TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP

KHOA XÂY DỰNG VÀ MÔI TRƯỜNG BỘ MÔN KIẾN TRÚC

BÀI GIẢNG PHÁT CHO SINH VIÊN (LƯU HÀNH NỘI BỘ) Theo chương trình 150 TC

Sử dụng cho năm học 2021- 2022

Tên bài giảng: Kỹ thuật thi công

Thái Nguyên, năm 2022

Số tín chỉ: 4

1

BÀI GIẢNG PHÁT CHO SINH VIÊN (LƯU HÀNH NỘI BỘ) Theo chương trình 150 TC h

Sử dụng cho năm học: 2021- 2022

Tên bài giảng: Kỹ thuật thi công

Số tín chỉ: 4

Trưởng bộ môn Trưởng khoa

Thái Nguyên, ngày….…tháng …… năm 200…

2

MỤC LỤC

Nội dung

Trang 3 *Mục lục

6 *Đề cương chi tiết học phần

10 Phần A: Công nghệ thi công phần ngầm

10 I. Chương 1 : Đất và công tác đất

10

A. Phần 1: Phần lý thuyết 1.1. Những khái niệm chung 10

1.2. Các dạng công tác đất 10

1.3. Tính chất kỹ thuật của đất 11

1.4. Phân cấp đất trong xây dựng cơ bản. 15

16

B. Phần 2: Phần thảo luận Nội dung thảo luận 16

16 II. Chương 2 : Tính toán khối lượng công tác đất

16

A. Phần 1: Phần lý thuyết 2.1. Mục đích 16

2.2. Nguyên tắc tính toán 17

2.3. Tính toán khối lượng đất 17

19

B. Phần 2: Phần thảo luận, bài tập Nội dung thảo luận 19

19 III. Chương 3 : Công tác chuẩn bị và phục vụ thi công phần ngầm công

trình

19

A. Phần 1: Phần lý thuyết 3.1. Giải phóng mặt bằng, tiêu nước lộ thiên. 20

3.2. Hạ mực nước ngầm. 21

3.3. Cắm trục định vị, giác móng công trình. 26

28

B. Phần 2: Phần thảo luận Nội dung thảo luận 28

28 IV. Chương 4 : Kỹ thuật thi công đào đất

28

A. Phần 1: Phần lý thuyết 4.1. Thi công đất thủ công 28

4.2. Thi công đất bằng cơ giới 32

46

B. Phần 2: Phần thảo luận Nội dung thảo luận 46

46 V. Chương 5 : Thi công đắp và đầm đất

46

A. Phần 1: Phần lý thuyết 5.1. Thi công đắp đất 46

5.2. Thi công đầm đất 48

3

57

B. Phần 2: Phần thảo luận Nội dung thảo luận 57

57 Chương 6 : Thi công cọc

57

A. Phần 1: Phần lý thuyết 6.1. Các loại cọc và ván cừ. 57

6.2. Các thiết bị và máy đóng cọc. 62

6.3. Kỹ thuật đóng cọc bê tông cốt thép. 63

6.4. Những trở ngại và biện pháp khắc phục trong thi công đóng cọc. 67

68

B. Phần 2: Phần thảo luận, bài tập Nội dung thảo luận 68

69 Phần B: Công nghệ thi công bêtông toàn khối

69 VII. Chương 7: Những khái niệm về công nghệ thi công bêtông cốt thép

đổ tại chỗ

69

A. Phần 1: Phần lý thuyết 7.1. Bản chất - ưu nhược điểm và phạm vi ứng dụng. 69

70

7.2. Dây chuyền công nghệ thi công - đặc điểm của các dây truyền bộ phận và những gián đoạn kỹ thuật

71

B. Phần 2: Phần thảo luận Nội dung thảo luận 71

71 Chương 8: Công tác ván khuôn

72

A. Phần 1: Phần lý thuyết 8.1. Ván và những yêu cầu KT đối với ván khuôn. 72

8.2. Phân loại ván khuôn 73

8.3. Hệ xà gồ, côt chống 74

8.4. Ván khuôn luân lưu định hình của một số cấu kiện điển hình. 75

8.5. Thiết kê tính toán ván khuôn. 80

8.6. Nghiệm thu ván khuôn. 85

8.7. Tháo dỡ ván khuôn. 86

87

B. Phần 2: Phần thảo luận Nội dung thảo luận 87

87 IX. Chương 9: Công tác cốt thép

87 A. Phần 1: Phần lý thuyết

9.1. Đặc điểm công nghệ và phân loại thép XD 87

9.2. Gia cường cốt thép. 89

9.3. Gia cường nắn thẳng , đo cắt, uốn cốt thép. 91

9.4. Hàn nối cốt thép. 93

9.5. Đặt cốt thép vào ván khuôn. 95

9.6. Nghiệm thu cốt thép 96

4

97

B. Phần 2: Phần thảo luận Nội dung thảo luận 97

97 X. Chương 10: Công tác bê tông

97

A. Phần 1: Phần lý thuyết 10.1. Công tác chuẩn bị vật liệu. 97

10.2. Xác định thành phần cấp phối. 97

10.3. Các yêu cầu đối với vữa bê tông. 98

10.4. Kỹ thuật và các phương pháp trộn bê tông 98

10.5. Kỹ thuật vận chuyển vữa bê tông. 100

10.6. Công tác đổ bê tông 103

10.7. Đầm bê tông. 108

10.8. Mạch ngừng trong thi công bê tông toàn khối 112

10.9. Bảo dưỡng bê tông, sửa chữa khuyết tật sau khi đổ bê tông. 115

118

B. Phần 2: Phần thảo luận Nội dung thảo luận 118

119 Phần C. Lắp ghép

119 XI. Chương 11 : Dụng cụ và thiết bị trong lắp ghép XD

119

A. Phần 1: Phần lý thuyết 11.1. Dây cáp. 119

11.2. Dây cẩu 120

11.3. Đòn treo. 122

11.4. Puli và nhóm Puli. 122

11.5. Tời 124

11.6. Thiết bị neo giữ. 125

130

B. Phần 2: Phần thảo luận Nội dung thảo luận 130

131 XII. Chương 12 : Phương tiện lắp ghép

131

A. Phần 1: Phần lý thuyết 12.1. Cần trục thiếu nhi. 131

12.2. Cần trục tự hành. 131

12.3. Cần trục cổng. 133

12.4. Cần trục tháp. 134

12.5. Chọn cần trục để lắp ghép một cấu kiện. 136

12.6. Chọn cần trục tháp. 140

142

B. Phần 2: Phần thảo luận, bài tập Nội dung thảo luận 142

143 Chương 13 : Công tác chuẩn bị cho lắp ghép

143 A. Phần 1: Phần lý thuyết

5

13.1. Vận chuyển cấu kiện. 143

13.2. Xếp kho, bố trí cấu kiện trên công trường 146

13.3. Khuyếch đại cấu kiện 146

13.4. Gia cường cấu kiện 147

13.5. Một số chuẩn bị khác. 148

148

B. Phần 2: Phần thảo luận, bài tập Nội dung thảo luận 148

148 Chương 14 : Lắp ghép cấu kiện cơ bản

149

A. Phần 1: Phần lý thuyết 14.1. Các bước cơ bản trong lắp ghép cấu kiện. 149

14.2. Kỹ thuật lắp ghép móng 151

14.3. Kỹ thuật lắp ghép cột 153

14.4. Kỹ thuật lắp ghép tấm tường. 161

14.5. Kỹ thuật lắp ghép các loại dầm, dàn. 162

14.6. Kỹ thuật lắp ghép các loại tấm sàn 170

14.7. Kỹ thuật lắp ghép tấm ô văng, ban công, thang. 171

14.8. Kỹ thuật lắp ghép các thanh xà gồ, thanh giằng. 172

173

B. Phần 2: Phần thảo luận Nội dung thảo luận 173

173 XV. Chương 15: Lắp ghép công trình

173

A. Phần 1: Phần lý thuyết 15.1. Phương pháp lắp ghép một công trình 173

15.2. Lắp ghép nhà khung nhiều tầng. 176

15.3. Lắp ghép nhà tấm lớn. 177

15.4. Lắp ghép nhà công nghiệp một tầng khẩu độ nhỏ 179

15.5. Lắp ghép nhà công nghiệp một tầng khẩu độ lớn 181

15.6. Lắp ghép nhà không gian nhịp lớn. 184

185

B. Phần 2: Phần thảo luận Nội dung thảo luận 185

186 * Ngân hàng câu hỏi, bài tập

188 * Tài liệu tham khảo

6

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT HỌC PHẦN

1. Tên học phần: Kỹ thuật thi công

2 . Số tín chỉ: 4

3. Trình độ cho sinh viên năm thứ 4.

4. Phân bổ thời gian - Lên lớp lý thuyết: 4 tiết/tuần x 12 tuần = 48 tiết = 48 tiết

- Thảo luận: 2 tiết/ tuần x 12 tuần = 24 tiết = 12 tiết

5. Các học phần học trước

Địa chất công trình, Quy hoạch đô thị, Máy xây dựng

6. Học phần thay thế, học phần tương đương

Học phần này tương đương với học phần Kỹ thuật thi công theo chương trình đào tạo 180

tín chỉ và chương trình đào tạo theo niên chế học phần 260 đơn vị học trình.

7. Mục tiêu của học phần

Trang bị cho sinh viên kiến thức để thiết kế và lập biện pháp thi công phần ngầm,

bê tông toàn khối các công trình và kỹ thuật lắp ghép dùng trong xây dựng.

8. Mô tả vắn tắt nội dung học phần

Học phần Kỹ thuật thi công bao gồm những nội dung kiến thức sau đây:

Những kiến thức cơ bản và chuyên sâu, có đủ khả năng để giải quyết các vấn đề kỹ thuật

khi tiến hành thi công các công trình ngoài thực tế. Môn học trang bị cho sinh viên có khả năng

lập các phương án chính xác khoa học và kinh tế trong quá trình chuyển từ bản vẽ thiết kế đến

bản vẽ thi công.

Nội dung của môn học bao gồm các vấn đề sau:

- Thi công đất: Xác định khối lượng công tác đất; chuẩn bị phục vụ cho công tác đất; kỹ

thuật thi công đất; Công tác cọc và ván cừ.

- Công tác bê tông: Công tác ván khuôn, cột chống và sàn thao tác; công tác cốt thép;

Công tác bê tông.

- Công tác lắp ghép: dụng cụ, phương tiện, chuẩn bị, lắp ghép.

9. Nhiệm vụ của sinh viên

9.1. Đối với học phần lý thuyết

1. Dự lớp  80 % tổng số thời lượng của học phần.

2. Chuẩn bị thảo luận.

9.2. Đối với học phần thí nghiệm

10. Tài liệu học tập

- Sách, giáo trình chính:

1. Bài giảng kỹ thuật thi công – Trường ĐH Kỹ thuật công nghiệp. 2. Kỹ thuật xây dựng, tập 1 – TS. Đỗ Đình Đức, PGS. Lê Kiều – NXB Xây Dựng

2006.

7

3. Giáo trình kỹ thuật thi công, tập 2 – TS. Đỗ Đình Đức, PGS. Lê Kiều, TS. Lê

Anh Dũng, Ths. Lê Công Chính, Ths. Cù Huy Tình, Ths. Nguyễn Cảnh Tường - NXB

Xây dựng 2004.

- Sách tham khảo:

4. Giáo trình Kỹ thuật thi công – Bộ Xây dựng - NXB Xây dựng 2007.

5. Ván khuôn và giàn giáo - Phạm Hùng, Trần Như Đính - NXB Xây dựng

6. Thi công nhà cao tầng – Nguyễn Xuân Trọng - NXB Xây dựng 2007

11. Tiêu chuẩn đánh giá sinh viên và thang điểm

11.1. Các học phần lý thuyết

* Tiêu chuẩn đánh giá

1. Thảo luận, bài tập;

2. Kiểm tra giữa học phần;

3. Thi kết thúc học phần;

* Thang điểm

+ Điểm đánh giá bộ phận chấm theo thang điểm 10 với trọng số như sau:

- Thảo luận, bài tập: 10 %

- Kiểm tra giữa học phần: 30 %

- Thi kết thúc học phần: 60 %

+ Điểm thi kết thúc học phần (đây là phần bắt buộc và phải có trọng số không dưới 50%

điểm học phần). Tổng tỷ trọng của các điểm bộ phận và điểm thi kết thúc học phần là 100%.

+ Điểm học phần: Là điểm trung bình chung có trọng số của các điểm đánh giá bộ phận và

điểm thi kết thúc học phần làm tròn đến một chữ số thập phân.

11.2. Các học phần thí nghiệm

12. Nội dung chi tiết học phần

(Lịch trình giảng dạy)

Tuần Tài liệu Hình

thứ học tập, thức học Nội dung

tham khảo

1, 2, 4 1 Phần A: Công nghệ thi công phần ngầm

Giảng + thảo luận

Chương 1 : Đất và công tác đất Chương 2 : Tính toán khối lượng công tác đất

Chương 3 : Công tác chuẩn bị và phục vụ thi

công phần ngầm công trình

1, 2, 4 Chương 4 : Kỹ thuật thi công đất 2

Giảng + thảo luận

1, 2, 4 Chương 5 : Thi công đắp và đầm đất 3

Giảng + thảo luận

1, 2, 4 Giảng + 4 Chương 6 : Thi công đóng cọc và ván cừ

8

thảo luận

1, 2, 4 5 Phần B: Công nghệ thi công bêtông toàn khối

Giảng + thảo luận Chương 7: Những khái niệm về công nghệ thi

công bêtông cốt thép đổ tại chỗ

Chương 8: Công tác ván khuôn

1, 2, 4 Giảng + 6 Chương 9: Công tác cốt thép

thảo luận

1, 2, 3 7 Chương 10: Công tác bê tông

Giảng + thảo luận

8

Kiểm tra giữa học phần

1, 3, 4 9 C.Lắp ghép

Giảng + thảo luận

Chương 11: Dụng cụ và thiết bị trong lắp ghép XD

1, 3, 4 Giảng + 10 Chương 12: Phương tiện lắp ghép

thảo luận Chương 13: Công tác chuẩn bị cho lắp ghép

1, 3, 4 Giảng + 11 Chương 14: Lắp ghép cấu kiện cơ bản

thảo luận

1, 3, 4 Giảng + 12 Chương 15: Lắp ghép công trình

thảo luận

9

PHẦN A: CÔNG NGHỆ THI CÔNG PHẦN NGẦM

I. CHƯƠNG 1. ĐẤT VÀ CÔNG TÁC ĐẤT

I.1. Mục tiêu, nhiệm vụ - Mục tiêu: cung cấp cho sinh viên những tính chất của đất liên quan đến thi công và

các dạng công tác đất thường gặp.

- Tóm tắt nội dung: Trong chương 1 lần lượt nghiên cứu khái niệm, các dạng công tác

đất, tính chất kỹ thuật của đất, phân cấp đất trong xây dựng.

I.2. Các nội dung cụ thể

A. Nội dung lý thuyết

1.1. Khái niệm chung

Xây dựng các công trình trước hết phải làm các công tác đất như sau: san nền,

đào móng, đắp nền … Khối lượng công tác đất lớn, công việc nặng nhọc, quá trình thi công phụ thuộc nhiều vào khí hậu, thời tiết …Vì vậy chọn phương án thi công có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

1.2. Các dạng công trình đất

1.2.1. Chia theo thời gian sử dụng. Theo thời gian sử dụng, công trình bằng đất được chia thành 2 loại: Công trình

trình sử dụng lâu dài: Nền đường bộ, nền đường sắt, đê, đập, kênh mương…

và công trình sử dụng ngắn hạn: Hố móng, rãnh đặt đường ống…

1.2.2. Theo hình dạng công trình. Theo hình dạng, công trình bằng đất được chia thành hai loại: Loại công trình đất

chạy dài: các công trình chạy dài như nền đường, đê, đập, kênh, mương…Loại công trình đất tập trung: các công trình đất tập trung như mặt bằng san lấp, hố móng trụ, hố

móng bè, san mặt bằng…

1.1.3. Các công tác đất thường gặp.

1. Đào. - Đào là hạ cao trình mặt đất tự nhiên xuống đến cao trình thiết kế. - Thể tích đất đào thường được quy ước dấu dương (V+)

Hình 1-1. Qui ước dấu KL đất đào, đắp

2. Đắp. - Đắp là nâng cao trình mặt đất tự nhiên đến cao trình thiết kế. Ví dụ lắp đất bờ

đê, đắp nền đường…

- Thể tích đất đắp thường được quy ước mang dấu âm (V-)

10

3. San - San là làm phẳng một diện tích mặt đất, bao gồm cả đào đất và đắp đất. Ví dụ

san mặt bằng của một sân vận động hay của một khu vui chơi, thể thao…

4. Bóc - Bóc là lấy một lớp đất (không sử dụng) trên mặt đất tự nhiên như lớp đất mùn,

đất ô nhiễm…đi nơi khác. Bóc là đào đất nhưng không theo một độ cao nhất định mà phụ thuộc vào độ dày của lớp đất lấy đi.

5. Lấp - Lấp là làm cho chỗ đất trũng cao bằng khu vực xung quanh. Lấp là đắp nhưng độ dày lớp đất đắp phụ thuộc vào cao trình của mặt đất tự nhiên của khu vực xung

quanh.

6. Đầm - Đầm là truyền xuống đất những tải trọng có chu kỳ nhằm ép đẩy không khí,

nước trong đất ra ngoài, làm tăng độ chặt, tăng mật độ hạt trong 1 đơn vị thể tích, tạo

ra một kết cấu mới cho đất.

1.3. Tính chất kỹ thuật của đất.

1.3.1. Khái niệm.

Đất là vật thể rất phức tạp về nhiều phương diện, có rất nhiều tính chất (cơ, lý,

hóa…) đã được nói đến trong Cơ học đất. Trong giới hạn chương trình ta chỉ đề cập đến một số tính chất của đất ảnh hưởng nhiều đến kỹ thuật thi công đất. 1.3.1. Trọng lượng riêng của đất. * Định nghĩa.

Trọng lượng riêng (TLR) là trọng lượng của một đơn vị thể tích đất, ký

hiệu là .

* Công thức xác định

 =

(T/m3, kg/cm3…)

G: là trọng lượng của mẫu đất thí nghiệm (T, kg…) V: thể tích của mẫu đất thí nghiệm (m3, cm3 …) Tính chất Trọng lượng riêng của đất thể hiện sự đặc chắc của đất. Đất có TLR càng

lớn thì càng khó thi công, công lao động chi phí để thi công càng cao.

1.3.2. Độ ẩm của đất * Định nghĩa

Độ ẩm của đất là tỷ lệ phần trăm (%) của trọng lượng nước chứa trong đất trên

trọng lượng hạt của đất, ký hiệu là W.

* Công thức xác định

11

W = x 100 (%)

Hay W = x 100 (%)

Gnước: Là trọng lượng nước chứa trong mẫu đất thí nghiệm.

Gw: Là trọng lượng tự nhiên của mẫu đất thí nghiệm.

Gkhô: Là trọng lượng khô của mẫu đất thí nghiệm.

* Tính chất

- Độ ẩm ảnh hưởng đến công lao động làm đất rất lớn. Đất ướt quá hay khô quá

đều làm cho thi công khó khăn.

- Độ ẩm của đất ảnh hưởng rất lớn công tác thi công đất. Đối với mỗi loại đất, có

một độ ẩm thích hợp cho thi công đất.

- Căn cứ vào độ ẩm người ta chia đất ra ba loại:

- Đất khô có độ ẩm W < 5%

- Đất ẩm có độ ẩm 5%≤ W ≤ 30%

- Đất ướt có độ ẩm W > 30%.

- Theo kinh nghiệm có thể xác định gần đúng trạng thái ẩm của đất bằng cách

bốc đất lên tay nắm chặt lại rồi buông ra, nến:

+ Đất rời ra là đất khô.

+ Đất giữ được hình dạng nhưng tay không ướt là đất ẩm (đất dẻo).

+ Đất dích bết vào tay hay làm tay ướt là đất ướt.

1.3.3. Độ tơi xốp. * Định nghĩa

Độ tơi xốp là tính chất thay đổi thể tích của đất trước và sau khi đào, ký hiệu là

.

* Công thức xác định

= x (100%)

V0: thể tích đất nguyên thể

V: thể tích của đất sau khi đào lên.

* Tính chất.

- Có hai hệ số tơi xốp:

0: là độ tơi xốp của đất mà khi đào lên chưa đầm nén.

0 =

+ Độ tơi xốp ban đầu

e: là độ tơi xốp của đất mà khi đào lên đất đã được đầm

+ Độ tơi xốp cuối cùng

nén chặt.

12

e =

Trong đó: Vcđ, Vđ, Vng.thể là thể tích đất đào lên chưa đầm, đã đầm, nguyên thổ. - Đất càng rắn chắc thì độ tơi xốp càng lớn do đó thi công càng khó khăn.

- Đất xốp rỗng, độ tơi xốp nhỏ, có trường hợp độ tơi xốp có giá trị âm.

1.3.4. Độ dốc tự nhiên của mái đất.

* Định nghĩa

Độ dốc tự nhiên của mái đất là góc lớn nhất của mái đất khi đào hay khi đắp mà

không gây sụt lở đất, ký hiệu là i.

Hình 1-2. Độ dốc tự nhiên của mái đất

a) Mái dốc đất đổ đống; b) Phần đất hay gây sụt lở mái đất thẳng; c)Tính toán độ

dốc

i=tg=

Trong đó:

: Góc của mặt trượt

H: chiều sâu hố đào

B: Chiều rộng chân mái dốc

Ngược lại với độ dốc, ta có độ soải mái dốc hay hệ số mái dốc:

m= =cotg

* Tính chất

- Độ dốc tự nhiên của đất phụ thuộc vào:

13

+ Góc ma sát trong của đất.

+ Độ dính của những hạt đất.

+ Tải trọng tác dụng lên mặt đất.

M2>m1 hay 2<1

+ Chiều sâu của hố đào. Càng đào sâu càng rễ gây sụt lở, vì trọng lượng lớp đất

ở trên mặt trượt càng lớn càng lớn.

- Độ dốc tự nhiên của đất ảnh hưởng rất lớn đến biện pháp thi công đào, đắp đất.

Biết được độ dốc tự nhiên của đất ta mới đề ra biện pháp thi công phù hợp và có hiệu

quả và an toàn.

- Khi đào đất những hố tạm thời như các hố móng công trình, các rãnh đường

ống…thì độ dốc mái đất không được lớn hơn độ dốc lớn nhất cho phép của bảng sau :

Độ dốc cho phép (i) Loại đất H=1,5m H=3m H=5m

Đất đắp 1:0,6 1:1 1:1,25

Đắp cát 1:0,5 1:1 1:1

Cát pha 1:0,75 1:0,67 1:0,85

Đất thịt 1:0 1:0,5 1:0,75

Đất sét 1:0 1:0,25 1:0,5

Sét khô 1:0 1:0,5 1:0,5

1.3.5. Lưu tốc cho phép * Định nghĩa :

Lưu tốc cho phép là tốc độ tối đa của dòng chảy mà không gây sói lở đất.

* Tính chất

- Đất có lưu tốc cho phép càng lớn thì khả năng chống sói mòn càng cao.

- Đối với các công trình bằng đất tiếp xúc trực tiếp với dòng chảy như đập, kênh,

mương…ta cần phải quan tâm đến lưu tốc cho phép. Đối với nền công trình cần quan

tâm đến tính chất này để có những biện pháp phòng chống sự cuốn trôi của đất khi có

dòng chảy chảy qua.

- Muốn chống xói lở thì lưu tốc dòng chảy không lớn hơn một giá trị mà tại đó các hạt đất bắt đầu bị cuốn theo dòng chảy. Mỗi một loại đất khác nhau sẽ có một lưu tốc cho phép khác nhau, sau đây là lưu tốc cho phép của một số loại đất :

+ Đất cát có độ lưu tốc cho phép Vcp=0,45-0,8 (m/s)

+ Đất thịt chắc có độ lưu tốc cho phép Vcp = 0,8-1,8 (m/s)

+ Đất đá có độ lưu tốc cho phép Vcp = 2,0-3,5 (m/s)

- Khi thi công các công trình gặp dòng chảy có lưu tốc lớn hơn lưu tốc cho phép ta phải tìm cách giảm lưu tốc dòng chảy để bảo vệ công trình hoặc không cho dòng chảy tác dụng trực tiếp lên công trình.

14

1.4. Phân cấp đất.

1.4.1. Cấp đất - Cấp đất là mức phân loại dựa trên mức độ khó hay dễ khi thi công hay là mức

độ hao phí công lao động nhiều hay ít. Cấp đất càng cao càng khó thi công hay hao phí công lao động càng nhiều.

- Trong thi công việc xác định cấp đất là rất quan trọng. Mỗi một loại cấp đất

ứng với một loại dụng cụ hay máy thi công, do đó việc xác định cấp ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất thi công và hiệu quả kinh tế của công trình.

1.4.2. Phân loại cấp đất.

1. Phân loại cấp đất theo phương pháp thi công thủ công

Cấp đất Tên đất Công cụ tiêu chuẩn để xác định

I - Đất phù sa, cát bồi, đất hoàng Dùng xẻng, xe cải tiến, đạp bình

thường đã ngập xẻng, hoặc ấn mạnh tay xúc được. thổ, đất sụt lở… - Đất á sét, á cát, đất nguyên

thổ có lẫn rễ cây…

- Đất cát, đất mùn có lẫn sỏi

đá…

II - Đất sét, đất sét pha cát ngậm Dùng mai xắn được hoặc dùng cuốc

nước nhưng chưa thành bùn, bàn cuốc được.

đất mầu mền, đất mặn sườn

đồi có nhiều cỏ cây sim… - Đất mặn sườn đồi có ít sỏi,

đất sét pha sỏi non…

III - Đất sét, đất nâu cuốc ra được Dùng cuốc bàn cuốc chối tay, dùng

nhiều cục nhỏ, đất mặt đê, mặt cuốc chim to lưỡi hoặc nhỏ lưỡi

đường cũ, đất mặt sườn đồi có nặng đến 2,5 kg để đào.

lẫn sỏi đá...

- Đất đồi lẫn từng lớp sỏi đá,

đất mặt đường, đá dăm hoặc đường đất rãi mảnh sành, gạch

vụn…

IV - Đất lẫn đá tảng, đất mặt Dùng cuốc chim nhỏ lưỡi nặng

đường nhựa hỏng, đất lẫn đá

>2,5kg hoặc xà beng, choòng mới đào được. bọt…

- Đất sỏi đỏ rắn chắc…

2. Phân loại cấp đất theo phương pháp thi công cơ giới.

Dựa vào sức tiêu hao năng lực của máy hoặc theo năng suất của máy đào gàu đơn, ta

chia thành bốn cấp sau:

15

Cấp đất Tên đất

I Đất bùn không lẫn rễ cây, đất trồng trọt, hoàng thổ có độ ẩm thiên

nhiên. Đất cát pha sét, đất cát các loại, cát lẫn sỏi cuội, các loại

cuội có đường kính hạt <80mm

II

Đất bùn có rễ cây, đất trồng trọt có lẫn sỏi đá . Đất thịt quách. Đất sét pha cát các loại hoặc sét lẫn sỏi cuội. Các loại các loại cuội có đường kính hạt > 80mm.

III Đất sét chắc nặng, đất sét có lẫn nhiều sỏi cuội. Các mùn rác xây

dựng đã kết dính.

IV Đất sét rắn chắc. Hoàng thổ rắn chắc. Thạch cao mềm. Các loại

đất đá đã được làm tơi lên.

B. Nội dung thảo luận - Đề tài thảo luận:

1. Những tính chất kỹ thuật của đất ảnh hưởng đến công tác thi công đất?

2. Phân cấp đất trong xây dựng cơ bản (mục đích, ý nghĩa, phân cấp theo thi công thủ

công, thi công cơ giới)?

- Yêu cầu mỗi nhóm đóng 2 quyển A4 (1 nộp GV, 1 dùng báo cáo) gồm: Trang bìa

(Tiêu đề, tên nhóm, đề bài, tên sinh viên và giáo viên), Mục lục và Nội dung.

II. CHƯƠNG 2. TÍNH TOÁN KHỐI LƯỢNG CÔNG TÁC ĐẤT

II.1. Mục tiêu, nhiệm vụ - Mục tiêu: cung cấp các kiến thức và kỹ năng về xác định kích thước công trình đất và

nguyên tắc tính toán khối lượng công tác đất.

- Tóm tắt nội dung: Chương hai lần lượt nghiên cứu mục đích, nguyên tắc tính toán và

tính toán khối lượng các công tác đất.

II.2. Các nội dung cụ thể A. Nội dung lý thuyết

2.1. Mục đích

- Trong thiết kế: tính được khối lượng

công tác đất mới tính được dự toán các công trình liên quan đến công tác đất, tính được số công hoặc số ca máy cần thiết để hoàn thành công việc và tính được giá thành thi công.

- Trong thi công: xác định khối lượng công tác đất để biết được khối lượng công

Hình 2-1. Ví dụ xác định kích thước công trình đất việc, từ đó đơn vị thi công tiến hành phân tích lựa chọn biện pháp, thiết bị thi công cho phù hợp, đạt hiệu quả cao nhất.

16

- Việc xác định kích thước công trình bằng đất mang một ý nghĩa rất lớn. Việc

xác định kích thước nếu bị sai lệch sẽ dẫn đến kết quả tính toán sai khối lượng công

tác đất, làm ảnh hưởng đến kết quả tính toán dự toán công trình, dấn đến sai lệch trong

tổ chức thi công, làm cho việc thi công công trình kém hiệu quả.

2.2. Nguyên tắc tính toán

- Dựa vào công thức hình học khi công trình có dạng khối đơn giản rõ ràng.

- Phân chia công trình có hình dạng phức tạp thành những khối hình học đơn

giản và áp dụng các công thức hình học đã có .

- Khi công trình có hình dạng quá phức tạp không thể phân chia thành các khối hình học đơn giản thì tiến hành phân chia công trình thành những khối hình học gần

đúng để tính toán.

- Đối với những công trình bằng đất thì kích thước tính toán khối lượng đất đúng

bằng kích thước công trình.

- Đối với những công trình dùng để phục vụ thi công những công trình khác như

hố móng, rãnh đặt đường ống … khối lượng công tác đất phụ thuộc vào biện pháp thi công.

2.3. Tính toán khối lượng công tác đất

2.3.1. Các dạng hình khối thường gặp. Các công trình bằng đất có dạng hình khối thường gặp

là: hố móng, khối

đất đắp.

Để tính thể tích một hố móng như hình vẽ ta chia

hố móng thành những hình khối nhỏ. Cách chia như

sau :

- Ta chia hình khối thành nhiều hình khối nhỏ, Hình 2-2. Tính khối lượng đất mỗi hình khối có hình dáng giống với các hình học đã hình khối có công thức tính cụ thể :

- Từ bốn đỉnh của đáy nhỏ A,B,C,D dựng bốn đường vuông góc lên đáy lớn cắt

đáy lớn lần lượt tại A’, B’, C’, D’, .

- Qua A,B,C,D và A’, B’, C’, D’, ta lần lượt dựng bốn mặt phẳng thẳng đứng: (AB, A’ B’), (CD, C’D’), (AD, A’D’),(BC, B’C’). các mặt phẳng này chia hình

khối thành 9 hình khối nhỏ như hình 2 – 2.

Thể tích của khối đất được xác định theo công thức sau:

V= V1 + 2 V2 + 2 V3 + 4 V4

Trong đó:

V1 = a.b.H ; V2 =

17

V3 = ; V4 =

Thay các giá trị Vi và (1), qua các bước biến đổi ta có :

V =

2.3.2. Tính khối lượng công tác đất những công trình chạy dài

1. Khái niệm Những công trình đất chạy dài là những công

trình có kích thước thứ 3 lơn hơn hai kích thước còn lại rất nhiều như nền đường, đê, đâp, bờ kênh.

Những công trình này thường có mặt cắt ngang Hình 2-3. Sơ đồ xác định thay đổi theo địa hình. khối lượng công tác đất

2. Phương pháp tính. công trình chạy dài

a.Nguyên tắc chung - Chia công trình thành những đoạn nhỏ có thể tích Vi . Do mặt đất tự nhiên không bằng phẳng, nên chiều cao công trình luôn thay đổi. Vì vậy để tính khối lượng

đất một cách chính xác, ta chia công trình thành những đoạn mà chiều cao cho những

đoạn đó thay đổi không đáng kể (Hình 2- 4).

- Tính thể tích trong mỗi đoạn Vi

- Khối lượng thể tích đất công trình được tính theo công thức : V =

b. Công thức tính toán

V i = li

V i = Ftb li

Trong đó : F1 : Diện tích tiết diện mặt trước

F2 : Diện tích tiết diện mặt sau

Ftb : Diện tích tiết diện trung bình là diện tích tại tiết diện có chiều cao htb

htb =

li : Chiều dài của đoạn công trình

b. Các công thức tính tiết diện ngang a) Trường hợp mặt đất nằm ngang và bằng phẳng:

Tiết diện ngang ở đây được xác định theo công thức:

F = h( ) với B tính như sau đây: B = b+2.m.h. Do đó, công thức trên được xác

định là:

18

F = h(b + m.h)

b) Trường hợp mặt đất dốc nghiêng và phẳng:

Tiết diện ngang ở đây được xác định theo công thức sau:

F = b. + m.h .h

Nếu ta có các mái dốc khác nhau (như m và m ) thì ta sẽ thay giá trị số m vào công

thức trên với m = .

- Chiều rộng B của tiết diện ngang hố đào được tính như sau:

B=

Nếu h và h chênh lệch nhau không nhiều lắm (chừng 50cm) thì ta dùng công thức

đơn giản để xác định B là:

B = b + m h +m h

c) Trường hợp mặt đất dốc nhưng không phẳng (đường gãy khúc) ta dùng công thức

sau:

F= h ( ) + h ( ) + h ( ) + h ( )

B. Nội dung thảo luận

- Đề tài thảo luận:

1. Cách xác định kích thước công đất, nguyên tắc tính toán khối lượng công tác đất?

2. Tính toán khối lượng công trình có dạng hình khối ( hố móng, đống đất…)?

3. Tính khối lượng công trình đất chạy dài?

- Yêu cầu mỗi nhóm đóng 2 quyển A4 (1 nộp GV, 1 dùng báo cáo) gồm: Trang bìa (Tiêu đề, tên nhóm, đề bài, tên sinh viên và giáo viên), Mục lục và Nội dung.

III. CHƯƠNG 3. CÔNG TÁC CHUẨN BỊ VÀ PHỤC VỤ THI CÔNG PHẦN

NGẦM CÔNG TRÌNH

- Tóm tắt nội dung: Ở chương ba nghiên cứu công tác chuẩn bị và phục vụ thi công: Giải phóng mặt bằng, tiêu nước lộ thiên, hạ mực nước ngầm và cắm trục định vị, giác

III.1. Mục tiêu, nhiệm vụ - Mục tiêu: cung cấp những kiến thức cho sinh viên về công tác chuẩn bị thi công phần ngầm công trình.

móng công trình.

III.2. Các nội dung cụ thể A. Nội dung lý thuyết

3.1. Công tác chuẩn bị mặt bằng thi công. Công việc chuẩn bị để thi công đất gồm :

- Giải phóng và thu gọn mặt bằng.

19

- Tiêu nước bề mặt

3.1.1 Giải phóng mặt bằng

Giải phóng mặt bằng bao gồm: Đền bù di dân, chặt cây, phá dỡ các công trình cũ

nếu có, di chuyển các hệ thống kỹ thuật ( điện nước, thông tin…), mồ mả ra khỏi khu vực xây dựng công trình, phá đá mồ côi trên mặt bằng nếu cần, xử lý thảm thực vật

thấp, dọn các chướng ngại vật tạo thuận tiện cho thi công.

1. Đánh các bụi cây rậm, cây cối. - Bằng phương pháp thủ công: dùng dao, dựa, cưa, để đánh bụi rậm cây cối.

- Bằng phương pháp cơ giới: Dùng máy ủi, máy kéo, tời để phát hoang bụi rậm,

hay đánh ngả cây cối.

2. Di dời mồ mả. - Phải thông báo cho người có mồ mả biết để di dời. Khi di dời phải theo đúng

phong tục và vệ sinh môi trường

3. Phá dỡ công trình cũ - Khi phá vỡ các công trình xây dựng cũ phải có thiết phá dỡ, đảm bảo an toàn và

tận thu vật liệu tái sử dụng được. Thời điểm phá dỡ phải được tính toán cụ thể để có

thể sử dụng các công trình này làm lán trại phục vụ thi công.

- Những công trình kỹ thuật như điện, nước khi tháo dỡ phải đảm bảo đúng các

quy định di chuyển

3.1.2.Tiêu nước bề mặt cho khu vực thi công

1. Ý nghĩa của việc tiêu nước bề mặt cho khu vực thi công

- Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có lượng mưa trung bình hàng năm

rất lớn, do vậy việc tiêu nước và hạ mực nước ngầm cho công trình là rất cần thiết.

- Có những công trình nằm trong vùng đất trũng, nên mỗi khi có mưa lớn thường

bị ngập nước. Nước ứ đọng gây nhiều cản trở cho viện thi công đào, đắp đất.

- Tiêu nước bề mặt để hạn chế không cho nước chảy vào hố móng, giảm bớt các

khó khăn cho quá trình thi công đất.

2. Các phương pháp tiêu nước mặt công trình

Hình 3-1. Tạo rãnh thoát nước mặt. - Để bảo vệ những công trình khỏi bị nước mưa tràn vào, ta đào những rãnh ngăn

nước mưa về phía đất cao và chạy dọc theo các công trình

đất hoặc đào rãnh xung quanh công trường để có thể tiêu thoát nước một cách nhanh chóng (hình 3-1). Nước chảy xuống rãnh thoát nước được dẫn xuống hệ thống cống

20

thoát gần nhất. Kích thước rãnh ngăn nước phụ thuộc vào bề mặt lưu vực và được xác

định theo tính toán.

- Để tiêu nước mặt cho các hố móng đã đào xong do gặp mưa hay do nước ngầm,

ta tạo các rãnh xung quanh hố móng với độ dốc nhất định tập trung về các hố thu, rồi

đặt máy bơm để tiêu nước. Đối với những hố móng có kích thước lớn thì ta có thể bố trí nhiều hố thu gom tại các góc của hố móng (hình 3-2).

3.2. Hạ mực nước ngầm

3.2.1. Mục đích

Hình 3-2. Hệ thống thoát nước mặt cho hố móng. 1.

