
Môi tr ng nông thôn hi n nayườ ệ
Th năm - 02/01/2003 16:59ứ
•
•
•
Cùng v i quá trình đô th hóa tăng nhanh, v n đ môi tr ng t i các vùng nông thôn cũng đang d n tr nên b c xúc. Có th k đ n do ch t th i r n tớ ị ấ ề ườ ạ ầ ở ứ ể ể ế ấ ả ắ ừ
các làng ngh và sinh ho t c a ng i dân. Hi n c n c có kho ng 1.450 làng ngh , phân b 58 t nh thành và nhi u nh t là khu v c đ ng b ngề ạ ủ ườ ệ ả ướ ả ề ố ở ỉ ề ấ ự ồ ằ
sông H ng, t p trung ch y u các t nh: Hà Tây, Thái Bình và B c Ninh… Trong đó ph n l n không đ c quy ho ch riêng mà n m xen k gi a cácồ ậ ủ ế ở ỉ ắ ầ ớ ượ ạ ằ ẽ ữ
khu dân c các làng ngh có quy mô nh , trình đ s n xu t th p, thi t b cũ và công ngh l c h u chi m ph n l n. Do đó, đã và đang n y sinh nhi uư ề ỏ ộ ả ấ ấ ế ị ệ ạ ậ ế ầ ớ ả ề
v n đ môi tr ng nông thôn, tác đ ng x u t i ch t l ng môi tr ng đ t, n c, không khí và s c kh e c a c ng đ ng.ấ ề ườ ộ ấ ớ ấ ượ ườ ấ ướ ứ ỏ ủ ộ ồ
Rác th i nông thôn hi n nay cũng đang là m t v n đ . N u nh các đô th l n, trung bình m t ng i th i ra 1kg rác/ngày thì t i nông thôn, l ng rác th i ra c aả ở ệ ộ ấ ề ế ư ở ị ớ ộ ườ ả ạ ượ ả ủ
m i ng i dân cũng vào kho ng 0,6- 0,7kg rác/ngày. Nh v y, v i kho ng 50 tri u dân đang s ng các vùng nông thôn Vi t Nam, m i ngày s có kho ng 30-35ỗ ườ ả ư ậ ớ ả ệ ố ở ệ ỗ ẽ ả
nghìn t n rác th i c n đ c x lý, thu gom. Tuy v y, do ý th c c a ng i dân còn kém, cho nên l ng rác thu gom m i ch đ t 50%, hi n nay ch y u ng i dân tấ ả ầ ượ ử ậ ứ ủ ườ ượ ớ ỉ ạ ệ ủ ế ườ ự
x lý rác b ng cách đào h chôn, đ t, ho c th i b a bãi ra các sông, ao, h . T i các vùng có làng ngh , ngh ti u, th công nghi p phát tri n thì vi c th i rác bênử ằ ố ố ặ ả ừ ồ ạ ề ề ể ủ ệ ể ệ ả
l đ ng, ngõ xóm đang r t ph bi n, gây không ít khó khăn trong công tác b o v môi tr ng, nh h ng không nh t i s c kh e con ng i và c nh quan nôngề ườ ấ ổ ế ả ệ ườ ả ưở ỏ ớ ứ ỏ ườ ả
thôn.
