (1986) được ứng dụng và kiểm chứng trong nhiều nghiên cứu nhấn mạnh vào vai trò của nhận thức, thái độ, và dự định trong xác định hành vi đạo đức/trách nhiệm.
Mô hình của Trevino (1986) về mối quan hệ tương tác giữa Cá nhân - Tình huống (Person-Situation Interactionist), nghiên cứu của Reidenbach và Robin (1991), và Sridhar và Camburn (1993) đã ứng dụng kết luận của Kohlberg (1976) vào nghiên cứu quá trình phát triển nhận thức đạo đức trong doanh nghiệp. Ngoài ra, Kitchner (1984) nghiên cứu giai đoạn đánh giá các vấn đề đạo đức dựa trên các cấp độ phát triển khác nhau, theo thứ bậc của quá trình lý luận, căn cứ cả vào trực quan (intuitive) và phán đoán lý luận (critical evaluation). Woiceshyn (2011) cũng đã đề xuất mô hình về quá trình hành vi ra quyết định đạo đức của doanh nghiệp dựa trên diễn tiến tâm lý của cá nhân, có sự kết hợp giữa đoạn lý luận, trực giác và các nguyên tắc đạo đức.
Các nhà nghiên cứu cũng áp dụng các lý thuyết như là thuyết hành động hợp lý và hành vi dự định để giải thích rằng quá trình ra quyết định đạo đức/trách nhiệm giữa các cá nhân có thể trải qua các giai đoạn từ niềm tin đến thái độ, sau đó tác động đến dự định và cuối cùng là hành vi và sau đó là hành vi (Dubinsky và Loken 1989). Mô hình dự phòng (Contingency Framework) của Ferrell và Gresham (1985) và mô hình tổng hợp (A Synthesis of Ethical Decision Models for Marketing) của Ferrell và các cộng sự (1989) bổ sung thêm các yếu tố cá nhân cùng với yếu tố tổ chức và văn hóa để giải thích cho các quyết định của hành vi đạo đức/trách nhiệm trong môi trường văn hóa-xã hội. Ferrell và Gresham chỉ rõ yếu tố cá nhân thể hiện ở nhận thức, thái độ và dự định thực hiện. Bên cạnh đó, mô hình lý thuyết chung của các vấn đề đạo đức trong marketing (general theory of marketing ethics) của Hunt và Vitell (1986) đề xuất một mô hình đánh giá đạo đức, trong đó các yếu tố văn hóa, tổ chức, và bối cảnh ngành tương tác với các yếu tố cá nhân để định hình nhận thức, từ đó tác động đến thái độ, dự định và hành vi.
Đặc điểm chung của yếu tố cá nhân trong các mô hình hành vi ra quyết định đạo đức/trách nhiệm là nhận thức đạo đức của một cá nhân trải qua một loạt các các bước xử lý nhận thức, sau đó bị ảnh hưởng bởi yếu tố tổ chức hoặc bối cảnh. Như vậy, tiến trình cá nhân được lựa chọn trong hầu hết đánh giá hành vi đạo đức/trách nhiệm gồm bốn bước ra quyết định hành vi, đi từ nhận thức, thái độ, đến dự định, và hành vi.
37
2.3.3.2. Yếu tố tổ chức
Các mô hình nghiên cứu về hành vi đạo đức/trách nhiệm của Ferrell và Gresham (1985), Trevino (1986), Brommer và các cộng sự (1987), Ferrell và cộng sự (1989), Fritzsche (1991) đều đề cập đến yếu tố thuộc về tổ chức bao gồm nhóm tương tác (significant others), văn hóa doanh nghiệp, môi trường làm việc, cơ hội. Zey- Ferrell và các cộng sự (1979) thừa nhận rằng yếu tố cơ hội và yếu tố nhóm xã hội có ảnh hưởng nhiều đến dự định thực hiện hành vi của cá nhân trong doanh nghiệp hơn là các yếu tố thuộc về bản thân cá nhân. Jones (1991) cũng đưa ra ba yếu tố tổ chức tác động đến hành vi đạo đức, gồm có động lực nhóm (group dynamics), khả năng kiểm soát (authority factors), và quá trình học tập xã hội (socialization process).
OFallon và Butterfield (2005), Craft (2013) và Lehnert và cộng sự (2015) đã tổng quan các nghiên cứu về hành vi ra quyết định của doanh nghiệp từ năm 1996 đến năm 2011, đồng thời tóm tắt lại các yếu tố thuộc về tổ chức tác động đến hành vi đạo đức được đề cập trong nghiên cứu. Các yếu tố bên trong doanh nghiệp tác động đáng kể đến hành vi trách nhiệm thường bao gồm chính sách thưởng phạt, văn hóa doanh nghiệp, các quy tắc đạo đức, văn hóa đạo đức (được hiểu là văn hóa được doanh nghiệp đưa ra để thúc đẩy hành vi đạo đức giữa các thành viên của tổ chức doanh nghiệp đó), chính sách/ thủ tục, năng lực cạnh tranh, quy mô doanh nghiệp, loại hình kinh doanh, và chuẩn mực chủ quan. Trong số đó, văn hóa đạo đức, chính sách thưởng phạt, và các quy tắc đạo đức là ba yếu tố được đề cập nhiều nhất trong các nghiên cứu, và ba yếu tố này được kiểm định có tác động đến cả bốn giai đoạn của quá trình ra quyết định đạo đức (xem bảng 2.1); theo sau là các yếu tố về văn hóa doanh nghiệp và quy tắc đạo đức. Các yếu tố khác như hiệu suất kinh doanh (Armstrong và các cộng sự, 2004), nhóm, lãnh đạo nhóm (White và Lean, 2008), nhóm tương tác (Schoderbek and Deshpande, 1996), hay mối quan hệ nghề nghiệp (Hwang và cộng sự, 2008) cũng có tác động đến hành vi đạo đức doanh nghiệp ở một mức độ nào đó.
Mỗi giai đoạn trong hành vi ra quyết định đạo đức sẽ chịu tác động của những yếu tố tổ chức khác nhau. Trong số bốn giai đoạn, giai đoạn nhận thức đạo đức ít chịu ảnh hưởng của yếu tố tổ chức, có thể giải thích do giai đoạn này chủ yếu xuất phát từ nhận thức, kinh nghiệm, và học thức của cá nhân. Ở giai đoạn đánh giá đạo đức/trách nhiệm, yếu tố tác động chủ yếu là văn hóa doanh nghiệp (Moberg và Caldwell, 2006; Sweeney và cộng sự, 2010), văn hóa đạo đức trong doanh nghiệp (Moberg and Caldwell, 2006; Zhang và cộng sự, 2009), các quy tắc đạo đức (Weaver và Trevino, 1999; Rottig và cộng sự, 2011). Các nghiên cứu cũng chứng minh được ảnh hưởng của yếu tố loại hình doanh nghiệp tác động đến giai đoạn đánh giá và tham gia thực hiện hành vi (Roozen và cộng sự, 2001; Forte, 2004; Oz, 2001); ảnh hưởng của làm việc nhóm (White và Lean, 2008), quan hệ nghề nghiệp (Hwang và cộng sự, 2008), đồng
38
nghiệp và những người quản lý doanh nghiệp thành công (Jaffe và Tsimerman, 2005; Westerman và cộng sự, 2007; Deshpande và Joseph, 2008; Hunt và Vitell, 1984) đến dự định thực hiện hành vi. Lehnert và cộng sự (2015) đã chỉ ra rằng các yếu tố tổ chức tác động nhiều nhất đến hai giai đoạn trong hành vi ra quyết định đạo đức, đó là Dự định thực hiện và Thực hiện hành vi đạo đức.
Mỗi lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp khác nhau sẽ đối diện với các vấn đề đạo đức khác nhau, bao gồm vệ sinh an toàn sản phẩm, tác động tiêu cực đến môi trường, tham ô tài sản của doanh nghiệp, và thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Puncheva-Michelotti và cộng sự, 2018). Do vậy, mỗi lĩnh vực có thể tạo ra những tác động khác nhau đến hành vi trách nhiệm của nhân viên công tác trong lĩnh vực đó. Theo Forte (2004) đã cho thấy loại hình kinh doanh có ảnh hưởng giai đoạn đưa ra các đánh giá đạo đức. Theo Oz (2001), các chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ thông tin sẽ có nhiều khả năng tham gia vào thực hiện hành vi phi đạo đức hơn là những người làm việc ở môi trường khác. Theo Roozen và cộng sự (2001), nhân viên làm việc trong các lĩnh vực công hoặc trong tổ chức về giáo dục tham gia nhiều hơn vào các hành vi trách nhiệm so với nhân viên trong khu vực tư nhân. Ergeneli và Arikan (2002) cũng cho rằng có một sự khác biệt đáng kể trong nhận thức đạo đức của nhân viên bán hàng (bán thiết bị y tế và quần áo). Tuy nhiên, nghiên cứu của Shafer và cộng sự (2001) lại cho rằng không chứng minh được yếu tố loại hình kinh doanh tạo ra những tác động khác nhau tới việc ra quyết định đạo đức của doanh nghiệp.
Trong khi một số yếu tố tổ chức có thể được đo lường trong mối quan hệ tuyến tính với các giai đoạn ra quyết định hành vi đạo đức/trách nhiệm, một số khác được xem xét dưới các biến nhân khẩu học. Nhóm thứ nhất liên quan đến quá trình vận hành của doanh nghiệp, chẳng hạn như chính sách thưởng phạt, văn hóa doanh nghiệp, chuẩn mực đạo đức, và làm việc nhóm… Nhóm thứ hai giúp giải thích cho đặc điểm chung của doanh nghiệp, đề cập đến thông tin của doanh nghiệp được thể hiện theo thống kê, bao gồm quy mô doanh nghiệp, loại hình kinh doanh, hay lĩnh vực kinh doanh.
Sweeney và cộng sự (2010) vừa đánh giá tác động tuyến tính của văn hóa đạo đức doanh nghiệp thông qua phân tích hồi quy, vừa xem xét tác động kiểm soát của yếu tố quy mô doanh nghiệp dưới dạng biến nhân khẩu học (demographic variable) đến dự định thực hiện hành vi đạo đức/trách nhiệm của doanh nghiệp. Roozen và cộng sự (2001) đồng thời phân tích tác động tuyến tính của mục tiêu doanh nghiệp, các bên liên quan đến doanh nghiệp cùng với quy mô doanh nghiệp và loại hình kinh doanh của doanh nghiệp dưới tên gọi yếu tố nhân khẩu học xã hội (socio-demographic factors) đến hành vi đạo đức/trách nhiệm của doanh nghiệp.
39
Bảng 0.1: Tổng hợp một số yếu tố thuộc về tổ chức tác động đến hành vi ra quyết định đạo đức/trách nhiệm
Các giai đoạn của quá trình ra quyết định đạo đức/trách nhiệm
Yếu tố tổ chức
Tổng
Nhận thức
Đánh giá
Dự định
Thực hiện
Chính sách thưởng phạt (Rewards/Sanctions)
Tenbrunsel (1998); Premeaux (2004)
Hayibor và Wasieleski (2009)
15
Glass and Wood (1996); Cherry and Fraedrich (2002); Hwang và cộng sự (2008); Shafer và Simmons (2011); Valentine và Bateman (2011)
Tenbrunsel và Messick (1999); Cherry và Fraedrich (2002); Jeffrey và cộng sự (2004); Premeaux (2004); Smith và cộng sự (2007); Watson và Berkley (2008); Watson và cộng sự (2009).
