Nguyên nhân, dự phòng và tầm soát

Chia sẻ: Sautim Thiephong | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:12

0
51
lượt xem
4
download

Nguyên nhân, dự phòng và tầm soát

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mặc dù suy dinh dưỡng trong tử cung vẫn là một nguyên nhân quan trọng gây tử vong và bệnh xuất chu sinh nhưng trong 40% các trường hợp không giải thích được tại sao có sự hạn chế phát triển. Nhiều yếu tố dẫn tới thai suy dinh dưỡng trong tử cung và có thể chia Cần siêu âm và thăm khám định kỳ để tầm soát khả năng thai suy dinh dưỡng. thành ba nhóm: các yếu tố thuộc mẹ, thuộc tử cung - nhau và thuộc thai. ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nguyên nhân, dự phòng và tầm soát

  1. Nguyên nhân, dự phòng và tầm soát Mặc dù suy dinh dưỡng trong tử cung vẫn là một nguyên nhân quan trọng gây tử vong và bệnh xuất chu sinh nhưng trong 40% các trường hợp không giải thích được tại sao có sự hạn chế phát triển. Nhiều yếu tố dẫn tới thai suy dinh dưỡng trong tử cung và có thể chia Cần siêu âm và thăm khám thành ba nhóm: các định kỳ để tầm soát khả năng yếu tố thuộc mẹ, thai suy dinh dưỡng. thuộc tử cung - nhau
  2. và thuộc thai. * Các yếu tố thuộc mẹ: - Các yếu tố thuộc thể chất của mẹ như chiều cao, cân nặng, gợi ý ảnh hưởng di truyền trên các thông số thai. Những người mẹ có chiều cao dưới 1,4m và cân nặng dưới 40kg có thể sinh con đủ tháng nhưng cân nặng thường dưới 2.500g. - Tuổi của mẹ: nguy cơ thai suy dinh dưỡng trong tử cung gia tăng ở phụ nữ dưới 20 và trên 40 tuổi so với những phụ nữ tuổi từ 25 – 35. - Tình trạng kinh tế - xã hội là một yếu tố thuận lợi: tỷ lệ thai suy dinh dưỡng trong tử cung cao hơn ở những phụ nữ có địa vị thấp hơn. - Các bệnh lý của mẹ có thể gây thai suy dinh dưỡng trong tử cung như:
  3. + Bệnh lý tim phổi gây tím tái: suyễn, bệnh lý sợi nang, suy tim và cao huyết áp mạn. + Các bệnh lý thận mạn: viêm đài bể thận, viêm cầu thận, viêm thận do lupus. + Thiếu máu, tiểu đường, các bệnh tự miễn. + Bệnh lý dạ dày ruột: viêm ruột, tình trạng sau cắt bỏ ruột và các hội chứng kém hấp thu khác. - Bệnh lý trong thai kỳ như tiền sản giật, sản giật… - Chế độ dinh dưỡng không cân đối, không đầy đủ khi mang thai: + Tình trạng thiếu dinh dưỡng ở mẹ, đặc biệt thiếu protein, là những yếu tố đáng kể gây chậm phát triển thai. Nếu sản phụ tăng cân chậm từ tuần lễ thứ 20 của thai kỳ, thường có liên quan đến sinh con thiếu cân.
  4. + Hạn chế calo trong khẩu phần ở thời gian thai nghén cũng có thể làm giảm tỷ lệ phân bào. + Thiếu hụt các kim loại vi lượng như kẽm, mangan, magnesium cũng gây ảnh hưởng đến sự phát triển thai. + Thiếu hoặc thừa vitamin A có thể gây dị dạng thai. Những yếu tố trên đều có thể dẫn đến sự chậm lớn của thai mà nguồn gốc chính là do rối loạn dinh dưỡng của nhau thai thêm vào đó sự tổn thương và rối loạn huyết động ở bánh nhau sẽ cản trở việc vận chuyển các chất dinh dưỡng nuôi thai, làm cho trẻ không thể lớn lên được. - Những thói quen độc hại như hút thuốc, nghiện rượu, ma tuý và sử dụng những thuốc có hại là yếu tố bệnh nguyên quan trọng gây nên thai chậm tăng trưởng trong tử cung.
  5. * Các yếu tố thuộc tử cung - nhau: - Các dị dạng của tử cung đặc biệt tử cung hai sừng và tử cung có vách ngăn. - Tử cung kém phát triển. - U xơ tử cung. - Sự kém thích nghi của tuần hoàn mẹ ngăn cản nhau - tuần hoàn nhau thai bám và cố định đúng vị trí. Do có tổn thương ở bánh nhau hoặc có những rối loạn về huyết động học nhau - thai gây suy thai. Quan sát bánh nhau thấy có những vùng bị tổn thương như: có nhiều điểm tắc mạch nhỏ, gai nhau không có mạch máu, tắc mạch trong gai nhau. Trong trường hợp suy thai trường diễn có thể có hiện tượng calci hóa, xơ hóa bánh nhau. Từ đó các chất dinh dưỡng từ mẹ qua thai bị giảm đi, thai suy yếu dần, thành
  6. phần nước ối thay đổi, thiểu ối, thai bị ảnh hưởng rất nhiều trong quá trình phát triển. Tổn thương bánh nhau có thể là những tổn thương tiên phát như bướu máu ở bánh nhau (chorioangioma) hay tổn thương thứ phát như nhau tiền đạo, nhau bong non… - Có hơn 45% tế bào bánh nhau bị sai lệch nhiễm sắc thể. - Các dị tật về dây rốn như dây rốn bám màng, động mạch rốn duy nhất cũng làm cho tuần hoàn mẹ con bị cản trở có thể dẫn đến thai chậm tăng trưởng trong tử cung. * Các yếu tố thuộc thai: - Các bất thường về nhiễm sắc thể đặc biệt là tam thể 13, 18, 21 cũng như đơn thể X và mất cân bằng đoạn nhiễm sắc thể như 4p, 5p…có liên quan đến tỷ lệ thai