Khi đào hố móng hoặc thi công các công trình nằm sâu trong lòng đất mà đáy hố móng hoặc công trình nằm Rãnh; 2. Hố ga gom

dưới mực nước ngầm, nước ngầm chảy vào hố móng hoặc nước; 3. ống bơm; 4. Máy

công trình gây cản trở cho các quá trình thi công hoặc sụt bơm

lở vách đất…Cần thiết kế biện pháp hạ mực nước ngầm (hình 3 - 3)

Hình 3-3. Nước ngầm trong hố móng và hạ mực nước ngầm

Hạ mực nước ngầm là làm cho mực nước ngầm hạ thấp cục bộ ở một vị trí nào

đó, bằng các phương pháp nhân tạo, đào giếng sâu trong tầng chứa nước và hạ thấp

mực nước trong đó bằng cách bơm liên tục tạo nên hình phễu trũng. Một giếng chỉ làm

khô được một phạm vi hẹp nhất định nào đó, muốn làm khô một vùng thì xung quanh

khu vực đất đó phải làm hệ thống giếng và từ các giếng nước được bơm liên tục.

Hiện nay để hạ mực nước ngầm có ba loại thiết bị chủ yếu:

- Ống giếng lọc với bơm hút sâu

- Thiết bị kim lọc hạ mực nước nông

- Thiết bị kim lọc hạ mực nước sâu

3.2.2. Các phương pháp hạ mực nước ngầm 1. Phương pháp giếng lọc với máy bơm hút sâu a. Cấu tạo

- Giếng lọc với máy bơm hút sâu: Là bộ thiết bị gồm các bộ phận: ống giếng lọc, tổ máy bơm đặt trong mỗi giếng, ống tập trung nước, trạm bơm và ống xả nước. Máy bơm phổ biến dùng loại máy bơm trục đứng.

- Ống giếng lọc: Là ống bằng thép có đường kính 200 – 450mm, phía dưới có

nhiều khe nhỏ để hút nước gọi là phần lọc. Phần lọc có cấu tạo như hình vẽ. Chiều dài phần lọc tùy theo địa chất có thể kéo dài từ 6 – 15m.

21

- Máy bơm trục đứng được đặt sâu trong ống giếng, để quay máy bơm là động

cơ. Hiện nay phổ biến là dùng loại máy bơm trục đứng có nhóm bánh xe công tác đặt

ở thân máy và bắt chặt vào trục đứng chung với ống hút có lưới ở đầu dưới.

b. Nguyên lý

Nước ngầm sau khi theo các khe nhỏ của ống giếng lọc chảy vào trong ống sẽ

được máy bơm trục đứng liên tục hút lên trên.

c. Kỹ thuật hạ giếng:

- Nếu đất thuộc loại cát pha sét hay cát, hay loại đất dễ bị xói lở thì áp dụng biện

pháp xói bằng tia nước để hạ ống. Khi đó ở đầu dưới ống lắp thêm một mũi ống để phun ra những tia nước áp lực và nối ống đó với một ống dẫn nước cao áp (8 – 16atm).

Nước phun ra từ mũi ống sẽ phá vỡ kết cấu đất và ống giếng tự hút tụt dần xuống đến

độ sâu thiết kế thì vặn ống dẫn nước cao áp ra và lấy lên.

- Nếu đất rắn chắc thì phải khoan lỗ để đặt ống giếng. Sau khi hạ xong ống giếng

thì lắp máy bơm vào trong ống giếng.

- Khi hạ ống trong đất lẫn sỏi, sau khi sói nước cát lẫn sỏi sẽ lấp khoảng trống

xung quanh ống, tạo ra màng lọc tự nhiên.

- Trường hợp đất thiếu những thành phần tạo ra màng lọc tự nhiên, muốn làm

tăng bề mặt hút nước, tăng khả năng làm việc của giếng, ta tự tạo ra xung quanh giếng

một màng lọc cát sỏi bằng cách đổ các hạt có đường kính từ 3 – 10 mm xung quanh

ống giếng theo một ống bao. Ống bao này rộng hơn ống giếng từ 80 – 100 mm. Đổ

sỏi ngay sau khi hạ xong ống xuống độ sâu quy định, rồi bơm nước áp lực nhỏ để có

thể dễ dàng rút ống bao lên.

Hình 3-4. Giếng lọc máy bơm hút sâu

a) Cấu tạo: 1. Ống giếng; 2. Máy bơm trục đứng; 3. Lớp dây thép

4. Lưới lọc; 5. Lớp cát lọc; 6. Thành giếng.

b) Hạ giếng bằng bằng phương pháp xói nước 1. Ống giếng; 2. Phần lọc; 3. Ống dẫn nước cao áp

4. Mũi ống

22

d.Ưu và nhược điểm của phương pháp

* Ưu điểm

- Hiệu suất cao, năng suất lớn.

- Có thể nâng nước lên cao ( 80 – 100m) nghĩa là có thể hạ mực nước ngầm

xuống sâu.

* Nhược điểm

- Công tác hạ ống phức tạp, tốn nhiều thời gian và chi phí cao.

- Máy bơm chóng hỏng nếu nước hút lên có lẫn cát.

e. Áp dụng

- Khi hạ mực nước ngầm xuống sâu, mà các loại thiết bị khác không đủ khả

năng.

- Khi địa chất phức tạp (đất nứt nẻ, đất bùn, đất sét, sét pha cát xen kẽ với những

lớp cát) những trường hợp này phải đổ nhiều loại vật liệu thấm nước xung quanh ống

lọc.

- Khi hố móng rộng, lượng nước thấm lớn.

- Khi thời gian làm việc trong hố móng kéo dài.

2. Phương pháp dùng ống kim lọc hút nông a. Cấu tạo( hình 3.5)

Hệ thống kim lọc gồm 3 phần

:Đoạn ống trên, đoạn ống lọc và đoạn

cuối.

- Đoạn ống trên : Là ống thép hút

dẫn nước, được nối lại với nhau từ

nhiều đoạn ống có đường kính 50 – 68

mm, số đoạn ống này còn tùy thuộc độ

sâu cần đặt đoạn lọc.Đoạn ống trên

được nối với máy hút hay bơm đấy cao

áp.

- Đoạn lọc: gồm hai ống thép

lồng nhau.

Hình 3-5. Cấu tạo ống kim lọc + Ống trong : Không đục lỗ, được nối với ống trên.

+ Ống ngoài : Được đục lỗ và có đường kính lớn hơn đường kính ống trong một ít.

+Bên ngoài : Được cuốn dây thép và được bao bởi lưới lọc.

- Đoạn cuối : Gồm có van vành khuyên, van cầu và bộ phận xói đất.

b. Nguyên lý * Hạ ống kim lọc

- Đặt thẳng đứng để đầu ống kim lọc đúng vào van thiết kế.

23

- Dùng búa gõ nhẹ để phần đầu cắm vào trong đất.

- Bơm cho nước cao áp vào trong ống lọc. Dưới áp suất lớn nước được nén vào

trong kim lọc, đẩy van vành khuyên đóng lại và nén van cầu mở ra. Nước phun ra

ngoài theo các lỗ răng nhọn.

- Các tia nước phun ra với áp suất cao làm xói lở đất ở đầu kim lọc và đẩy chúng lên mặt đất. Dưới trọng lượng bản thân kim lọc từ từ chìm vào trong lòng đất. Đến độ

sâu thiết kế thì dừng bơm nước kết thúc giai đoạn hạ bơm lọc .

* Hoạt động hút nước ngầm của ống kim lọc

- Chèn vào xung quanh phần lọc một lớp sỏi và cát hạt to để tạo thêm lớp lọc. Chèn một lớp đất sét trên miệng lỗ để giữ không cho không khí lọc vào trong ống kim

lọc.

- Cho bơm hút hoạt động dưới tác dụng của chân không, van cầu bị hút đóng lại.

Nước ngầm ở ngoài thấm qua lưới lọc vào trong ống ngoài đẩy van vành khuyên mở ra, chảy vào ống trong và được hút lên.

* Sơ đồ bố trí ống kim lọc.

- Sơ đồ kết hợp hai tầng hạ nông.

Hệ thống ống kim lọc có thể hạ mực nước ngầm tử 4 – 5 m, để hạ sâu hơn ta kết

hợp nhiều tầng kim lọc xuống thấp dần.

- Sơ đồ bố trí đối với mặt bằng hẹp: Bố trí một hàng ống kim lọc chạy dọc công

trình.

- Sơ đồ bố trí đối với mặt bằng rộng: Bố trí hệ thoóng kim lọc xung quanh hố

móng.

- Lưu lượng nước của hệ thống nếu bố trí theo

chuỗi:

(3.1)

- Lưu lượng nước của hệ thống nếu bố trí theo

vòng:

Hình 3-6. Sơ đồ kết hợp hai tầng kim lọc

(3.2) hạ nông 1. Mực nước ngầm trước khi hạ

2. Mực nước ngầm sau khi hạ

3. Hệ thống kim lọc

24

Hình 3-7. Sơ đồ bố trí hệ thống ống kim lọc; a) Bố trí theo vòng khép kín; b) Bố trí theo chuỗi;

1. Ống kim lọc; 2. Ống gom nước; 3. Máy bơm, 4.

Mực nước ngầm trước khi hạ; 5. Mực nước ngầm

sau khi hạ

3. Phương pháp dùng ống kim lọc hút sâu a. Cấu tạo

- Ống kim lọc hút sâu có cấu tạo khác với kim loại hút nông là đường kính to hơn, phần

thân ống và phần lọc dài hơn, trong ống lọc có

thêm một ống thứ hai mang miệng phun nhằm

Hình 3-8. Ống kim lọc hút sâu

đưa nước lên cao. Cấu tạo ống kim lọc hút sâu

như hình 3 – 8.

b. Nguyên lý

- Đầu tiên hạ ống lọc ngoài (ống 1), có

phần lọc và phần chân ống xuống . Ống kim lọc

hút sâu

đất bằng phương pháp xói nước tương tự

như khi hạ ống kim lọc hút nông.

- Sau đó thả vào trong ống (1) 1 ống nhỏ

hơn (ống 2) mang miệng phun (3) ở phần dưới.

- Máy bơm đẩy nước cao áp với áp suất 7,5 – 8 át vào ống kim lọc, nước chảy trong khoảng

chống giữa hai ống (1) và (2) rồi đến miệng

Hình 3-9. Sơ đồ làm việc của hệ

thống ống kim lọc sâu

phun. Tia nước chảy qua các lỗ nhỏ của miệng phun và phun lên với một lưu tốc rất lớn, làm giảm áp suất không khí trong khoảng không gian phí dưới của ống trong, hút theo nước ngầm dưới đất lên cao.

25

- Hỗn hợp nước ngầm và nước ban đầu được hút lên được chảy vào một hệ thống

ống dẫn để bể chứa nước. Máy bơm lại lấy nước trong bể này để bơm vào máy kim lọc

làm nước mồi. Nước thừa trong bể sẽ được bơm dẫn đi nơi khác.

- Đối với nhưng nơi đất cát, đất cát lẫn sỏi thì không cần đổ màng lọc xung quanh

ống kim loại hút sâu. Nhưng khi dùng ở những nơi đất sét pha cát, đất ít thấm thì phải đổ màng lọc xung quanh ống.

c. Phạm vi áp dùng

- Dùng để hạ mực nước ngầm xuống sâu, khi mà ống kim lọc hút nông không hạ

được.

- Dùng ống kim lọc hút sâu có thể hạ mực nước ngầm xuống đến độ sâu 18m. Tuy

nhiên không nên dùng thiết bị này để hạ mực nước ngầm xuống quá sâu vì phải cần

một lượng nước mồi quá lớn.

- Trong trường hợp nguồn nước thấm lớn (trên 5 lít/giây cho một ống kim lọc ) và thời gian hạ mức nước ngầm khá dài thi nên áp dụng phương pháp ống giếng lọc có máy bơm hút sâu, vì nó có hiệu suất cao hơn phương pháp ống kim lọc hút sâu.

3.3. Định vị công trình và giác móng công trình

3.3.1. Định vị công trình. - Trước khi định vị và giác

móng công trình phải nghiên cứu

kỹ bản vẽ định vị công trình đã

được phê duyệt, nhận bàn giao mốc

đất ở hiện trường, nhận bàn giao mốc chuẩn và cốt chuẩn. Mốc

chuẩn là mốc công trình. Cốt chuẩn

có thể là cốt tương ứng với cao độ Hình 3-10. Hệ cọc định vị

quốc gia hoặc cốt tại tại một điểm nào đó của công trình cũ. a) Cọc gỗ b) Cọc thép 1. Định vị tim; 2. Rãnh định vị tim 3. Cọc gỗ 40X40X1000; 4. - Từ cọc mốc chuẩn, cao trình Cọc thép  20 5. Bêtông giữ cọc

chuẩn (được bên mời thầu bàn giao), dựa trên bản vẽ thiết kế mặt bằng định vị, triển khai các trục của công trình theo

hai phương bằng máy trắc đạt, thước thép, nivô, quả dọi, dây thép  1 (hình 3 - 10).

- Mỗi một trục được xác định bởi hai cọc (hay nhiều cọc tùy theo mặt bằng công trình). Các cọc định vị này được bố trí tại những vị trí sao cho dễ nhìn thấy, không ảnh hưởng đến công tác thi công và được bảo vệ cẩn thận trong suốt quá trình thi công.

- Các cọc định vị có thể làm bằng gỗ với tiết diện 40x40x100 hay được làm bằng

cọc thép  20.

26

- Khi cắm trục định vị dùng hệ cọc đơn như trên có ưu điểm là ít gây cản trở trong

quá trình thi công, dễ bảo quản. Tuy nhiên việc dùng hệ cọc đơn có nhược điểm là

trong quá trình định vị tim trục của công trình, việc đóng cọc xuống đất (để vạch tim)

rất khó chính xác, thường nếu không để ý khi đóng xong cọc thì được tim của công

trình không còn lằm trên đầu cọc nữa (vì cọc đã bị đóng lệch). Để tránh hiện tượng

này trong quá trình đóng phải thường xuyên kiểm tra bằng máy kinh vĩ.

- Ngoài hệ thống cọc đơn, ta còn dùng giá ngựa để đánh dấu tim, trục định vị

(hình 3 - 11).

Giá ngựa đơn: Gồm hai cột và một tấm ván được bào nhẵn, thẳng đóng ngang vào

phía sau cột, để khi căng dây ván không bị lôi bật khỏi cột. Cũng có

thể đóng nằm ván trên hai đầu

cột.

Giá ngựa kép: Hệ thống gồm

nhiều giá ngựa đơn ghép lại với

nhau. Để đánh dấu tim trục công Hình 3-11. Hệ thống giá ngựa a) Giá ngựa có ván ngang liên kết trên đầu cọc, b) Giá ngựa có ván ngang liên kết trình ta dùng chì vạch trên ván trên thân cọc,1. Cọc; 2. Thanh ngang; ngang rồi dùng đinh đóng để làm

dấu và dùng để căng dây sau này. 3. Đinh làm dấu tim; 4. Đinh liên kết; 5. Bêtông giữ chân cọc - Khi dùng giá ngựa để đánh

dấu một tim, trục công trình thì độ dài ván ngang (khoảng cách giữa hai cột) là 1 = 0,4

– 0,6m

- Khi dùng giá ngựa để đánh

dấu nhiều tim, trục công trình thì độ

dài ván ngang phụ thụôc vào

khoảng cách giữa hai tim (trục)

biên.

- Hệ thống giá ngựa khắc phục được nhược điểm của cọc đơn, việc định vị công trình rất dễ dàng và chính xác. Tuy nhiên nếu dùng hệ thống Gavari lớn (dài) để định vị

hết công trình sẽ gây cản trở trong

Hình 3-12. Hệ thống giá ngựa để định vị

giao thông phục vụ thi công. Chính vì vậy mà tùy theo địa hình mà công trình.

1. Mặt bằng công trình; 2. Giá ngựa; 3.

chọn hệ thống giá ngựa hoặc kết hợp cả hai sao cho hợp lý. Đinh; 4. Dây căng

- Đối với những công trình xây

27

chen: Trong trường hợp này mặt bằng thi công không cho phép ta cắm cọc hay giá

ngựa để làm dấu tim trục công trình ở những cạnh giáp với công trình lân cận. Do đó

mốc công trình được gửi trực tiếp lên công trình lân cận. Dấu mốc tim, trục công trình

phải được sơn rõ ràng tại vị trí dễ quan sát, dễ bảo quản.

3.3.2. Giác móng công trình - Dựa vào các bản vẽ thiết kế móng, tính chất của đất để xác định kích thước hố

đào.

- Từ các trục định vị triển khai các đường tim móng.

- Từ đường tim phát triển ra bốn đỉnh của hố đào.

- Dùng vôi bột dải theo chu vi của hố đào.

- Tại mỗi hố đào, hay nhiều hố gần nhau phải có một cao độ chuẩn để tiện kiểm

tra cao trình hố móng.

B. Nội dung thảo luận - Đề tài thảo luận: so sánh 2 phương pháp hạ mực nước ngầm bằng ống kim lọc

hút nông và hút sâu?

đề, tên nhóm, đề bài, tên sinh viên và giáo viên), mục lục và nội dung.

- Yêu cầu mỗi nhóm đóng 2 quyển A4 (1 nộp GV, 1 dùng báo cáo) gồm: Trang bìa (tiêu

IV. CHƯƠNG 4. KỸ THUẬT THI CÔNG ĐÀO ĐẤT

IV.1. Mục tiêu, nhiệm vụ - Mục tiêu: cung cấp cho sinh viên các kiến thức về thi công đất thủ công và thi công

đất bằng máy.

- Tóm tắt nội dung: Chương bốn lần lượt nghiên cứu: dụng cụ và nguyên tắc tổ chức

thi công thủ công, thi công đào đất ở nơi có bùn, cát chảy, Thi công đào đất bằng máy

đào một gầu, đào đất bằng máy ủi, đào đất bằng máy cạp.

IV.2. Các nội dung cụ thể A. Nội dung lý thuyết

4.1. Thi công đất bằng phương pháp thủ công.

Thi công đất thủ công là phương pháp thi công truyền thống. Dụng cụ dùng để làm đất là dụng cụ cổ truyền như xẻng, cuốc chim, kéo cắt đất, xà beng, cuốc chim,

v.v…Để vận chuyển đất, người ta dùng quang gánh, xe rùa, xe bò…

4.1.1. Các nguyên tắc thi công

1. Nguyên tắc 1 Lựa chọn dụng cụ thi công thích hợp tùy theo từng loại đất

2. Nguyên tắc 2 Phải có biện pháp giảm thiểu khó khăn cho thi công

3. Nguyên tắc 3 Tổ chức thi công hợp lý

28

Phải phân công các tổ đội theo các tuyến làm việc, tránh tập trung nhân công tại

một vị trí. Tổ chức vận chuyển phải hợp lý, thông thường thí hướng đào đất và hướng

vận chuyển thẳng góc với nhau hoặc ngược chiều nhau.

4.1.2.Thi công đào đất trong một số trường hợp.

Hình 4-1. Đào hố khi có nước ngầm hay trong trời mưa

I, II, III: Rãnh tiêu nước; 1, 2, 3, 4 : Thứ tự lớp đào

- Hố đào sâu: thì chia ra làm nhiều đợt,

chiều dày đào đất mỗi lượt tương ứng với dụng

cụ thi công. Có thể mỗi đợt do một tổ đào, các

tổ đào cách nhau sao cho mái dốc của hố đào

nhỏ hơn độ dốc tự nhiên của đất. Tổ đào đất

cuối cùng đi đến đâu thì công việc cũng hoàn

tất, không còn người, phương tiện đi lại làm

phá vỡ cấu trúc của đất. Hình 4-2. Đào đất nơi có bùn, cát + Đào đất ở khu vực có nước hoặc trong

mùa mưa: để đề phòng nước chảy tràn trên mặt chảy; 1. Cọc tre (hay cọc gỗ); 2. Phên nứa; 3. Rơm… công trình, ta cần tạo rãnh sâu thu nước vào một

chỗ để bơm thoát đi. Rãnh thu nước luôn thực hiện trước một đợt đào.

+ Đào đất gặp cát chảy, bùn chảy: phải làm hố có tầng lọc ngược để gạn lấy nước

trong rồi mới bơm nước đi. Không được bơm nước trực tiếp có cát. Nếu bơm trực tiếp

nước có cát sẽ làm rỗng đất, phá hỏng cấu trúc đất nguyên ở xung quanh, gây hư hỏng

các công trình lân cận. Đối với hố đào rộng, có bùn chảy, phải làm hàng cọc chống,

lót phên và rơm để ngăn không cho cát chảy xuống phía dưới. Nếu đào sâu thì cần làm

theo dạng bậc thang.

4.1.3. Chống vách đất hố đào

1. Mục đích Cần phải chống vách đất hố đào khi đào hố với vách thẳng đứng. Việc đào hố với

vách thẳng đứng thường gặp trong những trường hợp sau:

- Đào theo độ dốc tự nhiên để tránh hiện tượng sụt lở mái dốc hố đào sẽ làm tăng

khối lượng đào cũng như dẫn đến tăng giá thành công trình nên phải đào vách thẳng đứng.

- Địa hình không cho phép đào hố có mái dốc vì có những công trình xung quanh

(thường gặp trong các công trình xây chen).

29

- Tuy nhiên khi đào với độ sâu không lớn, đất có độ dính kết tốt, đất bị nén chặt

theo thời gian ta có thể đào vách thẳng đứng mà không cần phải chống vách đất. Ứng với mỗi loại đất khác nhau, chiều sâu hố đào cho phép đất thẳng đứng htđ được tính

theo công thức 3.3 hay tra bảng như sau:

(3.3)

Trong đó:

 (kg/cm3, T/m3): Trọng lượng riêng của đất

 (độ): Góc ma sát trong của đất c (kg/cm3, T/m3): Lực dính đơn vị của đất q (kg, T): Tải trọng đè lên mặt đất

k Hệ số an toàn: (k = 1,5 – 2,5)

Loại đất Htd (m)

- Đất cát, đất lẫn sỏi ≤ 1

- Đất á cát, á sét ≤ 1,25

- Đất sét, đất thịt ≤ 1,5

- Các loại đất rắn chắc (Đất sét, đất thịt) ≤ 2

- Khi chiều sâu đào đất vượt quá các quy định cho phép hoặc mức nước ngầm cao

hơn đáy hồ đào, trường hợp này nếu không chống vách đất thì mái đất dễ bị sụt lở, gây

khó khăn trong thi công cũng như gây nguy hiểm cho người và thiết bị thi công.

2. Các biện pháp chống vách đất hố đào thẳng đứng(hố đào nông)

a. Chống vách đất bằng ván ngang

Chuẩn bị và thi công

- Chuẩn bị ván lát dài hơn khoảng cách

giữa hai thanh chống một khoảng tối thiểu

50mm.

- Khi đào đến độ sâu 0,5m – 1m bắt đầu

đặt ván chống.

- Tiến hành chống đỡ bằng cách ép sát các tấm ván song song với mặt đất vào các mặt

của hố đào rồi dùng các thanh chống đứng đỡ ở phía ngoài ván, dùng các thanh néo (khi mặt bằng phía trên rộng dãi), thanh Hình 4-3. Chống chéo hỗ trợ chống

đứng văng ngang (nếu hố đào hẹp) hay thanh chống xiên (nếu hố đào rộng) để đỡ hệ ván

30

và chống đứng. Chú ý tấm ván trên cùng phải đặt cao hơn mặt đất một khoảng 5 – 10

cm để ngăn không cho đất, đá trên mặt đất rơi xuống hố móng.

- Sau đó cứ được một thân ván lại hạ tiếp ván xuống, đồng thời hạ cột chống theo.

- Ván thường dùng chiều dày thông dụng của côppha. Thanh chống thường là gỗ 60x80. Tải trọng tác dụng lên mặt ván là áp lực chủ động của đất ở độ sâu nhất lên

tấm ván dưới cùng. Tấm ván tính như với dầm đơn giản có chiều dài dầm là khoảng cách giữa hai thanh chống, chiều rộng dầm là chiều rộng tấm ván, chiều cao dầm là

chiều dày ván.

Hình 4-4. PP néo gia cố thành hố tạo Hình 4-5. Chống vách đất

thông thoáng MB thi công đáy hố đào bằng ván lát ngang – Hố đào hẹp

Phạm vi áp dụng Khi đào hố ở những loại đất có độ dính kết nhỏ, không có nước ngầm hoặc có

nước ngầm rất ít. Chiều sâu hố

đào từ 2 – 4m.

b. Chống vách đất bằng

ván lát dọc

Chuẩn bị và thi công - Ván tấm được vát nhọn 1

đầu.

- Tiến hành đào đất đến độ

sâu thiết kế

- Dùng ván dọc đóng dọc Hình 4.6. Chống vách đất bằng ván lát đứng a) Dùng chống xiên ; b) Dùng thanh néo theo chu vi cần đào hố

- Dùng nẹp ngang liên kết các tấm ván lại với nhau.

- Dùng các thanh chống đứng để dỡ các nẹp ngang

- Dùng thanh chống ngang thanh néo hay văng ngang đỡ các thanh đứng.

Phạm vi áp dụng: Khi đào hố ở những loại đất có độ kết dính nhỏ, rời rạc, đất ẩm ướt hoặc đất chảy,

chiều sâu hố đào từ 2  4m.

4.2. Thi công đất bằng cơ giới

4.2.1. Đào đất bằng máy đào một gầu

31

1. Đào đất bằng máy đào gàu thuận

a. Các thông số kỹ thuật - RI = Rmin: Là bán kính nhỏ nhất mà máy có thể thực hiện được tại một vị trí

đứng tương ứng với chiều cao đào đất H1.

- RII: Là bán kính đào đất ở cao trình máy đứng, chiều cao tương ứng là H2 = 0.

- RIII = Rmax: Là bán kính đào đất lớn nhất mà máy có thể thực hiện được tại vị trí

đứng tương ứng với chiều cao đào đất HIII.

- RIV: Là bán kính đào đất lớn nhất mà máy có thể thực hiện được tại cao trình

đứng HIV = Hmax

- rI: Là bán kính đổ đất tương ứng với chiều cao đất đổ lớn nhất h1= hmax mà máy

thực hiện được tại vị trí đứng.

- r2 = rmax: Là bán kính đổ đất lớn nhất mà máy có thể thực hiện được tại vị trí

đứng tương ứng là h2.

Ghi chú:

- Các kích thước đều tính từ trục quay của máy đào

- Bán kính đào đất tính đến lưỡi dao của gàu đào. Bán kính đổ đất tính đến trọng

tâm gàu.

- Chiều cao đào đất tính từ mặt đất lên đến lưỡi dao, còn chiều cao đổ đất tính đến

điểm thấp nhất của đáy gàu khi mở nắp.

Hình 4.7. Các thông số kỹ thuật của máy đào gầu thuận

b. Các kiểu đào của máy đào gàu thuận.

Đào dọc. - Là cách đào mà máy đào tuần tự di chuyển dọc theo chiều dài của hố đào, hướng

đào trùng hoặc song song với trực tuyến đào.

- Đào dọc được áp dụng cho những hố đào chạy dài như kênh mương, lòng

đường.

- Có hai kiểu đào dọc bằng máy đào gàu thuận. * Đào dọc đổ bên: Xe vận chuyển đất đứng ngang với máy đào và chạy song

song với đường di chuyển của máy đào. Áp dụng khi khoang đào rộng đủ chỗ bố trí xe vận chuyển.

32

- Máy đào và ôtô vận chuyển có thể ở cùng cao trình hoặc máy đào có thể đứng

thấp hơn ôtô vận chuyển một ít.

- Theo cách đào này và ôtô vận chuyển đất làm việc dễ dàng. Có thể sử dụng mọi

loại xe tải to hay nhỏ để vận chuyển đất.

- Theo cách đào này máy đào chỉ thực hiện vòng quay để đổ đất do đó năng

suất đào tăng.

Hình 4.8. Đào dọc đổ bên

( Máy đào đứng thấp hơn ôtô vận chuyển)

* Đào dọc đổ sau: Ôtô vận chuyển đứng ở phía sau

máy đào

- Cách đào này áp dụng khi đào những hố hẹp, chỉ có

một đường cụt dẫn đến chỗ đào, trong hố ôtô vận chuyển

khó xoay sở.

- Để vào lấy đất ôtô phải chạy lùi trong khoang

- Để đổ đất được vào trong ôtô vận chuyển máy đào

phải quay cần vòng quay, nên thời gian đổ đất tăng dẫn

đến giảm năng suất máy đào.

- Áp dụng khi chiều rộng khoang đào B < 1,5Rmax Hình 4.9. Đào dọc đổ sau (=1,5RIII)

Đào ngang - Hướng đào vuông góc với trục tiến của máy. Khi khoang đào rộng thì mới bố trí

đào ngang

- Theo cách đào này đường vận chuyển đất có thể ngắn hơn.

- Chiều rộng hố đáo B lớn hơn 2,5 Rmax

33

Hình 4.10. Đào ngang

1: Hướng di chuyển của ôtô vận chuyển đất

I: Hướng di chuyển của máy đào

* Chú ý: + Trong khi đào cần lưu ý sửa lối di chuyển của máy và tạo đường vận chuyển để

nâng cao năng suất công tác.

+ Khi kết hợp với xe vận chuyển đất cần chú ý, xe vận chuyển cần chứa được

khoảng 3-4 gầu để tăng năng suất. Nếu dung tích xe vận chuyển quá lớn hoặc quá nhỏ

sẽ gây hạn chế máy đào.

Hình 4.11. Các kiểu đào theo bề rộng hố móng

+ Nếu hố đào khá sâu và rộng thì phải cho máy đào thành nhiều bậc, trong phạm

vi tiết diện hố đào thiết kế sao cho số tuyến đào nhỏ nhất, sao cho một đường

vận chuyển đất phục vụ được cả ba tuyến đào và sao cho lượng đất sót lại sau khi

đào là nhỏ nhất.

c. Ưu nhược điểm của máy đào gàu

thuận

Hình 4.12. Đào hố móng sâu và rộng 1: Các khoang đào được đánh số thứ tự từ Ưu điểm - Máy đào gàu thuận có tay cần gắn I XI; 2: Đất còn sót lại sau khi đào và xúc thuận nên đào rất khỏe có thể đào

34

được những hố đào sâu và rộng với cấp đất từ cấp I – IV.

- Máy đào gàu thuận thích hợp dùng để đổ đất lên xe chuyển đi. Kết hợp với xe

chuyển đất nên bố trí quan hệ giữa dung tích gàu và dung tích thùng xe hợp lý sẽ cho

năng suất cao, tránh rơi vãi lãng phí.

- Nếu bố trí khoang đào thích hợp thì máy đào gàu thuận có năng suất cao nhất

trong các loại máy đào một gàu.

Nhược điểm

- Khi đào đất máy đào phải đứng dưới khoang đào để thao tác, vì vậy mà máy đào

gàu thuận chỉ làm việc tốt ở những hố đào khô ráo không có nước ngầm.

- Tốn công và chi phí làm đường cho máy và phương tiện vận chuyển lên xuống

khoang đào.

2. Đào đất bằng máy đào gàu nghịch

max - RII = Rmax: Bán kính đào đất lớn nhất với chiều cao tương ứng là HII = 0

a. Các thông số kỹ thuật (hình 4 - 13) - R1: Bán kính đổ đất với chiều cao tương ứng là H1 mỗi máy sẽ có Rđổ

- Rmax: Bán kính đào đất nhỏ nhất ứng với cao trình đào HII = 0 - HII = Hmax: Chiều sâu đào đất lớn nhất máy có thể thực hiện được

Hình 4-13. Các thông số kỹ thuật của máy đào gàu nghịch

b. Các kiểu đào của máy đào gàu nghịch Đào dọc

Máy đứng bên bờ hố đào, dịch chuyển

lùi theo trục của hố đào

Đào ngang

- Máy đứng bên bờ hố đào, dịch

chuyển song song với trục của hố đào

- Áp dụng đào những hố đào có chiều

rộng lớn

c. Ưu nhược điểm của máy đào gàu

Hình 4-14. Các kiểu đào của máy đào gàu nghịch; a) : Đào dọc, b) :Đào ngang. nghịch

35

Ưu điểm

- Máy đào gàu nghịch cũng có tay cần ngắn nên đào rất khỏe, có thể đào được cấp

đất từ cấp I – IV.

- Cũng như máy đào gàu thuận, máy đào gàu nghịch thích hợp để đào và đổ đất

lên xe chuyển đi hoặc đổ đống.

- Máy có cơ cấu ngọn nhẹ nên thích hợp để đào các hố đào ở những nơi chật hẹp,

các hố đào có vách thẳng đứng thích hợp để thi công đào hố móng các công trình dân dụng và công nghiệp.

- Do đứng bên bờ hố đào để thi công nên máy có thể đào được các hố đào có nước và không phải tốn công làm đường lên xuống khoang đào cho máy và phương tiện vận

chuyển.

Nhược điểm

- Khi đào đất máy đào đứng bên bờ hố đào để thao tác, vì vậy cần quan tâm đến

khoảng cách tứ mép máy đến mép hố đào để đam bảo ổn định cho máy.

- Năng suất thấp hơn năng suất máy đào gàu thuận có cùng dung tích gàu

- Chỉ thi công có hiệu quả với những hố đào nông và hẹp, với các hố đào rộng và

sâu, dùng máy đào gàu nghịch không thích hợp, năng suất thấp.

3. Đào đất bằng máy đào gàu dây.

a. Các thông số kỹ thuật (hình 4 - 15)

Hình 4-15. Thông số kỹ thuật của máy đào gầu dây

- R1: Bán kính găng gàu lớn nhất

- RII : Bán kính đổ đất - H1: Chiều sâu lớn nhất mà máy đào được ở vị trí máy đứng

- HII : Chiều cao đổ đất lớn nhất

Khi đào dọc máy dịch chuyển từ C – C1 với bước dịch chuyển là a thí có thể đào

sâu đến H’1

36

b. Các kiểu đào của máy đào gàu dây - Gàu dây có hai cách đào cơ bản là

đào dọc và đào ngang

- Khi tiết diện ngang của hố đào lớn, ta

bố trí cách đào theo nhiều rãnh.

c. Ưu nhược điêm của máy đào gàu

dây

Ưu điểm:

- Do có tay cần dài, lại có khả năng

văng gàu di xa nên thích hợp cho việc thi

công các hố đào sâu và rộng. Thường ứng Hình 4-16. Các kiểu đào của máy đào dụng để thi công các loại móng sâu, nạo vét gầu dây; a) Đào dọc; b) Đào ngang. kênh mương, lòng sông…

- Máy đào gàu dây có thể thi công các loại đất mềm, tới đất cấp II

- Do đứng trên bờ hồ đào để thi công nên có thể thi công được ở những nới có

nước, không tốn công làm đường lên xuống khoang đào cho máy và phương tiện vận

chuyển.

- Thích hợp cho thi công đổ đống.

Nhược điểm

- Khi đào đất máy đào đứng trên bờ hố đào để khai thác, vì vậy cần quan tâm đến

khoảng cách từ mép máy đến mép hố đào để đảm bảo ổn định cho máy.

- Khi phạm vi đào đất vượt quá khả năng của tay cần, phải thực hiện quăng gàu,

chu kỳ công tác tăng, năng suất giảm. Chỉ thực hiện sự quăng gàu khi thực sự cần

thiết.

- Năng suất đào và đổ lên phương tiện vận chuyển thấp hơn các loại máy đào gàu

thuận và gàu nghịch có cùng dung tích gàu do tốn công điều khiển gàu đổ đúng vị trí.

3. Năng suất của máy đào một gàu

a. Năng suất lý thuyết

(4.1)

Trong đó:

+ q (m3): dung tích gàu + Ks: Hệ số đầy vơi

+ po: Hệ số tới xốp ban đầu của đất + T (s): Chu kỳ đào đất trong một đơn vị thời gian

T = t1 + t2 + t3+ t4 (s)

t1: Thời gian đào đất đầy gàu (t1 = const)

t2: Thời gian quay máy tới vị trí đổ

37

t3: Thời gian đổ đất (t1 = const)

t4: Thời gian quay máy về vị trí đào mới

b. Năng suất thực tế của máy đào

NTT = NLTZ ktg (m3/ca)

Trong đó:

NLT: Năng suất lý thuyết Z: Số giờ làm việc trong một ca (Z = 7 – 8 giờ)

ktg: Hệ số sử dụng thời gian (ktg = 0,8 – 0,85)

4.2.2. Thi công đất bằng máy ủi

1. Đặc điểm - Các loại máy ủi thông dụng hiện nay gồm: Komatsu, Caterpillar, Liebherr …có công suất động cơ thường từ 50 đến 300 mã lực, ben ủi được điều khiển bằng thủy lực.

Ben ủi thường có kích thước từ 2280mm đến 5500mm, có thể nâng lên hạ xuống, thay đổi góc nghiêng so với mặt phẳng san ủi hoặc thay đổi góc nghiêng so với trục máy

(hình 4 - 18).

Hình 4-17. Trạng thái của ben máy ủi

- Các ứng dụng của máy ủi:

+ Dùng máy ủi để đào hố, rãnh với chiều sâu không quá lớn phù hợp với hố đào

nông, rộng và dài.

+ Có thể dùng máy ủi để đắp nền đất với chiều cao cần đắp từ 1 – 1,5m

+ Sử dụng máy ủi để san lắp mặt bằng, bóc các lớp đất không sử dụng.

+ Đào gốc, phá đá, sửa sang đường, hoặc làm máy kéo, hỗ trợ lực đẩy cho máy

cạp…

- Máy ủi làm việc thích hợp với các loại đất cấp I, II, III nếu làm việc với loại đất

cấp IV cần phải làm tơi trước khi ủi. Khoảng cách vận chuyển thích hợp của máy ủi từ 25 – 100m, khoảng cách hợp lý nhất trong khoảng 50m.

2. Các sơ đồ vận hành

a. Sơ đồ đi thẳng về lùi (hình 4 - 18) - Máy ủi chạy thẳng để đào đất, vận chuyển đến nơi đổ sau đó trở về vị trí đào

bằng cách chạy giật lùi.

- Khi đào và vận chuyển trong khoảng 10 – 50m để đổ hay lấp các hố, hoặc các vũng sâu thì nên áp dụng sơ đồ này. Hay nói cách khác áp dụng sơ đồ này khi khoảng cách đào và vận chuyển không lớn, yêu cầu tập trung đất về một phía của công trình.

38

Hỡnh 4-18. Sơ đồ đi thẳng về lùi

b. Sơ đồ đi thẳng về quay (hình 4 - 19) - Máy ủi chạy thẳng để đào và vận chuyển đất đến

nơi đổ sau đó quay đầu lại tiếp tục ủi về hướng ban đầu.

- Áp dụng khi tiến hành san ủi mặt bằng, khi

khoảng cách đào và vận chuyển lớn, ứng dụng để đào và

vận chuyển đất về cả hai phía của công trình.

c. Sơ đồ đào thẳng đổ bên (hình 4 - 20) - Máy ủi đất chạy dọc đến nơi đổ rồi quay sang bên Hình 4-19. Sơ đồ đi thẳng về quay

để đổ đất. Sau đó chạy giật lùi hoặc quay đầu trở về.

- Sơ đồ này thường áp dụng khi san lấp kênh mương hay hố móng công trình hoặc

các hố có hình thức chạy dài.