Văn hóa doanh nghiệp (Organizational culture)
Razzaque and Hwee (2002)
7
Vardi (2001); Armstrong và cộng sự (2004)
Moberg và Caldwell (2006); Ho (2010); Sweeney và cộng sự (2010)
Quy tắc đạo đức
Granitz (2003)
(Code of ethics)
11
Weaver và Trevino (1999); Rottig và cộng sự (2011)
McCabe và cộng sự (1996); Weaver và Trevino (1999); Greenberg (2002); Peterson (2002)
Stohs và Brannick (1999); Adams và cộng sự (2001); Pflugrath và cộng sự (2007); McKinney và cộng sự (2010)
Reynolds (2006)
Chuẩn mực chủ quan (Subjective norms)
7
Gibson and Frakes (1997); Flannery and May (2000); Powpaka (2002); Spicer và cộng sự (2004); Buchan
40
Các giai đoạn của quá trình ra quyết định đạo đức/trách nhiệm
Yếu tố tổ chức
Tổng
Nhận thức
Đánh giá
Dự định
Thực hiện
(2005); Valentine và Bateman (2011)
Pierce và Sweeney (2010) Marta và cộng sự
Quy mô doanh nghiệp (Organizational size)
(2008); Sweeney và cộng sự (2010)
7
Bartels và cộng sự (1998); Chavez và cộng sự (2001); Armstrong và cộng sự (2004); Longenecker và cộng sự (2006)
Văn hóa đạo đức trong doanh nghiệp (Ethical culture)
23
VanSandt (2003); Moberg and Caldwell (2006); Zhang và cộng sự (2009); Ho (2010)
Trevino và cộng sự (1998); Fritzsche (2000); Vardi (2001); Peterson (2002); Weber và cộng sự (2003)
Flannery and May (2000); Key (2002); Hwang và cộng sự (2008); Zhang và cộng sự (2009); Elango và cộng sự (2010); Shafer và Simmons (2011)
Verbeke và cộng sự (1996); Upchurch (1998); Singhapakdi và cộng sự (2001); Weber và Seger (2002); Forte (2004); Elango và cộng sự (2010); Zhang và cộng sự (2009); Sweeney và cộng sự (2010)
2
Chính sách/ thủ tục (Policies/ procedures)
Deshpande (2009); Rottig và cộng sự (2011)
6
Năng lực cạnh tranh (Competitiveness)
Butterfield và cộng sự (2000)
Guidice và cộng sự (2008); Valentine và Bateman (2011)
Hunt và Jennings (1997); Robertson và Rymon (2001)
41
Các giai đoạn của quá trình ra quyết định đạo đức/trách nhiệm
Tổng
Yếu tố tổ chức
Nhận thức
Đánh giá
Dự định
Thực hiện
Đào tạo (Training)
4
Sparks và Hunt (1998)
McKendall và cộng sự (2002)
Eynon và cộng sự (1997); Herington và Weaven (2008)
Oz (2001)
Loại hình kinh doanh (Industry type)
5
Eynon và cộng sự (1997); Teal và Carroll (1999); Roozen và cộng sự (2001); Forte (2004)
1
Làm việc nhóm (Team)
White và Lean (2008)
1
Quan hệ nghề nghiệp (Professional Relationships)
Hwang và cộng sự (2008)
1
Hiệu suất kinh doanh (Organizational performance)
Armstrong và cộng sự (2004)
Nhóm tương tác
1
Schoderbek và Deshpande (1996)
(Significant others)
Đồng nghiệp (peers) và người quản lý doanh nghiệp thành công (success)
4
Jaffe và Tsimerman (2005); Westerman và cộng sự (2007); Deshpande và Joseph (2008); Deshpande (2009); Hunt và Vitell (1984)
Nguồn: Tổng hợp dựa trên hệ thống cơ sở lý luận đã có
42
2.3.3.3. Yếu tố mức độ đạo đức
Mức độ đạo đức (sau đây viết tắt là MI) được có liên quan đến nhận thức, đánh giá về một vấn đề liên quan đến khía cạnh đạo đức, và dự định của một cá nhân khi đối mặt với một vấn đề đạo đức. MI do vậy về bản chất tập trung vào các vấn đề đạo đức mà không liên quan đến yếu tố doanh nghiệp hay cá nhân người đưa ra các quyết định. MI được đề cập đầu tiên trong mô hình của Jones (1991).
MI được cấu thành bởi sáu yếu tố, là sáu đặc điểm thường có của một vấn đề đạo
đức mà người ra quyết định cần cân nhắc, bao gồm:
(1) Mức độ ảnh hưởng của các kết quả tạo ra bởi hành vi (magnitude of consequences- MC) được hiểu là tổng hợp các thiệt hại (lợi ích) mà hành động thực hiện mang lại cho người khác.
(2) Sự đồng thuận/nhìn nhận của toàn xã hội (social consensus - SC) liên quan đến những đánh giá và thái độ của toàn xã hội về hành vi thực hiện. Khi các cá nhân không chắc chắn về những hành động thực hiện, họ sẽ tìm đến những chỉ dẫn từ những nhóm xã hội khác.
(3) Xác suất các ảnh hưởng được tạo ra nếu hành vi được thực hiện (probability of effect - PE) được hiểu là dự đoán khả năng các tổn hại (lợi ích) có thể xảy ra của việc thực hiện hành động.
(4) Tính tức thời của kết quả được tạo ra (temporal immediacy - TI) được giải thích là khoảng thời gian tính từ thực hiện hành động đến khi các ảnh hưởng của hành động được nhìn nhận.
(5) Sự gẫn gũi (proximity - P) được hiểu là cảm giác gần gũi về mặt xã hội, văn hóa, tâm lý, hoặc vật lý giữa người thực hiện hành động và người nhận tác động của hành động.
(6) Mức độ tập trung của các tác động (concentration of effect-CE) có liên quan
đến số người chịu ảnh hưởng bởi những tác động của việc thực hiện hành động.
Về mối tương quan giữa sáu yếu tố, Jones (1991) cho rằng mức độ đạo đức có tính đa chiều (multi-dimension) nhưng cách giải thích của ông về cấu trúc của mức độ đạo đức lại thiên về tính một chiều. Chính điều này đã làm nổi lên những tranh luận về sự tương quan giữa sáu yếu tố cấu thành nên MI. Jones và Huber (1992) và Frey (2000) ủng hộ quan điểm một chiều (one-dimension) khi cho rằng các yếu tố của MI có mối quan hệ tương quan với nhau, do vậy khi phân tích tác động nên đánh giá tổng hợp mức độ quan trọng của các yếu tố cùng nhau thay vì tách ra thành các nhóm nhân tố. Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác chỉ ra mối quan hệ đa chiều giữa các yếu tố cấu
43
thành của MI hay cụ thể hơn, chỉ một số yếu tố trong MI có mối tương quan với nhau và ít có tương quan với những yếu tố còn lại. Bằng phân tích nhân tố khám phá, các tác giả Singhapakdi và cộng sự (1996a), và Leitsch (2006) đã đưa ra hai nhóm nhân tố tách ra từ sáu yếu tố giúp giải thích rõ hơn tác động của MI đến hành vi đạo đức.
Nhiều nghiên cứu đã tiến hành điều tra để kiểm chứng mối quan hệ của mức độ đạo đức cũng như tác động của từng yếu tố thuộc về mức độ đạo đức và thừa nhận những kết luận của Jones (1991) về ảnh hưởng của mức độ đạo đức đến toàn bộ quá trình ra quyết định hành vi đạo đức (Weber,1996; Morris và McDonald, 1995; Singer và Singer, 1997; Singer, 1996; Singhapakdi và các cộng sự, 1996a; Harrington, 1997; Davis và các cộng sự, 1998; Singer và cộng sự, 1998; Butterfield và cộng sự, 2000; Frey, 2000; Barnett, 2001; Shafer và cộng sự, 2001; May and Pauli, 2002; Barnet và Valentine, 2004; Carlson và cộng sự, 2002; Paolillo và Vitell, 2002; Greenberg, 2002;
Fleischman và Valentine, 2003; Shaw, 2003; Granitz, 2003; Leitsch, 2006; McMahon và Harvey, 2006; Tsalikis, 2007; McMahon và Harvey, 2007; Sweeney và Costello, 2009; Yang và Wu, 2009; Valentine và Hollingworth, 2012; Shawver và cộng sự, 2015; Puncheva-Michelotti và cộng sự, 2018). Thống kê các nghiên cứu được thể hiện ở phụ lục 1.1. phụ lục 1.2, phụ lục 1.3 và phụ lục 1.4.
Các nghiên cứu chỉ ra mức độ đạo đức có tác động đến cả bốn giai đoạn trong hành vi đạo đức của Rest (1986), và tác động nhiều nhất đến giai đoạn đánh giá đạo đức và dự định thực hiện đạo đức (xem phụ lục 1.5). Tuy nhiên, cũng có những nghiên cứu chỉ ra mức độ đạo đức không tác động nhiều đến một giai đoạn trong hành vi ra quyết định đạo đức, ví dụ Marshall và Dewe (1997) cho rằng mức độ đạo đức không phải là yếu tố tác động đến thực hiện hành vi. McMahon và Harvey (2007) kết luận rằng mức độ đạo đức không phải là yếu tố dự đoán của dự định thực hiện hành vi đạo đức trong một số trường hợp.
2.4. Khoảng trống nghiên cứu
Tổng quan nghiên cứu đã chỉ ra rằng hành vi đạo đức cũng có thể đại diện cho hành vi có trách nhiệm. Các học thuyết và mô hình nghiên cứu về hành vi ra quyết định đạo đức vì vậy có thể được vận dụng để giải thích cho hành vi DLTN được đề cập trong luận án. Các nghiên cứu đi trước đã chỉ ra được ba cách tiếp cận giải thích hành vi DLTN, trong đó cách thứ ba là phù hợp để giải thích nội hàm của hành vi DLTN của doanh nghiệp và các yếu tố tác động. Tuy vậy, các nghiên cứu hiện tại mới chỉ đề cập lý thuyết, vẫn còn thiếu hụt những nghiên cứu thực chứng ở Việt Nam. Từ những phân tích, tổng hợp và đánh giá các nghiên cứu đã có, tác giả nhận thấy có khoảng trống về bối cảnh nghiên cứu để giải thích cho các yếu tố tác động đến hành vi DLTN của doanh nghiệp.
44
- Bối cảnh xã hội Việt Nam:
Quá trình toàn cầu hóa và những bước tiến vượt bậc trong lĩnh vực khoa học - công nghệ tạo ra những thay đổi đáng kể đến kinh tế - xã hội - môi trường của các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Quá trình toàn cầu hóa đã cho thấy sự phát triển của Việt Nam được định hình bởi sự tương tác giữa các đặc điểm của quốc gia với những thay đổi của bối cảnh xã hội toàn cầu (Leaf, 2002).
Thứ nhất, về kinh tế, Việt Nam bắt đầu trải qua bước chuyển mình mạnh mẽ từ năm 1986 khi thực hiện công cuộc Đổi mới, chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Việt Nam tiếp tục tiến hành những cải cách với quy mô lớn hơn từ năm 1992; những năm sau 1996 được đánh dấu bằng việc Việt Nam dần dần hội nhập vào cộng đồng kinh tế toàn cầu. Sau khi trở thành một thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Việt Nam tham gia Khu vực Thương mại Tự do ASEAN và Hợp tác Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương năm 1995 và 1998, thiết lập mối quan hệ với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WorldBank) năm 2001, và ký hiệp định thương mại với Liên minh Châu Âu vào năm 2003. Việt Nam cũng chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007. Chỉ trong một thập kỷ, Việt Nam đã tự đưa mình vào danh sách các nước đang phát triển toàn cầu hóa nhanh (Nguyen, 2015). Sau năm 2007, mặc dù tốc độ phát triển kinh tế đã giảm, nhưng Việt Nam vẫn nằm trong số các quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhất ở châu Á với mức tỷ lệ tăng tưởng trung bình trên 6% (Nguyen và cộng sự, 2018), và đến năm 2020 nằm trong số dẫn đầu các nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới.
Thứ hai, về xã hội, thể chế xã hội và môi trường kinh doanh ở Việt Nam cũng vì vậy xuất hiện những thay đổi lớn, tạo ra những ảnh hưởng đến quản trị doanh nghiệp. Năng lực công nghệ nâng cao đã giúp tăng năng suất lao động, giảm chi phí vận hành, giảm chi phí tìm kiếm thông tin, gia tăng năng lực cạnh tranh, và đưa thị trường vốn toàn cầu đến gần hơn với các doanh nghiệp trong nước. Cạnh tranh toàn cầu trên thị trường vốn đã tạo ra một lớp các nhà đầu tư muốn thu được lợi nhuận cao trong một thời gian ngắn, một bộ phận cổ đông chuyển từ chủ sở hữu dài hạn sang ngắn hạn; hay tạo ra những tác động đến hành vi của giám đốc/quản lý doanh nghiệp trong phân bổ nguồn lực và hoạch định chiến lược. Ban giám đốc của doanh nghiệp do vậy không còn giữ vị trí độc tôn trong quản lý vận hành doanh nghiệp, mà còn xuất hiện thêm vai trò của các bên liên quan đến doanh nghiệp (Phan, 2001).