Hi n nay ô nhi m môi tr ng nhi u vùng nông thôn đang m c báo đ ng. Do vi c x lý ch t th i, l m d ng thu c b o v th c v t… làm cho môi tr ng n c,ệ ễ ườ ở ề ở ứ ộ ệ ử ấ ả ạ ụ ố ả ệ ự ậ ườ ướ
không khí, môi tr ng đ t b ô nhi m. đây chính là nguyên nhân d n đ n ng i dân các vùng nông thôn th ng xuyên ph i đ i m t v i d ch b nh. Đ c i thi nườ ấ ị ễ ẫ ế ườ ườ ả ố ặ ớ ị ệ ể ả ệ
m c đ ô nhi m môi tr ng nông thôn theo ý ki n nhà chuyên môn, bi n pháp quan tr ng nh t là thông qua v n đ ng c ng đ ng đ thay đ i t p quán, thói quenứ ộ ễ ườ ế ệ ọ ấ ậ ộ ộ ồ ể ổ ậ
x rác tùy ti n c a ng i dân nông thôn. Gi i pháp này không ch phù h p đi u ki n kinh t hi n nay mà còn có tính chi n l c, lâu dài. C n l ng ghép vi c tuyênả ệ ủ ườ ả ỉ ợ ề ệ ế ệ ế ượ ầ ồ ệ
truy n, ph bi n ki n th c v b o v môi tr ng trong mô hình xây d ng nông thôn m i, đ ng th i cung c p d ch v thu gom rác thu n ti n cho ng i dân. M tề ổ ế ế ứ ề ả ệ ườ ự ớ ồ ờ ấ ị ụ ậ ệ ườ ặ
khác, đ gom rác th i hi u qu , c n ph i có đ i ngũ v i ph ng ti n, trang thi t b và nhân l c đ y đ . Tuy nhiên, các vùng ch a t ch c đ c l c l ng, cáchể ả ệ ả ầ ả ộ ớ ươ ệ ế ị ự ầ ủ ở ư ổ ứ ượ ự ượ
làm hi u qu và đ n gi n nh t là không v t rác b a bãi; t n d ng khu đ t v n, ru ng đ x lý rác th i h u c ; h n ch dùng các s n ph m gây nguy h i cho môiệ ả ơ ả ấ ứ ừ ậ ụ ấ ườ ộ ể ử ả ữ ơ ạ ế ả ẩ ạ
tr ng nh : túi ni-lông, các lo i bao bì b ng nh a…ườ ư ạ ằ ự
V sinh môi tr ng hi n nay không còn là v n đ c a m i cá nhân. Do v y, đ b o v môi tr ng, chúng ta c n có s h p tác c a t t c các thành viên trong xãệ ườ ệ ấ ề ủ ỗ ậ ể ả ệ ườ ầ ự ợ ủ ấ ả
h i, t tr ng h c đ n các c quan ban, ngành trong c n c cùng vào cu c. Bên c nh đó, ph i đ u t h n n a cho các công trình v sinh công c ng, nh t là v nộ ừ ườ ọ ế ơ ả ướ ộ ạ ả ầ ư ơ ữ ệ ộ ấ ấ
đ thu gom rác th i các đ a ph ng.ề ả ở ị ươ
Nóng b ng" v n đ ch t th i nông thônỏ ấ ề ấ ả ở
21/10/2009 | 09:32:00
T khóa :ừ Chăn nuôi , Rác th iả , Làng nghề , Môi tr ngườ
EMAIL PRINT C CHỠ Ữ A A A
Rác th i có nguy c ô nhi m cao do ít đ c x lý tri t đ . ( nh: H u Oai/TTXVN)ả ơ ễ ượ ử ệ ể Ả ữ
V n đ v sinh môi tr ng nông thôn, đ c bi t là ch t th i nông thôn hi n nay ngày càng tr nên b c xúc. T i H i th o Th c tr ng qu n lý ch t th i và v sinh môiấ ề ệ ườ ặ ệ ấ ả ệ ở ứ ạ ộ ả ự ạ ả ấ ả ệ
tr ng nông thôn các t nh mi n B c, t ch c ngày 20/10 t i Hà N i, các đ i bi u đ n t nhi u đ a ph ng đ u có chung quan đi m c n m t chính sách phù h pườ ỉ ề ắ ổ ứ ạ ộ ạ ể ế ừ ề ị ươ ề ể ầ ộ ợ