Hình 4-20. Sơ đồ đào đổ bên

d. Sơ đồ số tám (hình 4 - 21) - Máy ủi đào, vận chuyển đất đến nơi đổ (hay đắp) theo lộ trình hình số tám, theo

sơ đồ này máy ủi chỉ tiến không lùi.

- Sơ đồ này thích hợp khi đường vận chuyển lớn hơn 50m và nơi đắp (hay đổ)

giữa hai nơi đào hay ngược lại.

Hình 4-21. Sơ đồ số tám

39

3. Năng suất của máy ủi

a. Năng suất lý thuyết

Trong đó:

- 3600: Hệ số quy đổi giờ thành giây

- Ki: Hệ số tận dụng độ dốc - Kr: Hệ số rơi vãi

- TCK: Chu kỳ công tác

(s)

+ Ld, Lvc (m): Quãng đường đào đất, vận chuyển đất

+ Vd, Vvc (m/s): Vậm tốc khi máy đào và vận chuyển đất + Vo (m/s): vận tốc khi máy chạy lùi.

+ to (s): Thời gian quay, cài số, nâng hạ bàn gạt - q (m3): Thể tích đống đất trước ben ủi

+ L(m):Chiều dài ben ủi.

+ H(m): Chiều cao đống đất trước ben ủi.

+ K : hệ số kể đến hình dạng của đống đất trước ben ủi.

b. Năng suất thực tế của máy đào

NTT = NLTZktg (m3/ca)

Trong đó:

NLT: Năng suất lí thuyết

Z: Số giờ làm việc trọng một ca (Z = 78h)

ktg: Hệ số sử dụng thời gian (k1 = 0,8  0,85)

4. Các biện pháp tăng năng suất của máy ủi

a. Chọn sơ đồ di chuyển hợp lý.

b. Giảm cản lực. - Lợi dụng địa hình cho máy đi xuống dốc

khi ủi.

- Chọn chiều dày lớp đất cắt hợp lí.

- Trong nhiều trường hợp phải làm tơi,

làm ẩm đất.

c. Hạn chế sự rơi vãi của đất ra ngoài

be ủi.

Biện pháp đào rãnh

40

Cho máy đào thành từng rãnh liền nhau, mỗi rãnh có chiều rộng bằng chiều rộng

Hình 4-22. Biện pháp đào của ben ủi, sâu 0,61m, cách nhau từ 0,40,6m. Sau đó cho máy chạy nghiêng khoảng 300 với rãnh vừa ủi để gạt nốt phần bờ còn sót lại. Biện pháp này làm giảm lượng đất rơi vãi kiểu rãnh

nhưng làm tăng cản lực tác dụng lên máy trong quá trình ủi.

Biện pháp ghép máyGhép hai hay nhiều

máy chạy song song với nhau (đi ngang nhau

hoặc so le nhau) cách nhau những khoảng từ 30 – 50cm. Áp dụng biện pháp này khi mặt

bằng thi công rộng rãi và năng lực thi công Hình 4-23. Biện pháp ghép của đơn vị thi công cho phép sử dụng nhiều máy máy.

a) Ghép song song; b) Ghép Tuy nhiên khi quãng đường vận chuyển quá dài thì biện pháp này cũng không so le thực sự hiệu quả vì khi đó đất vẫn rơi vãi nhiều ra khỏi ben ủi.

Ủi dồn đống

Hình 4-24. Biện pháp ủi đống

Khi quãng đường ủi và vận chuyển đất quá dài, không thể chạy máy ủi một lượt

vì khi đó đất sẽ rơi vãi ra ngoài benb ủi, hiệu quả không cao. Khi đó cho máy ủi dồn

đống theo từng đoạn, sau đó tiếp tục ủi các đống đi. Khoảng cách ủi hiệu quả của máy

ủi là từ 30  60m tùy thuộc từng loại máy ủi.

Lắp thêm hai cánh vào ben ủi.

Lắp thêm hai cánh vào ben ủi để tránh vương vãi làm tăng lượng chứa trước ben

ủi.

4.2.3. Thi công đất bằng máy cạp. 1. Đặc điểm - phân loại

a. Đặc điểm - Máy cạp hay còn đựơc gọi là máy xúc chuyển là loại máy làm đất cơ bản, nó có

thể đào, vận chuyển, rải đất và san phẳng địa hình trong quá trình làm việc.

41

- Có thể sử dụng đào hố móng khi chiều sâu hố móng không lớn nhưng chạy dài

theo tuyến.

- Máy có thể làm việc tới loại đất cấp III, tuy nhiên khi đất quá cứng nên làm ẩm,

làm tơi hoặc hỗ trợ lực đẩy cho máy.

- Máy cạp không leo được những dốc lớn, nên chỉ đào được những hố nông. Hoạt

động kém năng suất ở những nơi có địa hình mấp mô (h>±0,50,6m), đất lẫn đá to,

cây cối…hoặc đất quá dính.

- Các loại máy cạp thường có dung tích thùng cạp từ 1,525m3, trường hợp đặc biệt, dung tích của máy có thể còn lớn hơn nhiều. Để sử dụng có hiệu quả máy cạp,

ngoài việc phụ thuộc vào địa hình, mặt bằng cũng như tổng khối lượng đào hoặc đắp, cần lựa chọn máy cạp có dung tích thùng phù hợp với chiều dài quãng đường vận

chuyển:

- Đối với Lt/b = 300m -> dung tích thùng cạp: q = 3m3 - Đối với Lt/b = 400m -500m -> dung tích thùng cạp: q = 6-8m3 - Đối với Lt/b ≥ 500m -> dung tích thùng cạp: q > 10m3

Cự li hoạt động hiệu quả của máy cạp từ 500m  5000m.

b. Phân loại máy cạp

Theo dung tích thùng cạp. - Loại nhỏ, có dung tích thùng cạp từ 1.5 4m3 - Loại trung bình, có dung tích thùng cạp từ 5  12m3 - Loại lớn, có dung tích thùng cạp từ 15  18m3

Theo khả năng di chuyển - Tự hành

- Bán tự hành

- Loại có rơ mooc kéo theo.

Theo cách thức nâng hạ thùng cạp Điều khiển bằng thủy lực, điều khiển bằng cáp.

Hình 4-25. Máy cạp tự hành

2. Kỹ thuật thi công bằng máy cạp.

a. Các giai đoạn làm việc của máy cạp Quá trình làm việc của máy cạp trải qua 4 giai đoạn:

42

- Giai đoạn cắt đất tích đầy thùng: Lưỡi dao thùng cạp cắm sâu xuống đất từ

0.12m đến 0.32m tùy thuộc đất rắn hay mềm và khả năng của máy. Máy di chuyển

chậm.

- Giai đoạn vận chuyển đất: Máy cạp vận chuyển đất tới vị trí đổ. Giai đoạn này

máy di chuyển nhanh hơn nhiều so với giai đoạn cắt đất.

- Giai đoạn dỡ tải: Máy cạp đổ đất hoặc rải đất, máy đi giật lùi.

- Giai đoạn quay về vị trí đào: Máy di chuyển về vị trí đào với vận tốc nhanh.

Chiều dài quãng đường cạp đất đầy thùng:

(4,5) Lđảo =

Trong đó: q(m3 ) – dung tích thùng cạp; b(m) – chiều rộng lưỡi dao thùng cạp; h(m) – chiều dày lớp đất cắt; Ks – hệ số chứa cho theo bảng tra phụ thuộc vào loại đất;

po – hệ số tơi xốp ban đầu.

Chiều dài đoạn đường rải đất:

(4,6) Lđổ =

Trong đó: h2 (m) – chiều dày lớp đất rải.

b. Hình dáng nhát cắt và sơ đồ di chuyển của máy cạp

Hình dáng nhát cắt Tùy theo độ dính và tính chất của

đất, ta có các hình dáng nhát cắt như hình 4 – 22.

Ta có: h1 > h2 > h3; l1 < l2 < l3

Việc cắt đất theo đúng hình dáng

nhát cắt như trên còn tùy thuộc vào tay

nghề cũng như kinh nghiệm của người vận hành máy

Hình 4-26. Các hình dáng nhát cắt của máy cạp; 1. Cắt theo hình tam giác; 2. Cắt theo hình răng cưa; 3. Cắt theo hình than Các sơ đồ di chuyển - Sơ đồ hình elíp

Hình 4-27. Sơ đồ di chuyển

a) Hình elíp; b) Sơ đồ di chuyển hình bình hành.

Là sơ đồ vòng kín, nhược điểm của sơ đò này là trong suốt quá trình làm việc

máy chỉ hướng theo một phương và lên dốc đột ngột khi đào đất đầy thùng và di chuyển để đổ đất.

43

Để giảm độ dốc khi vận chuyển đất có thể bố trí cho máy chạy theo sơ đồ hình

elíp lệch (sơ đồ hình bình hành 4-28). Với sơ đồ này đường nên xuống sẽ không thẳng

góc với trục của kênh đào nên tránh được sự lên dốc quá cao có hại cho máy.

- Sơ đồ hình số tám

Hình 4-28. Sơ đồ di chuyển hình số tám

1. Cạp đất; 2. Vận chuyển; 3. Rải đất; 4. Trở về vị trí đào

Là sơ đồ kết hợp của hai sơ đồ hình elíp hoặc elíp nghiêng áp dụng khi diện tích

mặt bằng rộng rãi, khối lượng đào đắp lớn. Một chu kỳ làm việc theo sơ đồ này gồm 2

lần cạp đất và 2 lần đổ đất. Khi máy hoạt động theo sơ đồ này, vòng quay luôn thay đổi lên làm cho người lái đỡ mỏi mệt và máy cũng đỡ bị mòn lệch về một phía.

- Sơ đồ zichzăc (hình 4-30)

Hình 4-29. Sơ đồ di chuyển hình díc dắc

Các máy cạp nối đuôi nhau chạy dọc công trình,vừa đào vừa đổ đất. Áp dụng sơ

đồ này trong những công trình đất chạy dài.

- Sơ đồ hình con thoi

Hình 4-30. Sơ đồ di chuyển hình con thoi Một chu kỳ đào đất theo sơ đồ gồm 2 lần đào đất và hai lần đổ đất. Áp dụng sơ đồ này khi bóc lớp thực vật trên lền công trình đem đổ đi nơi khác hay đào đất trên mặt kênh, hố móng rộng.

Ngoài những sơ đồ nêu trên, do yêu cầu tính chất công việc có thể áp dụng sơ đồ

số tam kết hợp với sơ đồ ziczăc hoặc sơ đồ số tám dẹt.

3. Năng suất của máy cạp a. Năng suất lý thuyết

Nlt = qKs0(m/h)

Trong đó :

44

3600 : Hệ số quy đổi giờ thành giây. q (m3) : Dung tích thùng chứa. Ks : Hệ số đầy vơi.

0 : Hệ số tơi xốp ban đầu của đất.

T(s) : Chu kỳ làm việc

Tck =

l1, l2, l3, l4 (m) : Quãng đường cạp đất, vận chuyển, rải đất, quay về vị trí.

V1, V2, V3, V4(m/s) : Vận tốc tương ứng khi máy cạp đất, vận chuyển, rải đất,

quay về vị trí đào.

t0: Thời gian thao tác quay máy, nâng, hạ gầu, sang số (s)

b. Năng suất thực tế

Ntt = Nlt.Z.Ktg(m3/ca)

Trong đó :

NKT : Năng suất kỹ thuật.

Z : Số giờ làm việc trong một ca (Z= 78h).

Ktg : Hệ số sử dụng thời gian (Kt= 0,80,85).

4. Các biện pháp tăng năng suất của máy cạp Giảm cản lực nền đất tác dụng lên máy để làm tăng tốc độ di chuyển khi cắt đất,

như vậy sẽ giảm chu kỳ công tác, bằng cách:

- Lợi dụng địa hình cho máy đi xuống dốc.

- Làm ẩm, làm tơi đất khi đất quá khô và cứng.

- Hỗ trợ lực đẩy cho máy cạp.

- Chọn sơ đồ cắt đất hợp lý để giảm cản lực.

Cho máy làm việc với hđào lớn nhất có thể: Như vậy đoạn đường đào đất sẽ giảm,

chu kỳ công tác giảm, năng suất tăng.

Lựu chọn sơ đồ di chuyển hợp lý

Chọn máy cạp có dung tích thùng chứa phải phù hợp với đoạn đường vận

chuyển: Vận chuyển xa thì dùng máy có dung tích lớn và ngược lại. Máy kéo có công suất lớn có thể kéo cùng lúc nhiều thùng cạp

Thường xuyên sửa chữa đường di chuyển của máy: Để tăng vận tốc di chuyển,

giảm chu kỳ công tác.

Ngoài ra, muốn tăng năng suất máy cạp, cần tăng hệ số tận dụng thời gian và

tăng tối đa số giờ làm việc trong ca.

B. Nội dung thảo luận 1. Buổi 1 - Đề tài thảo luận: trình bầy và so sánh giữa đào đất bằng máy đào gầu thuận và .

Đào đất bằng máy đào gầu nghịch?

45

đề, tên nhóm, đề bài, tên sinh viên và giáo viên), mục lục và nội dung.

- Yêu cầu mỗi nhóm đóng 2 quyển A4 (1 nộp GV, 1 dùng báo cáo) gồm: Trang bìa (tiêu

2. Buổi 2 - Đề tài thảo luận: : trình bầy và so sánh giữa Thi công đất bằng máy ủi và đào

đất bằng máy cạp.

đề, tên nhóm, đề bài, tên sinh viên và giáo viên), mục lục và nội dung.

- Yêu cầu mỗi nhóm đóng 2 quyển A4 (1 nộp GV, 1 dùng báo cáo) gồm: Trang bìa (tiêu

V. CHƯƠNG 5. THI CÔNG ĐẮP VÀ ĐẦM ĐẤT

V.1. Mục tiêu, nhiệm vụ - Mục tiêu: cung cấp các kiến thức về kỹ thuật thi công đắp và đầm đất.

- Tóm tắt nội dung: Chương năm lần lượt nghiên cứu các yêu cầu về đất đắp, kỹ thuật

đắp đất. Và bản chất của đầm đất, đầm đất bằng thủ công, đầm đất bằng cơ giới và

kiểm tra lượng đất đầm.

V.2. Các nội dung cụ thể

A. Nội dung lý thuyết

5.1. Thi công đắp đất

5.1.1. Những yêu cầu về đất đắp

a. Đất dùng để đắp: Đất dùng để đắp phải đảm bảo về cường độ, độ ổn định lâu dài

và độ lún đồng đều cho công trình.

- Các loại đất thường được dùng để đắp: đất sét, á sét, á cát, đất cát.

b. Đất không nên dùng các loại đất sau để đắp:

- Đất phù sa, cát chảy, đất bùn, đất bụi, đất mùn. Khi gặp ẩm thì các loại đất vừa

nêu giảm khả năng chịu lực đi rất nhiều.

- Đất thịt và đất sét ướt, vì nó khó thoát nước trong quá trình đầm.

- Đất chứa hơn 5% thạch cao, đất thấm muối mặng. Những loại đất này dễ hút

nước và ẩm ướt.

- Đất chứa nhiều rễ cây, rơm rác, đất thực vật (đất trồng trọt) vì nhựng loại này

theo thời gian xác thực vật phân hủy làm độ lún theo thời gian của công trình rất lớn.

Nhiều khi là nguyên nhân lún lệch của một số công trình xây dựng.

5.1.2. Kỹ thuật đắp đất

a. Công tác chuẩn bị

Mặt đất cần đắp phải được dọn sạch cỏ, rễ cây, rác bẩn, cũng như các chất hửu cơ khác. Tiến hành tiêu nước, vét bùn. Trước khi đắp phải sới bề mặt lớp đất củ lên, nếu

quá khô cần tưới ẩm để lớp đất củ và mới liên kết tốt với nhau.

b.Trình tự đắp

- Đất đắp phải đổ thành từng lớp nằm ngang với chiều dày đã tính toán trước. Chỗ

thấp đắp trước (phù hợp cho loại máy thi công và loại đất đắp), chỗ cao đắp sau.

46

- Nếu đất lấy từ nhiều nguồn khác nhau, tức khác loại đất, nên đắp thành từng lớp

khác nhau và đảm bảo thoát nước trong đất tốt. Đất khó thoát nước được đắp bên

dưới, còn đất dể thoát nước được đắp bên trên thì bề mặt mỗi lớp san phẳng ngang

Hình 5.1. Các cách đắp đất

được. Trường hợp ngược lại thì mặt mỗi lớp đất phải có độ dốc từ giữa ra hai bên.

Lấp móng, đường ống phải lấp theo từng lớp đều hai bên để tránh áp lực đất

chủ động sinh ra khi đầm đất từ một phía làm dịch chuyển cấu kiện của công trình.

c. Khống chế chiều cao đất đắp

Khi đắp nền rộng, sân bải phải chia thành từng ô. Tại các gốc ô có các cọc gỗ với

vạch sơn ứng với chiều dầy từng lớp đắp.

Hình 5.2. Bố trí lưới cao độ trong quá trình san lấp

47

Chúng ta dùng máy thuỷ bình chuẩn hay máy kinh vĩ đễ theo dõi quá trình san

lấp.

- Chiều dầy từng lớp đất đắp phải thỏa mãn

các yêu cầu khi đầm nén. Chiều dầy lớp đất đắp và

số lượt đầm nén phải phù hợp với loại máy đầm sử

dụng. Có thể xác định các thông số nêu trên thông

qua các biểu đồ quan hệ giữa số lần đầm và khối lượng thể tích đất sau khi đầm hay biểu đồ quan hệ

số lần đầm – chiều dầy lớp rải – khối lượng thể tích

Hình 5-3. Quan hệ giữa số lần (Hình 5- 3) . Các biểu đồ nêu trên sẽ được vẽ thông qua thí nghiệm. đầm, chiều dầy lớp rải và khối - Không nên dải đất quá dầy hoặc quá mỏng lượng thể tích.

so với bán kính tác dụng của loại đầm sử dụng. Nếu rải quá dầy, các lớp đất phía dưới không nhận được tải trọng đầm sẽ không được

đầm nén tốt. Nếu rải quá mỏng, đầm nhiều lượt cấu trúc đất có thể bị phá hoại.

5.2. Thi công đầm đất.

5.2.1 Bản chất của đầm đất.

Đầm là chuyền xuống đất những tải trọng với chu kỳ dồn dập lên một vị trí để ép

đẩy không khí, nước trong đất ra ngoài, làm tăng độ chặt, tăng mật độ hạt trong một

đơn vị thể tích, tạo ra một kết cấu mới cho đất có cường độ tăng và biến dạng giảm khi

chịu tải trọng so với đất trước khi đầm nén.

* Hiệu quả của công tác đầm hay sự biến dạng dẻo hay sự thay đổi thể tích của

đất, phụ thuộc vào: loại đất, thành phần hạt, độ ẩm của đất khi đầm và các thông số

của tải trọng đầm.

1. Ảnh hưởng của tính chất đất đến hiệu quả công tác đầm. - Đất dính: Thành phần hạt chứa nhiều hạt mịn, diện tích tiếp xúc giữa các hạt lớn,

do đó nội ma sát trong đất lớn, khi đầm nước khó thoát ra ngoài, tốn nhiều công đầm

để đạt được độ đặc chắc theo yêu cầu.

- Đất rời (đất không dính hoặc ít dính): Thành phần hạt chứa nhiều hạt lớn, diện tích tiếp xúc giữa các hạt nhỏ, do đó nội ma sát trong đất nhỏ, khi đầm nước dễ dàng

thoát ra ngoài, tốn ít công đầm để đạt được độ đặc chắc theo yêu cầu.

2. Ảnh hưởng của thành phần hạt đến hiệu quả công tác đầm. - Đất hạt nhỏ: Các hạt đất có kích thước nhỏ nên diện tích tiếp xúc giữa các hạt

lớn, tốn nhiều công để đầm đất đạt được độ đặc chắc theo yêu cầu.

- Đất hạt to: Các hạt đất có kích thước lớn nên diện tích tiếp xúc giữa các hạt nhỏ,

tốn ít công để đầm đất đạt được độ đặc chắc theo yêu cầu.

- Đất có thành phần hạt không đồng đều: Với loại đất này, thực nghiệm cho thấy tốn ít công đầm nhất để đạt được độ đặc chắc theo yêu cầu. Cùng các yếu tố đầm như

48

nhau, dung trọng khô của đất sau cùng thời gian và điều kiện đầm như nhau tăng theo

thứ tự: đất hạt nhỏ - đất hạt thô - đất có thành phần hạt không đồng đều.

3. Sự ảnh hưởng của độ ẩm đến hiệu quả đầm đất - Với đất khô (độ ẩm trong đất thấp): nước trong đất chỉ là một màng ẩm, các hạt đất liên kết với nhau bằng lực phân tử lớn, ma sát của các hạt lớn, do đó để đầm loại đất này phải tốn nhiều công để làm dịch chuyển các hạt đất.

- Với đất ướt, quá ướt (độ ẩm trong đất lớn): nước trong đất quá thừa, chiếm đầy các lỗ rỗng, lúc này áp lực đầm không trực tiếp tác dụng lên các hạt đất mà tác dụng

lên hạt nước, sinh ra các áp lực phụ làm giảm hiệu quả của đầm.

- Nếu đất đủ ẩm, lượng nước trong đất bây giờ đóng vai trò bôi trơn các hạt đất,

làm giảm ma sát giữa các hạt đất, do đó việc đầm nén trở nên dẽ dàng hơn. Mỗi loại

đất có một độ ẩm thích hợp là độ ẩm mà khi đầm chặt theo thiết kế mà tốn ít công đầm

nhất (W0).

- Một số loại đất có độ ẩm thích hợp trong những giới hạn sau:

+ Đất cát hạt to: W0 = 8  10%

+ Đất cát hạt nhỏ và đất cát pha sét: W0 = 12  15%

+ Đất sét pha cát xốp: W0 = 15  18%

+ Đất sét pha cát chắc và đất sét: W0 = 18  25%

Khi tiến hành đầm đất cần tiến hành xác định độ ẩm thích hợp để đảm bảo hiệu

quả tốt nhất cho công tác đầm.

4. Các thông số của tải trọng đầm ảnh hưởng đến hiệu quả công tác đầm. Các thông số của tải trọng đầm là : Trị số tải trọng, tốc độ đầm, thời gian đầm,

tần số đầm. Trị số của các tham số tải trọng theo thực nghiệm khi đầm những đất có độ

ẩm thích hợp được cho trong bảng sau :

Thời gian chịu ứng Phương pháp đầm Ứng suất cực đại (kg/cm2) suất của đất (giây)

Đầm lăn (Đầm lăn nhẵn mặt) 712 0,040,25

Đầm chày 518 0,0080,011

Đầm rung 0,30,9 0,010,03

- Biến dạng của đất xảy ra chậm hơn ứng xuất tăng trong đất, cho lên nếu tốc độ thay đổi ứng xuất nhanh thì biến dạng tổng cộng sẽ nhỏ hơn khi tốc độ thay đổi ứng

suất chậm. Vì vậy nên đầm với tốc độ chậm.

- Không nên dùng tải trọng đầm quá lớn, vì khi đó ứng suất lớn nhất phát sinh

trong đất đầm vượt quá cường độ cực hạn của đất, kết cấu đất bị phá hoại, đất sẽ mất

sức chịu tải. Các trị số cường độ cực hạn đ khi đầm những đất có độ ẩm thích hợp

được cho ở bảng sau :

49

Cường độ cực hạn đ Kg/cm2

Loại đất Đầm chẩy Đầm lăn (đầm = 70  100cm)

+ Đất ít dính (đất cát pha sét nhẹ) 57 68

+ Đất dính trung bình (đất cát pha sét nặng, 710 811

đất cát pha sét nhẹ)

+ Đất khá dính (đất sét pha cát chắc) 1014 1116

+ Đất rất dính 1418 1620

- Không nên dùng đầm quá nhẹ để đầm đất vì khi đó ứng suất phát sinh trong đất

quá nhỏ, tốn nhiều công đầm, hơn nữa, khi đó chiều dầy lớp đất được đầm cũng giảm.

- Tải trọng đầm được tính toán, lựa chọn sao cho ứng suất đầm thích hợp sinh ra

trong đất là :

max= (0,80,9)đ

max : ứng suất đầm lớn nhất trên mặt.

đ : Cường độ cực hạn của đất.

- Đối với một loại đất cụ thể, thời gian đầm đất càng lâu thì đất càng đặc chắc.

Tuy nhiên khi đất đã đạt được độ đặc chắc theo yêu cầu mà vẫn tiếp tục đầm thì không

những tốn công đầm mà cơ cấu nền đất còn bị phá hoại theo thời gian đầm.

5.2.2. Thi công đầm đất bằng thủ công Thường sử dụng các loại đầm gỗ, đầm

gang hoặc thép, đầm bê tông.

1. Đầm làm bằng gỗ (hình 5-4)

- Loại đầm gỗ hai người đầm có trọng

lượng từ 20 25kg, bằng gỗ tốt có đường kính

mặt đáy đầm 0,25 0.3, thân đầm cao khoảng

5060cm, có 4 tay cầm cao 60cm hoặc 4 dây

kéo.

- Loại đầm gỗ 4 người đầm có trọng lượng

từ 6070kg, bằng gỗ tốt, thân đầm cao khoảng

6070cm, đường kính mặt đáy 0,30,35cm, có Hình 5-4. Các loại đầm gỗ

4 cán ngang gắn vào thân đầm.

2. Đầm làm bằng gang (hình 5-5) a), b) Đầm hai người đầm; c) Đầm bốn người đầm.

- Có trọng lượng từ 58kg.

- Dùng cho một người đầm.

- Được sử dụng khi đầm ở các góc nhà, các khe nhỏ mà các loại đầm lớn không

đầm được.

50

3. Đầm bê tông.

Được đúc bằng bê tông có đường kính 0,350,4m cao 0,40,6m, nặng 70140kg,

có 4 thanh ngang dùng cho 48 người đầm.

4. Kỹ thuật đầm - Rải đất thành từng lớp mỏng tùy theo trọng lượng

đầm.

+ Trọng lượng đầm 510kg, lớp đất đổ dày 10cm.

+ Trọng lượng đầm 3040kg, lớp đất đổ dày 15cm.

+ Trọng lượng đầm 6070kg, lớp đất đổ dày 20cm.

+ Trọng lượng đầm 75100kg, lớp đất đổ dày 25cm.

- Trong quá trình rải đất phải vệ sinh đất: Nhặt rễ cây,

các tạp lẫn chất lẫn trong đất.

- Điều chỉnh độ ẩm trong đất để đạt được độ ẩm thích

hợp nhất: đất khô thì phải tưới thêm nước, đất ướt quá phải

làm khô bớt bằng cách xới tơi. Hình 5-5. Đầm gang

- Đầm được nâng lên cao khỏi mặt đất từ 30  40cm

và thả rơi tự do xuống đất. Nhát đầm sau phải đè lên nhát đầm trước một nửa nhát

đầm.

- Chia thành nhiều tổ đội, mỗi tổ đội phụ trách một khu vực đầm.

- Đầm thành nhiều lượt đầm đến khi đạt được độ chặt thiết kế, rồi rải lớp đất tiếp

theo và tiến hành đầm, cho đến khi đạt độ cao thiết kế.

5. Trường hợp áp dụng

Áp dụng khi khối lượng công tác đầm không lớn, chiều dày lớp đầm nhỏ, khi

không thể sử dụng các loại đầm khác để thi công.

5.2.3. Thi công đầm đất bằng cơ giới

1. Đầm lăn Đầm lăn là loại đầm đất thông dụng nhất, dùng ở nơi mặt bằng công tác rộng

lớn, chiều dài từ 100m trở lên. Một máy kéo có thể kéo một lúc được nhiều đầm lăn.

Các loại đầm lăn thông dụng: Đầm lăn mặt nhẵn; đầm lăn có vấu, đầm lăn bánh

hơi.

51

Hình 5-6. Đầm đất bằng đầm lăn 1. Máy kéo; 2. Quả đầm lăn

a. Đầm lăn mặt nhẵn. Có thể là loại tự hành (xe lu), có thể cấu tạo từ những quả lăn nhẵn mặt, trong

quả lăn có thể chứa vật liệu rời như cát hay sỏi để tăng hay giảm tải trọng đầm. Các

quả lăn này được kéo bởi máy kéo. Tải trọng của đầm lăn mặt nhẵn từ 4 20 tấn.

- Dùng để đầm đất rời hoặc đất ít dính (cát pha sét).

- Diện tích tiếp xúc giữa đầm và đất ít nên ứng suất đầm giảm nhanh theo chiều

sâu, do đó chiều sâu mỗi lớp đất đầm ít và phụ thuộc vào tải trọng đầm:

+ Nếu trọng lượng đầm là 3  4 tấn thì chiều dày lớp đất được đầm là 10 

20cm.

+ Nếu trọng lượng của đầm là 15 tấn thì chiều dày đó là 30cm.

+ Mỗi chỗ thường phải được đầm từ 8  16 lần mới coi là xong.

Hình 5-7. Hiện tượng “nổi sóng” khi đầm bằng đầm lăn

- Khi mới đầm bằng đầm lăn mặt nhẵn, đất phía trước quả lăn có hiện tượng “nổi sóng” (hình 5-7) vì tổng hợp lực của trọng lượng đầm và lực kéo hướng về phía chuyển động, dẫn những hạt đất trượt theo quả lăn. Muốn giảm hiện tượng sóng thì trước tiên phải dùng đầm lăn nhẹ, sau mới dùng đầm lăn nặng. Hoặc dùng máy kéo

hai, ba đầm lăn, ta bố trí đầm lăn đi đầu nhẹ hơn, còn các đầm lăn sau nặng hơn. Ngoài ra còn phải khống chế tốc độ di chuyển của đầm, đầm không được di chuyển quá nhanh vì như vậy tổng hợp lực hướng về phía trước sẽ lớn.

52

- Khi đầm bằng đầm lăn mặt nhẵn với độ ẩm thích hợp, lớp đất phía trên cùng

tiếp xúc với đầm nhận được tải trọng đầm nén tốt nhất nhanh chóng trở nên đặc chắc

trở thành một lớp vỏ cứng, chịu đựng hầu hết trọng lượng của đầm, ngăn cản tác dụng

của tải trọng đầm truyền sâu xuống đất. Cần quan tâm đến hiện tượng này để đảm bảo

chiều dày lớp đầm, tránh hiện tượng dải đất quá dày làm cho các lớp đất phía dưới

không nhận đủ tải trọng đầm, chất lượng đầm nén giảm theo chiều sâu.

- Xác định ứng suất lớn nhất phát sinh trong đất:

; (kg/cm2) max =

Trong đó:

(Kg/m) - áp suất tuyến tính dọc theo chiều dài quả dầm.

Q (Kg) – Trọng lượng quả dầm.

l (m) – Chiều dài quả dầm. E(Kg/cm2) – Mô đung biến dạng của đất. R (m) – Bán kính chống đầm.

- Bề dày lớp đất đầm hiệu quả:

+ Đất dính : ; (cm)

+ Đất dời : ; (cm)

Trong đó ; W,W0 lần lượt là độ ẩm tự nhiên và độ ẩm thích hợp của đất.

b.Đầm lăn có vấu (đầm chân cừu) - Đầm lăn có vấu tạo áp suất lớn lên đất. Chỉ nên sử dụng đầm lăn có vấu để đầm

những loại chất dính, nhất là đất cục. Nếu dùng để đầm những đất rời thì hiệu quả sẽ

kém, vì những hạt đất này dễ chuyển dịch ra các phía và bị vấu đầm làm tung lên, do

đó cơ cấu đất bị phá hoại.

Hình 5-8. Đầm lăn có vấu 1. Vấu đầm; 2. Trống đầm; 3. Cửa gia trọng;

4. Khung; 5. Móc càng; 6. Máy kéo.

53

- Khi đầm lăn qua một vị trí, đất đầm được tạo thành 3 lớp a, b, c(hình 5.9), chỉ

có những lớp đất ở dưới vấu đầm (lớp a) là được đầm tốt, còn lớp đất b bị lèn ép

ngang, chưa nhận được tải trọng đầm nén tốt nhất. Lớp đất c bị hất tung lên. Các lớp

đất b và c sẽ được đầm sau khi đổ lớp

đất mới lên trên.

- Đầm lăn có vấu không chỉ lèn

đất ở dưới đáy vấu, nơi trực tiếp chịu áp lực thẳng đứng, mà còn lèn ép đất ở giữa các vấu đầm về phía bên.

- Xác định số lượt đầm để đầm có

hiệu quả:

n =

Hình 5-9. Tác dụng đầm dưới đáy vấu Trong đó: F(m2)- diện tích xung quanh quả Vùng a: Đất được đầm bằng tải trọng thẳng đầm; đứng; Vùng b: Đất bị lèn ép ngang bởi vấu.; f(m2)- diện tích bề mặt vấu đầm; m- Vùng c: Đất bị hất tung và tơi ra. tổng số vấu đầm có trên đống đầm;

k- hệ số kể đến sự không đồng đều khi đầm, k = 1,3.

- Để ứng suất lớn nhất phát sinh trong đất thỏa mãn: max = (0,8  0,9) đ thì trọng

lượng thích hợp của quả đầm là:

Q = P.N.f (kg)

Trong đó:

N- số vấu đầm trên một hàng dọc; p (kg/cm2)- áp suất đẩy vấu; f(m2)- diện tích bề mặt vấu đầm.

- Chiều dày lớp đầm thích hợp:

h0 = 1,51 (m); l(m)- chiều dài một vấu.

- Đầm lăn có vấu không gây ra hiện tượng sóng. Chất lượng đất đầm không đều. Đầm

lăn có cấu tạo ra mặt nhám, tạo điều kiện liên kết giữa những lớp đất với nhau.

c. Đầm lăn bánh hơi - Đầm lăn bánh hơi là một loại xe rơ moóc có một hoặc hai trục, mỗi trục có từ 4

 6 bánh hơi, mang những tải trọng thay đổi tùy theo yêu cầu của công tác đầm.

- Đầm lăn bánh hơi có thể dùng để đầm cả đất dính và đầm rời.

54

- Đầm lăn bánh hơi khác các loại đầm lăn khác

là khi đầm thì không phải chỉ có đất biến dạng, mà

cả bánh hơi cũng biến dạng. Trong những lượt đầm

đầu tiên, khi đất còn ỏ trong trạng thái xốp thì biến

dạng của bánh hơi nhỏ so với biến dạng của đất, đến

những lượt đầm sau, khi đất đã được lèn chặt tương

đối, thì hiện tượng lại xảy ra ngược lại.

- Ứng suất cực đại trong đất được xác định:

; (kg/cm2) max =

Trong đó: P- Áp suất khi nén bên trong bánh

hơi; e- Độ cứng của bánh hơi.

Hình 5-10. Đầm lăn Như vậy ứng suất phát sinh trong đất không phụ thuộc vào tải trọng khi đầm mà chỉ phụ thuộc bánh hơi; 1. Thùng chứa vật vào áp suất khi nén bên trong bánh hơi và độ cứng e liệu gia trọng; 2. Bành hơi; của bánh hơi đó. 3. Khung kéo - Tải trọng đặt lên xe truyền qua khối khí ép

trong các báng xe xuống đất. Nhưng chính khối

khí ép này quyết định trị số ứng suất cực đại

trong đất khi được đầm. Có thể thay đổi áp suất

khí trong bánh xe để tìm ra những ứng suất thích

hợp nhất, để có thể đầm chặt bát kỳ loại đất nào (đối với đất dính lấy áp suất khí là 5 – 6 kg/cm2) trong phạm vi cường độ cực hạn của đất.

- Chiều dày lớp đất rải hiệu quả:

(5.8)

Vậy tải trọng dầm quyết định đến chiều dày

Hình 5-11. Tương quan biến dạng của bánh hơi và nền đất lớp đất rải chứ không quyết định đến độ lớn của ứng suất trong đất.

- Áp lực truyền từ xe đầm lăn lên đất phụ thuộc vào mặt tiếp xúc của bánh xe với

đất. Càng tăng tải trọng lên bánh xe thì bề mặt tiếp xúc cũng tăng, nhưng áp suất trung bình lên đất không thay đổi.

- Bề mặt tiếp xúc giữa bánh hơi và đất có hình elíp. ứng suất tại mặt đất tăng lên rất nhanh đền trị số cực đại, và giữa trị số đó trên phần bánh lốp bị nén bẹp, như vậy thời gian tác dụng của bánh hơi lên đất dài hơn so với quả lăn cứng. Điều này làm tăng hiệu quả đầm đất theo chiều sâu.

55

Hình 5-12. Sự phân bố ứng suất trong khi đầm đất

a) Dưới quả lăn cứng; b) Dưới bánh hơi

- Càng tăng tốc độ di chuyển của xe đầm lăn, thời gian tác dụng của hai bánh hơi lên đất càng ngắn, thì độ sâu được đầm càng giảm. Vậy đầm lăn bánh hơi cũng như

đầm lăn mặt nhẵn cần có một tốc độ đầm thích hợp và cần phải đầm nhẹ sơ bộ trước.

- Muốn đầm được đều như nhau ở mỗi nơi thì tải trọng phải được phân bố đều

lên các bánh xe, không phụ thuộc độ gồ ghề của mặt đất, và sức chịu đựng của mặt đất ở mỗi nơi. Do đó khung bánh xe được chia ra thành nhiều phần, mỗi phần có thùng

chứa vật liệu riêng, để mỗi bánh xe ăn theo mặt đất gồ ghề và có thể đầm được ở

những chỗ đất sâu và đất yếu hơn các chỗ đất khác.

2. Đầm chày.

Hình 5-13. Đầm gia cường đất bằng đầm chầy.

- Cấu tạo gồm một quả nặng từ 1,4  4 tấn, bằng thép hay bằng bê tông, được

gắn vào cần của máy cơ sở.

- Khi đầm quả nặng được nâng lên khỏi mặt đất từ 3  5m, rồi cho rơi xuống đất

để đầm.

- Chiều dày lớp đất đầm từ 1  2m, thích hợp để đầm các loại đất rời, đất dính,

thích hợp để thi công đầm đất khi mặt bằng thi công rộng rãi, dùng để đầm đáy hố

móng có diện tích lớn.

- Chỉ số đặc trưng của đầm chảy chính là xung lực I.

I =

Trong đó: m (N)- trọng lượng chày:; F (m2)- diện tích bề mặt đầm; H (m)- độ cao

nâng chày; g (m/s2)- gia tốc trọng trường.

56

Đầm chày có xung lực càng lớn, đầm càng mạnh.

- Trình tự đầm bằng đầm chày: Trước tiên nên đầm nhẹ sơ bộ bằng cách giảm

chiều cao rơi của tấm chày khoảng 4 lần. Nếu lân cận có móng hoặc công trình khác

thì phạm vi đầm phải cách những công trình khác khoảng 2m để tránh ảnh hưởng.Sau

đó mới tiến hành nâng chày lên cao như thiết kế đã quy định. Chỉ được dừng đầm khi đất đã đạt độ chối quy định, đó chính là độ lún ổn định của nền đất sau loạt đầm cuối

cùng. Để tránh đầm xót nên đầm với dải đầm bằng 0,9a (a là cạnh dầm). Để tận dụng lực đầm lên đầm đất từ hai phía vào trong. Đầm đất cách cao trình thiết kế 15cm để sau đó bóc bỏ lớp đất đã bị phá hoại.