Thứ ba, về môi trường, các chính sách liên quan đến môi trường cũng được chú ý hơn và hoàn thiện theo thông lệ quốc tế. Tăng trưởng và tốc độ công nghiệp hóa nhanh đã dẫn đến những tác động tiêu cực cho môi trường tự nhiên của Việt Nam, như là phát thải khí nhà kính bình quân đầu người cao nhất trên thế giới (khoảng 5%/năm), vấn đề rác thải nhựa, ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước (WorldBank, 2020). Để
45
ứng phó lại với những thay đổi từ môi trường và xã hội cũng như hưởng ứng lời kêu gọi bảo vệ môi trường trên toàn cầu, Việt Nam triển khai Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ cam kết với Liên Hợp Quốc, đồng thời ký kết Hiệp định chung Paris về biến đổi khí hậu. Các chương trình và chiến lược thúc đẩy phát triển bền vững đã được áp dụng; chẳng hạn như chương trình Đóng góp Quốc gia tự quyết định (NDCs), chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 với quan điểm phát triển du lịch bền vững trên nền tảng tăng trưởng xanh, phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc.
- Khoảng trống về bối cảnh nghiên cứu: Theo Singhapakdi và cộng sự (1996a), hành vi trách nhiệm/đạo đức nên được đánh giá trong bối cảnh, tình huống cụ thể gắn với hành vi đó. Hành vi trách nhiệm của doanh nghiệp đã được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu, cả về lý thuyết và thực tiễn, và trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau. Các nghiên cứu thực tiễn đã chứng minh được tác động của nhiều yếu tố đến hành vi trách nhiệm của doanh nghiệp. Trong đó, tác động của yếu tố xã hội (social consensus) được đề cập trong mô hình nghiên cứu của Jones (1991) thông qua yếu tố mức độ đạo đức và tiếp tục được kiểm chứng trong rất nhiều nghiên cứu. Nghiên cứu về sau phân tách yếu tố xã hội này thành các khía cạnh cụ thể hơn để phù hợp với lĩnh vực và môi trường nghiên cứu, chẳng hạn như áp lực xã hội được nhận thức (Singhapakdi và cộng sự; 1996a); môi trường kinh doanh (Puncheva- Michelotti và cộng sự, 2018); những xem xét về pháp lý (Chow và cộng sự, 2009); văn hóa Nho giáo (Hwang và cộng sự, 2008); những thay đổi của môi trường bên ngoài (Hunt và Jennings, 1997). Điều này cho thấy, nghiên cứu tại những điều kiện kinh tế và xã hội khác nhau, thì tác động của yếu tố bối cảnh sẽ khác nhau.
Mặc dù các nghiên cứu đã chỉ ra yếu tố tác động đến hành vi DLTN, nhưng vẫn chưa thực sự giải thích được hành vi DLTN của các DNLHQT ở Việt Nam. Đó là bởi vì bối cảnh Việt Nam có những đặc trưng riêng, xét trên ba khía cạnh kinh tế, xã hội, và môi trường. Hầu hết các mô hình nghiên cứu về hành vi DLTN cho đến nay đều được thực hiện ở các nước phát triển như Bắc Âu, Úc, NewZealand, Bắc Mỹ, và một số đến từ Nam Phi hay gần đây là Trung Quốc. Do vậy, nghiên cứu thực nghiệm đánh giá các yếu tố tác động đến hành vi DLTN của DNLHQT tại các nước đang phát triển, như ở Việt Nam, dường như là một khoảng trống còn thiếu hụt.
Bên cạnh đó, những thay đổi trong phát triển kinh tế - xã hội và những chính sách mới về môi trường đã tạo ra áp lực xã hội mới, tác động xã hội mới đến hành vi trách nhiệm nói chung và trong lĩnh vực du lịch ở Việt Nam nói riêng mà các nghiên cứu trước đây chưa đề cập đến, đó có thể là áp lực từ các bên liên quan đến doanh nghiệp (bao gồm cơ quan Nhà nước, người quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư, hay cơ quan truyền thông). Một vấn đề nữa đặt ra là khi những yếu tố tác động biến đổi mạnh thì liệu rằng các tác động sẽ thay đổi như thế nào, yếu tố bên ngoài hay bên trong tác động
46
mạnh hơn. Trong bối cảnh nghiên cứu ở Việt Nam, yếu tố áp lực xã hội nhiều khả năng sẽ tác động đến hành vi DLTN của các cá nhân trong doanh nghiệp, từ đó quyết định đến hành vi của doanh nghiệp. Tuy nhiên, tác động của yếu tố áp lực xã hội đến hành vi DLTN của các doanh nghiệp lữ hành ở Việt Nam như thế nào vẫn chưa được nghiên cứu làm rõ.
Từ những phân tích trên, nghiên cứu của luận án sẽ được thực hiện để thỏa lấp khoảng trống về bối cảnh nghiên cứu đã được đề cập, đồng thời làm sâu sắc thêm hiểu biết về các yếu tố tác động đến hành vi DLTN của các DNLHQT ở Việt Nam. 2.5. Lý thuyết về các yếu tố tác động đến hành vi DLTN của doanh nghiệp
Phần tổng quan nghiên cứu đã chỉ ra một số lý thuyết được vận dụng để giải thích cho các yếu tố tác động đến hành vi DLTN của doanh nghiệp, gồm có thuyết hành động hợp lý và hành vi dự định, lý thuyết của Niklas Luhmann, thuyết các bên liên quan, thuyết nhiệm vụ luận, thuyết vị lợi, thuyết mục đích luận và lý thuyết thể chế.
2.5.1. Lý thuyết hành vi động hợp lý và hành vi dự định
Thuyết hành động hợp lý và hành vi dự định của cá nhân (Ajzen, 1985; Ajzen, 1991) giúp giải thích hành vi đạo đức/trách nhiệm của doanh nghiệp theo cách tiếp cận thứ nhất (mục 2.3.2.1). Thuyết hành vi dự định (theory of planned behavior - TPB) của Ajzen (1985) được phát triển từ thuyết hành động hợp lý (theory of reasoned action - TRA) của Ajzen và Fishbein (1980) và Fishbein và Ajzen (1975). 2.5.1.1. Tổng quan về lý thuyết hành động hợp lý và hành vi dự định
Thuyết TRA cho thấy mỗi cá nhân đều xử lý các thông tin tiếp nhận được một cách có hệ thống trước khi thực hiện hành động. Cụ thể, Ajzen và Fishben (1980, trang 5) cho rằng:
“….Học thuyết được xây dựng dựa trên giả định rằng con người thường hợp lý và vận dụng thông tin có sẵn một cách hệ thống. Chúng tôi không cho rằng hành vi xã hội của con người bị kiểm soát bởi các động cơ vô thức hoặc những ham muốn áp đảo, và chúng tôi cũng không tin rằng nó có thể được thực hiện một cách ngẫu nhiên hay không suy nghĩ. Thay vào đó, chúng tôi cho rằng mọi người xem xét tác động của các hành động của họ trước khi họ quyết định tham gia hoặc không tham gia vào một hành vi nhất định.” (trang 5)
Theo Ajzen và Fishben, mỗi cá nhân đều xử lý các thông tin tiếp nhận được một cách hợp lý và có hệ thống trước khi thực hiện hành động. Mô hình TRA cho thấy hành vi thực hiện sẽ được quyết định bởi dự định thực hiện hành vi đó (xem hình 2.9). Hai yếu tố chính tác động đến dự định thực hiện là thái độ đối với hành vi và chuẩn chủ quan. Mối quan hệ và tác động của các yếu tố trong mô hình đã được kiểm chứng
47
trong nhiều nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau (Sheppard và cộng sự, 1988; Davis và cộng sự, 1989; Lai, 2017).
Hình 0.9: Mô hình hành động hợp lý - TRA
Nguồn: Fishbein and Ajzen (1975)
Hình 0.10: Mô hình hành vi dự định - TPB
Nguồn: Ajzen (1991)
Thuyết hành vi dự định của Ajzen (1985) đã bổ sung thêm một yếu tố thứ ba tác động đến dự định hành vi và thực hiện hành vi, đó là nhận thức kiểm soát hành vi, như trong hình 2.10. Yếu tố này cùng với dự định hành vi sẽ giúp dự đoán hành vi thực hiện. Nhận thức kiểm soát hành vi hoàn toàn độc lập với thái độ đối với hành vi và chuẩn chủ quan. Việc bổ sung thêm yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi để nhằm mở rộng mô hình đánh giá thêm những hành vi không hoàn toàn dưới sự
48
kiểm soát của ý chí. Mặc dù một số nhà nghiên cứu đã kết luận rằng hai mô hình cũ và mới đều tốt như nhau, nhưng các nghiên cứu so sánh đều chỉ ra lợi thế trong khả năng dự đoán hành vi của thuyết hành vi dự định (Brubaker và Fowler, 1990; Ajzen, 1991; Madden và cộng sự, 1992).
2.5.1.2. Các biến trong mô hình nghiên cứu về hành động hợp lý và hành vi dự định
Dự định hành vi (Intention). Cũng tương tự như mô hình TRA, mục tiêu của mô hình TPB là để dự đoán và giải thích hành vi cá nhân (Ajzen, 1985). Dự định hành vi được định nghĩa là xác suất chủ quan cá nhân sẽ tham gia vào hành vi. Dự định thực hiện (hoặc không thực hiện) hành vi được coi là yếu tố trung tâm của mô hình, là yếu tố quyết định đến một hành vi. Những dự định cho thấy cá nhân đã cố gắng vượt qua khó khăn như thế nào, nỗ lực bao nhiêu để thực hiện hành vi. Theo nguyên tắc trong mô hình, dự định càng mạnh mẽ thì càng có nhiều khả năng hành vi được thực hiện.
Thái độ đối với hành vi (Attitude toward the behavior) được hiểu là những đánh giá của cá nhân về việc tham gia vào thực hiện một hành vi nhất định là tốt hay xấu. Cá nhân càng đánh giá ủng hộ việc thực hiện một hành vi cụ thể, thì càng có nhiều dự định thực hiện hành vi đó (Fishbein và Ajzen, 1975).
Chuẩn chủ quan (Subjective norm) biểu lộ nhận thức của một người về việc những người quan trọng đối với người đó (như là người quản lý, đồng nghiệp, gia đình) cho rằng người đó nên hay không nên tham gia vào một hành vi nhất định. Cá nhân càng nhận thấy rằng những người quan trọng với mình nghĩ rằng mình nên tham gia vào hành vi, thì càng có nhiều khả năng người đó dự định làm như vậy (Fishbein
và Ajzen, 1975).
Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived behavioral control) đóng vai trò dự đoán quan trọng trong mô hình TPB, có tác động đến cả hai giai đoạn dự định và thực hiện hành vi (Ajzen, 1985). Nhận thức kiểm soát hành vi được hiểu là những thuận lợi hoặc khó khăn trong quá trình thực hiện hành vi, và nó được cho là phản ánh những kinh nghiệm trong quá khứ cũng như những trở ngại được dự đoán. Cá nhân nhận thấy rằng các yếu tố kiểm soát hành vi càng lớn, thì dự định của cá nhân phải thực hiện hành vi và hành vi diễn ra càng mạnh mẽ (Ajzen,1991).