  7. suy dinh dưỡng trong tử cung cao xảy ra sớm trong thai kỳ. - Các dị tật bẩm sinh các cơ quan thường là ở hệ thần kinh, hệ xương khớp, thận, tim. - Một số các hội chứng chuyển hóa có tính di truyền hiếm gặp có thể đưa đến thai suy dinh dưỡng trong tử cung hoặc một số dị dạng thai đơn độc như khiếm khuyết tim mạch, các dị dạng dạ dày ruột và niệu sinh dục và loạn sản xương. - Bệnh lây nhiễm ở thai: Do mẹ bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn nhất là nhiễm virus trong 3 tháng đầu của thai kỳ. Sự nhiễm khuẩn không những có ảnh hưởng đến sự phân chia tế bào của phôi gây dị dạng thai mà còn có thể làm cho thai không lớn lên một cách bình thường. Thường trẻ bị suy dinh dưỡng có kèm theo dị dạng. Các bệnh nhiễm khuẩn điển hình gây nên hậu quả này là
  8. Rubella, bệnh hạt vùi cự bào (Inclusion cytomegalovirus), Herpes simplex virus, siêu vi viêm gan B, HIV, Parvovirus B19 thường có liên quan thai chậm tăng trưởng trong tử cung. Bệnh do Toxoplasma, sốt rét, giang mai và Listeria đôi khi cũng dẫn đến kém tăng trưởng. - Song thai, đa thai thường là nguyên nhân đưa đến thai chậm tăng trưởng trong tử cung. Đa thai chiếm 20 – 30% các trường hợp thai chậm tăng trưởng trong tử cung. Thai chậm tăng trưởng trong tử cung thường xảy ra ở trẻ sinh ra trước. ♣ Dự phòng suy dinh dưỡng trong tử cung: - Cần khám thai thường xuyên để phát hiện sớm và điều trị kịp thời các bệnh lý đi kèm với thai kỳ như cao huyết áp, tiền sản giật, tiểu đường, bệnh tim – thận, thiếu máu... để giảm ảnh hưởng đến thai nhi. - Thai phụ cần có chế độ nghỉ ngơi hợp lý, một chế độ
  9. dinh dưỡng đầy đủ, bổ sung khẩu phần ăn để có thể cung cấp đủ các chất dinh dưỡng cho thai phát triển đặc biệt là protein và cần uống viên sắt hoặc các chế phẩm, thức ăn giàu chất sắt để phòng tránh thiếu máu. - Trước khi sinh nên bổ sung acid folic trong ba tháng. - Nếu người mẹ có những bất thường ở tử cung như: tử cung kém phát triển, có khối u hay những bất thường ở bánh rau, dây rốn của thai nhi..., cần được khám để bác sĩ có phương pháp điều trị và tiên lượng cuộc sinh phù hợp nhằm đảm bảo sức khoẻ cho mẹ và thai nhi. - Nếu suy thai trường diễn đã được điều trị mà thai vẫn chậm tăng trưởng trong tử cung thì khi ước lượng tuổi thai và cân nặng thai tương đối có thể sống được ở bên ngoài tử cung, bác sĩ sẽ quyết định lấy thai ra sớm.
  10. ♣ Tầm soát suy dinh dưỡng trong tử cung: - Chú ý tiền căn sinh con bị suy dinh dưỡng trong tử cung là một trong những yếu tố quan trọng nhất đối với thai phụ vì nguy cơ suy dinh dưỡng trong tử cung trong lần có thai sau này gấp 2 – 3 lần. - Bề cao tử cung của thai phụ phải được đo trong mỗi lần khám (sau tuần thứ 20 bề cao tử cung thường xấp xỉ với số tuần thai). - Kích thước và độ tăng trưởng của thai được đánh giá bằng sự đo đạc các thông số “khách quan” trên siêu âm (chiều dài đầu – mông, đường kính lưỡng đỉnh, chu vi bụng, chiều dài xương đùi, cân nặng ước lượng trên siêu âm). Đánh giá sự phát triển của thai trong tử cung là yếu tố cơ bản để xác định tình trạng của thai nhi. Khám thai và siêu âm có thể xác định sớm những trường hợp
  11. thai chậm phát triển trong tử cung: + Một thai có nguy cơ suy dinh dưỡng trong tử cung khi chu vi bụng dưới mức chuẩn bình thường của dân số nhưng cân nặng ước lượng trên siêu âm vẫn ở trên mức chuẩn bình thường của dân số (đường bách phân vị thứ 10). + Có thể chẩn đoán thai suy dinh dưỡng trong tử cung khi cả chu vi bụng lẫn cân nặng ước lượng trên siêu âm đều thấp bất thường. + Việc xác định chẩn đoán có thể tốt hơn nếu chậm tăng trưởng thai ước lượng là sự giảm 25% hoặc hơn của số đo chu vi bụng đo được hai lần liên tiếp cách nhau ít nhất hai tuần dựa theo đường cong chuẩn tại những tuổi thai. - Xét nghiệm alpha-fetoprotein (AFP) huyết thanh là chỉ điểm sinh hoá hữu dụng nhất. Trong trường hợp không có bất thường cấu trúc thai và nhau, alpha-
  12. fetoprotein tăng cao làm gia tăng nguy cơ suy dinh dưỡng trong tử cung gấp 5 – 10 lần.
Đồng bộ tài khoản