Hình 5-14. Đầm gia cường đất nền móng bằng đầm chày.

3. Đầm rung. - Dùng động cơ lệch tâm để tạo ra lực chấn động. Dưới tác dụng của chấn động

liên tục với tần số cao và biên độ nhỏ do đầm chấn động gây ra, những hạt cát di động

và chuyển động xuống sâu, tới vị trí ổn định của chúng.

- Các hạt đất chuyển dịch càng nhanh khi lực dính kết giữa chúng càng nhỏ và khi độ chênh lệch kính thước các hạt càng lớn. Cho nên đối với đất rời, gồm những hạt

có độ thô khác nhau, có lực dính kết nhỏ thì việc áp dụng đầm chấn động là rất hiệu

quả.

- Tác dụng của đầm rung lớn nhất khi tần số chấn động của máy trùng với tần số

chấn động của đất đầm, nghĩa là có hiện tượng cộng hưởng. Khi này ma sát giữa các hạt đất giảm đi nhiều, những hạt nhỏ dễ dàng di chuyển đến lấp những chỗ trống giữa các hạt lớn.

- Độ ẩm cũng ảnh hưởng đến hiệu quả đầm rung rất nhiều, với loại đầm này, độ

ẩm tốt nhất thực tế của đất lớn hơn 10  30% độ ẩm thích hợp trong đầm nén.

Kỹ thuật đầm.

- Rải đất thành từng lớp có độ dầy phù hợp với thiết bị đầm hiện có.

- Dựa vào độ ẩm thích hợp (kết quả thí nghiệm ) để điều chỉnh độ ẩm trong đất

cho phù hợp.

- Cho thiết bị đầm chạy theo một sơ đồ nhất định.

- Đường lu sau phải đè nên đường lu trước bề rộng khoảng 15 25cm.

57

- Tải trọng đầm phải tăng một cách từ từ để tránh hiện tượng lật đầm quá lớn gây

mất ổn định và phá hoại cho đất.

- Ứng suất đầm phải nhỏ hơn cường độ chịu tải lớn nhất của đất (đầm= 0,9Rđất)

để tránh hiện tượng gây phá hoại đất nền.

- Những lượt đầm đầu và hai lượt đầm cuối cùng nền đầm với tốc độ chậm, (2 

2,5Km/h) còn những lượt đầm giữa có thể đầm với tốc độ nhanh hơn (810Km/h).

đề, tên nhóm, đề bài, tên sinh viên và giáo viên), mục lục và nội dung.

B. Nội dung thảo luận - Đề tài thảo luận: so sánh 2 phương pháp đầm lăn và đầm chày? - Yêu cầu mỗi nhóm đóng 2 quyển A4 (1 nộp GV, 1 dùng báo cáo) gồm: Trang bìa (tiêu

VI. CHƯƠNG 6. THI CÔNG CỌC

VI.1. Mục tiêu, nhiệm vụ - Mục tiêu: cung cấp cho sinh viên kiến thức về các loại cọc, ván cừ và kỹ thuật đóng

cọc bê tông cốt thép, những trở ngại và biện pháp khắc phục trong thi công đóng cọc.

- Tóm tắt nội dung: Trong chương sáu chúng ta lần lượt đi nghiên cứu các loại cọc và

ván cừ - đặc điểm và yêu cầu chất lượng kỹ thuật, các thiết bị và máy đóng cọc- đặc

tính kỹ thuật và phạm vi áp dụng, kỹ thuật đóng cọc bê tông cốt thép, những trở ngại

và biện pháp khắc phục trong thi công đóng cọc.

VI.2. Các nội dung cụ thể A. Nội dung lý thuyết 6.1. Các loại cọc và ván cừ.

6.1.1 Cọc tre

1. Phạm vi ứng dụng

Trong tính toán người ta xem cọc tre là một trong

nhiều những giải pháp gia cố nền đất yếu mà không xem nó

là cọc để tính toán. Cọc tre được sử dụng để gia cố nền cho những công trình có tải trọng truyền xuống không lớn

Cọc tre được sử dụng ở những vùng đất luôn luôn ẩm ướt, luôn luôn ngập nước. Nếu cọc tre làm việc trong đất luôn luôn ẩm ướt thì tuổi thọ sẽ khá cao (50 - 60 năm và lâu hơn). Nếu cọc tre làm việc trong vùng đất khô ướt thất

thường cọc rất nhanh bị mục nát.

2. Đăc điểm, yêu cầu của cọc tre

+ Tre làm cọc phải là tre già (trên 2 năm tuổi),

thẳng và tươi (không cong vênh quá 1cm trên 1m), tre đặc

là tốt nhất, nếu tre rỗng thì độ dày tối thiểu của ống tre từ 10 Hình 6-1. Cọc tre

 15mm vì vậy khoảng trống trong ruột tre càng nhỏ càng

58

tốt.

+ Chiều dài mỗi cọc tre từ 2  3 m và có đường kính từ 60mm.

+ Đầu trên của cọc tre cửa vuông góc với trục cọc và cách mắt tre 50mm, đầu

dưới được vát nhọn trong phạm vi < 200mm và cách mắt 200mm.

+ Khi thi công cọc tre, dùng vồ gỗ rắn có trọng lượng từ 8-10kg đóng. Để

tránh làm dập nát đầu cọc ta bịt đầu cọc bằng sắt. Cọc đóng xong phải cửa bỏ phần

dập nát đầu cọc, nếu cọc chưa xuống sâu mà đầu cọc dập nát thì nhổ bỏ.

6.1.2. Cọc gỗ 1. Phạm vi ứng dụng + Được dùng chủ yếu trong giải pháp gia cố nền hoặc trong các công trình phụ

tạm.

+ Cọc gỗ được sử dụng ở những vùng đất luôn luôn ẩm ướt, luôn luôn ngập nước.

Cọc gỗ còn thường dùng cho móng trụ cầu gỗ nhỏ, được sử dụng để gia cố nền cho

những công trình có tải trọng truyền xuống không lớn.

2. Đặc điểm, yêu cầu của cọc gỗ + Gỗ làm cọc phải là gỗ tốt, còn tươi. Nhóm gỗ càng cao càng tốt.

+ Cây gỗ làm cọc phải thẳng, độ cong cho phép là 1% chiều dài, và không quá

12cm.

+ Đường kính cọc 18 - 30cm, độ chênh không quá 10mm/m, chiều dài cọc phụ

thuộc vào thiết kế và từ 4,5m  12m. Khi chế tạo cần làm cọc dài hơn thiết kế khoảng

0,5m đề phòng trong quá trình đóng, đầu cọc bị dập nát và cần cắt bỏ sau khi đóng

xong. Khi yêu cầu cọc dài có thể nối cọc.

+ Mũi cọc được vót nhọn thành hình chóp ba cạnh hay bốn cạnh, có khi vót tròn,

có độ dài đoạn vót từ 1,5  2 lần đường kính cọc. Vót tày một đoạn 10cm ở đầu mũi

cọc để tránh dập nát khi đóng.

Hình 6-2. Cọc gỗ a) Cọc gỗ thường b) Cọc gỗ có mũi bịt sắt

+ Nếu cọc phải đóng qua những lớp đất rắn hoặc có lẫn sỏi cuội rễ cây... thì mũi

cọc cần được bảo vệ bằng mũ thép gắn vào mặt vát bằng đinh.

+ Để tránh nứt vỡ đầu cọc khi đóng, ta lồng một vòng đai làm bằng thép tấm hoặc tấm thép đệm hình tròn trên đầu cọc.

6.1.3. Cọc bê tông cốt thép

59

1. Phạm vi ứng dụng

Cọc bê tông cốt thép có độ bền cao, có khả năng chịu được tải trọng từ 10 tấn

đến 60 tấn, do đó nó được ứng dụng rộng rãi trong các loại móng của các công trình

dân dụng và công nghiệp.

2. Đặc điểm, yêu cầu + Được chế tạo bằng bê tông cốt thép đúc sẵn (có thể tại xưởng hoặc ngay tại

công trường) và dùng thiết bị đóng, hoặc ép xuống đất. Mác bê tông chế tạo cọc từ 170 trở lên.

+ Cọc bê tông cốt thép đúc sẵn thường có tiết diện hình vuông, kích thước tiết diện là: 20X20cm, 25X25cm, 30X30cm, 35X35cm, 40X40cm, 45X45cm. Chiều dài

của cọc thường từ 6m-11m, có thể dài hơn nữa tùy theo thiết kế. Khối lượng của cột bê

tông cốt thép rất lớn có thể lên tới 10 tấn. Chiều dài và tiết diện cọc thường bị giới hạn

công suất các thiết bị chuyên trở và đóng cọc.

Ngoài ra giữa chiều dài và tiết diện còn có tương quan với nhau:

Chiều dài cọc Tiết diện cọc Mác bê tông

M M Kg/cm

Dưới 5m 20x20 170

6 – 9 25x25 170

10 – 12 30x30 170-200

13 – 16 35x35 200-250

250-300 17 – 20 40x40

300-350 Dưới 25 45x45

+ Cọc phải chế tạo đúng theo thiết kế, đảm bảo chiều dày lớp bảo vệ (tối thiểu là

3cm) để chống bong tách khi đóng cọc và chống rỉ cho cốt thép sau này .

+ Trong quá trình thi công đúc cọc cần đánh dấu cọc và ghi rõ lý lịch để

tránh nhầm lân khi thi công.

+ Vận chuyển và cầu lắp cọc chỉ khi cọc đã đạt đủ cường độ , tránh gây sứt mẻ, va

chạm giữa cọc và các vật khác.

+ Cọc bê tông cốt thép đúc sẵn thường được hạ vào đất bằng phương pháp đóng hoặc ép. Cọc dùng để ép có tiết diện tối là 35x35cm, chiều dài mỗi đoạn cọc từ 2-8m. giải pháp ép cọc được áp dụng khi xây dựng công trình trong các khu đô thị, trong các khu dân cư, đất nền yếu, công trình có số tầng 10.

6.1.4. Các loại cọc thép

+ Cọc thép làm bằng thép ống có đường kính từ 30cm đến 60cm, chiều dài từ 12m đén 18m trong nhiều trường hợp có thể dài tới 40m, chiều dày ống thép từ

10mm trở lên.

+ Cọc thép có cường độ cao, có khả năng chịu lực lớn, khi nhồi bê tông vào trong lòng cọc thép cọc sẽ bền và dùng được lâu hơn. C ọc thép thường được

60

sử dụng làm móng cho các công trình có tải trọng truyền xuống nền đất lớn.

Tuy giá thành của cọc thép thường rất cao nhưng người ta vẫn dùng vì chúng có những

ưu điểm sau:

- Trọng lượng tương đối nhỏ: so với cọc bằng bê tông cốt thép dài 20m, tiết diện 40x40 cm nặng tới 8 tấn thì cọc ống thép có chiều dài tương đương và bán kính là 50cm chỉ nặng có 2,8 tấn.

- Cọc ống thép bền và cứng, không sợ hư hỏng khi vận chuyển và khi đóng - Độ sâu đóng cọc có thể rất lớn vì người ta có thể hàn dần từng đoạn ống trong

khi đóng (sâu tới 40m)

- Sức chịu tải của cọc ống thép là rất lớn, từ 250 đến 300 tấn.

+ Tuỳ yêu cầu cụ thể và đặc điểm địa chất nền đất người ta còn sử dụng loại cọc thép có bố trí cánh vít trên thân cọc gọi là cọc vít. Cọc vít cũng có độ bền và khả năng

chịu tải trọng lớn. Khả năng chịu lực của những cọc vít rất lớn (10-15lần) so với những

cọc khác có cùng độ dài và đường kính. Cọc vít được sử dụng cho những công trình

quan trọng ở khu vực có bão lớn và gió xoáy.

6.1.5. Những loại cọc khác

1. Cọc bê tông khoan nhồi (cọc nhồi). - (cid:127) Cọc nhồi có đường kính 60cm, có thể dài 70m. Được khoan tạo lỗ

trong dung dịch bentonite để chống sập vách hố khoan và đổ bê tông ngay tại chỗ. Sức chịu tải của cọc nhồi bê tông cốt thép rất lớn, có thể hàng ngàn

tấn. Cọc nhồi có cốt thép toàn bộ chiều dài cọc hoặc chỉ có ở môt chiều dài nhất định

tuỳ theo thiết kế.

- Cọc nhồi có khả năng chịu tải trọng rất lớn nên được ứng dụng trong

thiết kế móng các công trình nhiều tầng, móng trụ cầu ...Cọc nhồi bê tông cốt thép

được thi công ở các điều kiện địa chất, thủy văn phức tạp khác nhau.

- Quá trình thi công đươc chia làm ba giai đoạn: Tạo lỗ khoan (dùng khoan

guồng xoắn, khoan xoay tròn hay khoan băng tia nước áp lực cao), Hạ lồng thép ( hạ

lồng thép thường dùng bằng cần trục, yêu cầu sao cho trong quá trình này côtd thép

luôn thẳng đứng, tránh va chạm lồng thép vào hố khoan làm sập thành gây khó khăn cho việc nạo vét thổi rửa), Đổ bê tông (cần chú ý phải tiến hành đổ bê tông liên tục, để tránh ảnh hưởng đến chất lượng cọc)

2. Cọc ba rét Cũng giống như cọc khoan nhồi, cọc ba rét cũng là cọc bê tông độ tại chỗ. Cọc có tiết diện chữ nhật, cạnh ngắn từ 0,4m đến 1m, cạnh dài từ 2 đến 6m, chiều dài

có thể đến 60m, cọc Baret cũng có thể thi công theo tiết diện bất kỳ. Thay vì phải khoan tạo lỗ người ta tiến hành tạo lỗ cho cọc ba rét bằng cách sử dụng máy đào chuyên dụng đào tạo lỗ trong dung dịch chống sập vách đất hố đào...

Cọc ba rét có khả năng chịu tải trọng rất lớn nên cũng được ứng dụng trong thiết

61

kế móng của các công trình cao tầng, công trình có tải trọng truyền xuống lớn...

3. Cọc cát Cọc cát dùng làm chặt đất để tăng khả năng chịu lực của đất nền. Cát vàng được

đưa vào đất nhờ phương pháp: sử dụng ống bao bằng thép có cửa ở đầu ống, khi đóng ống, cửa đóng lại, khi đạt độ sâu thiết kế rút ống lên cửa mở ra, tiên hành nhồi cát xuống, nhồi đến đâu đầm chặt đến đó và rút dần ống bao lên với tốc độ đều, vừa rút

ống vừa đầm cho cát được đầm chặt.

Cọc cát được sử dụng như một giải pháp gia cố nền đất yếu:

- Làm nhiệm vụ như giếng cát, giúp cho nước thoát nhanh, làm cho quá trình cố kết của đất tăng lên và độ lún chóng ổn định hơn.

- Khi thi công nền cọc cát thì trước hết ống thép tạo lỗ được hạ xuống đã bước đầu làm giảm thể tích đất, sau đó cát trong các lỗ đó lại tiếp tục nén chặt đất thêm. Tức là làm

cho độ rỗng của đất giảm bớt, nước lỗ rỗng trong đất thoát ra và do đó làm cho cường độ của nền cọc cát (bao gồm cọc cát và đất giữa các cọc) được tăng lên.

- Nền cọc cát được thi công đơn giản với các vật liệu rẻ tiền (cát thô, cát sỏi) nên giá

thành thường thấp hơn các loại móng cọc và đệm cát. Do những ưu điểm như vậy nên

cọc cát thường được dùng để gia cố nền đất yếu có chiều dầy lớn ( 3m).

6.1.6. Một số loại ván cừ

1. Ván cừ gỗ

a. Mục đích

Ván cừ gỗ thường

được dùng để chống sạt lở

vách đất, làm hàng rào, tường

Hình 6-3. Đăc điểm cấu tạo ván cừ gỗ

a) Mộng vuông, b) Mộng én

vây, chống thấm...

b. Yêu cầu chế tạo

+ Phải được chế tạo bằng gỗ tươi. Nếu dùng gỗ khô phải ngâm nước trước khi gia

công.

+ Chiều dày tôi thiểu của ván 70mm, chiều rộng của mỗi bản cừ là 100 

150mm. Chiều dài cừ do thiết kế qui định những phải dài hơn thiết kế 0,3  0,5m để đề

phòng đầu cừ bị dâp nát khi hạ cừ.

+ Khi ghép cừ ta làm mộng vuông nếu chiều dày có mộng lớn hơn 100mm và

ngược lại ta dùng mộng én.

2. Ván cừ thép a. Mục đích

+ Hàng cừ thép tạo thành vách tường cừ bảo vệ các hố móng, chống sạt lở cho vách đất.

+ Cừ thép làm tường ngăn nước ngầm, có khả năng chịu được áp lực đất rất lớn.

62

b. Yêu cầu chế tạo

+ Chiều dày của ván từ 8 

15mm

+ Chiều dài cừ hiên nay thường

từ 12  25m.

+ Cừ phải được sơn chống rỉ

trước khi đóng.

+ Các loại cừ được sử dụng hiện

nay: ván cừ phẳng, ván cừ khum, ván

cừ Lacsen.

Hình 6-4. Các loại ván cừ thép 3. Ván cừ bê tông cốt thép Hiện nay ở một số nước trên thế giới, a) Ván cừ phẳng; b) Ván cừ Lacsen;

c) Ván cừ Khum người ta đã chế tạo ván cừ bê tông cốt thép và bê tông cốt thép ứng lực trước.

Ván cừ bê tông cốt thép có ưu điểm hơn ván cừ thép là không bị ăn mòn, tuy nhiên nó

có một số nhược điểm: chiều dài hạn chê, ko có khả năng nối dài; tính chịu uốn, chống

va đập thấp; khả năng sử dụng lại hầu như không có; chống thấm khó khăn, vận chuyển

phức tạp.

Tường cừ bê tông cốt thép sử dụng thích hợp cho các công trình cảng, kè ven bờ, các

đường đào sâu hoặc đắp cao có chiều cao từ 3-4m.

6.2. Thiết bị thi công cọc

Ở Việt nam, người ta thường hạ cọc chế tạo sẵn xuống đất bằng 1 trong 2 phương

pháp sau:

+ Dùng búa đóng cọc: Phương pháp này thường gây tiếng ồn, gây ô nhiễm, gây

chấn động rất lớn, ảnh hưởng đến sinh hoạt và làm hỏng các công trình lân cận... do đó

phương pháp đóng cọc thường bị cấm áp dụng ở trong thành phố, thị xã, khu vực

đông dân cư... Hơn nữa, với đất tốt, có thể không đóng được cọc xuống vì cọc (thường

là đầu cọc) bị vỡ, méo,v.v... Để giảm chấn và trợ giúp quá trình đóng cọc, ta có thể

khoan mồi trước khi đóng, hoăc xói nước ở mũi cọc.

+ Ép cọc bằng kích thuỷ lực và hệ đối trọng: Để cọc thẳng được sức cản của đất,

tiến xuống độ sâu thiết kế, tải trọng ép ở đầu cọc phải vượt quá hoặc bằng sức chịu tải của cọc theo đất nền, tuy vậy lưc ép lớn nhất của máy ép cũng không được vướt quá

sức chịu tải của cọc theo vật liêu để đảm bảo khi ép cọc không bị vỡ, nứt, làm ảnh hưởng đến khả năng chịu tải của cọc. Phương pháp này ít gây tiếng ồn, ít gây ô nhiễm

và chân động, đang có những tiến bộ đáng kể trong mấy năm gần đây.

+ Ngoài hai phương pháp hạ cọc nêu trên, người ta còn ứng dụng phương pháp

rung hạ cọc vơi viêc sử dụng các loại búa rung chuyên dụng...

Dưới đây xin đề câp đến một số loại búa đóng cọc đang sử dụng phổ biến hiện

63

nay.

6.2.1. Búa đóng cọc

1. Búa treo + Búa được chạy bằng tới điên và dây cáp.

+ Trọng lượng búa là 500  2000 kg.

+ Độ cao nâng búa phụ thuộc vào sức chịu tải của cọc, thường từ 2,5  4m.

+ Năng suất của búa thấp do tốc độ đóng chậm, mỗi phút chỉ đóng được 4  10

nhát.

+ Được dùng trong trường hợp khối lượng công tác cọc tương đối nhỏ.

2. Búa hơi đơn động + Hoạt động của búa: dùng hơi nước hoặc khí ép để nâng chày lên cao và rơi

xuống đập vào cọc dưới trọng lượng bản thân chày.

+ Trọng lượng chày 1  6 tấn.

+ Chiều cao nâng chày từ 0,9  1,5m.

+ Số nhát đóng trong 1 phút là 25  30.

+ Được dùng để đóng cọc bê tông dài và nặng, hay cọc ống có đường kính nhỏ

hơn 55cm.

+ Ưu điểm của búa hơi đơn động: Cấu tạo đơn giản, chuyển động lên xuống ổn

định, trọng lượng hữu ích (phần chày) chiếm 70% trọng lượng búa.

+ Khuyết điểm: điều khiển búa bằng tay, tiêu tốn nhiều hơi nước.

3. Búa hơi song độ ng + Hoạt động của búa: Dùng hơi nước hay khí ép để nâng chày lên cao và nén

chày khi rơi xuống.

+ Hiệu suất của búa cao do tốc độ đóng nhanh, mỗi phút đóng tới 200  300 nhát.

+ Trọng lượng chày 200  2200kg.

+ Được sử dụng khá rộng rãi, đóng được cọc bê tông cốt thép tiết diện đến 35x35cm, hay cọc ống có đường kính 60cm.

Tuy nhiên trọng lượng hữu ích chỉ chiếm 20  30 % trọng lượng búa.

4. Búa diezen + Hoạt động theo nguyên lý động cơ nổ hai thì, động cơ diezen khi nổ sẽ nâng chày lên và ép chày khi rơi xuống.

+ Trọng lượng chày từ 140  2500kg.

+ Số nhát đóng trong một phút 45  100 nhất.

+ Được sử dụng để đóng những cọc gỗ, cọc thép, cọc bê tông cốt thép loại nhỏ, cọc ống có đường kính nhỏ hơn hoặc bằng 45cm và các loại ván dài không quá 8m.

Nhược điểm của búa diezen: Năng lượng nhát búa tiêu hao đến 50  60%. vào

việc nén ép lớp không khí, hay bị cấm (không nổ được) khi đóng những cọc mảnh xuống đất mềm.

64

6.2.2. Giá búa đóng cọc

Hầu như bất kỳ loại búa rơi nào cũng cần có hệ trụ dẫn hướng (Lead) có tác dụng hướng cho búa rơi đúng tâm của cọc, do đó giảm thiểu hư hỏng cho cọc. Ngoài ra, hệ

trụ dẫn hướng còn giữ vị trí của cọc đúng chỗ trong quá trình đóng cọc.

+ Giá búa là bộ phận để treo búa và giữ cọc, dẫn hướng cho búa và cọc .

+ Giá búa có thể được chế tạo bằng gỗ hay bằng thép.

+ Giá búa được trang bị một hay hai tời... để cẩu búa và cọc và để di chuyển giá

búa.

- Tính toán chiều cao giá búa:

Hbúa = l+h+d+z

l: chiều cao cọc

h: chiều cao búa

d: chiều cao nâng búa

z: đoạn giá búa có treo các thiết bị dùng nâng búa trong lúc bắt đầu thi

công.

6.3. Kỹ thuật đóng cọc bê tông cốt thép

6.3.1. Chọn búa đóng cọc.

1. Chọn theo xung kích của búa:

(kg m) (6.1)

Trong đó :

+ Q (kg) - Trọng lượng phần chày.

+ v (m/s) – Vận tốc rơi của búa. + g (m/s2) - Gia tốc trọng trường.

Năng lượng xung kích của búa đóng phần lớn tiêu hao để hạ cọc, phần còn

lại tiêu hao vô ích làm biến dạng đầu cọc (nứt, vỡ...). Do vậy chọn búa theo năng

lượng xung kích cần thiết:

E ≥ 0,025p (kgm) (6.2)

Trong đó:

P (T) - Khả năng chịu tải của cọc theo đất nền.

2. Kiểm tra hệ số thích dụng của búa đã chọn Hệ số thích dụng được xác định theo công thức:

Trong đó:

+ Q ( Kg ) - trọng lượng toàn bộ của búa.

+ q (kg) - Trọng lượng của cọc.

+ q1 (kg) - Trọng lượng của mũ và đệm cọc.

65

+ E ( kgm) - Năng lượng xung kích của búa.

Hệ số kích dụng K phải nằm trọng phạm vi được qui dịnh cho từng loại búa như

trong bảng sau:

Loại búa Cọc gỗ Cọc thép Cọc BTCT

Búa song động, búa diezen kiểu ống 5 5,5 6

Búa đơn động, búa diezen kiểu cột 3,5 4 5

Búa treo 2 2,5 3

+ Khi K nhỏ hơn trị số trên thì búa không đủ nặng so với trọng lượng cọc, nên tốc

độ và hiệu quả đóng cọc sẽ kém, cọc đóng không xuống, cọc bị vỡ khi đóng.

+ Khi K lớn hơn trị số trên thì búa quá nặng so với cọc, cọc sẽ xuống nhanh, có

thể làm hỏng lực ma sát giữa cọc và nền đất, cọc xuống hết chiều dài thiết kế mà vẫn

chưa đạt được độ chối thiết kế, muốn đạt độ chối thiết kế thường phải đóng cọc sâu

hơn chiều dài thiết kế, vì vậy gây lãng phí...

Theo kinh nghiệm để đóng cọc có hiệu quả thì: Q = ( 1,5  2) q.

Đôi với cọc bê tông cốt thép, khi đóng bằng búa Diezen, có thể sơ bộ chọn trọng

lượng đầu búa theo kinh nghiệm sau:

- Khi L ≤ 12m khi đó

- Khi L > 12m khi đó

3. Kiểm tra độ chối khi đóng cọc:

Độ chối khi hạ cọc phải nhỏ hơn độ chối thiết kế e ≤ etk.

Xác định độ chối e khi đóng cọc:

Trong đó:

+ m – Hệ số kể đến tính chất tạm thời hay vĩnh cửu của công trình.

m = 0.7 đối với công trình tạm thời. m = 0.5 đối với công trình vĩnh cửu.

+ n – Hệ số kể đến vật liệu làm cọc.

n = 100 T/m2 đối vơi cọc gỗ. n = 150 T/m2 đối với cọc bê tông cốt thép. n = 500 T/m2 đối với cọc thép.

+ Q (T) - Trọng lượng đầu búa.

+ q (T) - Trọng lượng cọc.

+ H (m) - Độ cao nâng búa.

66

+ F (m2) – Diện tích tiết diện ngang của cọc. + P (T) - Sức chịu tải của cọc theo đất nền.

6.3.2. Vận chuyển và xếp dỡ cọc Khi cẩu cọc, trong thân cọc phát sinh mô men uốn. Để việc bố trí cốt thép thuận

lợi nhất, người ta chọn hai điểm đầu cọc sao cho mô men uốn trong cọc là nhỏ nhất (nghĩa là M1 = M2) hai điểm cẩu cọc đặt cách 2 đầu cọc một khoảng có chiều dài băng 0,21 lần chiều dài của cọc.

Hình 6.5. Vị trí gối kê, điểm treo buộc khi vận chuyển hay bốc xếp cọc

a) Xếp đặt cọc; b) Bốc Xếp

Đối với những cọc ngắn chiều dài dưới 10m thì có thể cẩu cọc lên từ một điểm,

điểm cẩu này ở cách đầu cọc một khoảng có chiều dài bằng 0,3 lần chiều dài cọc.

Do trọng lượng bản thân cọc lớn, vì vậy khi vận chuyển, bốc xếp cọc cần

quan tâm đến vị trí treo buộc, vị trí gối kệ. Cọc là cấu kiện chịu nén, vị trí treo buộc,

gối kệ phải tuân theo qui định.

Các gối kê nên sử dụng vật liệu là gỗ như vậy sẽ tránh làm vỡ cọc khi vận

chuyển (do sóc nẩy vì đường không tốt...) và thuận tiện cho thao tác luồn và tháo dỡ

dây cáp khi cẩu lắp, xếp dỡ.

Khu vực xếp cọc nên bố trí hợp lí trên mặt bằng để tránh ảnh hưởng đến quá trình

đóng cọc sau này.

6.3.3. Lắp cọc và giá búa Có thẻ sử dụng bản thân giá búa để lắp cọc vào giá búa theo các thao tác sau đây:

+ Đẩy xe vận chuyển cọc đến gần

giá búa.

+ Móc dây cáp treo cọc (dây 1) của giá búa vào móc trên của cọc và móc dây treo búa (dây 2) của giá búa vào

móc dưới của cọc (nếu cọc có móc câu). Hình 6.6. Vị trí treo buộc cọc khi cẩu cọc vào giá búa

+ Cho hai dây hoạt động kéo hai dây lên cùng một lúc để cọc được nâng lên cao. + Đưa xe vận chuyển cọc đi chỗ khác.

+ Cho hai dây ngừng kéo, dây 1 tiếp tục kéo cọc lên và cọc dần về vị trí thẳng

67

đứng để ghép vào giá búa.

Dùng cần trục để câu và lắp cọc vào giá búa (hay dùng).

Trong các phương pháp lắp cọc vào giá búa, cần lưu ý: cọc rất nặng, cần thực

hiện lắp cọc chính xác, an toàn. Nếu cọc không có móc câu lắp, cần chọn vị trí treo buộc hợp lí để đảm bảo cọc không bị hư hỏng trong quá trình lắp cọc vào giá búa. Qui định điểm treo buộc trên hình 6-6.

6.3.4. Kỹ thuật đóng cọc + Phải đảm bảo chính xác vị trí của cọc, sử dụng máy kinh vĩ, thước, dây căng

định vị đài cọc và vị trí từng cọc trong đài. Dùng cọc mốc để đánh dấu vị trí cọc, các mốc đánh dấu phải dễ quan sát và phải ổn định, tránh bị xê dịch trong quá trình thi

công đóng cọc và phải được kiểm tra thường xuyên.

+ Khi đóng cọc dưới nước, việc định vị chính xác vị trí cọc và đánh dấu rất khó

khăn, đặc biệt là nơi nước sâu, do vậy cần có các biện pháp định vị hợp lí.

Khi nước không sâu lắm, người ta có thể dụng dàn gỗ để định vị (dàn cự li) bằng cách đóng các cọc gỗ theo những cự li nhất định sao cho các đầu cọc gỗ vẫn

trồi cao trên măt nươc và dùng dây căng để xác định vị trí cọc.

- Khi đóng cọc ở nơi nước sâu người ta sử dụng các xà lan chuyên dụng trên

đó có bô trí gia búa để định vị và đóng cọc.

+ Thường xuyên kiểm tra độ thẳng đứng trong suốt quá trình đóng cọc và có các

biện pháp xử lí kịp thơi khi cọc bị xiên. Nếu cọc xuống quá sâu phải nhổ lên đóng lại,

cọc còn cạn cần điều chỉnh độ thẳng đứng trước khi tiếp tục đóng.

+ Đóng cọc theo đúng sơ đồ đã được thể hiện trong biện pháp thi công, lựa chọn

sơ độ đóng cọc hợp lí tùy thuộc vào đặc điểm công trình. Có các sơ đồ đóng cọc

như sau:

Sơ độ khóm cọc: Áp dụng khi đóng những cọc dưới móng cọc độc lập hay các

móng trụ cầu. Khi đóng ta bắt đầu từ cọc giữa đóng ra xung quanh.

Sơ độ cọc chạy dài: Áp dụng khi đóng những cọc dưới những móng băng

liên tục, gồm môt hay một vài hàng cọc chạy dài song song. Khi đóng giá búa được

chuyển theo các hàng cọc.

Sơ độ ruộng cọc: Áp dụng khi đóng những cọc dưới móng bè hay cọc để gia cố nền. Khi đóng ta đóng từ giữa ra. Khi ruộng cọc lớn thì có thể phân ra thành các khu, mỗi khu cọc sẽ đóng theo từng nhóm một.

Chỉ được dừng quá trình đóng cọc khi cọc đã đáp ứng được các yêu cầu qui định như: chiêu sâu của cọc, độ chối khi đóng cọc...

- Đối với cọc chống ta phải đóng đến cao trình thiết kế của mũi cọc.

- Đối với loại cọc ma sát (cọc treo) thì ta phai đóng đến khi đạt độ chối thiết kế.

68

Hình 6.7. Một số sơ độ đóng cọc

a) Sơ đồ chạy dài; b) Sơ đồ khóm cọc; c) Sơ đồ ruồng cọc

6.4. KỸ THUẬT ĐÓNG VÁN CỪ GỖ, VÁN CỪ THÉP

6.4.1. Đóng ván cừ gỗ

+ Định vị chính xác hàng cừ chuẩn bị đóng bằng máy trắc đạc.

+ Có thể đóng từng tấm cừ riêng lẻ hoặc kết hơp đóng đồng

thời nhiều tấm bằng cách sử dụng

các khung định vị, khung định vị

được dừng theo vị trí đã xác định.

Ván cừ được ghép lồng vào giữa hai

thanh nẹp song song, rồi bắt đầu

đóng xuống.

+ Đầu dưới ván cừ được cắt Hình 6.8. Hạ đồng thời nhiều tấm cừ gỗ bằng khung định vị; 1: Nẹp ngang, 2: Cọc trụ, 3: vát chéo về phía mông lỗi. Khi Bulông liên kết, 4: Ván cừ gỗ, 5: Ván cừ chuẩn. ghép ván cừ để mông lồi quay ra

ngoài, như vậy khi đóng đất

không kẹt vào rãnh cừ và đất nén vào đầu vát chéo của cừ ép sát vào hàng cừ đã đóng

vào con nêm.

+ Trình tự đóng ván cừ có thể đóng theo kiêu tuần tự: Đóng thành này đến độ sâu

thiết kế rồi đóng thành tiếp theo và cứ thế cho đến hết. Nhưng để cho hàng cừ dễ khít

và tốt ta đóng toàn bộ ván cừ đến độ sâu nào đó. Sau đó quay lại tiếp tục đóng một lượt

nữa hay hai lượt để toàn bộ mảng cừ đến độ sâu thiết kế.

6.4.2. Đóng ván cừ thép

Cũng như cừ gỗ, khi đóng cừ thép có thể đóng tưng tấm riêng biệt hoặc ghép nhiều tấm lại với nhau và đóng đồng thời. Trước khi đóng cừ cần thực hiện một số

công tác sau:

- Kiểm tra mép ván cừ trước khi đóng bằng cách ghép một đoạn cừ khoảng 2m, rồi tiếp tục ghép một tấm cừ và thử kéo trượt xem các ván cừ có thông suốt không.

Dùng sơn đánh dấu thứ tự các tấm cừ.

- Định vị hàng cừ bằng máy trắc đạc.

- Ghép trước một số ván cừ (khoảng 10  12 tấm ) giữa hai thanh nẹp định vị,

rồi tiến hành đóng xuống dần làm hai hay 3 lần đóng để đến độ sâu thiết kế. Và cứ thế 69

cho đến hết.

- Để chống lại hiện tượng xoè nan quạt trong quá trình đóng, ta áp dụng một số

biện pháp sau:

+ Buộc dây cáp vào đầu ván cừ dùng tơi kéo cừ về vị trí thẳng đứng và tiếp tục

đóng.

+ Cắt vát đầu dưới ván cừ thép về phía trong (ngược lại với ván cừ gỗ )

+ Hàn thêm một miệng thép nhỏ ở mép đầu dưới ván cừ, để tạo ra một lực cản

cân bằng với lực ma sát ở mép bên kia, và để cho đất khỏi kẹt chặt trong rãnh mép.

Hiện nay người ta thường sử dụng các loại máy rung hoặc máy ép thủy lực để

hạ cừ rất tiện lơi, hiệu quả.

6.5. N h ữ n g t r ở n g ạ i t h ư ờ n g g ặ p k h i t h i c ô n g đ ó n g c ọ c , n g u y ê n

n h â n v à b i ệ n p h á p k h ắ c p h ụ c .

6.5.1. Cọc gặp vật cản

1. Hiện tượng + Đang đóng cọc xuống bình thường, chưa đạt được độ sâu thiết kế bông nhiên

xuông chậm hẳn lại hoặc không xuông, hoặc búa đóng xuống bị đẩy lên mạnh.

+ Cọc bị rung chuyển mạnh dưới mỗi nhát búa.

2. Nguyên nhân Có thể cọc gặp vật cản như đá mồ côi, hay một lớp đá mỏng, hoặc các vật cản

khác trên đường xuống...

3. Biện pháp khắc phục + Ngưng đóng, nếu tiếp tục đóng sẽ gây phá hoại cọc.

+ Nhô cọc lên và phá vật cản bằng cách đóng xuống một ống thép đầu nhọn có

cừơng độ cao, hay nổ mìn để phá vật cản.

+ Khi vât cản đã phá xong, ta tiếp tục đóng cọc:

6.5.2. Hiện tượng chối giả

1. Hiện tượng Cọc chưa đạt tới độ sâu thiết kế (thường còn rất cao) mà độ chồi của cọc đã đạt

hoặc nhỏ hơn độ chối thiêt kế.

2. Nguyên nhân Do đóng cọc quá nhanh, đất xung quanh cọc bị lèn ép quá chặt trong quá trình

đóng cọc, gây nên ma sát lớn giữa cọc và đất.

3. Biện pháp khắc phục

Tạm ngừng đóng trong ít ngày để độ chặt của đất chung quanh cọc giảm dần rôi

mới tiếp tục đóng.

6.5.3. Khi đóng cọc sau thì cọc đóng trước bị nổi lên

1. Hiện tượng Khi đóng cọc trong nền đất chảy nhão, đất dính thì nhưng cọc ở xung quanh (đã

70

dươc đóng trưóc) bị đầy nổi lên.

2. Nguyên nhân

+ Do vị trí cọc gần nhau, phản lực phụ sinh ra trong đât đủ lớn tác dụng vào các

cọc xung quanh và làm cho các cọc đó bị trồi lên

3. Biện pháp khắc phục Dùng búa hơi song động có tần số l ớn để thi công.

6.5.4. Cọc bị nghiêng

1. Nguyên nhân

+ Do kiểm tra không kỹ trước khi đóng cọc

+ Trong quá trình đóng gây lệch cọc.

2. Biện pháp khăc phục + Với nhưng cọc đóng chưa sâu lắm thì dùng đòn bẩy hay tới để kéo cọc về lại vị

trí thẳng đứng.

+ Với những cọc đóng xuống quá sâu thì phải nhô cọc lên và sau đó đóng lại cẩn

thận.