Mức độ quan trọng của thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi trong dự đoán dự định thực hiện có thể thay đổi giữa các hành vi. Do đó, trong một số trường hợp, chỉ có thái độ tác động đáng kể đến dự định, trong những trường hợp khác, thái độ và nhận thức kiểm soát hành vi là đủ để giải thích cho dự định, và cũng có trường hợp, cả ba yếu tố đều có khả năng dự đoán độc
49
lập. Cả dự định và nhận thức kiểm soát hành vi, có thể đóng vai trò quan trọng trong dự đoán hành vi, nhưng trong bất kỳ trường hợp nào cũng có một yếu tố quan trọng hơn cái còn lại (Ajzen, 1991). 2.5.1.3. Ưu điểm của lý thuyết hành động hợp lý và hành vi dự định
Lý thuyết của Ajzen (1985) được cho là phù hợp để giải thích các yếu tố tác động đến hành vi đạo đức/trách nhiệm của doanh nghiệp bởi một số ưu điểm (Dubinsky và Loken, 1989). Thứ nhất, các thành phần trong mô hình hành vi dự định tương tự như các thành phần trong mô hình hành vi ra quyết định đạo đức/trách nhiệm (ví dụ như chuẩn chủ quan [Ferrell và Gresham, 1985; Hunt và Vitell, 1986], dự định thực hiện [Hunt và Vitell, 1986]). Một số yếu tố khác hoặc không được xem xét một cách rõ ràng (ví dụ, động lực để tuân thủ [Hunt và Vitell, 1986; Laczniak, 1983] và sự thúc đẩy làm theo ý muốn của chuẩn chủ quan [Ajzen, 1985]) hoặc khác trong cách hình thành khái niệm (ví dụ: nhận thức của cá nhân hay hệ quả nhận thức được [Ferrell và Gresham, 1985; Hunt và Vitell, 1986; Laczniak, 1983] và thái độ với hành vi [Ajzen,1985]).
Thứ hai, cách tiếp cận này chủ yếu được áp dụng vào những năm 1980 khi mà các mô hình hiện có lúc đó giải thích hành vi của doanh nghiệp chưa được thử nghiệm, do đó tính hợp lệ của chúng vẫn là một câu hỏi cần kiểm chứng. Ngoài ra, các mô hình giải thích hành vi doanh nghiệp thời gian đó thường bao gồm các biến được định nghĩa rộng, (ví dụ, ảnh hưởng của văn hóa [culural evironment] và do đó, khó đo lường. Ngược lại, mô hình của Ajzen (1985) có thể kiểm tra được. Đây được coi là học thuyết tiên phong và được sử dụng như khung lý thuyết trong rất nhiều nghiên cứu về tâm lý học hành vi, dự đoán và giải thích hành vi trong nhiều bối cảnh khác nhau (Sheppard và cộng sự, 1988; Olson và Zanna, 1993; Dubinsky và Loken, 1989).
Cuối cùng, lý thuyết hành động hợp lý giả định rằng các yếu tố quyết định đến hành vi đạo đức/trách nhiệm thay đổi từ hành vi đạo đức/trách nhiệm này sang hành vi khác. Trong khi đó, các mô hình khác dường như ngụ ý rằng ảnh hưởng tương đối của một yếu tố nhất định đối với hành vi đạo đức/trách nhiệm sẽ thể hiện nhất quán trên tất cả các hành vi đạo đức/trách nhiệm.
Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, hệ thống cơ sở lý luận đã chỉ ra một số mô hình nghiên cứu hành vi đạo đức/trách nhiệm của doanh nghiệp với cách tiếp cận đầy đủ hơn, và hơn nữa được kiểm chứng trong nhiều lĩnh vực kinh doanh cũng như nhiều môi trường, quốc gia khác nhau, chẳng hạn như mô hình của Jones (1991).
2.5.2. Cơ sở của quyết định trong doanh nghiệp theo lý thuyết của Niklas Luhmann
Theo Luhmann, tổ chức là một hệ thống riêng biệt, có sự phân biệt với môi trường xung quanh, và được biểu thị thông qua một hệ thống các quyết định. Cơ sở
50
của các quyết định trong tổ chức được phân chia thành ba yếu tố, bao gồm các chương trình, kênh truyền thông, và con người (trích dẫn trong Seidl, 2006, tr. 42; trích dẫn trong Seidl và Mormann, 2015, tr. 141-142).
Các chương trình hay còn gọi là kế hoạch, xác định các điều kiện để tổ chức đưa ra được quyết định đúng. Có hai loại chương trình bao gồm chương trình điều kiện và chương trình mục đích; nếu như chương trình thứ nhất tạo tiền đề cho quyết định đúng hướng dựa trên một số điều kiện cụ thể được đưa ra (dạng “nếu, thì”), thì chương trình sau tạo tiền đề dựa trên việc xác định một số mục tiêu cần đạt được (ví dụ như tối đa hóa doanh thu). Cơ sở thứ hai cho việc ra các quyết định của tổ chức là các kênh truyền thông, các kênh này có liên quan đến cách thức tổ chức của tổ chức. Chúng sẽ điều phối việc người này có thể giao tiếp, tương tác với người kia trong tổ chức bởi lẽ không phải tất cả mọi người trong tổ chức giao tiếp được với nhau tại cùng một thời điểm. Giao tiếp giữa các cá nhân trong tổ chức bị giới hạn bởi một số kênh truyền thông nhất định. Yếu tố thứ ba trong hệ thống cơ sở quyết định chính là con người, liên quan đến việc tuyển dụng, bố trí và tổ chức nhân sự trong tổ chức. Tổ chức sẽ quyết định những việc liên quan đến con người trong tổ chức bao gồm, tuyển dụng, cho thôi việc, thuyên chuyển vị trí công tác, lương thưởng, phúc lợi và kỷ luật. Con người ở đây trả lời cho câu hỏi ai sẽ là người ra quyết định, mà thay vào đó đề cập đến nhân sự bên trong tổ chức.
Về sau, Luhmann có giới thiệu thêm cơ sở quyết định khác. Cụ thể, văn hóa tổ chức (organizational culture - liên quan đến quy trình, quy định riêng biệt của tổ chức trong quá trình ra quyết định) và lối tư duy (cognitive routine - có thể được hiểu là cách tổ chức định nghĩa về môi trường xung quanh) là hai yếu tố có khả năng tác động vào các quyết định trong tổ chức.
2.5.3. Lý thuyết giải thích hành vi đạo đức/trách nhiệm của doanh nghiệp dựa trên cách tiếp cận quy chuẩn
Cách tiếp cận quy chuẩn (normative) cho rằng việc ra quyết định trước hết phải xác định được những nguyên tắc đạo đức, những khẳng định, những chuẩn mực được xã hội thừa nhận, từ đó sẽ giúp định hướng hành vi của cá nhân (Simon, 1979). Thuyết các bên liên quan, thuyết nhiệm vụ luận, và thuyết vị lợi được coi là những học thuyết và quan điểm đặc trưng của cách tiếp cận quy chuẩn giải thích cho hành vi đạo đức/trách nhiệm của doanh nghiệp. Cách tiếp cận các bên liên quan (stakeholder approach) được đưa ra bởi Freeman từ năm 1984. Theo đó, các nhà quản lý doanh nghiệp phải triển khai những chính sách nhằm thoả mãn tất cả các bên có liên quan đến việc kinh doanh của doanh nghiệp (bao gồm nhân viên, cổ đông, nhà cung cấp,
51
khách hàng, và cộng đồng địa phương), đồng thời thoả mãn nhu cầu và kỳ vọng của các bên bằng cách thực hiện trách nhiệm xã hội (Freeman và Mcvea, 2001; Freeman, 2004). Thuyết nhiệm vụ luận (deontoligical) giải thích hành vi đạo đức chính là việc thực hiện những nguyên tắc, quy định và trách nhiệm được toàn xã hội và pháp luật thừa nhận khi đối mặt với những vấn đề có tính đạo đức (Laczniak, 1983; Reidenbach và Robin, 1990; Laczniak và Murphy, 2006). Hành động có đúng thì mới mang lại những kết quả tích cực và lợi ích cho toàn xã hội.
Ngoài ra, một số nghiên cứu ứng dụng thuyết vị lợi (utilitarianism) được đưa ra bởi John Stuart Mill (Piest, 1957) để giải thích cho việc ra quyết định đạo đức, bao gồm nghiên cứu của Cavanagh và các cộng sự (1981), Laczniak (1983), Fritzsche và Becker (1984), Williams và Murphy (1990), và Reidenbach và Robin (1990). Thuyết vị lợi là một hình thức khác của thuyết mục đích luận (teleologial theory), thuyết này cho rằng kết quả của bất kỳ hành động nào là tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá sự đúng và sai của hành động đó. Hành động tốt nhất là hành động mang lại nhiều nhất những gì được cho là hữu ích, lợi ích. Người ra quyết định vì vậy cần xem xét tất cả các phương án, các bên liên quan để từ đó lựa chọn phương án mang lại sự thỏa mãn của số đông.
Tuy nhiên, giải thích hành vi đạo đức/trách nhiệm của doanh nghiệp theo cách tiếp cận quy chuẩn còn bộc lộ một số hạn chế. Thứ nhất, không có tiêu chí để đánh giá xem việc thực hiện đã thỏa mãn điều kiện là hành vi đạo đức hay chưa. Thứ hai, chưa xem xét kỹ đến những yếu tố bên trong, đặc biệt là những yếu tố thuộc về doanh nghiệp có thể thúc đẩy hoặc cản trở việc thực hiện hành vi đạo đức/trách nhiệm (Laczniak, 1983; Trevino, 1986). Thứ ba, những quan điểm và học thuyết của cách tiếp cận quy chuẩn gây khó khăn cho các nhà quản lý ở nhiều quốc gia khác nhau trong việc kiểm soát và đãi ngộ nhân viên (Donaldson và Dunfee, 1994). Thứ tư, cách tiếp cận quy chuẩn ngầm ám chỉ rằng con người luôn luôn hợp lý, luôn ý thức về quyết định thực hiện hành động, và do vậy những người tốt thì làm việc tốt còn những người xấu làm việc xấu. Trong khi đó, vẫn tồn tại những trường hợp người tốt làm việc xấu - thực tế này được kiểm chứng trong một số nghiên cứu khoa học (Umphress & Bingham, 2011; Gino và cộng sự, 2011; Shalvi và cộng sự, 2011).
2.5.4. Lý thuyết thể chế
Đây được coi là một trong những lý thuyết phổ biến giải thích tác động của xã hội lên các chủ thể kinh tế (Scott, 1987; Dacin, 2002; Scott, 2005; Suddaby, 2010). Lý thuyết thể chế (institutional theory) đề cập sâu đến các khía cạnh của cấu trúc xã hội (Scott, 2005). Nó xem xét, phân tích vai trò của các cấu trúc xã hội, bao gồm quy tắc, chuẩn mực,
52
các mối quan hệ, và thói quen sinh hoạt, góp phần định hình cho hành vi của cá nhân, doanh nghiệp trong xã hội. Nó giải thích cho sự hình thành, cho việc được thừa nhận rộng rãi, và tác động của những yếu tố này đến hành vi trong xã hội, góp phần mang lại sự ổn định và đảm bảo cho xã hội. Như vậy, theo như lý thuyết thể chế, các tổ chức trong xã hội không chỉ là các hệ thống được tạo ra để đạt được các mục tiêu xác định trước. Chúng cũng là các hệ thống văn hóa và xã hội, và do đó bị ảnh hưởng bởi các cá nhân liên quan và môi trường xung quanh mà chúng tương tác (Scott, 2014).
Lý thuyết thể chế đề cập đến mối quan hệ giữa các doanh nghiệp và các bên liên quan đến doanh nghiệp, hay nói cách khác là những kỳ vọng của các bên liên quan đối với việc thực hiện hành vi của doanh nghiệp, từ đó tác động đến quyết định thực hiện hành vi của các cá nhân trong doanh nghiệp. Như vậy, lý thuyết này chỉ ra tác động của yếu tố áp lực xã hội đến hành vi của doanh nghiệp trong xã hội. Trong bối cảnh nghiên cứu của luận án, yếu tố áp lực xã hội nhiều khả năng tác động đến hành vi DLTN của doanh nghiệp lữ hành. Lý thuyết thể chế phù hợp để giải thích hành vi của doanh nghiệp theo cách tiếp cận thứ ba đã được đề cập ở mục 2.3.2.3.
Một số các nghiên cứu khác cũng tiếp cận hành vi của doanh nghiệp dựa trên lý thuyết thể chế. Žugaj và các cộng sự (2004) tiếp cận tổ chức theo khía cạnh thể chế - nghĩa là tác giả quan niệm tổ chức với cơ cấu và chức năng định sẵn sẽ kết nối, điều chỉnh các hoạt động của con người bên trong tổ chức đó, cùng hướng đến một mục tiêu chung (theo Schatten và BaČa, 2010). Nghiên cứu về hành vi doanh nghiệp là phân tích về con người và các tình huống xã hội trong bối cảnh mà tổ chức đó hoạt động kinh doanh (Peterson và Thomas, 2007).