đ vi c qu n lý và x lý ch t th i khu v c nông thôn không còn ch ng chéo.ể ệ ả ử ấ ả ự ồ
"Nóng b ng" ch t th i nông thônỏ ấ ả
Ch t th i chăn nuôi, bao bì thu c b o v th c v t, ch t th i làng ngh ... là nh ng v n đ nóng b ng c a môi tr ng nông thôn hi n nay.ấ ả ố ả ệ ự ậ ấ ả ề ữ ấ ề ỏ ủ ườ ệ
Ông Vũ Bình Nguyên, Giám đ c Trung tâm n c sinh ho t và v sinh môi tr ng Hà N i cho bi t, v n đ ch t th i nông thôn t khi còn "Hà N i cũ", đã là v n đố ướ ạ ệ ườ ộ ế ấ ề ấ ả ừ ộ ấ ề
n i c m. Đ n nay, khi Hà N i đã m r ng, m i ngày Th đô th i ra 5.000 t n ch t th i r n, trong đó 1.500 t n t khu v c nông thôn.ổ ộ ế ộ ở ộ ỗ ủ ả ấ ấ ả ắ ấ ừ ự
Hi n nay, m i có kho ng 80% s xã là có t thu gom rác. Trong s 361/400 xã có t thu gom rác thì 148 xã chuy n đ c đ n khu x lý, còn nh ng n i khác, rácệ ớ ả ố ổ ố ổ ể ượ ế ử ữ ơ
v n tràn ng p kh p n i công c ng, ao, h ...ẫ ậ ắ ơ ộ ồ
làng ngh , h u nh ch a x lý đ c v n đ rác và n c th i. Tình tr ng c a Hà N i cũng là tình tr ng chung c a nhi u đ a ph ng.Ở ề ầ ư ư ử ượ ấ ề ướ ả ạ ủ ộ ạ ủ ề ị ươ
"Gánh n ng" nuôi tr ngặ ồ
M t trong nh ng ngu n th i l n nông thôn là rác th i chăn nuôi. Theo th ng kê c a C c Chăn nuôi, l ng ch t th i r n do v t nuôi th i ra (phân và các ch t đ nộ ữ ồ ả ớ ở ả ố ủ ụ ượ ấ ả ắ ậ ả ấ ộ
chu ng, th c ăn th a, xác gia súc, gia c m ch t, ch t th i lò m ...) trong năm 2008 là 80,49 tri u t n. Mi n B c chi m h n 51 tri u t n.ồ ứ ừ ầ ế ấ ả ổ ệ ấ ề ắ ế ơ ệ ấ
Tuy nhiên, c tính hi n nay, ch có kho ng 40-70% ch t th i r n đ c x lý. S còn l i th i th ng ra ao, h , kênh, r ch... Ch t th i r n có nguy c ô nhi m do ítướ ệ ỉ ả ấ ả ắ ượ ử ố ạ ả ẳ ồ ạ ấ ả ắ ơ ễ
đ c x lý tri t đ nh ch t th i c a trâu, dê, c u.ượ ử ệ ể ư ấ ả ủ ừ

Hi n nay, ph ng pháp x lý ch t th i r n còn đ n gi n. Ch y u t n d ng làm th c ăn cho cá, phân hoai m c đ bón cho lúa, hoa màu ho c đ nuôi giun...ệ ươ ử ấ ả ắ ơ ả ủ ế ậ ụ ứ ủ ụ ể ặ ể
Ch t th i r n có nguy c ô nhi m cao do thành ph n và li u l ng ch t gây ô nhi m cao h n r i vào khu v c chăn nuôi l n, bò s a, gia c m. Ch t th i l ng trongấ ả ắ ơ ễ ầ ề ượ ấ ễ ơ ơ ự ợ ữ ầ ấ ả ỏ
chăn nuôi cũng đang trong tình tr ng b b ng .ạ ị ỏ ỏ
Thông qua các d án v khí sinh h c, m t ph n ch t th i r n và l ng đ c x lý b ng công ngh biogas. Tuy v y, s gia đình có h m biogas ch a nhi u. Ch t th iự ề ọ ộ ầ ấ ả ắ ỏ ượ ử ằ ệ ậ ố ầ ư ề ấ ả
làng ngh đang là v n đ b t c p, đa s các gia đình t x lý.ề ấ ề ấ ậ ố ự ử
