Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với
đa dạng sinh học ở Việt Nam
Việt Nam được xem một trong những nước sẽ bị nh hưởng nặng nhất do
biến đổi khí hậu (BÐKH) toàn cầu. Theo dự báo, KH sẽ làm cho các trận
bão Việt Nam mức độ n phá nghiêm trọng n. Ðường đi của o dch
chuyển về phía Nam và mù a bã o dịch chuyển vào các tháng cuối năm.
Lượng a gim trong mùa k(tháng 7 8) và ng trong mùa mưa
(tháng 4 11); mưa lớn thường xuyên hơn gây lớ n nhiều n miền
Trung Nam. Hạn hán xy ra phần lớn các khu vực của cả nước. Nhiệt độ
trung bình m ng khoảng 0,1 - 0,30 C/thập kỷ. Nhiệt độ tăng và lượng mưa
thay đổi sẽnh hưởng đến nông nghiệp nguồn nướ c. Mực nước biể n có khả
năng dâng cao 1m vào cuối thế kỷ, c đó Việt Nam smất hơn 12% diện tích
đất đai, nơi cư trú của 23% số dân.
Hậu quả do KH toàn cầu gây ra ngày một ràng, trong đó tác
động đến đa dạng sinh học ÐDSH, nguồn tài nguyên quý giá của đất nướ c. Dựa
vào một số nghiên cứu đã thực hiện trên thế giới điều kiện tự nhiên của Việt
Nam, dự o hậu quả của BÐKH sc GS. Quý Rạn san là nơi sinh
sống của nhiều loài sinh vt biển thbị suy thoái do nhiệt độ nước biển ng
Đại học Quốc gia Nội ẢNH HƯỞNG VIỆT NAM của biến đổi khí hậu
đối với đa dạng sinh 43 SỐ 3/2009 động mạnh lên hai vùng đồng bằng sông
Cửu Long và sông Hồng, các vùng dọc bờ biển và các hệ sinh thái rừng trong cả
nước. Nước bin ng sảnh hưởng vùng đất ngập nước ca bờ biển Việt Nam,
nghiêm trọng nhất khu vực rừng ngập mặn của Cà Mau, TP Hồ CMinh,
Vũng u Nam Ðịnh. Hai vùng đồng bằng ven biển ớc ta, trong đó
rừng ngập mặn hệ thống đất ngập nước rất giàu có về các loài sinh vật, là
những hệ sinh thái rất dễ b tn thương. Mực nước biển dâng lên cùng với
cường độ của o sẽ làm thay đổi thành phần của trầm tích, độ mặn mức độ
ô nhiễm của ớc, làm suy thoái đe dọa ssống n của rừng ngập mặn
các loài sinh vật trong đó. Khi mực nước bin ng cao, khoảng một nửa trong
số 68 khu đất ngập nước sẽ bị ảnh hưở ng nặng; nước mn sẽ xâm nhập sâu vào
đất lin, giết chết nhiu li động, thực vật nước ngọt, nh hưởng nguồn nước
ngọt cung cấp cho sinh hoạ t và trồng trọt của nhiều vùng. 36 khu bảo tồn, trong
đó có 8 vườn quốc gia, 11 khu dự trthiên nhiên sẽ bị ngập. Hsinh thái biển
sẽ bị tổn thương. Các rạn san nơi sinh sống của nhiều loài sinh vật biển,
lá chắn sóng chống xói mòn bờ biển và bảo vệ rừng ngp mặn sẽ bị suy thoái do
nhit độ nước biển ng, đồng thời mưa nhiu m cho c bị ô nhiễm psa
thể cả các hóa chất nông nghiệp từ cửa sông đổ vào. Nhiệt độ tăng m
nguồn thủy, hải sản bphân n. Các loài nhiệt đới (kém giá trkinh tế - trừ
ngừ) ng lên, các loài cn nhiệt đới (giá trkinh tế cao) giảm. c thay
đổi diễn ra sẽ đe dọa sự phát trin, đe dọa cuộc sống của tất cả các loài, các hệ
sinh thái. BÐKH với các hệ quả của như lụt, hạn hán, cháy rừng, xói n
và sụt lở đất stc đẩy sự suy thoái ÐDSH nhanh hơn, trầm trọng hơn, nhất
những hệ sinh thái rừng nhiệt đới kng n nguyên vẹn, ng nguy diệt
chủng của động, thực vật, làm biến mất các nguồn gen q, hiếm, bệnh dịch
mi thể phát sinh (Thông báo quốc gia lần th nhất). KH ng một s
nguy đối với người bệnh, thay đổi đặc tính trong nhịp sinh học của con
người. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trái đất nóng lên thể slàm hơn
150 nghìn người chết 5 triệu người b mc c chứng bệnh khác nhau. Con
số trên có thể tăng gấp hai lần vào năm 2030.
Làm gì để ng p với BÐKH toàn cầu?
Tác động ca KH trong những năm qua không loại trừ quốc gia nào,
cho nước đó kng góp nhiều vào nguyên nhân gây n BÐKH. Riêng
nước ta, trong những năm gần đây, hn hán, mưa lũ, sụt lđất, quét xy ra
dồn dập nhất là năm 2007) đã gây thiệt hại rất nặng nề về người của. Chúng
ta đã đang cố gắng làm mọi cách nhằm gim nhẹ nh hưởng của thiên tai, cả
bằng khoa học kỹ thuật và các biện pháp xã hội. Thách thức lớn nhất hiện nay
chưa chiến lược, chính sách, chương trình, kế hoạch phát triển phợp s
biến đổi hết sức nhanh chóng của k hậu toàn cu. Việt Nam đang xây dựng
Chương trình Mục tiêu Quốc gia đối phó với KH. Ðể phát triển bền vững,
trong kế hoạch phát triển kinh tế - hội trước mắt lâu i ca đất nước
từng vùng, cần phải sm đặt vn đề về KH toàn cầu một cách nghiêm túc.
Trong xây dựng quy hoạch phát triển, chúng ta cần chú ý việc làm giảm nhẹ
phòng, chống (như đã ghi trong Chương trình nghị s21) nhưng cũng cần quan
m vn đề thích ng với KH. Nhà nước cần sm tổ chứ c một quan
chuyên trách có đnăng lực để nghiên cứu về BÐKH toàn cầu và phát triển bền
vững, sớm đề xuất những ý kiến xác đáng, khả thi về phát triển kinh tế - xã hội
nước ta một cách lâu dài trong bối cảnh BÐKH toàn cầu mi, trong đó cần lưu ý
đú ng mức đến bảo tồn ÐDSH, vố n i nguyên qgiá, cơ sở cho sphát triển
bền vững của đất nước. Chúng ta cũng nên soát lại nhữ ng công trình phát
triển liên quan diện tích rừng hiện ; thúc đẩy mnh hơn việc bảo vrừng và
trồng rừng các loài sinh vật chỉ thể chống đỡ được với những sự biến đổi
về môi trường khi sinh sng trong một hệ sinh thái n định; sử dụng hợp đất
đai, củng cquản tốt các khu bảo tồn thiên nhiên, tăng cường tiết kiệm
năng lượng, giả m thiể u ô nhiễm xóa đói, giảm nghèo; làm tốt ng tác
truyền thông, nhằm ng cao nhận thức của tầng lớp nhân n về thảm họa ca
BÐKH toàn cầu.