Bên cạnh đó còn có những quan điểm nổi bật khác của các học giả về hành vi của doanh nghiệp tương đồng với cách tiếp cận theo lý thuyết thể chế. Hành vi doanh nghiệp còn được hiểu “là lĩnh vực nghiên cứu về ảnh hưởng của cá nhân, nhóm và cơ cấu đến hành vi của con người trong tổ chức với mục tiêu nâng cao hiệu quả của tổ chức” (Phạm Thúy Hương và Phạm Thị Bích Ngọc, 2016, tr. 4). Theo Rossouw và van Vuuren (2003), hành vi của doanh nghiệp là một quá trình phức tạp, có liên quan đến các nhóm, chịu sự tác động của nhiều yếu tố mà mỗi thành viên cá nhân của tổ chức đều tham gia vào quá trình đó. Các quyết định và hành động vì thế mà không chỉ bắt nguồn từ một tính cách của tập thể, hay một trí tuệ tập thể hoặc một tư duy đạo đức của một tập thể, mà xuất phát từ một quy trình hành động tổng thể gồm nhiều giai đoạn, nhiều yếu tố mà trong đó các cá nhân với tính cách, trí tuệ, và mức độ phát triển nhận thức đạo đức khác nhau tham gia vào.
53
2.6. Mô hình nghiên cứu về các yếu tố tác động đến hành vi DLTN của các doanh nghiệp lữ hành quốc tế ở Việt Nam
2.6.1. Căn cứ xây dựng mô hình nghiên cứu
Thứ nhất, luận án vận dụng mô hình lý thuyết về hành vi đạo đức/trách nhiệm của Jones (1991) để giải thích hành vi DLTN và các yếu tố tác động đến hành vi của doanh nghiệp (xem hình 2.8).
Weber (1996) nhận định rằng mô hình tổng hợp của Jones (1991) về hành vi ra quyết định đạo đức là hoàn thiện và đầy đủ nhất trong hệ thống các nghiên cứu về hành vi đạo đức/trách nhiệm, là cơ sở để các nghiên cứu thực tiễn về sau vận dụng trong đánh giá hành vi doanh nghiệp. Các nghiên cứu đánh giá tổng hợp của Ford và Richardson (1994), Loe và cộng sự (2000), O’Fallon và Butterfield (2005), Craft (2013) và Lehnert và cộng sự (2015) đã tổng quan gần 400 nghiên cứu đánh giá tác động của yếu tố xã hội đến hành vi của doanh nghiệp dựa trên mô hình của Jones (1991). Theo Lehnert và cộng sự (2015), đây là mô hình nền tảng cho các nghiên cứu về hành vi đạo đức, là mô hình toàn diện và có sự kế thừa, phát triển từ các nghiên cứu về hành vi đạo đức/trách nhiệm của Dubinsky và Loken 1989; Ferrell và Gresham 1985; Ferrell và cộng sự 1989; Hunt và Vitell 1986; Kohlberg, 1976; Rest 1986; Trevino, 1986).
Do vậy, mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến hành vi DLTN của doanh nghiệp lữ hành quốc tế sẽ xuất phát từ mô hình của Jones (1991), có sự kế thừa từ mô hình TPB của Ajzen (1985), trong đó hành vi DLTN sẽ được xác định bởi dự định thực hiện DLTN.
Thứ hai, dựa trên sự kế thừa và tổng hợp các nghiên cứu đi trước, tác giả phát
triển yếu tố áp lực xã hội trở thành một biến của mô hình nghiên cứu.
Các nghiên cứu khác chỉ ra tác động của yếu tố áp lực xã hội đến hành vi trách nhiệm của doanh nghiệp. Bên cạnh các yếu tố nội bộ doanh nghiệp, các quyết định của nhà quản lý cũng chịu tác động của yếu tố ngoại sinh bên ngoài như các chính sách của nhà quản lý, áp lực cộng đồng và xã hội, và nhu cầu từ khách hàng (Smith và cộng sự, 2010; Puncheva-Michelotti và cộng sự, 2018). Theo Utting (2002), áp lực từ xã hội thực sự là động lực chính cho sự xuất hiện của chính sách có trách nhiệm với môi trường của doanh nghiệp. Trong các nghiên cứu về hành vi trách nhiệm, Singhapakdi và cộng sự (1996a) đi tiên phong trong nghiên cứu ứng dụng phân tích nhân tố để tìm ra tương quan đa chiều giữa các yếu tố thuộc mức độ đạo đức, trong đó nhóm thứ nhất bao gồm các yếu tố đánh giá bản chất hay kết quả của các hành động, gọi là “các tổn hại tiềm tàng được nhận thức” của hành động; nhóm thứ hai đánh giá tác động của yếu tố bên ngoài, yếu tố xã hội đến việc thực hiện hành động, gọi là “áp lực xã hội được nhận thức”.
54
Doanh nghiệp và xã hội có mối quan hệ tương hỗ, phụ thuộc lẫn nhau; một doanh nghiệp thành công cần một xã hội ổn định, và đồng thời một xã hội phát triển cần những doanh nghiệp lớn mạnh. Chính vì vậy, các quyết định của doanh nghiệp và các chính sách xã hội đều ngầm tuân thủ nguyên tắc về chia sẻ lợi ích, hai bên cùng có lợi. Trong thực tiễn, các doanh nghiệp đều phải kết hợp quan điểm xã hội vào trong chiến lược kinh doanh của mình (Beu và Buckley, 2001; Porter và Kramer, 2006). Như vậy, các quan điểm xã hội tạo ra tác động tới quyết định hành vi của doanh nghiệp sẽ thể hiện ra bên ngoài.
Porter và Kramer (2006) đưa ra ví dụ một số về việc các doanh nghiệp không hoàn toàn tự nguyện thực hiện trách nhiệm và các hành vi đạo đức, mà thay vào đó, họ chỉ thực sự quan tâm đến vấn đề này và đưa vào trong các quyết định kinh doanh khi xuất hiện những yêu cầu từ xã hội. Ngày nay, các doanh nghiệp đều chủ động nắm bắt các xu hướng xã hội về hành vi đạo đức và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, và dựa vào đó để đề xuất các chiến lược phù hợp nhằm thỏa mãn và điều phối hiệu quả nhu cầu của các bên liên quan. Có thể nói, chính xu hướng và sự gia tăng mối quan tâm đến vấn đề trách nhiệm xã hội này đã thay đổi hành vi của một số doanh nghiệp (Zadek, 2004).
Yếu tố áp lực xã hội/ quan điểm xã hội trong luận án này được chi tiết hóa thành áp lực xã hội về thực hiện DLTN được nhận thức bởi hai lí do sau. (1) Các doanh nghiệp sẽ không phải giải quyết tất cả các vấn đề trong xã hội bởi họ không có trách nhiệm phải làm và cũng không đủ nguồn lực để giải quyết; mà thay vào đó, doanh nghiệp chỉ lựa chọn những quan điểm, xu hướng có liên quan trực tiếp đến lĩnh vực kinh doanh, việc giải quyết vấn đề sẽ giúp tạo ra lợi ích chia sẻ cho doanh nghiệp và xã hội (Porter và Kramer, 2006). Các xu hướng, quan điểm xã hội khác sẽ có những doanh nghiệp trong lĩnh vực khác, những tổ chức phi chính phủ và chính phủ liên quan giải quyết. Thêm vào đó, việc giải quyết các vấn đề xã hội có liên quan trực tiếp đến lĩnh vực kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp tạo ra giá trị và chia sẻ giá trị với xã hội, nhằm giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu và sứ mệnh của mình trong mọi cộng đồng, mọi xã hội.
(2) Xu hướng thực hiện DLTN có tác động đến hành vi của DNLHQT. Những biến động xã hội tạo ra những thay đổi đáng kể về cấu trúc thị trường du lịch, xu hướng du lịch; đồng thời tạo ra áp lực buộc các nhà cung cấp sản phẩm dịch vụ du lịch phải thay đổi để theo kịp xu hướng du lịch, nhu cầu du lịch mới (Martin và Mason, 1987). Xu hướng du lịch quốc tế tác động đến năng lực khai thác và bảo tồn các tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn, bên cạnh các yếu tố như kinh tế, công nghệ, chiến tranh, yêu cầu về chất lượng cuộc sống, và sự thay đổi về nhân khẩu (Eagles, 2007). Mỗi quốc gia sẽ đưa ra những quyết định khác nhau liên quan đến việc quản lý và thực hiện dựa theo các xu hướng du lịch và trình độ phát triển của quốc gia đó. Eagles cũng chỉ ra 18 xu hướng
55
quốc tế liên quan đến thay đổi về nhân khẩu học, công nghệ, và xã hội tác động đến du lịch, cụ thể là khu vực được bảo vệ trong du lịch sinh thái.
Bên cạnh đó, các xu hướng, trào lưu xã hội xuất hiện và thay đổi đã tạo ra những nhu cầu du lịch mới, ví dụ như du lịch đạo đức, DLTN, du lịch chữa bệnh và giải trí, du lịch thông minh (Weeden, 2002; Goodwin và Francis, 2003; Csirmaz và Pető, 2015; Li Yunpeng và cộng sự, 2017). Nhận thức của các nhà cung cấp sản phẩm dịch vụ du lịch, bao gồm các DNLHQT, vì vậy cũng phải thay đổi, nhằm đưa ra những sản phẩm và dịch vụ phù hợp, đáp ứng nhu cầu và xu hướng du lịch mới của du khách và của toàn xã hội (Goodwin và Francis, 2003; Tearfund, 2001; King, 2002; Budeanu, 2005). Như vậy, xu hướng xã hội, cụ thể là áp lực xã hội về thực hiện DLTN được nhận thức, có tác động đến quyết định và hành vi của doanh nghiệp. Điều này cũng dễ lí giải bởi vì mục tiêu đầu tiên của doanh nghiệp là lợi nhuận, thay đổi để thỏa mãn nhu cầu thị trường là chiến lược giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình. Áp lực xã hội về thực hiện DLTN được nhận thức được phát triển từ mức độ đạo đức trong mô hình của Jones (1991).
2.6.2. Hành vi DLTN và các yếu tố tác động đến hành vi DLTN của doanh nghiệp trong mô hình nghiên cứu 2.6.2.1. Hành vi DLTN của doanh nghiệp
Mặc dù nhiều nghiên cứu đưa ra các mô hình khác nhau giải thích về hành vi đạo đức/trách nhiệm của doanh nghiệp, nhưng có thể thấy điểm chung của tất cả các mô hình đó là sự tương tác giữa yếu tố cá nhân và yếu tố tổ chức (văn hóa, mục tiêu), giữa yếu tố bên trong (nhân viên, người quản lý) và yếu tố bên ngoài (cộng đồng, chính phủ, các bên liên quan, áp lực xã hội). Các yếu tố cùng tạo ra ảnh hưởng đến quá trình tư duy ra quyết định của các cá nhân trong doanh nghiệp. Phần tiếp theo trong chương này sẽ tổng quan các yếu tố tác động đến hành vi đạo đức/trách nhiệm của doanh nghiệp để từ đó làm cơ sở lựa chọn biến trong mô hình nghiên cứu.
Dù lập luận khác nhau nhưng ba cách tiếp cận giải thích hành vi DLTN của doanh nghiệp đều chỉ ra rằng hành vi doanh nghiệp thể hiện ra bên ngoài thực chất là quyết định thực hiện hành động, ẩn bên trong là quá trình ra quyết định. Dựa trên tổng quan các cách tiếp cận, luận án đưa ra một cách giải thích về hành vi đạo đức/trách nhiệm của doanh nghiệp. Cụ thể, hành vi đạo đức/trách nhiệm của doanh nghiệp được hiểu là quá trình ra quyết định thực hiện hành động có đạo đức/trách nhiệm của các cá nhân trong tổ chức, đi từ nhận thức, đánh giá, đến dự định thực hiện và thực hiện; trong đó, doanh nghiệp (với các chức năng của mình) sẽ góp phần định hướng, chỉ đạo, thúc đẩy và kiểm soát để việc thực hiện các hành vi đạo đức của cá nhân được đầy đủ. Quá trình ra quyết định còn chịu tác động của yếu tố thể chế xã hội bên ngoài.