Theo Ti n sĩ Vũ Th Thanh H ng, Vi n N c t i tiêu và môi tr ng, Vi n Khoa h c th y l i Vi t Nam, d báo đ n năm 2010, kh i l ng ch t th i nông thônế ị ươ ệ ướ ướ ườ ệ ọ ủ ợ ệ ự ế ố ượ ấ ả
kho ng h n 145.000.000 t n, s tăng 173,8% so v i năm 2007. Đó là ch t th i chăn nuôi, ch t th i sinh ho t, ch t th i làng ngh , ch t th i y t ... Bên c nh đó,ả ơ ấ ẽ ớ ấ ả ấ ả ạ ấ ả ề ấ ả ế ạ
bao bì thu c b o v th c v t là ngu n ch t th i nguy h i đang là m i lo c a nông thôn.ố ả ệ ự ậ ồ ấ ả ạ ố ủ
Theo ông Tr nh Công To n, đ i di n C c B o v th c v t, trong 10 năm qua lo i ch t th i đ c h i này đã tăng g p h n 10 l n. Tính toán cho th y, c m i bao bìị ả ạ ệ ụ ả ệ ự ậ ạ ấ ả ộ ạ ấ ơ ầ ấ ứ ỗ
thu c l i có 1,8% l ng thu c dính vào. Nông dân theo thói quen s d ng xong là v t ngay ra môi tr ng. Trong khi đó, bao bì làm b ng gi y k m, chai nh a, chaiố ạ ượ ố ử ụ ứ ườ ằ ấ ẽ ự
th y tinh b v t b a bãi ra đ ng ru ng, là lo i ch t th i nguy h i, khó phân h y.ủ ị ứ ừ ồ ộ ạ ấ ả ạ ủ
Ch ng chéo công tác t ch c qu n lýồ ổ ứ ả
Công tác qu n lý ch t th i nông thôn hi n nay t i các đ a ph ng đang trong tình tr ng n i thì do S Tài nguyên và Môi tr ng qu n lý, n i l i do S Nông nghi pả ấ ả ệ ạ ị ươ ạ ơ ở ườ ả ơ ạ ở ệ
và Phát tri n nông thôn ch u trách nhi m. Có n i trách nhi m ch ng chéo nhau khi n công tác này l i b ... b ng .ể ị ệ ơ ệ ồ ế ạ ị ỏ ỏ
Ông Ph m Văn M nh, Phó V tr ng V Khoa h c-Công ngh và Môi tr ng, B Nông nghi p và Phát tri n Nông thôn, cho bi t trong đ t công tác m i đây c aạ ạ ụ ưở ụ ọ ệ ườ ộ ệ ể ế ợ ớ ủ
ông, h u h t các s đ u ki n ngh ph i có 1 h th ng rõ ràng t trung ng đ n đ a ph ng chuyên qu n lý v v sinh môi tr ng nông thôn.ầ ế ở ề ế ị ả ệ ố ừ ươ ế ị ươ ả ề ệ ườ
Các đ i bi u tham d h i th o cũng th ng nh t c n m t c ch , hành lang pháp lý rõ ràng đ khuy n khích các cá nhân, doanh nghi p tham gia vào x lý môiạ ể ự ộ ả ố ấ ầ ộ ơ ế ể ế ệ ử
tr ng, thu gom ch t th i, rác th i nông thôn./.ườ ấ ả ả
Môi tr ng nông thôn: Th m h a đã đ nườ ả ọ ế
c ta là m t n c nông nghi p, 74% dân s đang s ng khu v c nông thôn và mi n núi v i kho ng 20% s h m c nghèo đói. Nh ng năm g n đây, các ho t đ ng nôngướ ộ ướ ệ ố ố ở ự ề ớ ả ố ộ ở ứ ữ ầ ạ ộ
nghi p cùng v i nh ng ho t đ ng d ch v , sinh ho t đã làm xu t hi n nhi u v n đ môi tr ng có tính ch t đan xen l n nhau và nhi u n i, nhi u ch đã và đang tr thành, b cệ ớ ữ ạ ộ ị ụ ạ ấ ệ ề ấ ề ườ ấ ẫ ở ề ơ ề ỗ ở ứ
xúc.