6.5.5. Đầu cọc xuất hiện vết nứt trong quá trình đóng

1. Nguyên nhân Do búa quá nhỏ so với sức chịu tải của cọc hay chiều cao rơi búa không hợp lý.

2. Biện pháp khắc phục + Chọn lại búa cho phù hợp

+ Thay đôi chiều cao rơi búa

+ Thay vât đệm đầu cọc mới.

B. Nội dung thảo luận

- Đề tài thảo luận:

1. Các loại cọc và ván cừ (đặc điểm, yêu cầu chất lượng kỹ thuật)?

2. Các thiết bị và máy đóng cọc (đặc tính kỹ thuật, phạm vi ứng dụng)?

3. Chọn giá búa, chọn búa đóng cọc?

4. Kỹ thuật đóng cọc BTCT, các sơ đồ đóng cọc?

5. Những trở ngại và biện pháp khắc phục khi thi công đóng cọc BTCT?

- Yêu cầu mỗi nhóm đóng 2 quyển A4 (1 nộp GV, 1 dùng báo cáo) gồm: Trang bìa (Tiêu đề, tên nhóm, đề bài, tên sinh viên và giáo viên), Mục lục và Nội dung.

PHẦN B: CÔNG NGHỆ BÊ TÔNG TOÀN KHỐI

VII. CHƯƠNG 7. NHỮNG KHÁI NIỆM VỀ CÔNG NGHỆ THI CÔNG BÊ TÔNG CỐT THÉP ĐỔ TẠI CHỖ

VII.1. Mục tiêu, nhiệm vụ - Mục tiêu: cung cấp cho sinh viên các kiến thức về công nghệ thi công bê tông cốt

thép đổ tại chỗ.

71

- Tóm tắt nội dung: Chương bảy nghiên cứu những tính chất của bê tông và dây

chuyền công nghệ chế tạo bê tông toàn khối.

VII.2. Các nội dung cụ thể A. Nội dung lý thuyết

7.1. Bản chất – ưu, nhược điểm – phạm vi ứng dụng.

7.1.1. Bản chất

Bê tông là loại đá nhân tạo không nung, được hình thành từ cốt liệu, chất kết dính, dung môi và phụ gia, được nhào trộn theo một tỷ lệ nhất định, rắn chắc lại mà

thành. Trong bê tông có cốt thép gọi là bê tông cốt thép.

Tính chất của bê tông: cường độ chịu lực tốt (đặc biệt là chịu nén), chịu nhiệt

cao, co dãn thể tích theo nhiệt độ, và có tính thấm nước.

Hỗn hợp vữa bê tông bao gồm:

+ Chất kết dính - xi măng: có mác từ 200 đến 600, chúng có tác dụng: tạo ra độ dẻo

ban đầu cho bê tông, liên kết các hạt cốt liệu lại với nhau, đóng vai trò chính trong các

hiện tượng biến dạng, ăn mòn và chịu nhiệt. Khi thi công cần tránh dùng xi măng mác

thấp để chế tạo bê tông mác cao và ngược lại cũng không dùng xi măng mác cao để

chế tạo bê tông mác thấp.

- Cốt liệu nhỏ - cát : thường có cỡ hạt từ 0,14  5 mm, cát dùng để chế tạo bê tông có

thể là cát tự nhiên hoặc cát nhân tạo. Khi thiết kế chế tạo cần chú ý: Thành phần hạt,

độ lớn của hạt và hàm lượng tạp chất.

- Cốt liệu lớn - đá hoăc sỏi: thường có cỡ hạt từ 5  70 mm, trong kết cấu khối lớn có

thể lên đến 150 mm, chúng tạo ra bộ khung xương chịu lực cho bê tông. Sỏi có đặc

điểm là do hạt tròn nhẵn, độ rỗng và diện tích mặt ngoài nhỏ nên cần ít nước, tốn ít xi

măng mà vẫn dễ đầm, dễ đổ, nhưng lực dích kết với vữa xi măng nhỏ nên cường độ

của bê tông dùng sỏi thấp hơn bê tông dùng đá dăm. Cốt liệu lớn được đặc trưng bởi

các chỉ tiêu như: Cường độ, thành phần hạt và lượng tạp chất.

- Nước sạch : Nước dùng được là loại nước dùng cho sinh hoạt như nước máy, nước

giếng.

 Các loại nước không được dùng là nước ao, hồ, đầm, cống rãnh, nước chứa dầu

mỡ, đường, nước có pH < 4, nước chứa muối sunfat lớn.

- Các chất phụ gia (có thể có hoặc không): Phụ gia thường dùng có hai loại: Loại rắn nhanh và loại hoạt động bề mặt.

Tỉ lệ cấp phối, độ to nhỏ của cốt liệu thô (đá hay sỏi) được xác định theo mác thiết kế của bê tông. Có thể tạo được các loại bê tông với nhiều mác thiết kế khác nhau tùy theo yêu cầu sử dụng.

7.1.2. Ưu, nhược điểm * Ưu điểm: Bê tông và bê tông cốt thép được sử dụng rông rãi trong xây dựng vì nó

có nhiều những ưu điểm sau đây:

72

- Các thành phần cốt liệu tạo nên bê tông có sẵn ở mọi nơi.

- Dễ tạo ra n h ữ n g hình dạng khác nhau của kết cấu công trình tùy theo yêu cầu

của kiến trúc, kết cấu hay các yêu cầu thẩm mỹ. - Có thể tạo ra nhiều loại bê tông với cường độ khác nhau (từ 100 kg/cm2 đến 400 kg/cm2 và hơn nữa), có trọng lượng khác nhau (400kg/m3 đến 4000kg/m3) tùy theo yêu cầu và mục đích sử dụng.

- Có khả năng cách âm, cách nhiệt, chịu lửa, chịu mài mòn, chống bức xạ, chống

ăn mòn.

- Dễ sản xuất, có thể sản xuất ngay tại trên công trường (bê tông đổ tại chỗ); hay

có thể sản xuất ở nhà máy, công xưởng (bê tông đúc sẵn). * Nhược điểm: Tuy vậy, một trong những nhược điểm lớn nhất của Bê tông và bê

tông cốt thép là:

- Đối với bê tông độ tại chỗ, thời gian chờ bê tông đủ cường độ, có khả năng chịu lực để tháo dỡ ván khuôn cốt chống khá lâu làm kéo dài thời gian thi công, ảnh hưởng

đến tiến độ thi công. thường là từ 14 đến 28 ngày.

- Sử dụng bê tông và bê tông cốt thép làm các kết cấu vượt nhịp lớn hoặc chịu

tải trọng lớn thì tiết diện thường lớn ảnh hưởng đến mỹ quan công trình. Do vậy không

sử dụng kết cấu bê tông cốt thép thông thường để vượt nhịp lớn hoặc chịu tải trọng lớn.

7.2. Dây chuyền công nghệ thi công.

7.2.1. Các giai đoạn kỹ thuật Các quá trình công nghệ thi công đổ bê tông cốt thép toàn khối bao gồm:

- Chuẩn bị vật liệu theo các yêu cầu kết cấu, kiến trúc (Xi măng, cát, đá, sỏi...).

- Tính toán cấp phối bê tông. ở Việt nam phương pháp phổ biến thường áp

dụng là Bolomey – Skramtaev, và xác định tỷ lệ các vật liệu trong phòng thính

nghiệm.

- Gia công lắp dựng ván khuôn, cốt chống, sàn công tác. Bước đầu tiên tính toán

thiết kế ván khuôn, cột trống, sàn thao tác. Cần xác định tải trọng, sơ đồ tính toán, từ đó

xác định được khoảng cách gông và đà đỡ cho cốt pha. Sau đó tiến hành lắp dựng cốt

pha, cột chống và sàn thao tác.

- Gia công lắp dựng cốt thép. Thi công cốt thép gồm hai quá trình là: gia công (trong xưởng hoặc tiến hành trên công trường) và lắp đặt cốt thép. Sản phẩm của công

tác cốt thép bao gồm thép thanh, lưới thép, đai, khung phẳng, khung không gian và các chi tiết bản mã.

- Trộn, vận chuyển, đổ, đầm bê tông. Trộn bằng thủ công hoặc cơ giới; vận chuyển bê tông được thực hiện bằng phương tiện như xe cút kít, cải tiến, goong, hay

băng truyền, cần trục, máy bơm vữa hoặc ôtô chuyên dùng...; đầm bê tông bằng thủ công hay cơ giới.

- Bảo dưỡng bê tông mới đổ. Quá trình đông cứng của vữa bê tông chủ yếu được

73

thực hiện bởi tác dụng thủy hóa xi măng. Tác dụng thủy hóa này chỉ được tiến hành ở

nhiệt độ và độ ẩm thích hợp. Thường được tưới nước lần đầu tiên từ 4 đến 6 giờ sau khi

đổ bê tông và thời gian bảo dưỡn ẩm tùy thuộc vào nhiệt độ và chủng loại xi măng.

- Tháo dỡ ván khuôn. Ván khuôn là yếu tố chịu lực chính cũng như là khuôn

đúc bê tông vì vậy khi tháo dỡ cần tuân theo những yêu cầu nhất định.

- Xử lý các khuyết tật trong bê tông. Là xử lý các hiện tượng : nứt chân chim, bê

tông trắng mặt, rỗ trong bê tông.

7.2.2. Dây chuyền công nghệ thi công

Do đặc điểm của các quá trình bê tông là thi công chủ yếu lặp đi lặp lại nhiều lần trên các phân đoạn (theo phương ngang), trên các đợt thi công (theo

chiều cao công trình), do vậy khi tổ chức độ bê tông toàn khối, cần tổ chức thi

công theo dây chuyền sẽ nâng cao năng suất và tận dụng tối đa được khả năng

chuyên môn của các tổ thợ. Mỗi tổ thợ chuyên môn thi công m ộ t công tác riêng

biệt, mỗi công tác tạo nên một dây chuyền chuyên môn, đó là:

- Dây chuyền gia công lắp dựng ván khuôn, cột chống và sàn thao tác.

- Dây chuyền gia công lắp dựng cốt thép.

- Dây chuyền đổ, đầm bê tông.

- Dây chuyền tháo dỡ ván khuôn cột chống và sàn thao tác.

Nhóm các dây chuyền bộ phận sẽ tạo nên dây chuyền kỹ thuật đổ bê tông toàn khối.

B. Nội dung thảo luận

1. Nêu ưu nhược điểm của bê tông?

2. Vẽ sơ đồ dây chuyền công nghệ thi công bê tông cốt thép? - Yêu cầu mỗi nhóm đóng 2 quyển A4 (1 nộp GV, 1 dùng báo cáo) gồm: Trang bìa (Tiêu đề, tên nhóm, đề bài, tên sinh viên và giáo viên), Mục lục và Nội dung.

- Đề tài thảo luận:

VIII. CHƯƠNG 8. CÔNG TÁC VÁN KHUÔN, GIÀN GIÁO, SÀN THAO TÁC

VIII.1. Mục tiêu, nhiệm vụ - Mục tiêu: Ván khuôn có tác dụng tạo hình, chịu tải trọng khi bê tông chưa linh kết và đảm bảo không làm thay đổi thành phần vữa của bê tông. Chương tám cung cấp những

kiến thức về yêu cầu KT đối với ván khuôn và tính toán thiết kế tính toán ván khuôn.

- Tóm tắt nội dung: Chương tám lần lượt nghiên cứu yêu cầu KT đối với ván khuôn,

phân loại ván khuôn, hệ xà gồ, cột chống, ván khuôn luân lưu định hình của một số cấu

kiện điển hình, thiết kê tính toán ván khuôn- xác định tải trọng, sơ đồ tính, công thức tính, nghiệm thu ván khuôn và tháo dỡ ván khuôn.

VIII.2. Các nội dung cụ thể A. Nội dung lý thuyết

8.1. Ván khuôn – những yêu cầu kỹ thuật đối với ván khuôn cột chống và sàn thao tác.

74

Ván khuôn, cột chống và sàn thao tác là công cụ hết sức quan trọng và cần

thiết trong thi công độ bê tông cốt thép toàn khối, cũng như đổ bê tông cấu kiện đúc

sẵn. Vì vậy khi chế tạo và sử dụng ván khuôn cần phải đáp ứng những yêu cầu kỹ

thuật nhất định.

8.1.1. Mục đích của ván khuôn, cột chống và sàn thao tác

- Ván khuôn làm khuôn mẫu tạm thời tạo ra những hình dạng kết cấu công

trình theo yêu cầu thiết kế, kiến trúc.

- Chịu các tải trọng (thẳng đứng, nằm ngang) do trọng lượng vữa bê tông ướt,

các hoạt tải sinh ra trong quá trình thi công.

- Quyết định tính chất bề mặt của kết cấu.

- Cột chống đảm bảo cho ván khuôn ở độ cao nhất định theo yêu cầu - Hệ cột chống nhận tất cả các tải trọng từ trên ván khuôn truyền xuống và

truyền xuống nền.

- Chống lại các lực xô ngang, tải trọng gió và đỡ sàn thao tác.

8.1.2. Các yêu cầu đối với ván khuôn, cột chống

- Ván khuôn phải được thiết kế và thi công đúng theo hình dáng, kích thước

của các bộ phân kết cấu công trình.

- Ván khuôn phải đảm bảo bền, cứng, ổn định, không biến dạng trong quá trình

làm việc.

- Đảm bảo kín, khít, không cho vữa bê tông bị chảy vãi, không tác dụng với

các thành phần của vũa bê tông, không làm thay đổi thành phần của vữa bê tông.

- Đơn giản, gọn nhẹ, thuận tiện trong quá trình lắp đặt cũng như tháo dỡ, lắp dựng

nhanh, tháo dỡ dễ dàng.

- Không gây khó khăn trong việc lắp đặt cốt thép, độ, đầm bê tông

- An toàn trong sử dụng.

- Có độ luân chuyển lớn, ván khuôn gỗ phải sử dụng 5 - 7 lần, ván khuôn thép

phải sử dụng từ 50 - 200 lần.

8.1.3. Các biện pháp đảm bảo các yêu cầu của hệ ván khuôn, cột chống - Chế tạo ván khuôn phải đúng hình dạng, kích thước theo yêu cầu thiết kế, sai

lệch không được vượt quá phạm vi cho phép. - Ván khuôn phải được chế tạo từ các loại vật liệu đảm bảo các yêu cầu về cường độ, hình dạng, kích thước. Ván khuôn gỗ phải có độ dày tối thiểu là 2.5 cm, gỗ nhóm 7

đến nhóm 8, không có mắt, sẹo, u, lồi. Ván khuôn thép đảm bảo chế tạo từ các loại thép có đủ cường độ, độ dày (thường là thép CT3), thép không bị han gỉ, biến dạng, cong vênh, bề mặt tốt...

- Ván khuôn sau khi sử dụng xong phải làm vệ sinh sạch sẽ, cạy bỏ hồ, vữa bê tông, trên bề mặt, nhổ đinh (với ván khuôn gỗ), bôi dầu mỡ chống gỉ (đối với ván

khuôn thép), bảo quả nơi khô ráo thoáng mát, che mưa nắng, sắp xếp theo thứ tự để

75

tiên cho thi công.

8.2. Phân loại ván khuôn.

8.2.1. Phân loại ván khuôn theo vật liệu

1. Ván khuôn gỗ

- Được sử dụng rộng rãi, thuận tiện và khá kinh tế, nhất là những công trình

có qui mô nhỏ.

- Gỗ dùng chế tạo ván khuôn thưởng là gỗ nhóm VII hay VIII.

2. Ván khuôn kim loại - Được chế tạo định hình, thường được chế tạo từ thép CT3, bề mặt là bản thép mỏng, có sườn và khung cứng xung quanh. Ván khuôn thép có cường độ cao,

khả năng chịu lực lớn, thưởng được sử dụng, nhất là cho n h ữ n g công trình lớn, có hệ số luân chuyển sử dụng cao.

- Giá thành sản xuất chế tạo và thuê sử dụng khá lớn.

3. Ván khuôn bê tông cốt thép Được chế tạo bằng bê tông lưới thép, trong đó một bề mặt của ván khuôn đã

được hoàn thiện (mài granito, ốp đá...), đổ bê tông xong để luôn trong công trình

làm lớp trang trí bề mặt. Loại này ít sử dụng.

4. Ván khuôn hỗn hơp thép - gỗ

Loại này có bề mặt ván khuôn bằng gỗ, sườn chịu lực xung quanh bằng thép. ưu

điểm của loại cốt pha này là dễ dàng thay thế tấm mặt, số lần dùng lại nhiều, giá thành

hạ.

Ngoài các loại ván khuôn hay được sử dụng đã nêu, còn một số loại ván

khuôn khác như ván khuôn tre, nứa (ít dùng), ván khuôn cao su, chất dẻo... là những

loại ván khuôn đặc biệt, chuyên dụng.

8.2.2. Phân theo đối tượng kết cấu sử dụng ván khuôn Theo cách phân loại này ta có các loại ván khuôn: Ván khuôn móng, cột,

dầm, sàn, tường...

8.2.3. Phân loại theo cấu tạo và kỹ thuật tháo lắp khi thi công

1. Ván khuôn cố định Được gia công chế tạo tại hiện trường, chế tạo một lần, dùng cho các kết cấu có hình dạng đặc biệt không lặp lại trên công trình, dùng xong thì lại tháo rời thành từng

tấm muốn sử dụng lại phải gia công chế tạo lại. Loại này tốn công chế tạo, tốn vật liêu,

không kinh tế.

2. Ván khuôn luân lưu Được tạo thành bằng cách tổ hợp những tấm đã gia công từ trước, ra công trình chỉ ghép chúng lại với nhau, khi tháo dỡ giữ nguyên hình dạng, do vậy ít hư hại, dễ bảo quản. Loại này sử dụng cho các kết cấu có hình dạng kích thước giống nhau

lặp lại nhiều trên công trường. Loại này ít tốn công chế tạo, ít tốn vật liêu, khá kinh tế.

76

3. Ván khuôn di động Là loại ván khuôn có khả năng di chuyển tịnh tiến theo phương ngang hoặc

thẳng đứng nhờ cơ cấu máy móc hoặc thiết bị riêng. Thường áp dụng cho các kết

cấu có tiết diện không thay đổi và chạy dài theo phương ngang (ví dụ: tum, mái

vòm...) hoặc phương thẳng đứng (ví dụ: xi lô, ống khói lõi cứng, vách...). a.Ván khuôn di chuyển theo phương đứng

- Được cấu tạo từ những tấm có chiều cao từ 1,1m -1,5m, lắp vào toàn bộ chu vi công trình và được nâng lên theo chu kỳ (như ván khuôn leo, ván khuôn treo) hay được

nâng lên một cách liên tục (như ván khuôn trượt).

- Được dùng để thi công các công trình có chiều cao trên 12m, có tiết diện không

đổi hay thay đổi theo quy luật như xilô, ống khói, vách, lõi cứng nhà cao tầng...

b.Ván khuôn di chuyển theo phưởng ngang

- Được cấu tạo từ những tấm khuôn liên kết vào khung đỡ, khung đỡ lắp trên hệ thống

bánh xe chạy theo chiều dài công trình.

- Dùng để thi công các công trình như kênh dẫn, hầm, mái nhà công nghiệp... giằng.

4. Ván khuôn ốp mặt

Đây chính là loại ván khuôn bê tông cốt thép vừa dùng làm ván khuôn vừa sử

dụng chúng để ốp bề mặt và trang trí.

8.3. Hệ xà gồ, cột chống a.Xà gồ đơ sàn

- Có thể sử dụng xà gồ bằng gồ (tiết diện

tròn, chữ nhật, vuông), xà gồ bằng thép

định hình (chữ I, chữ [, thép hộp...). Tùy

theo kích thước nhịp sàn lớn hay nhỏ mà

xà gồ được đỡ bởi hệ cột chống độc lập

dọc theo chiều dài xà gồ (Nhịp lớn) hoặc

xà gồ không có cột chống (Nhịp nhỏ).

Hình 8.1. Dầm rút

a) Dầm rút 2 nưả là thép hình b) Dầm rút tô hợp không gian và thép hình Khoảng cách giữa các cột chống xà gồ phải được tính toán chính xác đảm bảo khả năng chịu lực và không vượt quá độ võng cho phép của xà gồ.

- Khi kích thước ô sàn thay đổi, để có thể sử dụng một loại xà gồ cho các ô sàn có

kích thước khác nhau, người ta chế tạo loại xà gồ có thể thay đổi được chiều dài theo sự thay đổi kích thước của ô sàn, gọi đó là hệ dầm rút. Dầm rút có thể bằng

thép hình, dàn không gian tổ hợp...

b. Cột chống

Cột chống có thể bằng gồ, bằng thép chế tạo định hình. - Cột chống gồ có tiết diện tròn, vuông, hình chữ nhât.

77

- Cột chống thép thường là thép ống, gồm hai phần lồng vào nhau, do đó có

thể thay đổi chiều dài.

- Các cột chống khi làm việc được liên kết lại với nhau nhờ hệ giằng theo một

hoặc hai phương, hệ giằng có tác dụng định

vị cột chống, liên kết các cột chống lại với nhau tạo thành hệ không gian cứng, ổn định,

bất biến hình và làm việc đồng thời. Ngoài ra hệ giằng còn có tác dụng làm giảm chiều dài tính toán của cột chống. Hệ giằng đóng

vai trò rất quan trọng, vì vậy cần hết sức chú

ý khi cấu tạo và tính toán.

- Khoảng cách giữa các cột chống phải được

tính toán sao cho thỏa mãn khả năng chịu

lực của bản thân cột chống cũng như của các kết cấu mà nó đỡ (xà gồ đỡ sàn, ván Hình 8.2. Cột chống khuôn đáy dầm...). a) Cột chống gồ; b) Cột chống 8.4. Cấu tạo ván khuôn cho một số kết cấu thép công trình.

8.4.1 Ván khuôn móng a) Ván khuôn móng băng:

Thường dùng ván khuôn định hình bằng gỗ, gỗ dán, hay kim loại.

- Móng có tiết diện hình chữ nhật: khi chiều cao móng h 500mm, ván khuôn gồm

hai mảng ván khuôn luân lưu định hình, chân ván khuôn được cố định bằng văng, một

đầu tỳ vào nẹp ngang ở chân ván khuôn, đầu kia tỳ vào cọc đóng xuống đất (hoặc tấm

khuôn đặt trên thanh định vị), phía trên của thành ván khuôn cố định bằng chống xiên. Khi chiều cao < 200mm, cố định thành móng bằng cọc đóng xuống nền đất.

Hình 8.4. Ván khuôn móng bằng

a) : Móng băng có tiết diện phức tạp, b) : Móng băng có tiết diện đơn giản

1 : ván thành, 2 : nẹp đứng, 3 : thanh giằng, 4 : nẹp đứng đồng thời là cọc thế,

5 : thanh văng ngang, 6 : thanh cừ, 7 : thanh chống, 8 : bản đệm, 9 : nẹp ngang.

- Móng băng có tiết diện phức tạp: Ván khuôn móng bao gồm ván thành móng, ván cổ móng.

+ Ván thành móng được cấu tạo từ 1 hay nhiều tấm khuôn được liên kết lại với nhau

nhờ nẹp ván thành, số lượng phụ thuộc vào chiều cao của thành móng. Dọc theo chiều 78

dài ván thành người ta bố trí các khung đỡ với khoảng cách được tính toán hợp lí

nhằm chịu các áp lực ngang do vữa bê tông còn ướt gây ra và những hoạt tải phát

sinh trong quá trình đổ bê tông như: áp lực đầm, áp lực do đổ bê tông.

+ Ván khuôn cổ móng: có cấu tạo

giống ván khuôn cột gồm 4 tấm khuôn được liên kết lại với nhau nhờ đinh và

gông cổ móng. Gông cổ móng vừa làm nhiệm vụ liên kết các ván khuôn lại với nhau, vừa là gối tựa cho ván khuôn chịu

các lực ngang do vữa bê tông tươi và

các hoạt tải sinh ra trong quá trình thi

công đổ bê tông. Khoảng cách giữa các

gông phải được tính toán chính xác đảm

bảo khả năng chịu lực và không vượt quá

độ võng cho phép của ván khuôn cổ móng.

- Trình tự lắp ván khuôn: Hình 8.5. Ván khuôn mong đơn giật + Xác định đường trục trên đáy hố móng cấp bằng gỗ; 1. Ván khuôn; 2. Nẹp + Đóng cọc cữ hoặc lắp thanh định vị để đứng; 3. Nẹp cư; 4. Nẹp giữ thành; xác định vị trí ván khuôn 5. thanh chống xiên; 6. Thanh chống + Lắp ván khuôn theo những vị trí xác ngang; 7. Con bọ; 8. Bản đệm; 9. định Thanh cư; 10. Dây thép giằng + Cố định ván khuôn bằng gông mặt, văng

tạm chống xiên.

b) Ván khuôn móng đơn:

Ván khuôn móng đơn thường có cấu tạo giật cấp, ván khuôn mỗi cấp gồm 4 mảng

ghép vào với nhau thành một hộp không đáy theo kích thước từng bậc, các hộp được

đặt chồng lên nhau bởi hai thanh gánh ở hai bên gác lên thành ván khuôn bậc dưới rồi

dùng văng, thanh chống, cọc gỗ và gông để cố định.

- Phương pháp lắp đặt:

+ Căng dây theo đường tim của cột (theo cả hai phương) + Ghép ván khuôn thành hộp theo kích thước từng bậc thang + Xác định trung điểm các cạnh ván khuôn

+ Lắp đặt hộp ván khuôn, thả dọi theo dây căng xác định tim cột, sao cho cạnh thước đi qua trung điểm đó trùng với dóng của dây dọi

+ Cố định ván khuôn bằng những thanh chống, cọc cữ. Các đợt trên cũng tiến hành tương tự

8.4.2 Ván khuôn cột Ván khuôn cột có tiết diện hình vuông hay hình chữ nhật: gồm 2 tấm khuôn trong

79

và 2 tấm khuôn ngoài (đối với cột lớn mỗi mặt có thể ghép nhiều mảng). Cố định ván

khuôn cột bằng gông thép hay gông gỗ, áp lực ngang của bê tông do gông chịu.

Khoảng cách giữa các gông từ 0,4 – 0,6 m. Kích thước và khoảng cách giữa các gông

có thể làm theo cấu tạo.

Khi kích thước cột lớn hơn một mét thì kích thước gông và khoảng cách xác định theo tính toán. ở dưới chân cột bố trí một cửa dọn vệ sinh (tại tấm ngoài), khi cột cao hơn

6m thì dùng giàn giáo hoặc dây neo cố định.

Hình 8.6. Cấu tạo ván khuônn cột

1. Tấm ván khuôn; 2. Nẹp để liên kết các tấm ván khuôn; 3. Gông cột; 4. Khung gia cường tại các mối nối dầm – cột; 5. Khung định vị; 6. Lỗ chừa để vệ sinh chân cột; 7. Lỗ để đổ bê tông; 8. Thanh chống hay dây giằng; 9. Tăng đơ; 10. Móc chờ sẵn; 11.

Thanh gỗ tạo điểm tựa; 12. Chốt gông cột

+ Khi chiều cao cột lớn, để tránh phân tầng trong quá trình đổ bê tông do chiều cao rơi

tự do của bê tông lớn, ta mở cửa để đổ bê tông trong khoảng nhỏ hơn 1,5m kể từ chân

cột, và được bịt kín để đổ đoạn tiếp theo.

+ Áp lực ngang gây ra trong quá trình đổ và đầm bê tông do các gông cột và khung

định vị chịu, khoảng cách giữa các gông phải được tính toán chính xác đảm bảo khả

năng chịu lực và không vượt quá độ võng cho phép của ván khuôn cột. Gông cột và khung định vị có thể được làm bằng gỗ hay bằng thép.

- Lắp đặt ván khuôn cột:

+ Xác định tim ngang và dọc cột, vạch mặt cắt cột lên mặt nền, sàn.

+ Gim khung cố định chân với những đệm gỗ (đã đặt sẵn trong khối móng hoặc mặt sàn) để làm cữ dựng ván khuôn cột

+ Lắp các tấm khuôn thành hộp. Nếu dựng lắp bằng thủ công thì ta ghép ba mặt (gồm hai tấm trong và một tấm ngoài), tại hiện trường dựng khuôn ba mặt theo khung định vị. Nếu chưa lắp cốt thép cột phải chờ lắp xong cột thép mới lắp tiếp tấm khuôn còn lại, dùng gông để gông chặt các mảng ván lại với nhau. Nếu vận chuyển và cẩu lắp bằng cơ giới thì lắp hộp khuôn cả bốn mặt, và tiến hành gông cứng hộp khuôn, dùng

80

cần cẩu trục nâng hộp khuôn lên cao hơn cốt thép rồi từ từ đặt hộp khuôn đúng khung

định vị.

+ Kiểm tra vị trí và độ thẳng đứng của ván khuôn cột ( bằng dây dọi)

+ Lắp chống xiên, dây neo giữ cho cột thẳng đứng và ổn định:

Với cột cao < 4m : chống 2 đợt

Với cột cao 4-5,5m chống 3 đợt

Góc nghiêng nhỏ nhất 45 , lớn nhất 75

Đối với cột tròn: ván khuôn làm thành 2 lòng máng, mỗi máng là một nửa hình tròn.

Kích thước bên trong lòng máng bằng kích thước cột. Sau đó ghép lại và liên kết với

nhau, rồi điều chỉnh và cố định ván khuôn.

8.4.3 Ván khuôn tường Thường gặp khi thi công lồng thang máy, các vách cứng trong nhà nhiều tầng hoặc

tường nhà bằng bê tông cốt thép.

Cấu tạo ván khuôn tường gồm:

- Các tấm khuôn định hình kích thước nhỏ liên kết với nhau bằng các móc kẹp và

gia cường bằng các nẹp đứng, nẹp ngang tạo thành mảng lớn hoặc dùng ván khuôn tấm

lớn có kích thước bằng kích thước bằng kích thước bề mặt tường. Khoảng cách các

nẹp xác định qua tính toán.

Khi ghép ván khuôn: dùng bulông, các thanh văng để liên kết.

để giữ ổn định cho ván khuôn trong quá trình thi công dùng các chống xiên.

Hình 8.7. Ván khuôn tường

1. Tấm khuôn; 2. Sườn ngang; 3. Sườn dọc; 4. Bu lông giằng; 5. Bản đệm;

6. ống nhựa; 7. Thanh định vị; 8. Thanh cừ bằng bê tông; 9. Thanh cừ tạm bằng

gỗ; 10. Mẩu gỗ chôn sẵn trong bê tông; 11. Thanh chống xiên (hay dây giằng); 12. Con bọ; 13. Móc neo chờ sẵn;14. Nẹp ngang làm điểm tựa.

Phương pháp lắp dựng:

- Xác định vị trí tường và cốt cao độ của chân tường

- Đặt thanh định vị của ván khuôn tường

- Dựng ván khuôn một mặt tường tựa trên những cột chống và neo chắc chắn.

81

- Sau khi đặt xong cốt thép tường mới dựng ván khuôn mặt bên kia tường, ở giữa hai

lớp ván khuôn có thanh văng tạm và neo giữ bằng dây chằng, hoặc bu lông đảm bảo

chiều dầy của tường.

- Giữ ổn định ván khuôn bằng thanh chống hoặc dây neo.

Đối với những tường mỏng và cao, cốt thép dày nên ghép ván khuôn cao khoảng 1,5m rồi đổ và đầm bê tông, đổ xong thì ghép tiếp lên cao.

8.4.4. Ván khuôn dầm, sàn, cầu thang Ván khuôn dầm sàn có thể được ghép từ các tấm khuôn thép định hình, ván gỗ (gỗ xẻ,

hay gỗ dán) hay tấm khuôn nhựa. Hệ thống đỡ cho cốt pha dầm, sàn có thể là cột chống gỗ, cột chống thép đơn hay cột chống tổ hợp.

1. Ván khuôn sàn Ván khuôn sàn bằng gỗ gồm những tấm khuôn có kích thước rộng 0,4 – 0,8 m, dài 1,5

– 2,5 m, dầy 20 -35mm. Để dễ tháo ván khuôn sàn, theo chu vi sàn đặt ván diềm, ván

diềm làm ngăn cách tấm khuôn thành dầm và tấm khuôn sàn. Tấm khuôn được đặt trên

hệ xà gồ bằng gỗ hoặc kim loại, xà gồ được chống đỡ bằng hệ thống cột chống, hệ

thống xà gồ cột chống phải yêu cầu phải dễ tháo lắp, cơ động, làm tăng giảm độ cao dễ

dàng đảm bảo độ luân chuyển tối đa.

Hình 8.8. Cấu tạo ván khuôn dầm, sàn

a) Khi xà gồ đỡ ván sàn vuông góc với ván khuôn dầm; b) Khi xà gồ đỡ ván khuôn sàn song song với ván khuôn dầm; c) Ván khuôn dầm, sàn bằng ván khuôn định hình. 1. Ván diềm; 2. Ván sàn; 3. Xà gồ đỡ ván sàn; 4; Ván khuôn dầm; 5. Nẹp đựng thành

dầm; 6. Nẹp gĩư chân ván thành dầm; 7. Chống xiên; 8. Con bọ; 9. Thanh chống; 10. Cột chống ván khuôn dầm; 11. Cột chống xà gồ đỡ ván khuôn sàn.

2. Ván khuôn dầm Ván khuôn dầm được cấu tạo từ 3 tấm: tấm đáy và hai tấm thành. Với các dầm có

chiều cao lớn hơn 60cm phải có các bu lông giằng chống phình cho ván thành. Cốt pha sàn được đỡ bằng các đà, chống đỡ các đà là hệ cột chống.

82

Hình 8.9. Ván khuôn dầm đơn

a), c) Dầm có chiều cao lớn (h > 400; b) Dầm có chiều cao nhỏ ( h<400); d). Dầm trên tường; e); Tấm khuôn thanh dầm chính tại mối nối dầm chính-dầm phụ; f) Tấm khuôn thanh dầm phụ. 1. Ván thành; 2. Ván đáy; 3. Nẹp đứng; 4. Nẹp giữ chân ván

thành; 5. Thanh văng; 6. Cột chống chữ T; 7. Chống xiên; 8. Con bọ; 9. Dây giằng;

10. Thanh ngang; 11. Tường gạch;12. Tấm thành dầm chính;

13. Ván thành dầm phụ; 14. Khung gia cường; 15. Ván đáy dầm phụ.

8.5. Thiết kế ván khuôn

8.5.1. Xác định tải trọng a . Tải trọng thẳng đứng:

a1. Tải trọng thường xuyên:

- Tải trọng bản thân của ván khuôn, phụ thuộc vào vật liệu làm ván khuôn. Khối lượng

thể tích của gỗ khô phân loại theo TCVN 1072 – 71 như sau: + Gỗ nhóm III có trọng lượng từ: 600 kg/m3 - 730 kg/m3 + Gỗ nhóm IVcó trọng lượng từ: 550 kg/m3 - 610 kg/m3 + Gỗ nhóm Vcó trọng lượng từ: 500 kg/m3 - 540 kg/m3 + Gỗ nhóm VI có trọng lượng từ: 490 kg/m3 trở xuống - Trọng lượng riêng của bê tông nặng: b = 2500kg/m3 - Trọng lượng của cốt thép được xác định dựa vào hàm lượng cốt thép trong bê tông theo thiết kế, không có khối lượng cụ thể thì thường lấy bằng 100 kg/m3. - Tất cả lấy hệ số vượt tải lấy n = 1,2

a2. Tải trọng thi công (tải trọng động)

- Tải trọng người và thiết bị thi công: + Lấy 250 kg/m2 khi tính toán với cốt pha sàn; + Lấy 150 kg/m2 khi tính toán với nẹp gia cường nẹp cốt pha;

83

+ Lấy 100 kg/m2 khi tính toán với cột chống đỡ các kết cấu; - Tải trọng do trút hoặc đầm rung bê tông: 200 kg/m2 - Tất cả lấy hệ số vượt tải lấy n = 1,3

b. Tải trọng ngang b1. Tải trọng động phát sinh khi đổ vữa bê tông, tác dụng vào ván khuôn:

- Đổ bằng máy và ống vòi voi hoặc đổ trực tiếp bằng đường ống từ máy bơm bê tông: p = 400 kg/m2

- Đổ từ thiết bị vận chuyển có dung tích < 0,2 m3 : p = 200 kg/m2

- Đổ từ thiết bị vận chuyển có dung tích từ 0,2 m3 - 0,8 m3: p = 400 kg/m2

- Đổ từ thiết bị vận chuyển có dung tích từ > 0,8 m3: p = 600 kg/m2

b2. Tải trọng do đầm lấy bằng: 200 kg/m2 lấy bằng bề mặt đứng của ván khuôn. b3. Áp lực ngang của vữa bê tông mới đổ tác dụng vào thành ván khuôn:

- Đầm rùi: P = .H Khi H R

- Đầm rùi: P = .(0,27V + 0,78)k k Khi V 0,5, H R.

- Đầm ngoài: P = .H khi V 4,5, H 2R

- Đầm ngoài: P = .(0,27V + 0,78)k k Khi V 4,5, H 2m.

Trong đó:

P - áp lực tối đa của hỗn hợp bê tông, kg/m2

- Khối lượng thể tích của hỗn hợp bê tông đã đầm chặt, kg/m2

H – Chiều cao của mỗi lớp hỗn hợp bê tông tính bằng m

+ khi ®Çm tay th× H lÊy b»ng líp bª t«ng ®æ trong 4 giê.

+ khi ®Çm b»ng ®Çm dïi, lÊy H = 0,75m

+ khi ®Çm b»ng ®Çm ngoµi, H = 2R

+ khi ®Çm b»ng ®Çm mÆt, H = R

R – b¸n kÝnh t¸c dông cña ®Çm m¸y

V – Vận tốc đổ hỗn hợp bê tông, m/h

R và R - Bán kính tác dụng của đầm dùi và đầm ngoài. Đối với đầm dùi nên

lấy R = 0,7m và đầm ngoài R = 1,0m;

k - Hệ số ảnh hưởng độ sụt của hỗn hợp bê tông

- Đối với bê tông cứng và ít linh động với độ sụt 0,2cm – 0,4cm thì k = 0,8.

- Đối với bê tông có độ sụt 4cm – 6cm thì k = 1,0.

- Đối với bê tông có độ sụt 8cm – 12cm thì k = 1,2

k - Hệ số ảnh hưởng nhiệt độ của hỗn hợp bê tông

84

- Với nhiệt độ dưới 8 C, k =1,15

- Với nhiệt độ 8 C - 11 C, k =1,1

- Với nhiệt độ 12 C - 17 C, k =1,0

- Với nhiệt độ 18 C - 27 C, k =0,95

- Với nhiệt độ 28 C - 32 C, k =0,9

- Với nhiệt độ trên 33 C , k =0,85

c. tải trọng gió

- Nếu công trình có chiều cao h < 6m khi thiết kế ván khuôn có thể bỏ qua tải trọng

gió.

- Nếu công trình có chiều cao h > 6m, thì tính theo quy phạm thiết kế.