56
Trong lĩnh vực du lịch, quan điểm về hành vi đạo đức/trách nhiệm có thể được vận dụng để giải thích hành vi DLTN của doanh nghiệp. Theo đó, luận án đưa ra quan điểm về hành vi DLTN của doanh nghiệp: là quá trình doanh nghiệp với các đặc điểm của mình (lãnh đạo, kiểm soát, thông tin) tác động vào hành vi ra quyết định thực hiện hoạt động DLTN của các cá nhân và nhóm trong tổ chức, nhằm hướng cá nhân và các nhóm thực hiện hành động theo đúng chuẩn mực đạo đức, các mục tiêu, và hướng dẫn liên quan đến DLTN của doanh nghiệp.
Trong nghiên cứu này, hành vi DLTN được lý giải là quá trình ra quyết định, vậy nên thực hiện DLTN là một phần của hành vi, là một biểu hiện ra bên ngoài của hành vi DLTN. Hay nói cách khác, hành vi DLTN chính là biểu hiện cho ý chí, thái độ về thực hiện DLTN của các cá nhân và nhóm trong doanh nghiệp ra bên ngoài, biến các suy nghĩ trở thành hành động thực hiện DLTN diễn ra trong thực tế. Hành vi DLTN, vì vậy, có thể được xem xét là hoạt động thực hiện DLTN.
Các doanh nghiệp lữ hành có tầm ảnh hưởng đối với các cơ sở kinh doanh lưu trú, các nhà hàng, các hãng vận tải, các điểm đến/điểm tham quan, và cả với hướng dẫn viên du lịch. Điều đó được thể hiện thông qua việc các doanh nghiệp lữ hành sẽ giúp tuyên truyền và/hoặc mua bán các dịch vụ của các bên thông qua việc đưa vào chương trình tour hoặc giới thiệu với khách hàng. Một doanh nghiệp lữ hành thực hiện DLTN sẽ giúp đưa khách du lịch tới lưu trú tại các khách sạn xanh, đưa khách tới những điểm đến bền vững, và ăn những suất ăn tại nhà hàng địa phương, hỗ trợ cộng đồng, bảo vệ và giữ gìn môi trường, bảo tồn văn hóa, và hợp tác kinh doanh với các doanh nghiệp có trách nhiệm khác.
Như vậy, căn cứ vào cách lý giải hành vi DLTN của doanh nghiệp đã trình bày ở phần trên và những yếu tố mấu chốt của doanh nghiệp lữ hành trong thực hiện DLTN (UNEP, 2005), luận án đưa ra quan điểm về hành vi DLTN của DNLHQT. Hành vi DLTN của DNLHQT có thể được hiểu là cách thức thực hiện hoạt động kinh doanh du lịch của doanh nghiệp theo cách có trách nhiệm với kinh tế, xã hội, và môi trường, được thể hiện qua các hành động cụ thể như sau:
(1) Thực hiện DLTN trong quản lý nội bộ về doanh nghiệp (có thể bao gồm sử dụng lao động có trách nhiệm, cung cấp các quyền lợi lao động theo thỏa thuận, tạo một văn phòng làm việc xanh, cung cấp các chương trình đào tạo, chế độ đãi ngộ và khuyến khích nhân viên, và thực hiện các chính sách DLTN);
(2) Xây dựng sản phẩm DLTN cho khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài: các sản phẩm khả thi về kinh tế và có tính cạnh tranh, công bằng về xã hội, chú trọng yếu tố văn hóa, và có trách nhiệm với môi trường (bao
57
gồm hiểu biết các sản phẩm DLTN, phát triển các sản phẩm có giá trị thương mại và có tính cạnh tranh, kết nối thị trường với các mục tiêu và cơ hội phát triển sản phẩm, và có kế hoạch hành động phát triển sản phẩm DLTN);
(3) Đảm bảo tính trách nhiệm trong quảng cáo và truyền thông (có thể bao gồm hiểu vai trò và tầm quan trọng của quảng cáo và truyền thông có trách nhiệm, đảm bảo truyền tải những thông điệp chính xác và xác thực, quảng cáo và truyền thông những bài học về DLTN trong thực tiễn, và thu thập phản hồi của khách hàng);
(4) Tạo ra chuỗi cung ứng DLTN (có thể bao gồm hiểu nguyên tắc của chuỗi cung ứng DLTN, xây dựng chính sách và kế hoạch hành động của chuỗi cung ứng bền vững, và tăng cường nhận thức và hỗ trợ các nhà cung cấp đạt được những mục tiêu bền vững);
(5) Hỗ trợ có trách nhiệm các điểm đến du lịch (có thể bao gồm hiểu vai trò và tầm quan trọng của hỗ trợ các điểm đến du lịch, kết hợp các hoạt động DLTN trong tương tác với cộng đồng ở điểm đến, thúc đẩy DLTN ở các điểm đến du lịch, và hỗ trợ vốn cho phát triển du lịch tại các điểm đến).
Theo Fishbein và Ajzen (1975) và Ajzen (1985), dự định thực hiện hành vi là yếu tố chính dự đoán được hành vi thể hiện, trừ phi dự định thay đổi ngay trước khi hành động hoặc các thước đo dự định không tương ứng với các tiêu chí đánh giá hành vi về mặt hành động, mục tiêu, bối cảnh, và khung thời gian. Một phân tích tổng hợp các nghiên cứu từ năm 1971 đến 1985 được thực hiện để đánh giá tính hợp lý và hiệu quả của lý thuyết Fishbien and Ajzen. Kết quả đã củng cố thêm những dự đoán của mô hình Fishbien và Ajzen là hoàn toàn chính xác trong các trường hợp khác nhau (Sheppard và cộng sự, 1988). Flannery và May (2000) cũng khẳng định rằng dự định thực hiện là tiền đề dẫn đến hành vi trách nhiệm. Mặt khác, nhận thức đạo đức và đánh giá đạo đức được cho là không giải thích được toàn bộ hành vi trách nhiệm (Blasi, 1980). Thực tế là mọi người thường có những hành động phi đạo đức mặc dù họ nhận thức được hành động đó là sai. Lí do là cá nhân chưa suy xét cẩn trọng hoặc thiếu sự nhận biết về các vấn đề đạo đức, hoặc cá nhân có thể thay đổi quan điểm thành trung lập sau khi đánh giá vấn đề đạo đức dẫn đến hành vi thể hiện không đúng với đánh giá đã đưa ra trước đó (Vitell và Grove, 1987). Một lí do khác nữa giải thích cho sự không nhất quán giữa giai đoạn đánh giá và thực hiện hành vi là cá nhân xem trọng những hậu quả có thể xảy ra của hành động cho cá nhân hơn là những giá trị đạo đức. Như vậy, hệ thống các nghiên cứu đã chỉ ra rằng dự định thực hiện sẽ giúp giải thích được toàn bộ hành vi trách nhiệm thể hiện ra bên ngoài.
Dự định hành vi được định nghĩa là xác suất chủ quan cá nhân sẽ tham gia vào hành vi (Fishbein và Ajzen, 1975). Dự định đạo đức là việc cá nhân lựa chọn tham gia thực hiện hành vi mang tính đạo đức (Rest, 1986). Trong nghiên cứu này, dự định thực
58
hiện DLTN được hiểu là khả năng cá nhân trong doanh nghiệp tham gia vào hành vi DLTN. Thực hiện DLTN thể hiện việc cá nhân tham gia vào hành động DLTN.
2.6.2.2. Thái độ về thực hiện DLTN
Cùng với việc đánh giá mối quan hệ tuyến tính của các biến độc lập như là yếu tố cá nhân, yếu tố tổ chức và mức độ đạo đức, các nghiên cứu về hành vi trách nhiệm còn xem xét ảnh hưởng kiểm soát và ảnh hưởng trung gian của một số yếu tố đến các giai đoạn của hành vi (Caughron và cộng sự, 2011; Shoham và cộng sự, 2008). Trong số đó, thái độ, đánh giá đạo đức cũng được xem xét như là yếu tố trung gian tác động đến hành vi trách nhiệm và được nhắc đến nhiều trong các nghiên cứu (Lehnert và cộng sự, 2015). Shoham và cộng sự (2008) cho rằng thái độ đối với việc vi phạm bản quyền là trung gian tác động của nhận thức tới hành vi vi phạm thực sự. Steenhaut và Van Kenhove (2006) làm sáng tỏ rằng cảm giác tội lỗi là yếu tố trung gian trong mối quan hệ giữa nhận thức đạo đức và dự định thực hiện hành vi trách nhiệm. De Matos và cộng sự (2007) cũng chỉ ra thái độ đối với việc sản xuất hàng giả làm trung gian tác động giữa nhận thức về rủi ro, chuẩn mực chủ quan, sự liêm chính, sự xem xét về giá so với chất lượng sản phẩm, và mức độ hài lòng với dự định tiêu dùng sản phẩm.
Các nghiên cứu này đã khẳng định rằng các hành vi đạo đức/trách nhiệm được thể hiện thực sự rõ ràng thông qua quá trình nhận thức đi kèm với đánh giá, cảm nhận của cá nhân về từng tình huống cụ thể. Theo Lehnert và cộng sự (2015), khi cá nhân đã có một sự đánh giá hay niềm tin mạnh mẽ vào một tình huống đạo đức thì niềm tin đó về sau sẽ làm trung gian trong kết quả thực hiện hành động. Trevino (1986) cũng thừa nhận rằng đánh giá đạo đức là cần thiết để dẫn đến hành vi trách nhiệm. Bên cạnh đó, Ajzen và Fishben (1970) và đã chứng minh rằng thái độ đối với hành vi là biến dự đoán quan trọng của hành vi thực sự xảy ra. Thái độ đối với thực hiện hành vi là một yếu tố quan trọng tác động đến hành vi trong mô hình TRA và TPB. Như vậy, thái độ đối với hành vi DLTN là yếu tố không thể thiếu trong nghiên cứu về các yếu tố tác động đến hành vi DLTN. Nghiên cứu này do đó cũng kiểm định tác động của yếu tố thái độ về thực hiện DLTN đến dự định thực hiện DLTN.
Thái độ đối với hành vi được hiểu những đánh giá về việc tham gia vào thực hiện một hành vi nhất định là tốt hay xấu (Fishbein và Ajzen, 1975). Thái độ đối với hành vi đạo đức biểu lộ những đánh giá về việc hành động thực hiện có đúng về mặt đạo đức (Rest,1986). Trong nghiên cứu này, thái độ về thực hiện DLTN được xác định là đánh giá của những cá nhân trong doanh nghiệp xem rằng hành động thực hiện có phù hợp/không phù hợp với những tiêu chí về DLTN.
2.6.2.3. Áp lực xã hội về thực hiện DLTN được nhận thức
Mô hình nghiên cứu của Fritzche (1991) về lí giải các yếu tố tác động đến hành vi trách nhiệm của doanh nghiệp đã đề cập đến các bên liên quan (stakeholders).
59
Không chỉ các yếu tố bên trong tổ chức có thể ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định hành vi trách nhiệm, nhóm và cá nhân - cả nội bộ và bên ngoài doanh nghiệp (các bên liên quan) có ảnh hưởng đến quá trình quyết định của các nhà quản lý và nhân viên. Hệ thống cơ sở lý luận đã chứng minh ảnh hưởng của đồng nghiệp (peers) đến hành vi trách nhiệm. Đồng nghiệp không chỉ giới hạn ở nội bộ doanh nghiệp, mà có thể tới từ phía các đối tác, từ các đối thủ cạnh tranh. Ngoài ra, các bên liên quan bao gồm các cổ đông, nhân viên doanh nghiệp, cơ quan quản lý, nhà cung cấp, các nhóm lợi ích cộng đồng có thể tác động đến người ra quyết định và đến khía cạnh đạo đức/trách nhiệm của quyết định. Đến năm 2000, Fritzche (2000) đã thực hiện nghiên cứu thực tiễn kiểm chứng lại một số mối quan hệ trong mô hình của chính tác giả đưa ra năm 1991. Tác giả đã chứng minh rằng có mối quan hệ trực tiếp giữa các bên liên quan và dự định thực hiện hành vi trách nhiệm của doanh nghiệp. Nếu các bên liên quan trực tiếp không được phân tích, đánh giá một cách đầy đủ, ngay cả người có khả năng ra quyết định tốt nhất cũng có thể đưa ra quyết định không mang tính trách nhiệm.