Môi tr ng nông thôn: Th m h a đã đ n...ườ ả ọ ế
Nước ta là một nước nông nghiệp, 74% dân số đang sống ở khu vực
nông thôn và miền núi với khoảng 20% số hộ ở mức nghèo đói. Những
năm gần đây, các hoạt động nông nghiệp cùng với những hoạt động
dịch vụ, sinh hoạt đã làm xuất hiện nhiều vấn đề môi trường có tính
chất đan xen lẫn nhau và ở nhiều nơi, nhiều chỗ đã và đang trở thành,
bức xúc.
Những vấn đề này gây tác động mạnh mẽ và lâu dài đến các hệ sinh thái nông nghiệp và nông
thôn. Nó hạn chế tính năng sản xuất của các thành phần môi trường, giảm năng suất cây trồng, vật
nuôi, cản trở sự phát triển bền vững. Càng ngày, những vấn đề ô nhiễm môi trường càng trở nên
phổ biến rộng rãi, len lỏi trong mọi hoạt động sản xuất và sinh hoạt thường nhật của người dân nông
thôn. Và quan trọng nhất, hiện trạng trên tác động xấu đến sức khoẻ cộng đồng nông thôn và hậu
quả là lâu dài, không những đối với thế hệ hiện tại mà cả thế hệ mai sau.
1. Kinh hoàng ô nhiễm môi trường nông thôn Việt Nam
Vấn đề đầu tiên phải kể đến về hiện tượng môi trường sống của người dân ở các vùng nông thôn
ViệtNam đang bị tàn phá nghiêm trọng là nước sạch và vệ sinh môi trường (VSMT) nông thôn.
Nếu như chúng ta quan niệm nước sạch chỉ đơn giản là nước mưa, nước giếng khoan qua xử lý
bằng bể lọc đơn giản chứ không phải nước sạch như đã được xử lý ở các thành phố lớn thì tỷ lệ
người dân nông thôn, nhất là khu vực miền núi còn rất thấp. Chúng ta có thể thấy rõ điều này thông
qua bảng số liệu sau:
Bảng tỷ lệ người dân nông thôn được cấp nước sạch ở các vùng
TT Vùng Tỷ lệ người dân nông thôn được cấp nước sạch

(%)
1 Vùng núi phía Bắc 15
2 Trung du Bắc Bộ & Tây Nguyên 18
3 Bắc Trung Bộ & Duyên hải miền Trung 35-36
4Đông Nam Bộ21
5Đồng bằng Sông Hồng 33
6Đồng bằng Sông Cửu Long 39
Qua bảng trên, chúng ta có thể thấy rõ, những người dân ở nông thôn Việt Nam đang phải sinh hoạt
với những nguồn nước như thế nào. Ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nơi có tỷ lệ cao nhất cũng
chỉ 39% dân số được sử dụng nguồn nước (tạm coi là) sạch. Còn vùng thấp nhất là vùng núi phía
Bắc, chỉ có 15% dân số được cấp nước sạch.Tình trạng ô nhiễm môi trường nước tác động trực tiếp
đến sức khoẻ, là nguyên nhân gây các bệnh như tiêu
chảy, tả, thương hàn, giun sán...Các bệnh này gây suy
dinh dưỡng, thiếu máu, thiếu sắt, kém phát triển gây tử
vong nhất là ở trẻ em. Có đến 88% trường hợp bệnh
tiêu chảy là do thiếu nước sạch, VSMT kém . Có thể
thấy, nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm môi
trường và nguồn nước ở nông thôn do các nguyên
nhân cơ bản sau
:
Đầu tiên phải kể đến tình trạng sử dụng hóa chất
trong nông nghiệp như phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật một cách tràn lan và không có
kiểm soát.
