Khái nim về tranh chấp tên miền
Tranh chấp tên miền xy ra trong trường hợp một chủ thể tiến nh đăng ký
tên min và phát hiện thấy tên min này đã được sử dụng bởi mt chủ thể
khác. Có hai lý do cho tình trng này.
Thnhất, trong khi pháp lut của các nước công nhn scùng tồn tại ca
các nhãn hiu hàng hoá, dịch vụ giống nhau giữa các quốc gia thì hthng
tên miền trên thế giới cũng như tại mỗi quốc gia chỉ chấp nhận tính duy nhất
của một tên miền cthể. Do đó, khả ng nhiều chủ thể cùng xin đăng ký
một tên min ở những thi điểm khác nhau là tên miền là duy nhất nhưng
scùng tn tại của nhiều thương hiệu, nhãn hiệu hàng hoá dch vụ lại là
điều rất có thể xy ra.
Th hai, do tính đa dạng và cnh tranh cao của môi trường thương mại,
nhiều chủ th kinh doanh đã tiến hành đăng ký trước những tên min mà
theo stính toán của họ, trong tương lai schủ thể đăng ký. Khi đối
tượng cần đăng ký, chủ thkinh doanh này sn lại để thu lợi. Hiện tượng
này được gi là đầu cơ tên miền” (domain name speculation). Có một dạng
khác là các chthể kinh doanh đăng trước tên miền của các đối thủ cạnh
tranh trên thương trường của mình nhm gây khó khăn cho ng việc kinh
doanh và công tác tiếp thị ca họ. Hin ợng này thường được biết đến với
tên gọi “chiếm dụng tên min(domain name cybersquatting).
Trước thực trạng trên, Tchức quản Tên min và S hiu mạng thế gii
(ICANN), phối hợp vi Tổ chức Sở hữu trí tu thế gii (WIPO), đã tiến
hành nghiên cu và ban hành Chính sách giải quyết tranh chấp tên min
thống nhất (đặt link đến bản dịch UDRP), được điều chỉnh bằng phương
thức hoà giải (Alternative Dispute Resolution ADR) trọng tài
(Arbitration), dựa trên các quy định vtrọng i thương mại, tính đến các
yếu tố k thuật của tên miền. Mc tiêu của chính sách này:
- Gii quyết trực tiếp các tranh chấp tên miền tên min cấp cao dùng chung;
- Tạo nên tng lệ chung về giải quyết các tranh chấp tên miền
- Chính sách y sau khi ra đời năm 1999 đã được đa số c tổ chức quản lý
tên miền cấp cao trên thế giới áp dụng và ngày nay đã trở thành một thông lệ
được mặc định hiểu là “phải có” đối vi tên miền.
Tín hiu âm thanh là thứ đầu tiên được 'số hóa', kế đến là dliu. Vào năm
1984, Philips và Sony gii thiệu chuẩn định dạng CD-ROM. Chun này p
hợp với các ổ quang dùng trên PC. Vmặt vật lý, CD-ROM ging như định
dạng audio CD nhưng cách chứa dữ liệu của 2 định dạng khác nhau. Trong
khi audio CD ch có thđọc được một tốc độ duy nhất, CD-ROM có th
đọc ở tốc độ đến 56X. CD-ROM có cơ chế nhận diện và sửa lỗi phức tạp
hơn so với audio CD (thêm vào một lớp nhận diện và sửa li riêng), dễ hiểu
là nếu đĩa audio CD có lỗi, âm thanh snghe không liền lạc, còn vi CD-
ROM, dữ liệu bị sai là điu khó chấp nhận.
Đây là định dạng cải tiến do Philips, Sony và Microsoft đưa ra vào năm
1988 để đồng bộ văn bản, audio và video chính xác hơn. Các sector ở Mode
2 có thchứa vừa audio và dliu xen kẽ nên có thđọc đồng thi. CD-
ROM XA dùng chuẩn định dạng hình 256 màu, chuẩn mã hoá audio
ADPCM (Adaptive Delta Pulse Code Modulation). Kiến trúc vật lý Mode 2
của CD-ROM XA còn có thêm 2 định dạng phụ: Mode 2 Form 1 và Mode 2
Form 2. XA Mode 2 Form 1 có cơ chế phát hiện và sửa lỗi giống như các đĩa
Mode 1 nhưng có tính tương thích cao hơn. Còn XA Mode 2 Form 2 bbớt
một lớp dữ liệu sửa lỗi để có nhiều chỗ cho dữ liệu hơn. Thực chất, định
dạng này không được sử dụng rộng rãi và chưa thực sự thu hút các nhà sn
xuất đi theo. Có 3 định dạng đĩa CD n bản dựa trên kiến trúc vật lý của
CD-ROM XA: Photo CD, Video CD và CD Extra. Hin nay, chỉ còn tồn tại
2 định dạng phổ biến là Video CD và CD Extra.