Victor và Cullen (1987,1988) đưa ra quan điểm rằng các bên liên quan bao gồm các nhóm tham khảo được chia thành cấp độ địa phương - giới hạn bên trong tổ chức, và cấp độ quốc tế - bao gồm tất cả các bên liên quan. Donaldson và Preston (1995) cho rằng cơ sở của học thuyết các bên liên quan là tính quy phạm. Họ cho rằng: “(a) Các bên liên quan là những cá nhân hoặc những tổ chức có lợi ích hợp pháp theo đúng thủ tục giấy tờ và / hoặc có liên quan đến các khía cạnh hoạt động của doanh nghiệp. Các bên liên quan được xác định bởi lợi ích/ sự tham gia của họ trong doanh nghiệp, ở chiều ngược lại doanh nghiệp cũng có mối quan tâm tương ứng tới các bên này; (b) Đảm bảo lợi ích của các bên liên quan là việc thiết yếu. Mỗi bên liên quan đều xứng đáng có được lợi ích của riêng mình, và không phải là họ nhận được lợi ích chỉ vì họ có khả năng mang lại lợi ích cho các nhóm khác, ví dụ như là các cổ đông. Theo như phân tích ở trên, để phù hợp với cơ sở quy phạm của thuyết các bên liên quan, các bên liên quan sẽ được hiểu theo nghĩa rộng ra toàn xã hội, ở cấp độ quốc tế.
Roozen và cộng sự (2001) chỉ ra ba cấp độ khác nhau của các bên liên quan, bao gồm: (1) Cơ quan quản lý, cộng đồng địa phương, các tổ chức về môi trường, cộng đồng xã hội nói chung, công đoàn, báo chí/ truyền thông và các tổ chức cộng đồng khác; (2) Khách hàng, nhân viên, nhà cung cấp; (3) Các cổ đông và tổ chức tài chính. Tác giả rất kỳ vọng sẽ tìm ra mối quan hệ tác động giữa các bên liên quan tới hành vi trách nhiệm, ví dụ như là áp lực của các bên liên quan được nhận thức càng lớn thì thái độ đối với việc thực hiện hành vi đạo đức càng lớn. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của Roozen và cộng sự (2001) lại đưa ra rằng không có mối quan hệ có ý nghĩa giữa áp lực của các bên liên quan và các đánh giá đạo đức. Đây là kết quả không như mong đợi và sẽ cần nhiều nghiên cứu về sau để kiểm chứng lại.
60
Ferrell và cộng sự (2011) chia các bên liên quan thành hai loại. Các bên liên quan chính yếu gồm những người mà sự kết nối của họ với doanh nghiệp cần thiết cho sự tồn tại của doanh nghiệp, bao gồm nhân viên, khách hàng, nhà đầu tư, cổ đông, chính phủ, cộng đồng dân cư. Nhóm này cung cấp cơ sở hạ tầng cần thiết để doanh nghiệp vận hành và phát triển. Các bên liên quan thứ cấp không tham gia vào quá trình vận hành của doanh nghiệp bao gồm truyền thông, đối thủ cạnh tranh, các nhóm lợi ích và hiệp hội thương mại. Theo tác giả, các bên liên quan xác định các vấn đề đạo đức trong kinh doanh, và đóng vai trò quan trọng trong việc ra các quyết định có tính trách nhiệm của doanh nghiệp. Vậy nên, việc nhận thức được nhu cầu và mong muốn của các bên liên quan là rất quan trọng bởi chúng tác động đến hành vi của doanh nghiệp.
Trong lĩnh vực du lịch, các bên liên quan đóng vai trò quan trọng. Cochrane (2010) cho rằng ba yếu tố quan trọng của hệ thống du lịch thích ứng (resilient tourism) có liên quan đến các bên liên quan, năng lực lãnh đạo, và khả năng khai thác nguồn lực thị trường. Font và cộng sự (2014) xác định rằng thành công của các dự án hỗ trợ du lịch phải dựa trên việc phân tích và đánh giá mối quan hệ của tất cả các bên liên quan khi đưa ra quyết định. Theo UNWTO (2017), các cuộc đối thoại thường xuyên và sự hợp tác với các bên liên quan là một trong những yếu tố chủ chốt để đạt được mục tiêu của kế hoạch cam kết thực hiện DLTN toàn cầu. Cộng đồng nghiên cứu du lịch Châu Á- Thái Bình Dương (Critical Tourism Studies-Asia Pacific) cũng thừa nhận vai trò của các bên liên quan trong phát triển du lịch. Như vậy có thể thấy, áp lực xã hội của các doanh nghiệp lữ hành quốc tế chính là áp lực từ các bên liên quan. Trong nghiên cứu này, áp lực xã hội về thực hiện DLTN được nhận thức biểu lộ sự nhìn nhận/ đánh giá/ thái độ của các bên liên quan về hành vi thực hiện của doanh nghiệp trong lĩnh vực du lịch.
Có một câu hỏi đặt ra là trong trường hợp việc thực hiện theo những áp lực xã hội không giúp mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, liệu doanh nghiệp có thay đổi theo mong muốn đó của xã hội không. Hay nói cách khác, đối với doanh nghiệp, những ảnh hưởng từ môi trường xã hội bên ngoài, áp lực xã hội về thực hiện DLTN được nhận thức có ảnh hưởng tới hành vi theo đuổi mục tiêu đề ra hay không. Để giúp trả lời câu hỏi này, luận án sẽ kiểm chứng liệu các áp lực xã hội (các bên liên quan) về DTLN có tác động đến giai đoạn Dự định thực hiện DLTN.
2.6.2.4. Yếu tố tổ chức tác động đến hành vi DLTN
Theo phân tích ở trên, có rất nhiều yếu tố tổ chức khác nhau tác động đến hành vi doanh nghiệp, nhưng mỗi nghiên cứu chỉ tập trung vào xem xét một vài yếu tố, vậy nên luận án cũng kế thừa nghiên cứu của Jones (1991), chú trọng vào phân tích ba yếu tố thuộc về tổ chức tác động đến hành vi đạo đức/trách nhiệm của doanh nghiệp gồm có: động lực nhóm, quá trình học tập xã hội, và chính sách thưởng phạt. Các yếu tố tổ chức
61
này có thể tạo ra những thuận lợi và khó khăn cho quá trình triển khai hoạt động DLTN của doanh nghiệp, và có khả năng kiểm soát hành vi của cá nhân trong doanh nghiệp.
- Động lực nhóm
Hành vi của nhóm nên là trọng tâm chính của sự thay đổi thay vì chỉ tập trung vào hành vi của cá nhân, đó là bởi vì các nhân trong thực tế luôn hoạt động trong những nhóm khác nhau, và phải tuân thủ theo những quy tắc của nhóm đó (Dent và Goldberg, 1999). Do đó, trọng tâm của sự thay đổi phải ở cấp độ nhóm và nên tập trung vào các yếu tố liên quan đến nhóm. Hai yếu tố động lực nhóm và quá trình học tập xã hội là hai đặc trưng của yếu tố nhóm, cũng chính là sự cụ thể hóa ảnh hưởng của nhóm đến hành vi của tổ chức (Jones, 1991). Đó chính là sự giao tiếp và tương tác giữa những cá nhân trong tổ chức với nhau, giữa cá nhân với tập thể để giúp các thành viên tin tưởng hỗ trợ lẫn nhau, và cùng làm việc theo một quyết định tập thể, một mục tiêu chung của tổ chức.
Kurt Lewin được xem là đi tiên phong trong khoa học nghiên cứu về nhóm, và là nhà khoa học đầu tiên đưa ra khái niệm về động lực nhóm (group dynamics) và tầm ảnh hưởng của động lực nhóm đến hành vi của các thành viên trong nhóm. Theo Kurt Lewin, thuật ngữ động lực nhóm nhấn mạnh vào cách thức nhóm và các cá nhân của nhóm hành động và tương tác lẫn nhau để tạo ra sự thay đổi trong hành vi của cá nhân trong nhóm (Burnes, 2004; Forsyth, 2009). Kurt Lewin đã chọn thuật ngữ động lực nhóm để mô tả tác động của quá trình xã hội lên các thành viên trong nhóm, của những quy trình, hoạt động, vận hành và những thay đổi xảy ra trong nhóm.
Quá trình xã hội được hiểu là sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên trong nhóm, nhóm sẽ thúc đẩy các hoạt động tương tác giữa các thành viên, tạo ra mối quan hệ tương tác mang tính khuôn mẫu giữa các thành viên trong nhóm, gắn kết các thành viên để tạo thành một khối duy nhất và hoàn thành các mục tiêu của nhóm (Forsyth, 2009). Khi các thành viên định hình một nhóm của riêng họ, động lực sẽ xảy ra để các thành viên trong nhóm cùng nhau tạo thành một mô hình xã hội thu nhỏ, được đặc trưng bởi giá trị cốt lõi của tất cả các thành viên trong nhóm. Một nhóm là một tập hợp các cá nhân phụ thuộc lẫn nhau, cùng chia sẻ trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ. Họ tự nhìn nhận bản thân và được những người khác nhìn nhận là một tập thể trong một hệ thống xã hội lớn hơn (tổ chức), do vậy họ có mối quan hệ tương tác trong phạm vi của tổ chức (Cohen và Bailey, 1997). Tác động của nhóm đến hành vi cá nhân đã được kiểm định trong một số nghiên cứu thông qua các yếu tố như là làm việc theo nhóm (team, groupwork, groupthink, group decision) (Hwang và cộng sự, 2008; White và Lean, 2008; O’Leary và Pangemanan, 2007).
Các sự kiện quan trọng tác động việc tổ chức vận hành và ra quyết định, đồng thời cũng gia tăng ảnh hưởng của đội/nhóm tới quá trình ra quyết định của tổ chức
62
(Eisenhardt và cộng sự, 1997). Hoạt động của nhóm giúp các doanh nghiệp đạt được thành công trong điều kiện nền kinh tế xã hội luôn biến đổi (Cohen và Bailey, 1997). Hệ thống cơ sở lý luận cũng chỉ ra rằng làm việc theo nhóm thường đưa ra những đánh giá và quyết định chính xác hơn so với phán đoán cá nhân (Holloman và Hendrick, 1971; O’Leary và Pangemanan, 2007; Bon và cộng sự, 2017). O’Leary và Pangemanan (2007) ủng hộ quan điểm cho rằng làm việc nhóm tác động đến hành vi ra quyết định đạo đức của cá nhân. Forsyth (2009) nhận định rằng các nhóm có sức mạnh và có tầm ảnh hưởng lớn: nhóm thay đổi thành viên của trong nhóm và thậm chí cả xã hội. Tuy nhiên, ở một quan điểm khác, Trevino và cộng sự (2006) nhận định rằng mối quan hệ giữa hiệu suất nhóm và hành vi đạo đức vẫn chưa thực sự rõ ràng. Bên cạnh một số nghiên cứu ủng hộ tác động của nhóm đến hành vi trách nhiệm trong doanh nghiệp, Hunt và Jennings (1997) cho rằng không có mối liên hệ giữa nhóm và hành vi trách nhiệm. Như vậy, vẫn còn những tranh cãi xung quanh mức độ ảnh hưởng của nhóm đến dự định và thực hiện hành vi đạo đức của doanh nghiệp.
- Quá trình học tập xã hội
Quá trình học tập xã hội (social learning process) là một trong những lý thuyết trọng tâm trong nghiên cứu khoa học hành vi đương đại. Lý thuyết học tập xã hội tiếp cận việc giải thích hành vi của con người dựa trên những tương tác qua lại liên tục giữa yếu tố cá nhân và yếu tố môi trường. Lý thuyết học tập xã hội đã chỉ ra rằng nhóm tham khảo có tác động đáng kể đến hành vi của cá nhân. Lý thuyết này cho rằng quá trình học tập sẽ nhân rộng hành vi của một cá nhân trong xã hội (Bandura, 1977). Theo Bandura (1977), mỗi cá nhân học hỏi bằng cách quan sát của người khác và những tác động tích cực cũng như tiêu cực được tạo ra bởi thực hiện hành vi. Khả năng học hỏi thông qua quan sát giúp mọi người dễ dàng lĩnh hội được một tập hợp các mô hình hành vi thay vì hình thành một cách dần dần bằng cách tự thử nghiệm. Các tổ chức được đặc trưng bởi quá trình học tập xã hội, trong đó các thành viên tương tác với nhau và học hỏi lẫn nhau cách suy nghĩ và hành động được chấp nhận rộng rãi/ trở thành quy chuẩn trong tổ chức (Trevino và cộng sự, 2006).