Nhìn chung, lượng phân bón hoá học ở nước ta sử dụng còn ở mức trung bình cho 1 ha gieo trồng,
bình quân 80 - 90 kg/ha (cho lúa là 150 - 180kg/ha), so với Hà Lan 758 kg/ha, Nhật 430kg/ha, Hàn
Quốc - 467kg/ha, Trung Quốc - 390 kg/ha. Tuy nhiên việc sử dụng này lại gây sức ép đến MT nông
nghiệp và nông thôn với 3 lý do: Sử dụng không đúng kỹ thuật nên hiệu lực phân bón thấp; Bón
phân không cân đối, nặng về sử dụng phân đạm; Chất lượng phân bón không đảm bảo, các loại
phân bón N - P - K, hữu cơ vi sinh, hữu cơ khoáng do các cơ sở nhỏ lẻ sản xuất trôi nổi trên thị
trường không đảm bảo chất lượng đăng ký, nhãn mác bao bì nhái, đóng gói không đúng khối lượng
đang là những áp lực chính cho nông dân và môi trường đất.
Ngoài ra, ở miền Bắc Việt Nam còn tồn tại tập quán sử dụng phân bắc, phân chuồng tươi vào canh
tác. Ở ĐBSCL, phân tươi được coi là nguồn thức ăn cho cá, gây ô nhiễm môi trường đất, nước và
ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.
Thuốc bảo vệ thực vạt (BVTV) gồm: Thuốc trừ sâu; thuốc trừ nấm; thuốc trừ chuột; thuốc trừ bệnh;
thuốc trừ cỏ. Các loại này có đặc điểm là rất độc đối với mọi sinh vật; Tồn dư lâu dài trong môi
trường đất - nước gây ra ô nhiễm; Tác dụng gây độc không phân biệt, nghĩa là gây chết tất cả
những sinh vật có hại và có lợi trong môi trường đất, nước.
Hiện nay, nước ta chưa sản xuất được nguyên liệu thuốc BVTV mà phải nhập khẩu để gia công
hoặc nhập khẩu thuốc thành phẩm bao gói lớn để sang chai đóng gói nhỏ tại các nhà máy trong
nước.
TIN LIÊN QUAN
Bài 6: Ki m tìm "s c đ kháng" c a văn hoáế ứ ề ủ
nông thôn
BÀI 5: N u không c n tr ng, chúng ta s điế ẩ ọ ẽ
vào v t xe...ế
Bài b n: H i h n vía làng quê đâu hãy v !ố ỡ ồ ở ề
Nh ng đi p khúc bu n không h tữ ệ ồ ế
Bài ba: Nông thôn - m t “thùng rác đ p” (?)ộ ẹ
Bài m t: B n thông cáo v nh ng ng iộ ả ề ữ ườ
nông dân (Thay cho l i đ d n)ờ ề ẫ
Bài hai: Hi n đ i hóa nh ng không thành thệ ạ ư ị
hóa

Đặc biệt ở rau xanh, sâu bệnh có thể làm tổn thất trung bình từ 10 - 40% sản lượng nên đầu tư cho
thuốc BVTV sẽ mang lại lợi nhuận trên 5 lần. Chính vì vậy, lượng thuốc BVTV sử dụng cho rau
thường quá mức cho phép. Điều này dẫn đến ô nhiễm đất, nước. Từ môi trường đất, nước và nông
sản, thuốc BVTV sẽ xâm nhập vào cơ thể con người và tích tụ lâu dài gây các bệnh như ung thư,
tổn thương về di truyền. Trẻ em nhạy cảm với thuốc BVTV cao hơn người lớn gấp 10 lần. Đặc biệt
thuốc BVTV làm cho trẻ thiếu ôxi trong máu, suy dinh dưỡng, giảm chỉ số thông minh, chậm biết
đọc, biết viết.
Điều đáng quan tâm là tình hình ngộ độc thực phẩm do các hoá chất độc, trong đó có thuốc BVTV
vẫn diễn ra phức tạp và có chiều hướng gia tăng không chỉ riêng ở nông thôn mà còn cả ở các
thành phố lớn có sử dụng nông sản có nguồn gốc từ nông thôn.