* Độ võng cho phép của các bộ phận cốt pha do tác động của tải trọng

- Đối với cốt pha của bề mặt lộ ra ngoài kết cấu nhỏ hơn 1/400 nhịp

- Đối với cốt pha của bề mặt lộ ra ngoài kết cấu nhỏ hơn 1/400 nhịp

- Độ võng đàn hồi hoặc lún của gỗ chống cốt pha nhỏ hơn 1/1000 nhịp tự do của các

kết cấu BTCT tương ứng.

8.5.2. Tính toán ván khuôn, cột chống dầm a) Tính toán ván khuôn đáy dầm (ván nằm):

1. Tải trọng

Ván đáy chịu tải trọng thẳng đứng do trọng lượng bản thân của bê tông, của cốt

thép, của ván khuôn (tải trọng tĩnh), trọng lượng của người, xe, máy (tải trọng động)

gây ra.

Để tính toán, ta coi ván đáy như một dầm liên tục có lực phân bố đều là q và

tính toán như sau:

- Xác định tải trọng:

+ Tải trọng tiêu chuẩn:

q = +

Trong đó:

gồm: - Trọng lượng bản thân cốt pha

- Trọng lượng bê tông cốt thép

gồm: - Tải trọng do đổ bê tông

- Tải trọng do đầm bê tông

- Tải trọng do người và dụng cụ thi công

Tải trọng tính toán:

q = + (kg/m )

Trong đó: n, n là các hệ số vượt tải

- Tải trọng phân bố đều trên mặt cốt pha:

85

q = ( + ).b (kg/m )

Trong đó: b là chiều rộng một dải tính toán

2. Sơ đồ tính toán

Coi đà đỡ lớp trên (sát tấm cốt pha) như các gối tựa, ván làm việc như một dầm liên tục

- Xác định mômen uốn do tải trọng q gây ra ở ván đáy dầm. Vì ván đáy dầm như một

dầm liên tục chịu tải trọng q phân bố đều nên ta có:

M =

- Mặt khác ta có: M = w.[ ]

Trong đó:

W – mômen kháng uốn, tính theo công thức w =

M - là khả năng chịu uốn của ván đáy

[ ] – là ứng suất cho phép của gỗ.

- Để cho hệ ván khuôn chịu được được lực tác dụng, ta phải có M = M

Nghĩa là = w.[ ] do đó ta có: l =

- Thử lại khoảng cách giữa các cột trống (l) như đã tính toán ở trên theo độ võng cho phép bằng công thức:

f [f]

Tương đương: f= l = [f]

Trong đó: E = 1,2.10

J =

b) Tính toán ván khuôn đứng

1. Tải trọng

- Tải trọng tiêu chuẩn:

q = .H +

86

Trong đó: .H – áp lực ngang của vữa bê tông

= q + q

q - tải trọng do đổ bê tông gây nên

q - tải trọng do đầm rung

Tuy nhiên với cốt pha đứng, thường khi đổ thì không đầm và ngược lại do vậy khi tính

toán lấy giá trị nào lớn hơn.

- Tải trọng tính toán:

q = n. .H + q

n và n - hệ số vượt tải

- Tải trọng phân bố đều trên mét dài:

q = (n. .H + q ).b

b – Chiều rộng một dải tính toán

Cốt pha đứng ở độ cao 6m thì phải tính với tải trọng

gió (TCVN4453-95)

2. Sơ đồ tính toán

Coi gông (với cột), chống đứng (với cốt pha thành

móng, thành dầm…) là các gối tựa, cốt pha làm việc như một dầm liên tục.

Để đơn giản, coi lực tác dụng lên thành cốt pha là phân

bố đều và mômen chọn tính toán được tính theo công

thức:

M =

Trong đó:

q - tải trọng tính toán

l – khoảng cách các gông sườn

M - trị số mômen chọn để tính toán

Từ đó ta có: l =

Mặt khác: M = [ ].W

Thay M = [ ].W ta sẽ tính được l

Trong đó:

[ ] – ứng suất cho phép của vật liệu làm cốt pha

W – mômen kháng uốn W =

b – chiều rộng dải tính toán

87

h – chiều dầy của cốt pha gỗ Khi tính toán cốt pha định hình thì W được tra bảng

- Kiểm tra độ võng của cốt pha: độ võng của cốt pha đứng phải thỏa mãn điều kiện

sau:

f [f]

Tương đương: f= l = [f]

Trong đó: E = 1,2.10

J =

c) Thiết kế cột chống: Để thiết kế cột chống ta chọn tiết diện cột trước rồi đi kiểm tra

khả năng chịu nén, khả năng chống uốn dọc của cột.

Kiểm tra khả năng chịu nén theo công thức :

= R

Kiểm tra về ổn định của cột chống theo công thức:

= R

Trong đó:

R - là cường độ chịu nén của gỗ

N – là tải trọng tác dụng lên cột

F – là diện tích mặt cắt ngang cột

- là hệ số uốn dọc, phụ thuộc vào độ mảnh của cột, được lấy như sau:

= khi >75

= 1 – 0,8 khi 75

=

Trong đó:

l - là chiều dài tính toán của cột chống: l = l; l chiều dài cột;

- là hệ số phụ thuộc vào sự liên kết hai đầu cột. Vì hai đầu cột chống có các giằng

ngang nên coi như hai đầu ngàm do đó = 0,65;

r - là bán kính quán tính nhỏ nhất của tiết diện nguyên của cột

r =

Với cột tròn r = 0,25d; cột tiết diện chữ nhật r = 0,289b

88

d- là đường kính cột; b: là cạnh ngắn của tiết diện.

8.6. Nghiệm thu ván khuôn

Sau khi lắp dựng xong ván khuôn, cột chống, sàn thao tác. Trước khi lắp đặt cốt

thép, ta phải nghiệm thu ván khuôn theo những nội dung.

8.6.1. Ván khuôn - Nghiệm thu tim trục, cao trình, vị trí ván khuôn.

- Độ phẳng giữa các tấm ghép nối, mức độ ghồ ghề giữa các tấm phải < 3mm.

- Độ kín khít giữa các tấm ván khuôn, giữa ván khuôn và mặt nền: ván khuôn phải

được ghép kín, khít đảm bảo không mất nước xi măng khi đổ và đầm bê tông. - Nghiệm thu hình dáng, kích thước ván khuôn: Phải bảo đảm hình dáng kích thước

của kết cấu.

- Các chi tiết chôn ngầm và đặt sẵn: Bảo đảm kích thước, vị trí và số lượng so

với thiết kế.

- Chống dính cho ván khuôn: Lớp chống dính phải phủ kín các mặt ván khuôn tiếp xúc với bê tông.

- Vệ sinh bên trong ván khuôn: không còn rác, bùn đất và các chất bẩn khác bên trong ván khuôn.

- Độ ẩm của ván khuôn gỗ: Ván khuôn gỗ phải được tưới nước trước khi đổ bê

tông.

8.6.2. Đà giáo - Kết cấu đà giáo: Đà giáo phải được lắp đặt đảm bảo kích thước, số lượng theo

thiết kế.

- Chống cột: Phải được kê, đệm, đặt lên trên nền cứng, đảm bảo ổn định. Hạn

chế nối cột chống, các mối nối không được bố trí trên cùng một mặt cắt ngang và ở vị

trí chịu lực lớn.

- Độ cứng và đô ổn định: cột chống được giăng chéo và giằng ngang đủ số

lượng, kích thước và vị trí theo thiết kế.

8.7. Tháo dỡ ván khuôn - Phải tháo dỡ theo đúng trình tự đã đươc qui định sao cho trong quá trình tháo

dỡ, kết cấu làm việc theo đúng sơ đồ kết câu đã được tính toán. Khi tháo dỡ ván khuôn, đà giáo tránh không gây ra ứng suất đột ngột hay va chạm mạnh làm hư hại đến kết cấu.

- Ván khuôn và đà giáo chỉ được tháo dỡ khi bê tông đã đạt đươc cường độ cần thiết để kết cấu chịu được tải trọng bản thân và các tải trọng tác động khác trong giai đoạn thi công sau.

- Các bộ phận của ván khuôn không còn chịu lực khi bê tông đã đông cứng (ván khuôn thành, cột, tường...) được tháo dỡ khi bê tông đã đạt được cường độ tối thiểu là 25kg/cm2.

89

- Đối với ván khuôn, đà giáo chịu lực của kết cấu (ván khuôn đáy dầm, sàn...) nếu

không có chỉ dẫn của thiết kế thì đươc tháo dỡ theo qui định sau:

Cường độ bê Thời gian tối thiêu để Loại kết cấu tháo ván khuôn (ngày) tông phải đạt (%R28)

+ Bản, dầm, vòm có nhịp nhỏ hơn 2m 50 7

70 10 + Bản, dầm, vòm có nhịp từ 2m  8m

+ Bản, dầm, vòm có nhịp lơn hơn 8m 100 28

- Các kết cấu ô văng, console, sê nô chỉ được tháo dỡ cột chống và ván khuôn

đáy khi cường độ bê tông đã đạt đủ mác thiết kế và đã có đổi trọng chống lật.

- Khi tháo cột chống của các kết cấu như dầm, console phải tháo sao cho đúng

với sơ đồ làm việc của kết cấu.

- Tháo dỡ ván khuôn đà giáo ở các tấm sàn ở các nhà nhiều tầng được thực hiện

như sau:

+ Giữ lại toàn bộ đà giáo và cột chống ở tấm sàn nằm kề dưới tấm sàn sắp đổ bê

tông.

+ Tháo dỡ từng bộ phận cột chống ván khuôn của tấm sàn kề dưới nửa (cách sàn

đang thi công một tầng) và giữ lại một số cột chống “an toàn” cách nhau 3 m dưới các

dầm và sàn có nhịp lớn hơn 4m.

B. Nội dung thảo luận

- Đề tài thảo luận: Trình bày công tác: ván khuôn móng, VK cột, VK dầm, VK sàn

(dụng cụ, trình tự thi công, cấu tạo và yêu cầu kỹ thuật).

- Yêu cầu mỗi nhóm đóng 2 quyển A4 (1 nộp GV, 1 dùng báo cáo) gồm: Trang bìa (Tiêu đề, tên nhóm, đề bài, tên sinh viên và giáo viên), Mục lục và Nội dung.

IX. CHƯƠNG 9. CÔNG TÁC CỐT THÉP

I.1. Mục tiêu, nhiệm vụ - Mục tiêu: Cung cấp các kiến thức để gia công cốt thép trong công nghệ đổ bê tông tại

chỗ.

- Tóm tắt nội dung chương: Chương chín lần lượt nghiên cứu các kiến thức về đặc điểm công nghệ và phân loại thép XD, gia cường cốt thép, gia cường nắn thẳng , đo cắt, uốn cốt thép, hàn nối cốt thép và đặt cốt thép vào ván khuôn, nghiệm thu cốt thép.

I.2. Các nội dung cụ thể

A. Nội dung lý thuyết

9.1. Đặc điểm công nghệ và phân loại thép trong xây dựng.

9.1.1. Đặc điểm công nghệ

- Công tác cốt thép là môt trong ba dây chuyền bộ phận của công nghệ thi công

kết cấu bê tông cốt thép tại chỗ.

90

- Tùy thuộc vào biện pháp thi công, đặc điểm của kết cấu đang thi công mà dây

chuyền cốt thép có thể đi trước, đi sau hay đi xen kẽ với dây chuyền ván khuôn. -

Kho thép

Thép cuộn

Thép thanh

Hàn nối

Nắn thẳng

Gia cường

Nắn thẳng

Đo, cắt

Gia cường

` a

Đo, cắt

Uốn

Làm đai

Uốn tạo hình

c ư ờ n g

Hàn, buộc khung lưới

i a

Buộc, hàn khung

c ư ờ n g

Buộc, hàn khung

Lắp dựng vào khuôn

Công tác cốt thép bao gồm các công đoạn được mô tả theo sơ đồ dưới đây:

- Sản phẩm của công tác cốt thép bao gồm: Thép thanh, thép lưới, khung phẳng, khung không gian.

9.1.2. Phân loại thép trong xây dựng

1. Phân theo hình dáng bên ngoài - Thép thanh hay thép sợi hình tròn trơn ( nhóm AI). - Thép thanh hay thép sợi hình tròn có gờ (nhóm AII, AIII). 2. Phân theo phương pháp chế tạo - Thép thanh cán nóng : + Loại tròn trơn: nhóm AI.

91

+ Loại có gờ: nhóm AII, AIII. - Thép sợi kéo nguội.

3. Phân theo cường độ chịu lực + Nhóm AI: Rk = 2100kg/cm2 (1  40). + Nhóm AII: Rk = 2700kg/cm2 (10   40). + Nhóm AIII: Rk = 3400kg/cm2  3600kg/cm2 (10   40 ). + Thép dự ứng lực (thép cường độ cao): Rk = 10.000kg/cm2 18.000kg/cm2. 4. Phân thép chức năng và trạng thái làm việc của từng thanh trong kết cấu + Thép chịu lực.

+ Thép cấu tạo.

9.2. Gia cường cốt thép.

9.2.1. Khái niệm và nguyên lý

1. Khái niệm - Gia cường cột thép là làm cường độ chịu lực của cốt thép t ố t lên so với

cường độ vốn có của nó.

+ Có nhiều phương pháp để gia cường cốt thép: gia cường nguội, gia cường

nóng... Ở đây ta chỉ nghiên cứu các phương pháp gia cường nguội. Gia cường nguội

là tăng cường độ cốt thép bằng các tác động cơ học mà không sử dụng nhiệt

2. Nguyên lý gia cường nguội Người ta dựa vào tính chất của thép khi chịu kéo được biểu diễn trên biểu đồ

quan hệ giữa ứng suất và biến dạng gồm ba giai đoạn như hình vẽ 9.1:

+ Giai đoạn đàn hồi (đoạn thẳng OA) quan

hệ giữa ứng suất và biến dạng là tuyến tính: nếu

khi kéo trong giai đoạn này rồi giảm tải thì biêu

độ sẽ trở về tại tại đường cũ đến gốc O.

+ Giai đoạn biến dạng dẻo (đoạn nằm

ngang BC và đoạn cung AB). Đoạn nằm ngang

gọi là thềm chảy: ứng suất tăng rất ít nhưng biến dạng tăng rất lớn. Nếu kéo thép trong giai đoạn này (giả sử kéo đến điểm C rồi giảm tải thì biểu

Hình 9-1. Biểu đồ quan hệ giữa ứng suất và biến dạng của thép

khi chịu kéo

đồ không trở về đường cũ mà trở về theo đương CO’ // OA. Khi ứng suất giảm đến không thì vẫn còn một biến dạng dư d. Nếu lại kéo thép một lần nữa thì biểu đồ là đường O’CD. Có giới hạn đàn hồi b > tl (tl : giới hạn đàn hồi của thanh thép khi chưa kéo). Người ta lợi dụng tính chất này để làm tăng cường độ của thép.

92

+ Vậy gia cường nguội là ta kéo trước thép đến giai đoạn biến dạng dẻo rồi giảm tải

để tăng giới hạn đàn hồi.

9.2.2. Các phương pháp gia cường nguội

1. Gia cường cốt thép bằng kéo nguội + Đây là phương pháp đơn giản để gia cường cốt thép, trong nhiều trường hợp có thể

thực hiện ngay trên công trình bằng các thiết bị đơn giản.

+ Thanh thép được kéo giãn nhờ hệ thống ròng rọc, đối trọng, tời, bệ kéo, bệ giữ (hình

9-2).

Hình 9-2. Sơ đồ nguyên lý phương pháp kéo nguội cốt thép

1. Thanh thép cần gia cường; 2. Bệ kéo; 3. Bệ giữ; 4. Tời; 5. Cọc giữ; 6. Đối trọng;

7. Giá đỡ.

+ Áp dụng phương pháp này cho những thanh thép có  22mm.

+ Thanh thép được kéo với độ giãn dài tương đối l = (3  8)%

l1; l0: chiều dài thanh thép trước và sau khi kéo) cường độ sẽ tăng

thêm từ 20 30%.

Hình 9-3. Nguyên lý dập nguội cốt thép

2. Gia cường cốt thép bằng dập nguội

+ Dùng máy gây biến dạng bề mặt thanh thép, thanh thép được dập cách quãng

từ hai măt hay bốn mặt (hình 9-3).

+ Hiệu quả của quá trình dập nguội biểu hiện bằng hệ số biến dạng do

dập:

D: đường kính thanh thép trước khi dập; d: đường kính thanh thép tại vị trí dâp.

93

+ Dập nguội không những làm tăng cường độ thép mà còn làm tăng độ bám dính

của thép và bê tông

+ Khi dập nguội với  = 10% 14% thì thép sẽ có độ giãn dài tương đối l =

4%  7%, cường độ tăng lên đến 25% và độ bám dính tăng lên 1,7  2,4 lần. Dập nguội được áp dụng cho thép nhóm AI. 3. Gia cường thép bằng chuốt nguội + Thanh thép được gia cường bằng cách kéo nguội qua một lỗ có đường kính nhỏ

hơn đường kính của thanh thép (hình 9-4).

+ Hiệu quả của viêc kéo nguội được thể hiện

qua chỉ số biến dạng thể hiện qua sự thay đổi

tiết diện thanh thép:

Fo, F: Diện tích tiết diện thanh thép

trước và sau khi chuốt.

+ Khi kéo nguội với  F = 10%  20% thì độ dãn

Hình 9-4. Nguyên lý chuốt nguội cốt

thép

dài  l = 20%  30%. + Áp dụng để gia cường thép nhóm AI, AII với đường kính thép ≤ 10mm và được dùng

trong công nghệ chế tạo đinh.

9.3. Gia công nắn thẳng, đo, cắt, uốn cốt thép.

9.3.1. Phương pháp thủ công

1. Nắn thẳng - Cốt thép trước khi cắt, uốn thì phải được sửa hay nắn thẳng. Đối với thép cuộn

(  < 10mm) ta dùng tời để nắn thẳng cốt thép. Tời nắn thẳng có thể là tời điện hay

tời tay. Khi tời thép cần phải có khoảng sân có chiều dài từ 30  50m. Sân phải

bằng phẳng. Cuộn thép cần được nắn thẳng phải đặt trên một giá có trục quay để thanh

thép không bị xoăn.

- Với thép có  10mm thường có chiều dài 11.7m, thanh thép được uốn chữ U

vì lý do vận chuyển từ nhà máy sản xuất đến kho hay công trình, từ kho đến công trường... Do đó trước khi thi công uốn, cắt thanh thép phải được nắn thẳng. Dùng sức người để bẻ hai nhánh U cho tương đối thẳng rồi dùng vam, búa để sửa cho thẳng.

2. Cạo rỉ

Cốt thép trước khi gia công, lắp đặt hay đổ bê tông phải được cạo rỉ. Có thể cạo

rỉ sắt bằng bàn chải sắt hay có thể tuốt thép trong cát để làm sạch rỉ.

3. Đo lấy mức - Trước khi cắt, uốn thanh thép phải được đo và làm dấu để sau khi gia công đảm bảo hình dáng, kích thước so với thiết kế, dùng thước đo và đánh dấu trên thanh thép

94

bằng phấn trắng hay sơn.

- Đối vói những thanh thép có gia công uốn phải kể đến sự giãn dài của cốt thép

khi uốn. + Khi uốn cong 450 thì thép giãn dài thêm 0,5d. + Khi uốn cong 900 thì thép giãn dài thêm 1d và uốn cong 1800 thì giãn dài thêm 1,5d (với d là đường kính cốt thép).

4. Cắt thép

- Cốt thép có  8mm dùng kéo để cắt.

- Thép có  18mm dùng đục và búa để cắt, có

thể dùng cưa máy để cắt.

- Thép có > 18mm dùng máy cắt hay máy hàn,

dùng cưa để cắt.

5. Uốn thép

- Dùng vam để uốn các thép có  8mm.

- Đối với thép có đường kính lớn hơn Hình 9-5. Một số dụng cụ uốn thép bằng thủ công a) Bàn uốn quay dùng bàn uốn để uốn. Bàn uốn có thể xoay đươc; b) Bàn uốn cố định; c) Chi bằng sức người hay dùng tời để xoay. tiết vam uốn. 1. Thanh thép được - Có thể dùng bàn uốn cố định và kết hợp uốn; 2. Bàn uốn; 3. Chốt giữ; 4. các vam để uốn thép. Chốt cố định; 5. Chốt uốn; 6. Vam

9.3.2. Phương pháp cơ giới uốn; 7. Hướng uốn. Được áp dụng khi khối lượng thi công

lớn hay trong các nhà máy bê tông cốt thép chế tạo sẵn. Thanh thép sẽ được nắn thẳng,

cạo rỉ, đo, cắt nhờ một máy tự động.

Hình 9.6. Sơ đồ nguyên lý máy tự động gia công nắn thẳng,

cạo rỉ, đo, cắt thép; 1.Thanh thép được gia công; 2. Ống hình trụ; 3. Ròng rọc kéo;

4. Ròng rọc uốn; 5. Dao cắt; 6. Vật cản động mạch; 7. Hệ thống mạch điện.

Nguyên lí hoạt động: Thanh thép cần đươc gia công (1) cho qua ống hình trụ

(2) trong đó có các ròng rọc kéo (3), uốn (4) để nắn thẳng và đánh rỉ cốt thép. Khi

đầu thanh thép chạm vào vật cản (6) thì mạch điện được đóng lại và dao cắt (5) hoạt động cắt đứt thanh thép.

Điều chỉnh khoảng cách L giữa dao cắt và vật cản đóng mạch để được các

95

thanh thép đúng chiều dài thiết kế.

- Máy uốn thép: Các thanh thép cần uốn được cấu tạo thành lưới và đặt trên bệ máy

rồi điều chỉnh các kích uốn và kích giữ để uốn thép.

Hình 9.7. Máy uốn thép

1. Lưới thép cần uốn; 2. Bệ máy; 3. Bàn uốn; 4. Kích giữ;

5. Kích uốn; 6. Hướng uốn.

9.4. Nối cốt thép Phải nối cốt thép vì để đảm bảo chiều dài thanh thép khi thiết kế, hay để tận dụng

thép thừa, Nối cốt thép nhằm tiết kiệm thép. Có hai cách nối cốt thép: nối buộc (nối

mối ướt) và nối hàn (nối mối khô).

9.4.1. Nối buộc

1. Áp dụng Nối buộc chỉ áp dụng cho những trường hợp sau:

- Đường kính các thanh thép cần nối  16mm.

- Những thanh thép đã được gia cường nguội.

2. Phương pháp

- Hai thanh thép nối được đặt chồng lên nhau theo đúng chiều dài nối yêu cầu.

- Dùng thanh mềm có = 1mm buộc lại.

- Mối nối chỉ chịu lực khi bê tông đã đạt được cường độ thiết kế.

3. Yêu cầu kỹ thuật

- Không nối cốt thép tại các vị trí chịu lực lớn và chỗ uốn cong.

- Trong một mặt cắt ngang của tiết diện kết cấu không nối quá 25% diện tích tổng cộng của cốt thép chịu lực đối với thép trơn, không quá 50% đối với cốt thép

gờ.

- Trong các mối nối cần buộc ít nhất tại 3 vị trí (đầu, cuối và giữa).

- Khi nối buộc cốt thép ở vùng chịu kéo phải uốn móc đối với thép tròn trơn.

- Cần uốn thép để 2 thanh thép nối làm việc đồng trục. - Chiều dài đoạn nối buộc (lnối) của cốt thép chịu lực trong các khung và lưới thép không được nhỏ hơn 250mm đối với cốt thép chịu kéo; không nhỏ hơn

200mm đối với cốt thép chịu nén và không được nhỏ hơn giá trị sau: (trong bảng d:

96

là đường kính thanh thép).

Chiều dài nối buộc

Vùng chịu kéo Vùng chịu nén Loại cốt thép

Kêt cấu Đầu cột Dầm, tường Đầu cột thép không khác thép có móc có móc

Cốt thép trơn cán nóng 40d 30d 20d 30d

40d 30d - 20d Cốt thép có gờ cán nóng

Cốt thép kéo nguội 45d 35d 20d 30d

9.4.2. Nối hàn

1. Đặc điểm - áp dụng - Cốt thép nối bằng phương pháp hàn có khả năng chịu lực được ngay sau khi nối.

- Được sử dụng phổ biến trong xây dựng. Việc nối hàn được áp dụng đối với cốt thép có

>16mm.

2. Các phương pháp hàn a. Phương pháp hàn tiếp điểm

Nguyên lý hàn: Điện áp được hạ từ 380V

còn 3 – 9 V nhờ máy biến áp. Hai thanh

thép được đặt tiếp xúc nhau tại vị trí định

hàn và được kẹp giữa hai cực của máy hàn. Hai cực hàn được nối với dòng điện thứ

cấp. khi đóng mạch, dòng điện sẽ phóng

qua hai cực làm cho 2 thanh thép được

nung đỏ lên, lúc đó dung một lực ép hai

cực hàn lại với nhau để 2 thanh thép dính

lại.

Hàn đối đầu

Áp dụng: Hàn tiếp điểm thường

dùng để hàn lưới, hàn khung với cốt thép

1,2. Thanh thép được hàn; 3. Cực hàn cố định; 4. Cực hàn ép; 5. Kích giữ cố định; 6. Kích giữ di động; 7. Kích ép; 8. Máy biến áp

có Φ ≤ 10mm.

b. Phương pháp hàn đối đầu.

Nguyên lý: dòng điện cao áp 380V được hạ xuống 1,2 ÷ 9V nhà máy biến áp.

Cho dòng điện thứ cấp chạy qua hai cực hàn và truyền tải hai thanh thép được hàn. Tại điểm tiếp xúc của hai đầu thanh thép điện trở lớn lên làm sinh nhiệt đốt đỏ hai đầu thanh

thép dính lại với nhau.

97

Áp dụng: Hàn đối đầu chỉ áp dụng với thép chịu nén có đường kính Φ 12 mm

- Hàn đối đầu có 2 chế độ hàn:

+ Hàn liên tục: Hai thanh thép được ép một lần cho đến khi được dính lại với nhau. Mật

độ dòng điện khoảng 800(A/cm ). Áp dụng để hàn thép nhóm C .

+ Hàn không liên tục: là hai thanh thép được ép vào rồi nhả ra một vài lần đến khi dính

lại với nhau. Mật độ dòng điện khoảng 250÷700 (A/ cm ) áp dụng để hàn cho các nhóm

thép C , C .

c. Hàn hồ quang

Nguyên lý: Dùng dòng thứ cấp có hiệu điện thế từ 40V – 60V tạo ra tia hồ quang đốt cháy que hàn lấp trống chỗ hàn. Hai thanh thép được hàn đặt cách nhau một khoảng 2-

4mm. Que hàn được đặt các vị trí hàn một khoảng 2-4mm trong suốt quá trình hàn.

áp dụng: Hàn hồ quang được áp dụng phổ biến trong xây dựng. Chỉ hàn cốt thép có

>8mm.

Hàn hồ quang có các kiểu hàn thông dụng sau:

- Hàn đối đầu

- Hàn chắp

- Hàn ốp thép tròn

- Hàn ống máng (máng U hay V)

Yêu cầu kỹ thuật: - Bề mặt mối hàn phải nhẵn, không cháy không đứt quãng, không thu hẹp cục bộ và

không có bọt.

- Đảm bảo chiều dài và chiều cao đường hàn. Nối cốt thép trong vùng chịu nến thì Lnối

5d; Nối trong vùng chịu kéo thì Lnối 10d; với d là đường kính của thanh thép.

- Đảm bảo sự đồng trục của các thanh thép được hàn.

Hình 9.10. Các kiểu nối hàn cốt thép

a) Hàn nối đối đầu; b) Hàn nối chắp; c) Hàn nối ống thép tròn; d) Hàn nối máng U hay V

1. Các thanh thép được hàn nối; 2. Thanh thép ốp; 3. Máng hàn bằng thép U hay V; 4. Đường hàn nối.

9.5. Đặt cốt thép vào ván khuôn.

98

9.5.1. Yêu cầu kỹ thuật chung - Cốt thép phải đảm bảo vệ sinh, phải được đánh gỉ, vệ sinh sạch sẽ bùn đất...

- Các bộ phận cốt thép lắp dựng trước không gây ảnh hưởng đến các bộ phận cốt thép

lắp dựng sau.

- Phải có biện pháp ổn định vị trí cốt thép trong khuôn không để biến dạng trong suốt

quá trình đổ bê tông.

- Cốt thép phải đúng chủng loại theo thiết kế. Nếu trên thị trường hay trên công trường

không có thì tùy theo mức độ và được sự cho phép của đơn vị chức năng, có thể qui đổi

cốt thép theo công thức: F’ = trong đó: F , R : diện tích và cường độ của cốt

thép theo thiết kế; F’ , R’ : diện tích và cường độ của cốt thép thay thế.

- Cốt thép đặt vào khuôn phải đúng hình dáng, kích thước, số thanh, vị trí.

- Phải đảm bảo bề dày lớp bê tông bảo vệ cốt thép. Để tạo lớp bê tông bảo vệ, con kê phải được chế tạo bằng các vật liệu không ăn mòn cốt thép và phá hủy bê tông, thông

thường được chế tạo bằng vữa xi măng hay bằng nhựa.

* Việc liên kết các thanh thép khi lắp dựng cần phải đảm bảo yêu cầu sau:

- Số lượng mối nối buộc hay hàn dính không nhỏ hơn 50% số điểm giao nhau theo thứ tự xen kẽ.

- Trong mọi trường hợp, các góc của đai thép với thép chịu lực phải buộc hoặc hàn đính

100%.

- Đối với các lưới thép thì tất cả các giao điểm theo chu vi đều phải buộc (hay hàn), các

giao điểm bên trong thì buộc (hàn) cách một.

9.5.2. Phương pháp đặt cốt thép

1. Đặt từng thanh - Cốt thép được đưa vào khuôn từng thanh sau đó tiến hành buộc hay hàn để tạo thành

khung hay lưới theo thiết kế.

- Phương pháp này không cần phương tiện vận chuyển nhưng số lao động tham gia

buộc, hàn thép ngay tại hiện trường lớn sẽ rất nguy hiểm khi thi công trên cao.

- áp dụng phương pháp đặt từng thanh để lắp dựng cốt thép móng, cốt thép sàn, cốt thép dầm, cột...

2. Đặt từng phần - Cốt thép được buộc thành từng bộ phận sau đó được đưa vào khuôn và liên kết các

bộ phận lại.

- Phương pháp này được giảm số lao động làm việc tại hiện trường nhưng khó khăn cho việc cẩu đặt các bộ phận cốt thép.

- áp dụng để lắp đặt cốt thép móng ( cốt thép được gia công thành các lưới thép rồi đặt vào khuôn và tiếp tục lắp đặt cốt thép cột, cốt thép lớp trên...), cốt thép sàn...

3. Đặt toàn bộ

99

- Cốt thép được gia công thành khung, lưới...theo từng bộ phận kết cấu sau đó được

cẩu lắp đặt vào khuôn.

- Lắp đặt nhanh, giảm được tối đa số nhân công ngoài hiện trường nhưng phải có

phương tiện cẩu lắp , yêu cầu đội ngũ công nhân và cán bộ kỹ thuật lành nghề, yêu cầu

thi công lắp đặt ván khuôn cũng như lắp đặt cốt thép phải hết sức chính xác. áp dụng để lắp đặt cốt thép cột dầm...

9.6. Nghiệm thu cốt thép. Trước khi đổ bê tông phải tiến hành nghiệm thu cốt thép với các nội dung sau:

- Chủng loại thép và sự phù hợp về việc thay đổi cốt thép so với thiết kế

- Công tác gia công cốt thép: cắt, uốn, làm sạch cốt thép, hình dạng sản phẩm sau khi gia

công, nếu sai lệch phải nhỏ hơn hoặc bằng trị số cho phép. - Hình dáng, kích thước của cốt thép, số thanh, khoảng cách giữa các thanh so với thiết

kế.

- Sự thích hợp của các con kê tạo lớp bảo vệ cốt thép: Kích thước vật liệu chế tạo, mật độ ( không được lớn hơn 1m một con kê).

- Độ ổn định của cốt thép trong khuôn: ổn định của các thanh thép, giữa các lớp thép, và

toàn bộ cốt thép trong khuôn.

- Các hồ sơ cần có khi nghiệm thu cốt thép:

+ Các bản vẽ thiết kế có ghi đầy đủ sự thay đổi về cốt thép trong quá trình thi công và

kèm theo biên bản về quyết định thay đổi.

+ Các kết quả kiểm tra mẫu thử về chất lượng thép, mối hàn và chất lượng gia công cốt

thép.

- Các biên bản thay đổi cốt thép trên công trường so với thiết kế.

- Các biên bản nghiệm thu kỹ thuật trong quá trình gia công và lắp dựng cốt thép.

- Nhật ký công trình.

B. Nội dung thảo luận

- Đề tài thảo luận: Trình bầy công tác gia công cốt thép.

- Yêu cầu mỗi nhóm đóng 2 quyển A4 (1 nộp GV, 1 dùng báo cáo) gồm: Trang bìa (Tiêu đề, tên nhóm, đề bài, tên sinh viên và giáo viên), Mục lục và Nội dung.

X. CHƯƠNG 10. CÔNG TÁC BÊ TÔNG

X.1. Mục tiêu, nhiệm vụ - Mục tiêu: cung cấp cho sinh viên các kiến thức để thi công công tác bê tông.

- Tóm tắt nội dung: Chương 10 cung cấp các khái niệm về bê tông, yêu cầu chất lượng đối với bê tông, xác định thành phần mẻ trộn, dây truyền công nghệ của công tác bê

tông và kỹ thuật trộn bê tông thủ công, trộn bê tông bằng máy, kỹ thuật vận chuyển vữa bê tông, các cách rót bê tông vào khuôn, kỹ thuật rải vữa bê tông trong khuôn, đầm bê tông, bảo dưỡng bê tông và sửa chữa khuyết tật sau khi đổ bê tông.

100

X.2. Các nội dung cụ thể A. Nội dung lý thuyết

10.1. Công tác chuẩn bị vật liệu. Vật liệu chuẩn bị cho bê tông bao gồm : Xi măng, cát, đá (sỏi), nước.

- Xi măng là chất kết dính trong bê tông, khi sử dụng cần chú ý:

Xi măng đưa về công trường phải đúng số hiệu, đúng mác thiết kế, mỗi đợt xi măng đưa

về phải có giấy chứng nhận phẩm chất xi măng, cần lấy mẫu kiểm tra tính đồng đều khi

dãn nở thể tích, xác định độ dẻo tiêu chuẩn và thời hạn đông kết của xi măng theo tiêu chuẩn hiện hành. Trong những trường hợp sau nhất thiết phải kiểm tra cường độ của xi măng ở công trường:

+ Khi lô xi măng đã được bảo quản quá 3 tháng kể từ ngày sản xuất

+ Nếu nghi ngờ về cường độ của xi măng không phù hợp với chứng nhận của nhà máy

sản xuất xi măng.

+ Để sử dụng xi măng tương ứng với cường độ thực tế của nó.

- Cát dùng trong để trộn phải là cát vàng sạch, ít lẫn tạp chất, đúng cấp phối và phải đảm bảo các yêu cầu sau:

+ Không lẫn những hạt sỏi, đá dăm có kích thước lớn hơn 10mm, những hạt có kích

thước từ 5-10mm lẫn trong cát không quá 5% trọng lượng (trường hợp đặc biệt có thể

lẫn đến 10%).

+ Không lẫn nhiều bụi, bùn và đất sét, hàm lượng tạp chất này không vượt quá 3% trọng

lượng, nếu vượt quá quy định phải sàn hoặc rửa để loại bớt.

+ Hàm lượng mi ca trong cát không vượt quá 1% trọng lượng.

+ Có thể dùng cát hạt mịn (cát tiền sông, ven biển) để chế tạo bê tông nhưng phải tuân

theo những yêu cầu riêng đối với loại vật liệu này.

+ Bãi chứa cát phải khô giáo, đổ đống theo từng loại để tiện sử dụng, đống cát ngoài trời

phải che đậy, tránh gió bay, mưa trôi lẫn đất.

- Đá (sỏi): Để chế tạo bê tông là đá dăm nghiền đập từ đá thiên nhiên, sỏi dăm đập từ sỏi

cuội và sỏi thiên nhiên, không được dùng đá bị phong hóa. Sỏi, đá phải đúng cấp phối và đảm bảo các yêu cầu sau:

+ Sỏi, đá phải sạch, không dính bùn đất, rác, lá cây gỗ mục ... + Tỷ lệ những hòn dẹt, hình thoi không quá 15%

+ Tỷ lệ đất sét, phù sa không quá 2% khi dùng bê tông mác trên 150, không quá 3% cho bê tông mác 100 -150.

+ Tỷ lệ các chất lưu huỳnh không quá 1% ( tính theo trọng lượng)

+ Lượng nham thạch xấu trong sỏi, đá không quá 10% (tính theo trọng lượng). Riêng bê tông trong vùng nước thay đổi thì không được vượt quá 5%. Trong sỏi, đá không được lẫn sét cục.

101

- Nước: Nước để dùng rửa cốt liệu, trộn bê tông và bảo dưỡng bê tông phải là nước

sạch, để không ảnh hưởng xấu đến thời gian ninh kết và rắn chắc của bê tông và không

gây ăn mòn cốt thép. Thông thường các nguồn nước uống được đều có thể dùng cho bê

tông được. Không dùng nước thải của các nhà máy, nước bẩn từ hệ thống thoát nước

sinh hoạt, nước hồ ao chứa nhiều bùn, nước có váng dầu mỡ, nước sông có nhiều phù sa

để trộn bê tông

- Phụ gia: Để tiết kiệm xi măng hoặc cải thiện các đặc tính kỹ thuật của hỗn hợp bê tông người ta cho thêm vào các chất phụ gia là tăng nhanh, hay chậm lại quá trình đông cứng của bê tông, chất hóa dẻo, chất gia khí. Các loại phụ gia sử dụng phải có chứng chỉ kỹ

thuật được các cơ quan quản lý nhà nước công nhận. Khi sử dụng phụ gia cần tuân theo

chỉ dẫn của nơi sản xuất.

10.2. Xác định thành phần cấp phối. - Dựa vào mác bê tông mà thiết kế quy định (Bolomey – Skramtaev) tiến hành thính

nghiệm đối với vật liệu ngoài hiện trường để tìm ra khối lượng xi măng, cát, đá (hay

sỏi) và thể tích nước trong một 1m bê tông.

- Tùy theo công suất của thiết bị trộn bê tông mà ta xác định thành phần cấp phối cho

mẻ trộn.

- Thông thường ngoài hiện trường xi măng được tính bằng Kg (theo từng bao 50 kg),

cát, đá, (sỏi) được đo bằng các hộc tiêu chuẩn hay xe rùa ( thường có thể tích 40 lít),

nước được tính theo lít và đong bằng xô.

- Việc xác định thành phần cấp phối phải được cơ quan chuyên ngành có pháp nhân

đảm nhiệm.

- Trước khi trộn bê tông phải xác định độ ẩm của cốt liệu và so sánh với độ ẩm khi

thính nghiệm thành phần cấp phối để đều chỉnh lượng nước cho thích hợp.