Theo thuyết học tập xã hội, các đồng nghiệp sẽ có tác động đến hành vi cá nhân trong doanh nghiệp. Zey-Ferrell và cộng sự (1979) cho thấy nhận thức về hành vi của đồng nghiệp ảnh hưởng đến hành vi đạo đức của một cá nhân nhiều hơn niềm tin của chính cá nhân đó. O’Fallon và Butterfield (2005) đã khẳng định rằng tác động của những đồng nghiệp cùng làm trong doanh nghiệp đến hành vi đạo đức là lĩnh vực quan trọng cho những nghiên cứu về sau. Deshpande and Joseph (2008) cho rằng những đồng nghiệp trong cùng doanh nghiệp (peers) có tác động đến hành vi của cá nhân nhiều hơn ảnh hưởng của yếu tố môi trường/ văn hóa đạo đức (ethical climate) trong doanh nghiệp. Deshpande (2009) khẳng định rằng các đồng nghiệp là yếu tố quyết định quan trọng nhất đến hành vi của đạo đức của cá nhân.
63
Bên cạnh đó, thuyết học tập xã hội cũng chỉ ra rằng bên cạnh những đồng nghiệp, hành vi của những người quản lý thành công bên trong doanh nghiệp có tác động đến hành vi của cá nhân. Bandura (1986) cho rằng hành vi của người lãnh đạo sẽ chi phối hành vi đạo đức của đồng nghiệp cấp dưới chủ yếu qua quá trình học tập xã hội. Jaffe và Tsimerman (2005) và Deshpande (2009) cùng đồng ý rằng hành vi của những người quản lý thành công có tác động đến hành vi đạo đức của nhân viên cấp dưới họ. Hành động của những người quản lý thành công đóng vai trò như những chuẩn mực, hình mẫu không chính thức tại nơi làm việc. Hunt và cộng sự (1984) cho rằng nhân viên sẽ có xu hướng thực hiện hành vi đạo đức nếu họ nhận thấy rằng những người quản lý thành công trong doanh nghiệp của họ đều là những người có đạo đức. Theo Fritzche (1991), hệ thống cơ sở lý luận ủng hộ quan điểm rằng mối quan hệ với các đồng nghiệp và người quản lý cấp trên có ảnh hưởng đến hành vi đạo đức của cá nhân trong doanh nghiệp. Kết luận này dựa trên cơ sở của lý thuyết nhóm khác biệt (differential association theory) và lý thuyết vai trò - tập hợp (role-set configuration theory). Hai lý thuyết này giải thích về mối quan hệ tương tác lẫn nhau và ảnh hưởng của các đồng nghiệp/ người quản lý doanh nghiệp đến hành vi của cá nhân. Nghiên cứu của Zey-Ferrell và Ferrell (1982) đã chỉ ra rằng lý thuyết vai trò - tập hợp sẽ giúp giải thích được hành vi đạo đức.1982)
Do vậy, quá trình học tập xã hội được đánh giá dựa trên yếu tố các đồng nghiệp trong doanh nghiệp (peers) và người quản lý doanh nghiệp thành công (success) (Jaffe và Tsimerman, 2005; Westerman và cộng sự, 2007; Deshpande và Joseph, 2008; Deshpande, 2009; Hunt và cộng sự, 1984). Các nghiên cứu này đều khẳng định tác động tích cực của yếu tố quá trình học tập xã hội, đến dự định thực hiện hành vi trách nhiệm/ đạo đức của doanh nghiệp (Lehnert và cộng sự, 2015). O’Leary và Pangemanan (2007) cho rằng quyết định của nhóm được đưa ra dựa trên quá trình thỏa hiệp, chấp nhận sự khác biệt của các cá nhân, và đây chính là sự khác biệt với hành vi ra quyết định của cá nhân. Mặt khác, hệ thống nghiên cứu còn đưa ra quan điểm trái ngược về tác động của quá trình học tập xã hội đến hành vi của doanh nghiệp. Abdolmohammadi và Reeves (2003) đã xem xét khả năng các quyết định đạo đức trong một nhóm được đưa ra trên cơ sở sự thỏa hiệp giữa các thành viên trong nhóm, bao gồm cả những thành viên có nhận thức đạo đức nhiều và ít, nhưng họ không tìm thấy bằng chứng để kết luận về khả năng này.
Tuy vẫn còn tồn tại những tranh cãi về mức độ ảnh hưởng, kế thừa nghiên của Jones (1991), luận án sẽ kiểm định thêm tác động của yếu tố động lực nhóm và quá trình học tập xã hội đến cả hai dự định thực hiện hành vi của doanh nghiệp.
64
- Chính sách thưởng phạt
Chính sách thưởng phạt (rewards and sanctions system) là một yếu tố cấu thành của văn hóa doanh nghiệp bên cạnh các chính sách (quy tắc đạo đức), lãnh đạo, cơ cấu quản lý và chính sách đào tạo (Trevino và cộng sự, 1998). Cũng theo tác giả, văn hóa đạo đức là tập con của văn hóa doanh nghiệp, được bao hàm trong văn hóa doanh nghiệp. Trevino (1990) cho rằng các chính sách của doanh nghiệp, quy tắc, các tuyên bố và việc thực hiện chúng là các yếu tố quan trọng của văn hóa doanh nghiệp. Trevino và cộng sự (2006) cho rằng chính sách quản lý, khen thưởng và xử phạt là một trong những yếu tố thuộc “cơ sở hạ tầng đạo đức” (ethical infrastructure), hỗ trợ cho doanh nghiệp trong việc thực hiện hành vi trách nhiệm.
Chính sách thưởng phạt là một phần của chính sách quản lý, cũng là một phần của văn hóa doanh nghiệp, cụ thể hóa văn hóa doanh nghiệp. Ngoài ra, yếu tố chính sách thưởng phạt chiếm phần lớn trong các nghiên cứu về ảnh hưởng của yếu tố tổ chức đến hành vi đạo đức của doanh nghiệp (Craft, 2013), đồng thời đây là yếu tố thuộc văn hóa doanh nghiệp có tác động đáng kể đến toàn bộ hành vi ra quyết định đạo đức của các cá nhân trong doanh nghiệp (Grojean và cộng sự, 2004; Smith và cộng sự, 2007). Bowen (2004) đồng ý rằng hành vi đạo đức sẽ được đẩy mạnh bởi một nền văn hóa doanh nghiệp vững mạnh, trong đó quy định công khai và chi tiết các vấn đề đạo đức, chính sách đào tạo, và chính sách khen thưởng cho việc thực hiện hành vi đạo đức. Mặc dù vậy, vẫn có nghiên cứu chỉ ra rằng chính sách của doanh nghiệp dường như không có tác động đến hành vi đạo đức/trách nhiệm của doanh nghiệp (Hunt và cộng sự, 1984; Chow và cộng sự, 2009). Vì vậy, luận án sẽ tiếp tục kiểm định mức độ ảnh hưởng của yếu tố chính sách thưởng phạt đến hành vi DLTN của doanh nghiệp. Chính sách thưởng phạt cụ thể hóa yếu tố quản lý trong tổ chức theo nghiên cứu của Jones (1991).
Chính sách thưởng phạt ở trong nghiên cứu này muốn nói đến những phần thưởng/hình phạt dành cho các cá nhân trong doanh nghiệp khi họ thực hiện DLTN/không thực hiện DLTN. Giải thích này trái ngược với cách hiểu phần thưởng là những lợi ích nhận được khi thực hiện hành động vì mục tiêu lợi nhuận. Trong nhiều trường hợp, để đạt được mục tiêu đòi hỏi phải thực hiện hành vi phi đạo đức. Như vậy, phần thưởng theo nghĩa đó phụ thuộc vào hành vi phi đạo đức, còn các chế tài xử phạt được xem là hậu quả phải nhận khi thực hiện những hành vi phi đạo đức.
2.6.2.5. Biến nhân khẩu học
Kế thừa nghiên cứu của Sweeney và cộng sự (2010) và Roozen và cộng sự (2001), nghiên cứu này tập trung đánh giá ba yếu tố tổ chức khác dưới dạng biến nhân khẩu học (demographic variables), có ảnh hưởng chi phối đến đến mối quan hệ tác động của các yếu tố đến hành vi DLTN của DNLHQT (biến kiểm soát). Các biến này bao gồm quy mô doanh nghiệp, thị trường mục tiêu, và loại hình doanh nghiệp.
65
Có hai quan điểm khác nhau trong hệ thống cơ sở lý luận về ảnh hưởng của quy mô doanh nghiệp đến hành vi đạo đức/trách nhiệm. Một quan điểm cho rằng quy mô doanh nghiệp không có tác động đến hành vi đạo đức của doanh nghiệp. Một nghiên cứu kéo dài mười bảy năm, khảo sát trên 5000 doanh nghiệp và chuyên gia trong lĩnh vực kinh doanh đã đưa ra kết quả rằng không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong việc thực hiện hành vi đạo đức giữa doanh nghiệp nhỏ và lớn (Longenecker và cộng sự, 2006). Paolillo & Vitell (2002) cũng đồng ý rằng quy mô doanh nghiệp không tạo ra ảnh hưởng đến dự định đạo đức. Trái lại, ở quan điểm khác, các nghiên cứu chỉ ra quy mô doanh nghiệp là một yếu tố dự đoán quan trọng của dự định thực hiện đạo đức. Marta và cộng sự (2008) cho rằng các nhà quản lý ở trong doanh nghiệp có quy mô lớn hơn dường như có dự định thực hiện hành vi trách nhiệm nhiều hơn ở các doanh nghiệp nhỏ. Pierce và cộng sự (2010) cũng khẳng định các doanh nghiệp có quy mô vừa thì có dự định thực hiện hành vi đạo đức cao hơn các doanh nghiệp khác. Amstrong và cộng sự (2004) kết luận rằng quy mô của đội ngũ quản lý của doanh nghiệp càng lớn thì doanh nghiệp càng có khả năng tham gia vào hành vi phi đạo đức/trách nhiệm. Ford và Richardson (1994) cũng đồng ý rằng quy mô doanh nghiệp tác động đến hành vi đạo đức, và quy mô càng lớn thì hành vi thực hiện càng giảm. Như vậy, luận án sẽ làm rõ tác động của quy mô doanh nghiệp đến dự định thực hiện DLTN của các DNLHQT.
Ngoài ra, theo Trương Đình Chiến (2014), việc lựa chọn thị trường mục tiêu có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc phát triển và triển khai các chính sách, chiến lược của doanh nghiệp. Fritzsche (1991) cũng đánh giá mục tiêu doanh nghiệp là yếu tố quan trọng trong việc ra quyết định hành vi trách nhiệm của doanh nghiệp. Cochrane (2010) lập luận rằng một trong những yếu tố cốt lõi xây dựng nên một hệ thống du lịch có khả năng phục hồi đó là khai thác thị trường. Do vậy, thị trường mục tiêu của DNLHQT sẽ được xem xét là một yếu tố nhân khẩu học tác động tới dự định thực hiện hành vi DLTN.
Bên cạnh đó, loại hình doanh nghiệp được cho là có tác động đến hành vi trách nhiệm của doanh nghiệp (Pierce và cộng sự, 2010; Roozen và cộng sự, 2001; Shafer và Simmons, 2011). Như vậy, loại hình doanh nghiệp cũng là một yếu tố thuộc biến nhân khẩu học tác động đến dự định thực hiện DLTN của DNLHQT. Yếu tố này cũng góp phần vào khả năng thực hiện DLTN của doanh nghiệp.
2.6.3. Mô hình nghiên cứu đề xuất
Mô hình nghiên cứu đề xuất của luận án có sự xuất phát và phát triển từ mô hình hành vi đạo đức/trách nhiệm của Jones (1991), kế thừa từ mô hình hành vi dự định của Ajzen (1985), phù hợp với lý thuyết thể chế về tác động của áp lực xã hội đến quyết định thực hiện hành vi của doanh nghiệp.