Nguyên nhân tình trạng trên là do việc quản lý thuốc BVTV còn nhiều bất cập và gặp nhiều khó
khăn. Hàng năm khoảng 10% khối lượng thuốc được nhập lậu theo đường tiểu ngạch. Số này rất đa
dạng về chủng loại, chất lượng không đảm bảo và vẫn lưu hành trên thị trường. Thứ hai là việc sử
dụng còn tuỳ tiện, không tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật theo nhãn mác, không đảm bảo thời gian
cách ly của từng loại thuốc. Thứ ba là do một lượng lớn thuốc BVTV tồn đọng tại các kho thuốc cũ,
hết niên hạn sử dụng còn nằm rải rác tại các tỉnh thành trên cả nước. Theo Trung tâm Công nghệ
xử lý môi trường, Bộ Tư lệnh Hoá học (2004), trong khoảng hơn 300 tấn thuốc BVTV tồn đọng có
nhiều chất nằm trong số 12 chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ. Và cuối cùng là việc bảo quản
thuốc BVTV còn rất tuỳ tiện, không có nơi bảo quản riêng, nhiều hộ để thuốc BVTV trong nhà, trong
bếp và trong chuồng nuôi gia súc.
Nguyên nhân th hai gây ra ô nhi m môi tr ng nông thôn là do ch t th i r n t cácứ ễ ườ ở ấ ả ắ ừ
làng ngh và sinh ho t c a ng i dân. Hi n c n c có kho ng 1.450 làng ngh , phânề ạ ủ ườ ệ ả ướ ả ề
b 58 t nh thành và đông đúc nh t là khu v c đ ng b ng sông H ng, v n là cái nôi c aố ở ỉ ấ ự ồ ằ ồ ố ủ
làng ngh truy n th ng, v i t ng s 472 làng ngh các lo i, t p trung ch y u các t nhề ề ố ớ ổ ố ề ạ ậ ủ ế ở ỉ
nh Hà Tây, Thái Bình và B c Ninh,... Trong đó các làng ngh có quy mô nh , trình đư ắ ề ỏ ộ
s n xu t th p, thi t b cũ và công ngh l c h u chi m ph n l n (trên 70%). Do đó, đã vàả ấ ấ ế ị ệ ạ ậ ế ầ ớ
đang n y sinh nhi u v n đ môi tr ng nông thôn, tác đ ng x u t i ch t l ng môiả ề ấ ề ườ ộ ấ ớ ấ ượ
tr ng đ t, n c, không khí và s c kho c a dân làng ngh . K t qu phân tích ch tườ ấ ướ ứ ẻ ủ ề ế ả ấ
l ng n c th i m t s làng ngh d t nhu m t i Thái Bình cho th y, đa s các ch tiêuượ ướ ả ộ ố ề ệ ộ ạ ấ ố ỉ
phân tích đ u v t tiêu chu n cho phép, đ c bi t BOD5, COD đ u v t tiêu chu n t 2ề ượ ẩ ặ ệ ề ượ ẩ ừ
- 5 l n.ầ
Ô nhiễm không khí: Hầu hết nhiên liệu sử dụng trong các làng nghề là than. Do đó, lượng bụi và các
khí CO; CO2; SO2 và NOx thải ra trong quá trình sản xuất trong nhiều làng nghề khá cao. Theo kết
quả điều tra tại các làng nghề sản xuất gạch đỏ (Khai Thái - Hà Tây); vôi (Xuân Quan - Hưng Yên)
hàng năm sử dụng khoảng 6.000 tấn than, 100 tấn củi nhóm lò; 250 tấn bùn; 10m3 đá sinh ra nhiều
loại bụi, SO2; CO2, CO; NOx, và nhiều loại chất thải nguy hại khác, gây ảnh hưởng tới sức khoẻ
người dân trong khu vực và làm ảnh hưởng tới hoa màu, sản lượng cây trồng của nhiều vùng lân
cận. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra các vụ xung đột, khiếu kiện như ở Thái Bình,
Bắc Ninh và Hưng Yên…
Ô nhiễm môi trường đất chủ yếu tập trung ở các làng nghề tái chế kim loại. Kết quả nghiên cứu của
Đề tài KC.08.06 cho thấy, một số mẫu đất ở làng nghề tái chế chì thuộc xã Chỉ Đạo, huyện Văn

Lâm, Hưng Yên cho thấy, hàm lượng Cu2+ đạt từ 43,68 - 69,68 ppm; hàm lượng Pb2+ từ 147,06 -
661,2 ppm . Hàm lượng các kim loại nặng trong nước cũng rất cao, vượt nhiều lần so với tiêu chuẩn
cho phép.