10.3. Các yêu cầu đối với vữa bê tông. - Vữa bê tông phải đảm bảo đủ, đúng và đồng nhất về thành phần, đúng theo mác thiết

kế.

- Phải đảm bảo được việc trộn, vận chuyển, đổ và đầm trong thời gian ngắn nhất và nhỏ

hơn thời gian ninh kết của xi măng ( khoảng 2 – 3 giờ). Nếu kéo dài thời gian này sẽ ảnh

hưởng đến chất lượng bê tông. Trong trường hợp để đảm bảo chất lượng bê tông như thiết kế thì ta phải trộn lại và tăng thêm lượng xi măng khoảng 15-20% lượng xi măng

theo cấp phối.

- Vữa bê tông sau khi trộn xong phải đảm bảo được những yêu cầu của thi công (tính công tác) như độ sụt ...Ví dụ vữa bê tông phải có độ sụt thích hợp đối với từng phương pháp đổ bê tông, (đổ theo bình thường thì độ sụt DS = 2-8cm; đổ bằng máy bơm bê tông thì DS = 15 – 18 cm) cấu kiện được đổ ( bê tông khối lớn ít cốt thép DS= 2-4cm; bê tông cột, dầm, sàn DS= 4-6cm). Khi tăng độ sụt của vữa bê tông thì ta phải tăng lượng

xi măng để đảm bảo tỉ lệ là không đổi.

102

10.4. Kỹ thuật và các phương pháp trộn bê tông.

10.4.1. Trộn bê tông bằng thủ công a. áp dụng

- Khối lượng cần trộn là nhỏ

- Bê tông không yêu cầu chất lượng cao (bê tông lót…)

- Những nơi không thể sử dụng các loại máy trộn…

b. Công tác chuẩn bị - Trước khi trộn bê tông phải chuẩn bị bãi trộn và dụng cụ trộn. Bãi trộn có thể là sàn

trộn (kê bằng ván gỗ hay lót tôn) hoặc sân trộn (lát bằng gạch hay bê tông gạch vỡ, trên

được láng xi măng vữa xi măng).

- Sàn trộn hay sân trộn phải đảm bảo kích thước đủ rộng có diện tích tối thiểu 3x3 m , được dọn dẹp bằng phẳng, không hút nước xi măng, dễ dàng rửa sạch...và phải có mái

che nắng, mưa.

- Các loại vât liệu cát, đá (sỏi), xi măng, nước được bố trí quanh sân trộn.

c. Phương pháp trộn

- Trộn trước cát và xi măng cho đều

- Rải đá ( hay sỏi) thành lớp dày khoảng 10-15cm, xúc hỗn hợp cát, xi măng rải đều vào

đá (sỏi), dùng xẻng, cào đảo để trộn vừa đảo vừa cho nước vào trộn đều. Thời gian trộn

một khối bê tông băng thủ công không quá 15-20 phút.

Trộn thủ công chất lượng bê tông không cao, tốn xi măng (nếu chất lượng trộn tay bằng

chất lượng trộn máy thì phải tốn thêm 15% xi măng nữa so với lượng xi măng cấp phối);

tốn công, tốc độ chậm, khó đều, năng suất không cao.

10.4.2. Trộn bê tông bằng cơ giới a. áp dụng

- Khi khối lượng trộn lớn

- Chất lượng bê tông yêu cầu cao

- Các điều kiện thi công cho phép

b. Các loại máy trộn

- Theo phương pháp trộn có máy trộn tự do và máy trộn cưỡng bức

- Theo tính năng làm việc chia ra máy trộn theo chu kỳ và máy trộn liên tục

- Theo cấu tạo thùng trộn có thể chia ra loại thùng trộn nghiêng (kiểu trống lật) và thùng trộn cố định.

- Theo đặc tính kỹ thuật gồm có máy trộn di động (loại máy có gắn bánh xe nên dễ dàng di chuyển) và loại cố định. c. Phương pháp trộn

- Trước hết cho máy chạy không tải một vài vòng, nếu trộn mẻ đầu tiên thì đổ một ít nước cho ướt vỏ cối và bàn gạt, như vậy như vậy mẻ đầu tiên không bị mất nước do vỏ

cối và bàn gạt hút nước và không làm vữa bê tông dính vào cối.

103

- Đổ 15%-20% lượng nước, sau đó đổ xi măng và cốt liệu cùng một lúc đồng thời đổ

dần và liên tục phần nước còn lại, trộn đến khi đều.

- Thời gian trộn hỗn hợp bê tông được xác định theo đặc trưng kĩ thuật của thiết bị dùng

để trộn. Trong trường hợp không có thông thông số kỹ thuật chuẩn xác thì thời gian ít

nhất để trộn một mẻ bê tông được xác định theo bảng dưới. Theo kinh nghiệm trộn bê tông, để trộn một mẻ bê tông đạt yêu cầu kĩ thuật thì thường cho máy quay khoảng 20

vòng là được. Nếu dưới 20 vòng thi bê tông chưa được trộn đều. Còn nếu trên 20 vòng thì năng suất của máy sẽ giảm đi.

- Trong quá trình trộn để tránh hỗn hợp bê tông bám dính vào thùng trộn, thì cứ sau 2

giờ làm việc cần đổ vào cối trộn toàn bộ cốt liệu lớn và nước của mẻ trộn tiếp theo cho máy quay khoảng 5 phút rồi cho xi măng và cát vào trộn theo thời gian quy định.

Dung tích thùng trộn (lít)

Độ sụt bê tông Dưới 500 Từ 500-1000 Trên 1000

Nhỏ hơn 1cm 2 phút 2,5 phút 3 phút

Từ 1-5cm 1,5 phút 2 phút 2,5 phút

Trên 5 cm 1 phút 1,5 phút 2 phút

d. Tính năng suất máy trộn

Năng suất của một máy trộn được xác định theo công thức:

N = (m /h)

Trong đó:

- V (lít): dung tích hữu ích của máy trộn. ( V = 0,75V , V : dung tích hình học của

máy).

- k : Hệ số thành phẩm của bê tông ( k = 0,67-0,72)

- k : hệ số sử dụng máy trộn theo thời gian (k = 0,9-0,95)

- n: số mẻ trộn trong giờ (n = 3600/T )

- T : chu kỳ của một mẻ trộn: T = t +t +t +t +t

t : thời gian trút cốt liệu vào cối trộn

t : thời gian trộn

t : thời gian xem xét để chuẩn bị trút bê tông ra

t : thời gian trút vữa bê tông vào các phương tiện vận chuyển

t : thời gian quay cối trộn trở về vị trí ban đầu.

10.5. Vận chuyển vữa bê tông

10.5.1. Yêu cầu kỹ thuật chung : - Sử dụng các dụng cụ và phương tiện vận chuyển hợp lý, đảm bảo hỗn hợp bê tông không bị phân tầng. Phương tiện vận chuyển phải kín khít để không bị chảy nước xi măng và bị mất nước do gió, nắng.

104

- Sử dụng thiết bị, nhân lực và phương tiện vận chuyển cần bố trí phù hợp với khối

lượng, tốc độ trộn, đổ và đầm bê tông.

- Đường vận chuyển vận chuyển phải bằng phẳng để đảm bảo cho xe di chuyển đễ dàng.

- Thời gian vận chuyển càng ít càng tốt nếu kéo dài sẽ ảnh hưởng tới chất lượng bê tông. Thời gian vận chuyển được xác định bằng thính nghiệm trên cơ sở thời tiết, loại xi măng và phụ gia sử dụng. Nếu không có các số liệu thính nghiệm thì xác định theo bảng.

Thời gian vận chuyển cho phép (phút) Nhiệt độ ( C)

> 30 30

20-30 45

10-20 5-10 60 90

10.5.2. Các phương pháp vận chuyển bê tông

1. Vận chuyển vữa theo phương ngang a. Bằng phương pháp thủ công

áp dụng: Vận chuyển vữa bê tông theo phương ngang bằng phương pháp thủ công

thường áp dụng khi khoảng cách vận chuyển nhỏ, trong phạm vi công trường và cự ly vận chuyển không xa quá 70m. Khối lượng vận chuyển ít.

Các phương tiện để vận chuyển: Quang gánh, xe rùa, xe cải tiến

- Khi tổ chức vận chuyển bằng thủ công nhất là xe rùa hay xe ba gác thì đường vận

chuyển phải bằng phẳng, không gồ ghề, và có độ dốc vừa phải để có thể vận chuyển

được. Để tạo độ bằng phẳng có thể dùng ván lót đường cho xe đi.

b. Bằng phương pháp cơ giới

áp dụng Vận chuyển vữa bê tông theo phương ngang bằng cơ giới áp dụng cho những trường

hợp sau:

- Khoảng cách vận chuyển lớn từ 0,5 km đến vài chục km

- Khối lượng vận chuyển lớn

- Do yêu cầu chất lượng bê tông mua bê tông thương phẩm.

- Mặt bằng thi công chật hẹp

Các phương tiện vận chuyển - Vận chuyển bằng ôtô thông thường, ôtô chuyên dùng, bằng băng chuyền, bằng cần

trục. Sử dụng phương tiện nào phụ tuộc vào khối lượng, khoảng cách vận chuyển, đặc điểm sử dụng bê tông…

2. Vận chuyển vữa bê tông theo phương đứng a. Bằng phương pháp thủ công

áp dụng Vận chuyển vữa bê tông theo phương đứng bằng phương pháp thủ công thường áp

105

dụng trong những trường hợp sau:

- Khối lượng ít

- Chiều cao vận chuyển không lớn ( chiều cao công trình H<10m thường 2-3 tầng)

- Mặt bằng thi công rộng

Phương tiện vận chuyển - Dùng ròng rọc: vữa bê tông được chứa trong xô (có thể tích V=20-40 lít) rồi dùng

sức người để kéo.

- Dùng giàn trung gian

b. Phương pháp thủ công kết hợp cơ giới (phương pháp bán cơ giới)

Áp dụng

Phương pháp bán cơ giới thường được áp dụng để vận chuyển vữa bê tông

theo phương đứng trong những trường hợp sau :

- Khối lượng thi công không lớn.

- Nhưng công trình có số tầng nhỏ hơn hay bằng 4 tầng.

- Mặt bằng thi công chật hẹp.

Hình 10.1. Vận chuyển đựng bằng cần trục thiếu nhi kết hợp với máy vận thăng

1. Máy vận thăng; 2. Cần trục thiếu nhi; 3.Giàn giáo công tác; 4. Sàn công tác.

Hình 10.2. Vận chuyển vữa bê tông bằng cần trục tháp đối trọng dưới

1. Thùng chứa vữa bê tông; 2. Công trình đang thi công; 3. Cần trục tháp; 4. Đường ray; 5. Giàn giáo công tác.

Phương tiện vận chuyển - Máy vận thăng: Vữa bê tông được chứa trong các xe rùa, xe cải tiến hay trong các thùng chứa rồi máy nâng lên.

- Cần trục thiếu nhi: Đươc đặt trên sàn công tác và nâng dần lên theo tiến độ thi công. Vữa bê tông được chứa trong các thùng có thể tích V = (0,15 - 0,3)m3. - Kết hợp cần trục thiếu nhi và máy vận thăng.

106

c. Phương pháp bằng cơ giới

Dùng cần trục tháp Áp dụng: Cần trục tháp được dùng để vận chuyển vữa bê tông trong những

trường hợp sau :

- Khi thi công những công trình lớn, khối lượng vận chuyển nhiều.

- Công trình có chiều cao lớn, (số tầng > 6 tầng). Kích thước chiều dài công

trình thường lớn hơn nhiều so với chiều rộng (L>>B).

Vữa bê tông được chứa trong các thùng chuyên dùng có dung tích V = (0,5  1) m3 hay trong các xe cải tiến...và được nâng lên để độ vào kết cấu. Đối với các kết cấu có kích thước bề rộng nhỏ như tường hay cột thì đáy thùng được trang bị thêm

ống cao su.

Khi bố trí cần trục trên mặt bằng thi công cần lưu ý các điểm sau:

- Vị trí bố trí cần trục không ảnh hưởng đến các hạng mục công trình phụ

(như cống thoát nước, các công trình ngầm...)

- Bố trí sao cho việc vận chuyển từ cổng công trình đến vị trí lắp ráp là ngắn

nhất, và khi tháo phải thuận tiện.

- Vị trí cần trục không ảnh hưởng đến các công trình ngầm (như điện nước,

thông tin...) của thành phố.

Dùng cần trục tự hành

Áp dụng: Chỉ áp dụng thi công những công trình có số tầng < 5 tầng.

Vữa bê tông chứa trong các thùng có dung tích V = (0,15 - 1) m3, được cẩu lên và đổ trực tiếp vào kết cấu. Với những kết cấu mỏng hay có kích thước tiết diện nhỏ

thì thùng đổ được trang bị thêm ống cao su để đổ (vd: như đổ các kết cấu cột, hay

tường). Trường hợp do hạn chế mặt bằng thi công, cần trục chỉ di chuyển được theo

một bên của công trình để cẩu lắp, hay công trình cao quá, thì bê tông được vận

chuyển lên tập kết tại một vị trí nào đó rồi dùng xe rùa hay xe cải tiến để vận chuyển

đến nơi cần đổ.

Tổ chức vận chuyển bằng máy bơm Áp dụng: Tổ chức vận chuyển bằng máy bơm được sử dụng khi thi công bê tông thương phẩm trong những trường hợp sau:

- Những công trình yêu cầu chất lượng vữa bê tông cao.

- Chủ đầu tư ấn định nguồn mua vật tư bắt buộc phải đổ bê tông thương phẩm.

- Do mặt bằng thi công chật hẹp, không có chỗ để tập kết vật tư, đặt máy trộn

bê tông.

- Công trình thi công gần các công trình như bệnh viện...nên yêu cầu phải đổ

bê tông nhanh, không gây ô nhiễm môi trường nhất là tiếng ồn, bụi...

- Do tổ chức thi công tập trung.

- Những công trình yêu cầu tiến độ nhanh hay thi công trong mùa mưa (nhất

107

là thi công móng).

Đặc điểm:

- Vữa bê tông được chở từ nơi trộn đến công trường và tiếp vào máy bơm lên

cao và đổ trực tiếp vào kết cấu.

- Ống bơm gồm hai phần: ống cứng (được chế tạo bằng thép có đường kính

ống từ 130mm  200mm được nối lại vơi nhau từ nhiều đoạn ống có chiều dài mỗi

ống l = 1,5  4m) và ống mềm bằng cao su dùng để rãi bê tông.

- Thành phần và độ sụt của hỗn hợp bê tông cần được thử nghiệm và bơm

thử nhằm đảm bảo chất lượng bê tông và điều kiện thi công, đồng thời phù hợp với

tính năng kỹ thuật của thiết bị bơm.

- Độ sụt hình nón của vữa bê tông khi vận chuyển bằng bơm thường là: S = 16

± 2 (cm).

- Kích thước hạt lớn nhất của cốt liệu lớn không được lớn hơn 0,4 đường

kính trong của vòi bơm đối với sỏi và 0,33 đối với đá dăm.

- Bê tông phải được bơm liên tục. Khi sử dụng xong phải dùng ống rửa sạch

ống.

- Khi thi công trong thời tiết nóng, mặt ngoài ống cần che phủ hoặc sơn trắng

để hạn chế bức xạ mặt trời làm nóng bê tông.

10.6. Công tác đổ bê tông. 10.6.1. Yêu cầu kỹ thuât chung:

- Chỉ được phép đổ bê tông khi cốt thép cốt pha và đà giáo đã được thi công đúng thiết

kế, được hội đồng nghiệm thu ký biên bản cho phép đổ bê tông.

- Phải có kế hoạch cung ứng đủ vữa bê tông cho một đợt đổ, nếu bê tông trộn tại công

trường phải chuẩn bị đủ các loại vật liệu cho đợt đổ.

- Chuẩn bị các máy móc và dụng cụ phục vụ đổ bê tông, phải kiểm tra sự hoạt động

của các máy thi công.

- Chuẩn bị đầy đủ nhân lực đổ bê tông, có biện pháp tránh mưa.

10.6.2. Những nguyên tắc và biện pháp đổ bê tông

1.Nguyên tắc 1 a.Nguyên tắc

Khi đổ bê tông, không chế chiều cao rơi tự do của bê tông không vượt quá 1,5m để tránh hiện tương phân tầng của vữa bê tông. Khi chiều cao đổ bê tông vượt quá

chiều cao qui định cần phải thực hiện các biện pháp để tránh phân tầng.

b. Biện pháp:

- Dùng máng nghiêng: Với độ cao độ bê tông nhỏ hơn 5m thì bê tông được đổ vào máng nghiêng. Nếu độ dốc của máng nhỏ (5o  10o ) thì ta phải lắp máy rung để bê tông theo máng xuống được dễ dàng mà không cần dùng đến xẻng hay bàn cào,

cuốc. Tuy nhiên độ dốc của máng không được lớn quá làm cho bê tông trượt nhanh

108

sinh ra hiện tượng phân tầng cho vữa bê tông. Máng nghiêng phải kín, nhẵn. Chiều

rộng của máng không được nhỏ hơn 3  3,5 lần đường kính hạt cốt liệu lớn nhất.

Máng phải được đặt trên hệ giá đỡ riêng, không tỳ lên ván khuôn.

Hình 10.3. Đổ bê tông móng bằng ô tô và các thiết bị chống phân tầng

a) Đổ bê tông bằng máng nghiêng; b) Đô bê tông bằng tông vòi ống

1. Ô tô vận chuyển bê tông; 2. Máng nghiêng; 3. Hệ giáo máng;

4. Bê tông móng đang đổ; 5. Ván khuôn ống; 6. Hệ sàn công tác;

7. Phễu tiếp bê tông.

- Dùng ống vòi voi: Khi đổ cao độ bê tông lớn hơn 5m ta phải dùng ống vòi voi.

Ống vòi voi được cấu tạo từ các ống hình nón cụt ghép lại với nhau. Mỗi ống có đường kính lớn nhất &max = 300mm và &min = 200mm, dài 500  700mm, làm bằng tôn

dày =1,5  2mm. Tại đầu tiếp vữa bê tông có gắn một phểu để dễ dàng tiếp nhận

vữa bê tông. Khi đô bê tông bằng ống vòi voi thì ống lệch nghiêng so với phương

thẳng đứng không quá 0,25m trên 1m chiều cao, trong mọi trường hợp phải đảm

bảo đoạn ống dưới cùng thẳng đứng.

- Đối với những kết cấu có chiều cao lớn như cột, tường thì đảm bảo nguyên tắc

này khi ghép ván khuôn ta chừa cửa để đổ bê tông. Khoảng cách từ chân cột hay tường

đến cửa chừa phải nhỏ hơn 1,5m. Kích thước cửa chừa phụ thuộc vào phương pháp đổ bê tông. Có thể dùng máng hay ống vòi voi để đổ bê tông vào cửa chừa. Cửa sẽ được bít lại khi đổ bê tông đoạn tiếp theo. Tại đáy cửa chừa có thể làm một hôp vuông hay hộp hình nêm để rót vữa bê tông vào.

109

Hình 10.4. Biện pháp không chế chiều cao đổ bê tông cột

a) Chừa cửa để đổ bê tông; b) Làm hộp để đô bê tông.

1. Ván khuôn cột; 2. Cửa để đô bê tông; 3. Hộp để đổ bê tông.

- Ngoài ra khi đổ bê tông bằng máy bơm cũng khống chế được độ cao rơi tự do của

vữa bê tông. Vì ống bơm có đoạn ống bằng cao su có thể nối thêm ống để luôn giữ khoảng cách từ miệng ống đến kết cấu cần đổ bê tông là nhỏ hơn 1,5m.

2. Nguyên tắc 2 a. Nguyên tắc

Khi đổ bê tông các kết cấu xây dựng phải đổ từ trên xuông. Nghĩa là khối bê tông

cần đổ bao giờ cũng ở vị trí thấp hơn vị trí của các phương tiện vận chuyển bê tông tới.

Mục đích của nguyên tắc này là để đảm bảo năng suất lao động. Vữa bê tông vận

chuyển đến và được đổ trực tiếp vào kết cấu, không phải tốn công đưa bê tông từ thấp

lên cao nữa, trừ một số trường hợp đặc biệt. Ngoài ra, còn tránh hiện tượng va đập của

thiết bị và dụng cụ thi công vào bê tông đã đổ trước đang trong quá trình đóng rắn.

b. Biện pháp

Để đảm bảo nguyên tắc này thì hệ sàn công tác bao giờ cũng được đặt cao hơn

mặt bê tông của kết cấu cần đổ.

3. Nguyên tắc 3 a. Nguyên tắc

Khi đổ bê tông phải đổ từ xa về gần so với vị trí tiếp nhận vữa bê tông. Mục đích

của nguyên tắc này nhằm bảo đảm không đi lại trên các kết cấu bê tông vừa đổ xong.

b. Biện pháp

- Để đảm bảo nguyên tắc này thì khi cấu tạo cầu công tác phải có tính lắp

ghép để đổ bê tông đến đâu thì có thể tháo ván sàn cầu công tác đến đó, nhất là khi đổ bê tông sàn.

110

Hình10.5. Các sơ đồ rải bê tông

a) Sơ đồ xếp chồng; b) Sơ đồ bậc thang; c) Sơ đồ lớp hình xiên

1, 2, 3, 4. Thứ tự lớp đổ bê tông

4. Nguyên tắc 4 a. Nguyên tắc

Khi đổ bê tông các khối lớn, các kết cấu có chiều dày lớn thì phải đổ thành nhiều

lớp. Chiều dày và diện tích của mỗi lớp được xác định dựa trên bán kính ảnh hưởng

và năng suất của loại đầm sử dụng. mục đích của nguyên tắc này để giảm hiện tượng

co ngót và các ứng suất do nhiệt thủy hóa xi măng có thể làm nứt bê tông.

b. Biện pháp

- Thực hiện rải bê tông theo từng lớp liên tục theo các sơ đồ:

+ Sơ đồ xếp chồng: áp dụng với những kết cấu có tiết diện nhỏ, nhưng chiều cao

lớn như cột, tường, ống khói...

+ Sơ đồ bậc thang: áp dụng với những kết cấu có diện tích tiết diện và chiều cao

tương đối lớn như móng, hay các cấu kiện cột khối lớn.

+ Sơ đồ lớp xiên: áp dụng với những kết cấu có diện tích cần để đổ bê tông lớn,

nhưng chiều cao nhỏ như kết cấu dầm sàn.

10.6.3. Biện pháp đổ bê tông cho một số kết cấu

1. Đổ bê tông móng Tùy theo khối lượng thi công và điều kiện thi công cụ thể mà bê tông móng có thể được vận chuyển bằng xe cải tiến, xe cút kít hoặc sử dụng bơm bê tông. Thông thường bê tông móng được đổ làm ba đợt: Đế (hoặc đài), giằng, cổ. Nếu vận chuyển bằng xe cải tiến hoặc xe cút kít, cần quan tâm một số vấn đề sau:

- Chọn vị trí bãi tiếp nhận hoặc trộn bê tông hợp lý nhất, ví trí này đảm bảo yêu cầu đường vận chuyển đến từng móng không quá xa, thông thường vị trí trộn nằm ở giữa chiều dài một đơn nguyên công trình. Nếu công trình có chiều dài không lớn nên chọn

vị trí ở giữa chiều dài công trình.

111

- Thi công hệ sàn công tác trước khi đổ bê tông. Hệ sàn công tác phải đảm bảo phục vụ

đi lại dễ dàng và chắc chắn, dễ tháo lắp di chuyển đến tuyến đổ mới.

- Đổ bê tông từng lớp có chiều dầy theo quy định. Đổ xong từng lớp tiến hành đầm đạt

yêu cầu kỹ thuật mới đổ lớp tiếp theo.

- Bê tông dùng đổ mái vát mỏng (trường hợp không có cốt pha mặt) nên sử dụng độ sụt khoảng 4cm đổ từng lớp mái vát có chiều dầy từ 15 đến 20cm. Sau khi đầm xong

dùng bàn xoa vừa xoa vừa vuốt từ dưới lên tạo mái vát móng theo thiết kế.

Nếu đổ bê tông móng bằng máy bơm cần lưu ý một số điểm sau:

- Vì bê tông bơm dùng trong thi công móng có độ sụt 12cm do vậy với mái vát móng

lớn hơn 20 cần làm cốt pha mái vát. Cốt pha được để cửa để có thể dễ dàng đổ và đầm bê tông. Khi bê tông đã đổ đến cửa tiến hành bịt cửa để đổ lớp tiếp theo.

- Để nâng cao năng suất máy bơm, cần tiến hành đổ đồng thời một số móng lân cận

nhau. - Nếu lưới cốt thép đài móng chắc chắn có thể sử dụng các tấm gỗ kê trực tiếp lên cốt

thép làm sàn thao tác, tạo chỗ đứng cho công nhân.

Đổ bê tông dầm móng, dầm giằng và các kết cấu công trình có kích thước lớn, chạy

dài phải đổ nhiều lớp dạng bậc thang, đổ lớp vữa sau lên lớp vữa trước khi chưa ninh

kết, khi đầm hai lớp sẽ xâm nhập vào nhau.

2. Đổ bê tông cột tường Bê tông cột có thể được vận chuyển lên cao bằng máy vận thăng, cần trục tháp hoặc

máy bơm.

Trước khi đổ bê tông phải tưới nước vệ sinh chân cột, nếu cốt pha là gỗ xẻ phải tưới

đẫm nước. Sau khi bịt cửa chân cột, đổ một lớp vữa xi măng có mác bằng mác bê tông

cột dầy 5cm để chống rỗ chân cột. Cột có chiều cao lớn hơn 5m thì cần chia ra làm các

đợt đổ nhưng vị trí mạch ngừng phải hợp lý.

Khi đổ bê tông cần chia thành cụm cột để có thể luân chuyển cốt pha và bố trí song,

xen kẽ các cốt pha, cốt thép và bê tông. Bê tông được đổ vào từng lớp có độ dầy thích

hợp sau khi đầm xong đổ lớp tiếp theo.

Nếu vận chuyển vữa bằng vận thăng cần lưu ý :

- Đổ từ xa về vị trí đặt máy vận thăng

- Xác định tuyến vận chuyển bê tông trên sàn, lát ván làm đường cho xe cải tiến và cút kít.

- Sau khi đổ và đầm bê tông đến cửa, bịt cửa rồi đổ đợt tiếp theo.

- Sàn công tác thi công bê tông cột thường sử dụng giáo xây trát kim loại có tấm sàn định hình. Nếu bắc giáo cao từ hai đợt trở lên phải có biện pháp ổn định chắc chắn. Nếu sử dụng cần trục hoặc máy bơm cần lưu ý:

- Đổ bê tông từng cụm cột từ một đầu công trình tiến về phía đầu còn lại của công

trình.

112

- Sử dụng thùng chứa có ống vòi voi cao su và cơ cấu điều chỉnh cửa xả bê tông.

- Khi khối lượng bê tông khi sử dụng bơm cho một đợt đổ không nên nhỏ hơn 30m . Hết sức lưu ý tốc độ bơm vữa bê tông để không làm hư hỏng cốt pha.

- Tường hoặc lõi thang có mặt bằng chạy dài hoặc khép kín trước khi đổ bê tông phải

bắc đủ sàn công tác cho một đợt đổ để nâng cao năng suất đổ bê tông. - Tường có chiều cao dày nhỏ hơn 15cm nên đổ liên tục trong từng đoạn có chiều cao

1,5m. Tường cao 3m nên chia làm nhiều đợt bê tông, mỗi đợt khoảng 70cm và phải

cấu tạo mạch ngừng thi công hợp lý. Khi đổ bê tông phải để vữa bê tông rơi vào giữa

hai mặt cốt pha tránh để đá văng ra hai bên.

3. Đổ bê tông dầm, sàn

4. Đổ bê tông vòm

10.7. Đầm bê tông

10.7.1. Bản chất của việc đầm bê tông Bản chất của đầm bê tông là chuyền rung động từ đầm

vào các hạt và nước trong vữa bê tông. Mục đích của đầm

là làm cho bê tông đồng nhất, đặc, chắc tạo điều kiện tốt

cho bê tông bám chắc vào cốt thép để toàn khối bê tông

cốt thép cùng chịu lực.

10.7.2. Các phương pháp đầm bê tông

1. Đầm bê tông bằng thủ công

- Áp dụng đầm bằng thủ công khi khối bê tông

cần đầm là nhỏ yêu cầu chất lượng bê tông không cao Hình 10.9. Đầm thủ công (ví dụ bê tông lót) hay ở những vị trí mà cấu tạo cốt bằng gang thép, ván khuôn không cho phép đầm máy...

- Dụng cụ chủ yếu dùng để đầm thủ công gồm: đầm gang, xà beng, que

sắt, vồ gỗ...

Đầm gang - thép: Có trọng lượng từ 8  10 kg, dùng để đầm những khối bê

tông với độ sụt của vữa nhỏ hơn 6cm, như bê tông nền, bê tông sàn. Khi đầm ta

nâng đầm lên cao sao cho mặt đầm cách mặt bê tông cần đầm từ 10  20cm và thả

xuống. Yêu cầu đầm phải đều tay, nhát đầm sau đè lên nhát đầm trước khoảng 5cm và đầm không bỏ sót.

Đầm bằng xà beng hay que chọc sắt: (thường có 12cm) dùng để đầm những

khối bê tông nhỏ, có tiết diện nhỏ hay phải đầm ở những nơi có cốt thép dày và độ sụt của vữa bê tông > 7cm (thường dùng để đầm bê tông cột, tường, dầm...) Khi phải đổ bê tông thì khi đầm lớp trên phải chọc xà beng (hay que sắt) sâu xuống lớp dưới khoảng 5cm để đảm bảo các lớp liên kết với nhau được tốt. Khi đầm kết hợp với việc dùng vồ gỗ hay búa gõ vào thành ván khuôn (cả phía trong lẫn ngoài) để khối bê

tông sau khi tháo dỡ ván khuôn mặt bê tông được nhẵn phẳng và không bị rỗ.

113

- Tất cả các phương pháp đầm ở trên phải

được đầm theo thủ tục không bỏ sót làm ảnh hưởng

đến chất lượng của bê tông. Tiến hành đầm đến khi

vữa bê tông không lún xuống nữa và trên bề mặt kết

cấu có nước nổi lên là được.

2. Đầm bê tông bằng cơ giới Các máy đầm sẽ gây ra một lực chấn động khi

đầm, nên vữa bê tông bị rung làm cho lực ma sát

(lực dính) giữa các hạt giảm đi nên các hạt cốt liệu

sít lại gần nhau và đẩy không khí ra ngoài làm cho bê tông đặc chắc. Đầm cơ giới được sử dụng khi

khối lượng đầm lớn, yêu cầu chất lượng bê tông cao.

Ưu điểm của các loại đầm cơ giới có thể đầm

được vữa bê tông có độ sụt nhỏ hơn nên tiết kiệm Hình 10.10. Đầm dùi được xi măng từ 10%  15 %. Mặt khác vì độ sụt

nhỏ nên lượng nước trong vữa bê tông ít nên thời gian đông cứng của bê tông nhanh

hơn, do đó thời gian tháo ván khuôn nhanh hơn. Đồng thời do lượng nước ít nên giảm

được độ co ngót trong bê tông dẫn đến hạn chế được vết nứt. Đầm cơ giới giảm

công lao động năng suất cao, tiến độ thi công nhanh hơn và chất lượng bê tông

đảm bảo. Tránh được nhiều khuyết tật trong thi công bê tông toàn khối như rỗ mặt,

nứt chân chim...

Đầm cơ giới thường sử dụng ba loại:

- Đầm chấn động trong (đầm đùi), dùng để đầm: móng, cột, tường.

- Đầm mặt (đầm bàn), (dùng để đầm, nền, sàn, kết cấu có diện tích bề mặt lớn...).

- Đầm chấn động ngoài (hay đầm cạnh), dùng để dầm tường, cột..

a. Đầm chấn động bên trong (đầm đùi)

- Có nhiều loại đầm trong có đường kính khác nhau: Loại nhỏ  =15mm;  =

28,5mm; loại đại  =72mm. Chiều dài đầu rung khoảng lO= 366  520mm. Chiều dài

toàn đầm từ 4  6m.

- Kỹ thuật đầm:

+ Khi đầm, trục của đầu đầm phải luôn vuông góc với mặt bê tông cần đầm.

+ Khi đổ bê tông thành nhiều lớp thì quả đầm phải cắm được 5  10cm vào lớp bê

tông đã đổ trước.

+ Chiều dày của mỗi lớp bê tông đổ để đầm không được vượt quá 3/4 chiều dài đầu rung của đầm.

+ Thời gian đầm tại một vị trí phải thích hợp, không được ít quá (bê tông chưa đạt được độ đặc, chắc), nếu thời gian đầm lâu quá thì làm cho bê tông bị phân tầng. Thời gian đầm phụ thuộc vào từng loại đầm và do nhà sản xuất qui định. Tuy nhiên,

114

dấu hiệu để nhận biết bê tông đã được đầm đạt yêu cầu là vữa bê tông không lún xuống nữa và nước nổi lên mặt (thường tđầm=1,5  60 giây).

Hình 10.11. Các sơ đồ đầm

a) Sơ đồ ô cờ; b) Sơ đồ tam giác

- Các sơ đồ đầm:

+ Sơ đồ hình ô cờ: vị trí quả đầm khi đâm bê tông tạo thành những ô vuông

có cạnh là a = 1,5 R. trong đó R bán kính tác dụng của đầm. Sơ đồ này được sử dụng

rộng rãi ngoài công trường vì dễ dàng xác định được một hình vuông.

+ Sơ đồ tam giác: vị trí quả đầm khi đầm bê tông tạo thành những tam giác

đều có cạnh là a = (1,7  1,8) R. trong đó R là bán kính tác dụng của đầm. Năng

suất khi đầm theo sơ đồ tam giác cao hơn khi đầm theo sơ đồ ô cờ những để xác dịnh

được ba đỉnh của một tam giác đều là rất khó khăn, do đó sơ đồ tam giác ít được áp dụng ngoài công trường. Sơ đồ đầm tam

giác được áp dụng nhiều trong các nhà máy bê tông đúc sẵn. Các quả đầm được

gắn thành một chùm ba quả hay 6 quả tạo thành những tam giác đều. - Khoảng cách từ vị trí 2 đầm đến ván khuôn phải là: 2 [l1 < 0,5 R. Khoảng cách giữa vị trí đầm cuối cùng đến vị trí sẽ đổ bê tông tiếp theo là: l 2 > 2R (là đường kính quả đầm; R là bán kính tác dụng của đầm).

Hình 10.12. Qui định vị trí đầm dùi

1. Đầm dùi; 2. Ván khuôn; 3. Lớp bê tông đổ trước; 4. Lớp bê tông đang đầm.

- Năng suất của đầm sâu:

+ Năng suất lý thuyết:

(m3/ca)

Trong đó:

R (m): Bán kính tác dụng của đầm.

h (m): Chiều dày của lớp bê tông cần đầm.

115

Z: Số giờ làm việc trong một ca.

k: Hệ số kể đến sự chồng lên nhau khi đầm k = ( 0,7  0,8m).

n: Số lần đầm trong một giờ Với Tck là chu kỳ đầm

Tck = t1+t2 (t’1: thời gian đầm tại một vị trí do hồ sơ thiết kế quy định; t2:

thời gian dịch chuyển vị trí đầm).

(10.3) - Năng suất hữu ích của đầm: N = kt Nlt (m3/ca)

Trong đó:

kt : hệ số sử dụng thời gian (kt = 0,6  0,85).

b. Đầm mặt (đầm bàn)

Hình 10.13. Đầm bê tông bằng đầm bàn

a) Vị trí đang đầm; b) Di chuyển đầm; c) Đầm ở vị trí mới

Đầm bàn được sử dụng để đầm các kết cấu có diện tích bề mặt lớn như sàn,

đế móng...

- Kỹ thuật đầm:

+ Khi đầm phải theo thứ tự đầm, tránh bỏ sót.

+ Khi di chuyển đầm không được kéo lướt mà phải

nhấc đầu đầm lên để di chuyển đầm một cách từ từ.

+ Thời gian đầm tại một vị trí thích hợp nhất là:

t1 = 30 50 giây. Đầm khi thấy bê tông không lún và có nước nổi lên bề mặt là được.

+ Khoảng cách giữa hai vị trí đầm liền nhau,

phải được chồng lên nhau một khoảng 3  5cm.

- Năng suất của đầm mặt: Hình 10.14. Quy định vị trí đầm của đầm bàn; 1, 2, 3, 4, là thứ tự

đầm + Năng suất lý thuyết: (m3/ca)

Trong đó:

F (m2): Diện tích mặt đầm (F = axb).

h (m): Chiều dày của lớp bê tông cần đầm. Z: Số giờ làm việc trong một ca.

k: Hệ số kể đến sự chồng lên nhau khi đầm k = ( 0,7  0,8m).

116

n: Số lần đầm trong một giờ Với Tck là chu kỳ đầm

Tck = t1+t2 (t’1: thời gian đầm tại một vị trí do hồ sơ thiết kế quy định; t2:

thời gian dịch chuyển vị trí đầm).

(10.5) - Năng suất hữu ích của đầm: N = kt Nlt (m3/ca)

Trong đó:

kt : hệ số sử dụng thời gian (kt = 0,6  0,85).

c. Đầm chấn động ngoài

Hình 10.15. Đầm chấn động ngoài

1. Động cơ đầm; 2. Bản đế đầm; 3. Đai thép, 4. Bu lông liên kết;

5. Sườn đứng; 6. Sườn đứng; 7. Ván khuôn; 8. Bê tông cần đầm.

Đầm chấn động ngoài được dùng để đầm bê tông các kết mỏng như tường, hoặc

những kết cấu có mật độ cốt thép dày. Hiện nay đầm chấn động ngoài ít được sử dụng

ngoài hiện trường vì hiệu quả thấp, đòi hỏi hệ thống ván khuôn phải chắc chắn, có độ

ổn định cao. Đầm chấn động ngoài được sử dụng

nhiều trong các nhà máy bê tông chế tạo sẵn.

Đầm được móc trực tiếp vào sườn của ván khuôn, liên kết giữa đầm và ván khuôn nhờ các êtô

hay bu lông. Khi bố trí đầm bao giờ cũng bố trí lệch

nhau.

10.8. Mạch ngừng trong thi công bê tông toàn khối.

10.8.1. Khái niệm

Hình 10.6. Mạch ngừng thi công ở móng – cột - dầm 1. Định nghĩa Mạch ngừng là chỗ gián đoạn trong thi công bê tông và được bố trí ở những nơi nhất định. Tại những vị trí này lớp bê tông sau được đổ khi lớp bê tông đổ trước đó đã đông cứng.

2. Lý do ngừng a. Lý do về kỹ thuật

117

- Để giảm độ phức tạp trong thi công khi những kết cấu có hình dạng phức tạp,

việc đổ bê tông liên tục (toàn khối) rất khó khăn, nếu thực hiện được thì chất lượng bê

tông cũng khó đạt yêu cầu.