Bên cạnh đó có khoảng 3.600 chợ nông thôn, trung bình mỗi người mỗi ngày thải ra 0,4 - 0,5 kg
chất thải. Việc thu gom rác còn rất thô sơ bằng các xe cải tiến nên mới thu gom được khoảng 30%
chuyên chở về những nơi tập trung rác. Bãi rác tại các huyện, các chợ nông thôn chưa có cơ quan
quản lý và biện pháp xử lý. Chủ yếu là tập trung để phân huỷ tự nhiên và gây nên những gánh nặng
cho công tác bảo vệ môi trường.
Bảng biểu tình hình phát sinh chất thải rắn:
Các loại chất thải rắn Toàn quốcĐô thịNông thôn
Tổng lượng phát sinh chất thải sinh hoạt
(tấn/năm) 12.800.000 6.400.000 6.400.00
Chất thải nguy hại từ công nghiệp (tấn/năm) 128.400 125.000 2.400
Chất thải không nguy hại từ công nghiệp
(tấn/năm) 2.510.000 1.740.000 770.000
Chất thải Y tế lây nhiễm (tấn/năm) 21.000 - -
Tỷ lệ thu gom trung bình (%) - 71 20
Tỷ lệ phát sinh chất thải đô thị trung bình theo
đầu người (kg/người/ngày) - 0,8 0,3
(Theo báo cáo Diễn biến môi trường Việt Nam 2004 - Chất thải rắn)
Thời gian gần đây, vùng nông thôn Việt Nam còn chịu ảnh hưởng nặng nề từ ngồn rác, nước và khí
thải xả ra từ các khu công nghiệp trên cả nước. Chính nguồn rác, nước và khí thải này cũng đang
phá hủy nghiêm trọng sự trong lành của môi trường nông thôn Việt Nam.
2. Cứu môi trường nông thôn: Bất lực?
Chúng ta đang phải chứng kiến sức tàn phá ghê gớm của ô nhiễm môi trường tới không chỉ cảnh
quan nông thôn Việt Nam mà còn đối với sức khỏe của chính những người dân. Hãy nhìn những
làng quê đang bóc đi cái vẻ hồn hậu, chất phác vốn có để khoác lên mình tấm áo kệch cỡm của
một tên trọc phú. Và bên trong cái vẻ béo tốt giả tạo ấy chính là sự kiệt quệ của những vùng quê
đang bị bóc lột, bòn rút đến những giọt máu cuối cùng. Hậu quả của nó thì đã nhỡn tiền: Ô nhiễm
đổ lên những cánh đồng, những dòng sông quê còn bệnh tật đang đổ lên đầu những người dân
nông thôn. Còn họ, những người nông dân thì chỉ biết đứng nhìn.
Tài nguyên đất ở các vùng nông thôn vẫn đang tiếp tục bị suy thoái trầm trọng, làm biến đổi các
tính chất đất và không còn tính năng sản xuất. Các loại hình thoái hoá đất chủ đạo ở nước ta là: Xói
mòn, rửa trôi, sạt và trượt lở đất; suy thoái vật lý (mất cấu trúc, đất bị chặt, bí, thấm nước kém); suy
thoái hoá học (mặn hoá, chua hoá, phèn hoá); mất chất dinh dưỡng khoáng và chất hữu cơ; đất bị
chua; xuất hiện nhiều độc tố hại cây trồng như Fe3+, Al3+ và Mn2+; hoang mạc hoá; ô nhiễm đất
cục bộ do chất độc hóa học, khu công nghiệp và làng nghề; suy thoái và ô nhiễm đất ở khu khai
thác mỏ.
Nguồn tài nguyên nước đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Hàng loạt những dòng sông quê kêu cứu vì