- Ngừng để giảm co ngót, giảm ứng suất nhiệt do thủy hóa xi măng có thể làm

nứt bê tông. b. Lý do về tổ chức

- Không phải lúc nào cũng tổ chức đổ bê tông liên tục được, khi nhân lực, thiết bị thi công không cho phép dẫn đến khối lượng bê tông cung cấp (Qcc) không đáp ứng được khối lượng bê tông yêu cầu (Qyc ): Qcc < Qyc thì bắt buộc phải thi công có mạch ngừng.

- Do điều kiện thời tiết, khí hậu, do giữa ngày và đêm... buộc phải tạo

mạch ngừng trong thi công bê tông bê tông toàn khối.

10.8.2. Xác định thời gian và vị trí mạch ngừng

1. Thời gian ngừng Thời gian ngừng trong thi công bê tông toàn

khối không được dài quá hay ngắn quá. Như đã

biết mạch ngừng là ranh giới giữa lớp bê tông cũ

và bê tông mới. Nên tại đây trong giai đoạn mới thi

Hình 10.7. Mạch ngừng

trong dầm có chiều cao lớn

công hai lớp bê tông này sẽ có hai cường độ khác nhau (R1: cường độ lớp bê tông cũ. R2 cường độ lớp bê tông mới). Do đó nếu thới gian dừng dài quá thì R1>> R2 hạn chế độ bám dính giữa hai lớp trước và sau. Nếu thời gian ngừng quá ngắn thì R1 rất nhỏ, trong quá trình thi công lớp bê tông thứ hai, sẽ làm nứt, hay sứt mẻ lớp bê tông đã đổ do đầm, đi lại, hay do cốt

thép gây ra ...Do đó thời gian ngừng thích hợp nhất là t = (20  24)h, lúc đó lớp bê tông đã độ đạt được cường độ tối thiểu R1 = 25kg/cm2. 2. Vị trí ngừng

- Yêu cầu trong cách tạo mạch ngừng : Mạch ngừng phải phẳng và vuông

góc với phương truyền lực nén vào kết cấu.

- Đối với mạch ngừng đứng: phải có khuôn để tạo mạch ngừng.

- Đối với mạch ngừng nằm ngang nên đặt ở vị trí thấp hơn đầu mút ván

khuôn một khoảng 3cm đến 5cm.

- Nguyên tắc chung: Mạch ngừng được bố trí tại vị trí vừa thuận tiện cho

thi công và kết cấu làm việc gần đúng như thiết kế. Mạch ngừng được bố trí tại những vị trí sau:

- Tại vị trí mà kết cấu có tiết diện thay đổi đột ngột.

- Tại vị trí thay đổi phương chịu lực.

118

- Tại vị trí có nội lực nhỏ, quan tâm đến lực cắt nhỏ.

- Đối với cấu kiện chịu nén: Mạch ngừng có thể ngừng tại bất kỳ vị trí nào thuận

lợi cho thi công. Vì khi chịu nén các lớp bê tông sẽ được ép vào nhau nên không ảnh

hưởng đến khả năng làm việc của kết cấu.

- Đối với cấu kiện chịu uốn: Vị trí mạch ngừng không ảnh hưởng đến khả năng chịu lực của cấu kiện bê tông cốt thép. Tuy nhiên không nên đặt tại vị trí moment có

khuynh hương tách hai lớp bê tông ngăn cách bởi mạch ngừng trong vùng chịu kéo.

- Cấu kiện chịu cắt: Làm cho hai lớp bê tông trượt lên nhau nên rất nguy hiểm

cho cấu kiện. Do đó mạch ngừng

phải đặt tại vị trí có lực cắt nhỏ.

- Vị trí đặt mạch ngừng

cho một số kết cấu công trình bê

tông cốt thép toàn khối:

+ Mạch ngừng thi công có móng giậc cấp: ngay tại mặt thay

đổi tiết diện.

+ Mạch ngừng thi Hình 10.8. Mạch ngừng trong sàn khi đổ bê tông toàn công giữa cột dầm sàn: cách khối; a) Hướng đổ bê tông song song với cạnh dài ô đáy dầm 3 - 5cm sàn. b) Hướng đổ song song với cạnh ngắn của ô sàn. + Mạch ngừng thi công

giữa sàn - cột: tại mặt sàn

+ Mạch ngừng thi công ở dầm:

* Với dầm thông thường có chiều cao dầm hd < 80cm thường được đổ bê tông dầm sàn cùng lúc (toàn khối). * Với những dầm đặc biệt có chiều cao lớn hd > 80cm, nếu thi công có mạch dừng được bố trí trong dầm ở phía dưới mặt sàn một khoảng 3cm 5cm

+ Mạch ngừng thi công ở sàn:

* Với sàn không sườn : thì mạch ngừng thi công có thể đặt ở bất cứ vị trí nào

song song với cạnh ngắn của sàn.

* Với sàn sườn: vị trí mạch ngừng phụ thuộc vào hướng đổ bê tông. Nếu hướng đổ bê tông song song với cạnh ngắn của ô sàn (hay vuông góc với cạnh dài của ô sàn), vị trí mạch ngưng được bố trí trong đoạn ô sàn), vị trí mạch ngừng được bố

trí trong đoạn . Nếu hướng đổ bê tông song song với cạnh dài của ô sàn (hay

vuông góc với cạnh ngắn của ô sàn), thì vị trí mạch ngừng được bố trí trong đoạn

với ln, ld tương ứng là cạnh ngắn và cạnh dài của ô sàn.

+ Mạch ngừng thi công ở vỏ vòm:

119

* Khi đổ bê tông vỏ và vòm nhịp nhỏ (l  12m) thì đổ liên tục, đổ đối xứng từ hai

chân vòm vào đỉnh vòm.

* Đối với vòm lớn (l > 15  20m) thì đổ có mạch ngừng. Bê tông được đổ

thành những dải song song từ chân đến đỉnh vòm, các mạch ngừng được bố trí

song song với đường trục của vỏ, vòm, nên nằm ngay tại vị trí kết cấu đỡ ván

khuôn, tạo thành các khe và được chèn vữa xi măng có phụ gia chống thấm.

+ Mạch ngừng thi công ở những công trình chạy dài: như đường ôtô, đường

bằng được bố trí trùng với các khe co giãn của kết cấu đó.

10.8.3. Xứ lý mạch ngừng Khi đổ lớp bê tông tiếp theo thì mạch ngừng phải được xứ lý thật kỹ để hai lớp bê tông mới và cũ bám dính vào nhau. Thường sử dụng một số biện pháp sau:

- Vệ sinh sạch và tưới nước xi măng lên bề mặt lớp bê tông cũ trước khi đổ bê

tông mới.

- Đánh sờn bề mặt, đục hết những phần bê tông không đạt chất lượng nhất là

trong mạch ngừng đứng, rồi tưới nước xi măng. Đối với mạch ngừng ngang thì sau

khi đánh sờm, cho một lớp vữa xi măng mác cao dày khoảng 2 3cm trước khi đổ bê

tông mới.

- Sử dụng các phụ gia kết dính dùng cho mạch dừng. - Đặt sẵn lưới thép tại vị trí mạch dừng khi thi công lớp bê tông trước.

10.9. Bảo dưỡng bê tông – Sửa chữa khuyết tật sau khi đổ bê tông.

10.9.1. Bảo dưỡng bê tông

1. Bản chất của bảo dưỡng bê tông Quá trình đông cứng của vữa bê tông chủ yếu được thực hiện bởi tác dụng thủy hóa

của xi măng. Tác dụng thủy hóa này chỉ được tiến hành ở nhiệt độ và độ ẩm thích hợp. Bảo dưỡng bê tông chính là làm thỏa mãn điều kiện để phản ứng thủy hóa được thực

hiện.

2. Bảo dưỡng bê tông

Như đã biết lượng nước trong hỗn hợp bê tông theo tỷ lệ có 2 tác dụng:

Giúp trộn đều hỗn hợp bê tông và thực hiện phản ứng thủy hóa xi măng (chỉ chiếm khoảng 30%), phần còn lại nhằm tạo ra tính công tác của vữa bê tông tạo thuận lợi cho

quá trình thi công đổ bê tông. Như vậy lượng nước thừa sau khi các phản ứng thủy hóa xảy ra dưới tác dụng của điều kiện thời tiết xung quanh sẽ bay hơi để lại các lỗ rỗng bên trong bê tông. Các nghiên cứu cho thấy: ở giai đoạn ban đầu ngay khi vừa đổ và hoàn thiện bề mặt xong và trong suốt quá trình xảy ra các phản ứng thủy hóa xi măng, nước bay hơi nhanh sẽ làm nứt nẻ bê tông, làm hỏng cấu trúc ban đầu của bê tông, chất lượng bê tông giảm đi rõ rệt, cụ thể là cường độ bê tông phát triển rất chậm và rất lâu

mới đạt được cường độ theo thiết kế. Vào mùa hè nhiệt độ ngoài trời rất cao (nhiệt độ >

120

30 độ) chính là điều kiện thuận lợi để nước bốc hơi nhanh. Vì vậy cần phải thực hiện

các biện pháp làm giảm tốc độ bay hơi nước. Các biện pháp truyền thông hiện nay vẫn

đang được áp dụng có hiệu quả là:

- Che đậy bằng bạt, bao tải, bao xi măng, bao ni lông... ngay khi vữa hoàn thiện

bề mặt kết cấu xong.

- Khi bê tông bắt đầu có cường độ và cường độ bắt đầu phát triển thì có thể tưới

nước giữ ẩm (bơm nước trực tiếp, tạo mù, phun mưa...), tưới đều, liên tục theo

những chu kì xác định. Không tưới nước trực tiếp vào bê tông mới đổ vì sẽ làm hỏng

bề mặt kết cấu, làm trôi xi măng...

- Khi bê tông đủ cứng (thường sau 1 ngày) có thể be bờ ngâm nước kết hợp với

công tác chống thấm.

- Thời gian bảo dưỡng ẩm theo qui định của tiêu chuẩn Việt Nam TCVN

5592:1991-Bê tông nặng yêu cầu bảo dưỡng ẩm tự nhiên như bảng dưới đây:

- Qui định các vùng như sau: Vùng A từ Diễn Châu (Nghệ An) trở ra; Vùng B ở phía đông Trường Sơn Từ Diễn Châu vào Thuận Hải (cũ); Vùng C vùng Tây Nguyên

và Nam Bộ.

- Cần chú ý trong khoảng thời gian quy định trên tuyệt đối không được đi lại, thi

công hay gây các chấn động mạnh trên bê tông vì như vậy sẽ ảnh hưởng đến việc hình

thành cường độ của bê tông, làm bê tông long khỏi cốt thép...

Cường độ bảo dưỡng Thời gian bảo

so với cường độ chuẩn Vùng khí hậu bảo Tên mùa Tháng

dưỡng bê tông dưỡng TBD(Ngày đêm)

Hè IV - IX 28 ngày RBD(%R28) 50 -55 3 Vùng A Đông X - III 40 - 50 4

Khô II - VII 55 - 60 4 Vùng B Mưa VIII - I 35 - 40 2

Khô XII - IV 70 6 Vùng C Mưa V - XI 30 1

Vào mùa đông thì nhiệt độ xuống thấp ảnh hưởng đến tốc độ phát triển cường độ của bê tông do đó phải chú ý đến thời gian tháo dỡ ván khuôn chịu lực cho phù hợp. Để tăng tốc độ phát triển cường độ của bê tông có thể trải lên mặt bê tông một lớp bao

tải gai rồi tưới nước ẩm để tăng nhiệt độ.

Trong một số trường hợp đặc biệt dưới đây có thể cho phép không cần thực hiện bảo dưỡng âm:

- Sau tạo hình có mưa liên tục ít nhất 3 ngày đêm.

- Đổ bê tông vào ban đêm ngày hôm sau có mưa liên tục ít nhất 2 ngày đêm. Ngoài các phương pháp bảo dưỡng ẩm truyền thống, hiện nay người ta còn áp

121

dụng nhiều phương pháp bảo dưỡng khác như: Phun lớp hóa chất ngăn nước bề

mặt, hút nước bề mặt...

10.9.2. Sửa chữa những khuyêt tật trong bê tông

1. Hiện tượng rỗ

Trong thi công bê tông tại chỗ, sau khi tháo ván khuôn thường gặp 3 dạng rỗ bê

tông như sau:

- Rỗ ngoài (hay gọi là rỗ mặt): mặt bê tông có hình dạng như tổ ong, chỉ xuất

hiện thành những lỗ nhỏ ở mặt ngoài chưa vào tới cốt thép.

- Rỗ sâu: lỗ rỗ đã sâu tới tận cốt thép.

- Rỗ thấu suốt: lô rổ xuyên qua kết cấu, từ mặt này sang mặt kia.

a. Nguyên nhân gây rỗ

- Do vữa bê tông bị phân tầng trong quá trình vận chuyển, đổ và đầm bê tông.

- Do độ dày của bê tông quá lớn, vượt quá phạm vi ảnh hưởng tác dụng của

đầm.

- Do vữa bê tông trộn không đều, vữa bê tông quá khô hay bị mất nước xi

măng trong quá trình vận chuyển (thiết bị vận chuyển không kín khít) hay ván khuôn không kín khít khi đầm sẽ bị mất nước).

- Do đầm không kỹ nhất là lớp vữa bê tông giữa cốt thép chịu lực và ván khuôn

(lớp bảo vệ). Hay do máy đầm có sức rung quá yếu. - Cốt thép quá dày làm cốt liệu không lọt được xuống dưới hay do cốt liệu lớn không đúng qui cách (kích thước cốt liệu lớn quá lớn)...

b. Hậu quả

Tiết diện chịu lưc tại vị trí rỗ thu hẹp làm giảm khả năng chịu lực của kết cấu, tạo

điều kiện thuận lợi cho môi trường xâm thực vào phá hoại cốt thép, phá hoại liên kết

giữa bê tông và cốt thép...

c. Xứ lí

Đục rộng vị trí rỗ, cạy bỏ các viên cốt liệu lớn xung quanh, làm vệ sinh sạch sẽ

rồi dùng bê tông đá nhỏ có mác bằng hoặc cao hơn mác bê tông cũ để trát lại. Nếu cần

thiết thì ghép ván khuôn rồi đổ và đầm chặt bê tông. Chú ý đối với vị trí rỗ xuyên cần thực hiện chống đỡ kết câu trước khi tiến hành xử lí.

2. Hiện tượng nứt chân chim a. Hiện tượng

Thường gặp ở các khối bê tông khối lớn, hay các sàn có 2 lớp thép, đường ống ngầm chôn trong sàn nhiều... khi tháo dỡ ván khuôn với các vết nứt ở bề mặt (măt ngoài) làm giảm khả năng chịu lực và sức chống thấm của bê tông. Vết nứt thường có hình dạng chân chim.

b. Nguyên nhân

- Do sự co ngót không đều của bê tông vì không đảm bảo đúng các biện pháp và

122

qui trình bảo dưỡng bê tông sau khi đổ.

- Do cốt thép đặt sai, đặt thiếu hoặc bị xê dịch khỏi vị trí thiết kế khi đổ và đầm

bê tông.

c. Hậu quả

Xuất hiện các vết nứt trên các kết cấu làm giảm khả năng chịu lực của kết cầu đó,

tạo điều kiện môi trường xâm thực phá hoại kết

d. Xứ lý

Đục rộng vị trí nứt, cạy bỏ các viên cốt liệu lớn xung quanh, làm vệ sinh sạch sẽ rồi

dùng bê tông đá nhỏ có mác bằng hoặc cao hơn mác bê tông cũ để trát lại.

3. Hiện tượng trắng mặt a. Hiện tượng

Thường thấy ở những kết cấu mỏng, khi gỡ ván khuôn thì thấy bề mặt đều bị

trắng.

b.Nguyên nhân

Do bảo dưỡng không tốt hoặc do nước trong hỗn hợp bê tông mất nhiều vì nhiệt

độ tăng nhanh.

c. Hậu quả

Tại vị trí trắng mặt tốc độ phát triển cường độ của bê tông chậm và thường không

hoặc rất lâu mới đạt được cường độ thiết kế.

d. Xứ lý

Quét nước xi măng, đắp bao tải, trấu hoặc mùn cưa, tưới nước thường xuyên từ

57 ngày.

B. Nội dung thảo luận

- Đề tài thảo luận: Trình bầy công tác bê tông tại một công trường thực tế.

- Yêu cầu mỗi nhóm đóng 2 quyển A4 (1 nộp GV, 1 dùng báo cáo) gồm: Trang bìa (Tiêu đề, tên nhóm, đề bài, tên sinh viên và giáo viên), Mục lục và Nội dung.

PHẦN C. LẮP GHÉP

XI. CHƯƠNG 11. DỤNG CỤ VÀ THIẾT BỊ TRONG LẮP GHÉP XÂY DỰNG

XI.1. Mục tiêu, nhiệm vụ - Mục tiêu: Chương 11 cung cấp kiến thức và thực tế về các dụng cụ và thiết bị trong công tác lắp ghép xây dựng.

123

- Tóm tắt nội dung: Chương 11 lần lượt nghiên cứu về cấu tạo, đặc điểm kỹ thuật, tính

toán thiết kế, ứng dụng: dây cáp, dây cẩu, đòn cẩu, tăng đơ, giằng, khung dẫn, kích, tời

trong xây dựng.

XI.2. Các nội dung cụ thể A. Nội dung lý thuyết

11.1. Dây cáp

11.1.1. Cấu tạo

Dây cáp được bện bằng nhiều sợi thép nhỏ có đường kính 0,2- 2mm, quấn

quanh lõi, có loại dây cáp bện bằng nhiều sợi thép riêng rẽ, hoặc bện bằng nhiều nhóm

sợi thép, thường từ 6 đến 18 nhóm. Mỗi nhóm gồm nhiều sợi thép, có 19; 37; 61 sợi/

nhóm, độ dẻo của cáp phụ thuộc vào đường kính sợi dây thép.

Hình 11.1. Dây cáp

Lõi cáp: lõi cáp làm bằng sợi đay hoặc Amiăng có tẩm dầu, lõi cáp có tác dụng

làm tăng độ dẻo, giữ dầu mỡ và bảo vệ cáp khỏi gỉ ở bên trong.

Trong xây dựng thường sử dụng loại cáp có 1 lõi, 6 nhóm sợi, mỗi nhóm có 37

sợi dây thép (1 + 6 x 37).

Người ta sản xuất các loại dây cáp có đường kính từ 3,7 đến 65 mm, dài 250,

500 đến 1000m.

11.1.2. Công dụng

Dây cáp cứng uốn cong khó nên thường dùng làm dây tời, dây cẩu, dây giằng.

Dây cáp mềm dễ uốn cong thường dùng để treo buộc vật cẩu.

11.1.3. Tính sức chịu kéo.

Trạng thái làm việc của dây cáp rất phức tạp, dây bị kéo, uốn và xoắn, để đơn

giản khi tính toán ta tính sức chịu kéo theo công thức sau:

Trong đó:

S – sức chịu kéo cho phép của dây cáp (KG) R – Lực làm đứt cáp lấy theo thông số kỹ thuật hoặc thí nghiệm;

K – Hệ số an toàn:

K = 3,5 cho dây neo, dây giằng;

K = 4,5 cho ròng rọc kéo tay;

124

K = 5 cho ròng rọc của máy;

K = 6 cho dây cáp cẩu vật nặng 50 tấn, cho dây cẩu có móc cẩu

hoặc vòng quai ở hai đầu dây.

K = 8 cho day cẩu bị uốn cong do buộc vật.

Trường hợp không có số liệu, có thể chọn cáp theo trọng lượng vật cẩu theo

bảng 8.1.

Bảng 11.1. Chọn cáp theo trọng tải vật cẩu

Trọng lượng vật cẩu (tấn) Đường kính cáp (mm)

< 5 15

5 -15 20

15 – 30 26

30 – 60 30

11.2. Dây cẩu

Dây cẩu làm bằng dây cáp mền có đường kính tới 30 mm, dùng để buộc và treo

cấu kiện phục vụ cho việc cẩu lắp. Có hai dây cẩu: dây cẩu kép và cẩu đơn.

- Dây cẩu kép là dây cẩu khi dùng mặt cắt bất kỳ đều cắt qua hai dây cáp.

- Dây cẩu đơn là một đoạn cáp được trang bị móc cẩu hoặc vòng quai ở hai

đầu. Khi cẩu vật làm việc độc lập từng dây cáp một

Hình 11.2. Dây cẩu kép

a) Cấu tạo; b) Cách sử dụng

Hình 11.3. Dây cáp cẩu đơn

a) Có móc cẩu; b) Có vòng quai; c) Cách sử dụng

Tuỳ theo hình dạng, kích thước và trọng lượng vật phải nâng, người ta dùng các

chùm dây cẩu gồm có hai, bốn hoặc tám nhánh.

125

Hình 11.4. Treo buộc cấu kiện

a) treo tấm tường; b) Treo tấm sàn; c) Treo tấm bậc thang

- Lực trong mỗi nhánh dây cẩu phụ thuộc vào góc dốc của dây đối với đường

nằm ngang, góc dốc càng lớn thì lực trong các nhánh dây càng nhỏ.

Hình 11.5. Trình bày sự phân bố lực trong nhánh dây cẩu theo góc dốc của dây

cáp khi treo vật.

Hình 11.5. Nội lực trong dây khi treo vật

Qua hình vẽ ta thấy trằng không nên buộc các nhánh dây có góc dốc nhỏ hơn 300, vì như vậy lực trong các nhánh dây sẽ lớn và gây ra lực nén phụ trong cấu kiện được nâng.

Trường hợp treo vật ở tư thế nằm ngang bằng

chùm dây cẩu (hình 8.6) thì lực S trong mỗi nhánh dây

xác định theo công thức:

Trong đó:

Hình 11.6. Chùm dây cẩu P- trọng lượng của vật cẩu (tấn);

m – số nhánh dây cẩu;  - góc dốc của nhánh dây với đường đứng thẳng, ở đây  không quá 600

11.3. Đòn treo

Đòn treo thường làm bằng thép ống, hoặc thép hình giúp cho các dây cẩu làm

việc với sức kéo sợi lợi nhất.

126

Hình 11.7 a) Đòn treo bằng thép ống; b) Hệ đòn treo

c) Đòn treo bằng thép hình; d,e) Khung treo

11.4. Puli và nhóm Puli

11.4.1. Puli

Puli là thiết bị treo trục đơn giản nhất, nó gồm có một hoặc nhiều bánh, dây cáp

cuốn quanh vành bánh xe, trục bánh xe cố định và hai má puli và thanh kéo, đầu trên

thanh kéo có quai treo đầu cuối thanh kéo có móc cẩu.

Hình 11.8. Puli cẩu

1. Quai treo; 2. Thanh kéo; 3. Bulông liên kết; 4. Má puli

5. Móc cẩu; 6. Các bánh xe; 7. Trục puli; 8. ống Văng ngang; 9. Trục treo

Puli một bánh xe dùng cho vật nặng từ 3 đến 10 tấn, puli hai bánh xe dùng cho

vật nặng 10-15 tấn, puli 3 bánh xe dùng cho vật nặng tới 25 tấn, puli 5 bánh xe dùng

cho vật nặng tới 40 tấn. Đường kính bánh xe puli phải lớn gấp 10 lần đường kính dây

thừng và lớn hơn 16 lần đường kính dây cáp.

11.4.2. Nhóm puli (ròng rọc)

Nhóm puli (hình 8.9) là thiết bị treo trục gồm nhiều puli cố định và puli di động nối với nhau bằng dây cáp, puli trên bất động, puli dưới di động, dây cáp lần lượt chạy

cố định vào một puli (trên hoặc dưới) còn đầu kia chạy ra các puli hướng động rồi ra tời, puli dưới của nhóm puli có móc cẩu để treo vật.

Sử dụng nhóm puli thì được lợi thế về lực, nghĩa là có thể dùng được những tời có trọng tải nhỏ hơn trọng lượng vật nâng. Nhưng lực tác dụng để nâng vật mà nhỏ hơn trọng lương bao nhiêu lần. Muốn rút ngắn thời gian nâng vật lên cao người ta sử

dụng loại tời điện quay nhanh.

127

Trong nhóm puli, những nhánh dây cáp đi puli di

động gọi là những nhánh dây treo vật. Số nhánh dây treo

vật tăng lên bao nhiêu lần thì lực trong mỗi nhánh dây

giảm đi bấy nhiêu lần.

Lực S trong nhánh dây của ròng rọc tính theo công

thức:

(Kg)

Trong đó:

P – trọng lượng vật cẩu (kg)

n- số nhánh dây treo vật Hình 11.9. Ròng rọc Kms – hệ số phụ thuộc vào số lượng puli và

ma sát ở các bánh xe puli.

đặt (Kg)

m- hệ số phụ thuộc vào số nhánh dây treo, số lượng puli đổi hướng và mà sát ở

các bánh xe puli, m được xác định ở bảng 8.2.

Puli đổi hướng là puli cố định nhưng có tác làm thay đổi phương của lực.

Bảng 11.2. Hệ số m

Số bánh xe Số puli hướng động Số nhánh dây treo trong các puli vật 0 1 2 3 4 5 6 ròng rọc

1 0 1 0,96 0,92 0,88 0,85 0,82 0,78

2 1 1,96 1,88 1,81 1,73 1,66 1,60 1,53

3 2 2,88 2,76 2,65 2,55 2,44 2,35 2,66

4 3 2,77 3,6 3,47 3,33 3,2 3,07 2,95

5 4 0,62 4,44 4,26 4,09 3,92 3,77 3,61

6 5 5,43 5,21 5,00 4,80 4,61 4,43 4,15

7 6 6,21 9,96 5,72 5,49 5,27 5,06 4,86

8 7 6,97 6,69 6,42 6,17 5,92 5,68 5,45

9 8 7,69 7,38 7,09 6,80 6,53 6,27 6,02

10 9 8,38 8,04 7,72 7,41 7,12 6,83 6,56

11.5. Tời

11.5.1. Công dụng

Tời là thiết bị kéo trục vật làm việc

độc lập, hoặc là bộ phận truyền chuyển động không thể thiếu được của máy cẩu.

Trong công tác lắp ghép, tời sử dụng vào

128

Hình 11.10. Tời tay; 1. Tấm thành; 2 Hãm ma sát; 3. Tay quay; 4. Bánh xe răng; 5 Đĩa răng truyền lực; 6. Thanh liên kết; 7. Trục truyền lực; 8. Trống tời; 9. Cá hãm; 10. Bánh xe hãm khấc.

việc bốc dỡ và lôi kéo cấu kiện, kéo căng và điều chỉnh các dây giằng, dây neo, di

chuyển và lắp ráp các máy móc, thiết bị nặng, giúp việc dựng lắp cần trục và lắp công

trình cao.

11.5.2. Các loại tời

a. Tời tay

Tời tay có sức kéo từ 0,5 – 10 tấn nhưng thông dụng là những tời 3 -5 tấn.

Chiều dài dây cáp cuộn đầy trống tời 100-300 m, trọng lượng tời 200 – 1500 kg. Tời hoạt động bằng sức người quay tay.

b. Tời điện

Tời điện thông dụng hơn tay tời vì

nó tiện nghi và năng suất cao hơn. tời điện thường có sức kéo từ 0,5 đến 50 tấn

Có hai loại tời điện: tời điện truyền

lực bằng bánh xe răng và tời điện ma sát.

Hình 11.11. Tời điện Tời điện truyền lực bằng bánh xe

1. Đế tời; 2. Trống tời; 3. động cơ răng:

điện; Loại này thường dùng trong thi công

lắp ghép. Loại này điều khiển dễ dàng, chắc chắn an toàn. 4. Hộp điều khiển; 5. Cáp tời.

Tời điện ma sát: Loại này thường dùng để kéo vật di chuyển theo hướng ngang

kéo căng dây theo.

11.6. Thiết bị neo giữ

Các ròng rọc, máy tời và các dây neo giằng của các máy cần cẩu phải được cố

định chắc chắn vào các bộ phận bất động của công trình, hoặc cố định vào cọc neo, hố

thế . trong mọi trường hợp phải tính toán để kiểm tra cường độ và ổn định các bộ phận

neo giữ này.

11.6.1. Neo cố định tời.

Tuỳ theo điều kiện thực tế mà có nhiều cách cố định tời, trường hợp công trình

xây dựng xong khung chính chịu

lực thì có thể buộc cố định khung đế tời vào chân cột nhà bằng dây cáp, để khỏi hỏng cột và dây cáp, xung quanh cột phải đệm gỗ. Cũng

có thể cố định tời vào dầm bê tông

Hình 11.12. Trường hợp dùng cọc để giữ tời hay dầm thép của sàn nhà, hoặc cố định vào chân tường gạch. khi lực S nằm ngang Trường hợp đặt tời trên mặt

129

đất thì cố định khung đế của nó vào một thanh neo ngang chôn sâu trong hố, thường

gọi là hố thế hay neo ngầm hoặc cố định khung đế của tời bằng cọc và đối trọng chống

lật (neo đơn giản).

Trường hợp dùng cọc và đối trọng để giữ ổn định cho tời:

+ Khi tác dụng vào tời theo hướng nằm ngang, khung đế tời có thể bị kéo lật

quanh điểm A (hình 11.12).

Đối trọng chống lật Q sẽ được xác định đẳng thức:

Qb + Gc = kSa

Trong đó:

k: hệ số an toàn, lấy k = 1,5

Hình 11.13. Trường hợp dùng cọc để giữ tời

khi lực S nghiêng góc 

+ Khi lực tác dụng vào tời hướng theo một góc  với đường nằm ngang thì ngoài đối

trọng chống lật phía sau có thể còn phải đặt thêm đối trọng chống lật cả phía trước tời.

Vậy cần phải kiểm tra khả năng chống lật của tời đối với điểm B theo đẳng thức sau

(bênh tời)

kS1b = S2a + Q1c + Gb + Qd

viết S1 và S2 theo với góc nghiêng  ta có:

Q =

Nếu trị số Q1 là số dương thì cần phải đặt thêm gia trọng ở phía trước tời.

11.6.2. Neo cọc cố định dây giằng.

Cọc neo thường làm bằng gỗ có đường kính từ 180 đến 330 mm được đóng thành 1; 2 hoặc 3 hàng cọc, đóng sâu xuống mặt đất tới 1,5 m. Cọc neo chịu được lực kéo tới 10 tấn lực. Số lượng, kích thước và chiều sâu đóng cọc phụ thuộc vào lực kéo của dây giằng và sức chịu của nền đất. Trong thi công ta có thể chọn cọc neo theo bảng.

Cọc thứ nhất Cọc thứ hai Cọc thứ ba Lực tác dụng

130

vào cọc (tấn a1 b1 c1 d1 A2 b2 c2 d2 a1 b1 c1 d1 lực)

1,0 30 150 40 18

1,5 30 150 40 20

2,0 30 150 40 26

3,0 30 150 40 20 30 150 90 22

4,0 30 150 40 22 30 150 90 25

5,0 30 150 40 24 30 150 90 26

6,0 30 150 40 20 30 150 90 22 30 150 90 28

8,0 30 150 40 22 30 150 90 25 30 150 90 30

10,0 30 150 40 24 30 150 90 26 30 150 90 33

Chú ý: Các kích thước cọc đều lấy bằng cm

Hình 11.14. Cọc neo

11.6.3. Neo ngầm (hố thế)

Neo ngầm chịu lực kéo 3 20 tấn lực, làm bằng một bó 3  4 cây gỗ, đường

kính khoảng 240, dài 2 3m, chôn ngang sâu xuống mặt đất từ 1,5  3,5m, dây neo

hoặc thanh neo đặt nghiêng 3045, một đầu nhô lên khỏi mặt đất tại đó buộc dây giằng

. Nếu lực kéo lớn từ 20 40 tấn lực thì hố thế phải được gia cường thêm một hàng ván

ngang và một tấm tường đứng bằng gỗ cây .

131

Hình 11.15. Neo ngầm

a. Tính toán hố thế không gia cường.

Độ ổn định của hố thế dưới tác dụng của

tải trọng thẳng đứng xác định theo hệ thức:

Q + T > kN1

Trong đó:

Q – trọng lượng khối đất trên neo; N1 – thành phần lực thẳng đứng của

S tác dụng vào neo

N2 – thành phần nằm ngang của lực

S tác dụng vào neo; Hình 11.16. Tính toán hố thế không gia cường T – lực ma sát giữa gỗ và đất,

T = f1N2

ở đây: k – hệ số ổn định lấy bằng 3; f1 – hệ số ma sát giữa gỗ và đất; f1 = 0,5

Trọng lượng khối đất Q xác định theo công thức:

Trong đó:

B1, b – kích thước đáy trên và đáy dưới hố đào;

H - độ sâu thanh neo ngang

L – chiều dài ngang neo ngang

d – dung trọng của đất

Kiểm tra lại áp suất cho phép của đất [d] khi tác dụng ở độ sâu H bằng hệ thức:

Trong đó:

 - hệ số không đều, lấy bằng 0,25;

h – chiều dày của thanh neo ngang;

Rd – cường độ của đất

Tiết diện của thanh neo ngang có một dây kéo xác định theo điều kiện chống

uốn. Môme cực đại M trong thanh ngang này là:

] < w[

Trong đó: (l – chiều dài thanh neo ngang)

132

Hình 11.17.Sơ đồ chịu lực và biểu đồ mômen của thanh neo ngang a) Thanh neo ngang có một dây kéo; b) Thanh neo ngang có hai dây kéo

Tiết diện thanh neo ngang có hai nhanh dây kéo xiên xác định theo điều kiện

chống uốn và chống nén trong thanh ngang là:

M = max(M ,M )

Trong đó: M = , M =

Trong đó: (l – chiều dài thanh neo ngang)

a - Khoảng cách giữa hai vị trí neo của dây vào thanh ngang

Mô men uốn cực đại

Lực nén cực đại trong thanh neo ngang là

Trong đó:  - góc giữa hai nhánh kéo và thanh ngang, trong mặt phẳng của hai

nhánh dây.

Lúc này ứng suất trong thanh neo ngang bằng:

Trong đó:

W – mômen kháng uốn của thanh neo ngang; F – tiết diện ngang của thanh neo;

M – mômen uốn trong thanh neo ngang, tính như dầm đơn giản gối là

điểm buộc dây, tải trọng là áp lực đất.

b. Tính toán hố thế gia cường.

cách thức tính toán giống như tính toán hố thế không gia cường. Kiểm tra độ ổn

định của hố thế dưới tác dụng của tải trọng thẳng đứng bằng công thức:

Q + T  kN1

Trong đó: Q – trọng lượng khối đất.

Q = HBld

133

T – lực ma sát

T = fN2

ở đây: f – hệ số ma sát giữa gỗ và gỗ, f = 0,4;

k – hệ số ổn định, k = 1,5 2

áp suất cho phép của các lực ngang tác dụng lên đất bằng

Trong đó:

h1 – phần chiều cao gỗ chắn đứng trên thanh neo ngang

h2 – phần chiều cao gỗ chắn dưới thanh neo ngang

Hình 11.18. Tính toán hố thế gia cường

11.6.4. Neo bê tông

Neo bê tông đặt nổi có các ưu điểm sau: sử dụng thuận lợi, thi công nhanh

chóng, giá thành rẻ (rẻ hơn khoảng 30 -40%), sử dụng được nhiều lần và sử dụng ở

những nơi có nhiều mạng lưới đường óng ngầm, không tốn công đào đất, lấp đất.

Neo bê tông là loại neo đặt nổi trên mặt đất hay chìm dưới mặt đất một chút và

để ngỏ, gồm nhiều khối bê tông cốt thép gia trọng đúc sẵn, có kích thước khoảng

3,5x1x0,5m, nặng 4,25 tấn, liên kết đôi một vào nhau bằng các thanh bu lông dài, sắp

xếp bằng cần trục.

Để tăng sức bám neo vào mặt đất người ta đặt các khối bê tông gia trọng lên

trên một khung đế thép, có những chân dao cắm sâu vào mặt đất.

* Tính toán neo bê tông

Kích thước và trọng lượng neo bê tông đặt chìm xác định theo lực ma sát T

giữa neo bê tông, đất và phản lực N của đất ở trước mặt neo, chống lại thành phần

nằm ngang N của lực dây giằng (hình)

N = T + N

Hay là:

N = Q.f + F[ ]

Từ đó rút ra trọng lượng neo:

134

Q =

Trong đó: Hình11.19. Sơ đồ tính toán neo bê tông F – diện tích mặt tựa trước của neo

[ ] - áp suất cho phép nên đất

f – hệ số ma sát giữa bê tông và đất, lấy trong khoảng 0,45-0,70 Kiểm tra độ ổn định chống lật của neo bê tông theo công thức:

Q.b kSl

Trong đó:

Q – trọng lượng neo

b và l – khoảng cách từ các lực tác dụng đến điểm lật A

S – lực tác dụng của dây giằng lên neo

k – hệ số ổn định lấy bằng 1,4

B. Bội dung thảo luận

- Đề tài thảo luận:

1. Tính toán neo ngầm (hố thế không gia cường) kèm minh họa công trình thực tế?

2. Tính toán neo ngầm (hố thế có gia cường) kèm minh họa công trình thực tế?

3. Tính toán neo bê tông kèm minh họa công trình thực tế?

- Yêu cầu mỗi nhóm đóng 2 quyển A4 (1 nộp GV, 1 dùng báo cáo) gồm: Trang bìa (Tiêu đề, tên nhóm, đề bài, tên sinh viên và giáo viên), Mục lục và Nội dung.

XII. CHƯƠNG 12. PHƯƠNG TIỆN LẮP GHÉP

XII.1. Mục tiêu, nhiệm vụ - Mục tiêu: cung cấp kiến thức để lựa chọn và sử dụng các phương tiện lắp ghép.

- Tóm tắt nội dung: Chương 12 lần lượt nghiên cứu cách phân loại, đặc tính kỹ thuật, điều kiện áp dụng của các phương tiện: Cần trục tự tạo, cần trục thiếu nhi, cần trục tự hành, cần trục tháp, cần trục cổng. Và cách xác định thông số lắp ghép, chọn cần trục để lắp ghép một cấu kiện.

XII.2. Các nội dung cụ thể A. Nội dung lý thuyết

12.1. Cần trục thiếu nhi.

Cần trục thiếu nhi có sức trục 500kg, trọng lượng bản thân 640 kg, đối trọng 800 kg, độ với không đổi.

135

Cần trục thiếu nhi T.108 có thể nâng vật lên cao 4,5, so với mặt sàn cần trục

đứng, với xa 2,9m. Quay cần và di chuyển vị trí bằng sức người, nâng hạ vật bằng tời

điện có công suất 3,2kW.

Cần trục thiếu nhi thường được sử dụng trong công tác lắp pa nen, tấm đan sàn

nhà dân dụng thông thường, vận chuyển vật liệu lên cao. Vận chuyển vật liệu và lắp

Hình 12.1. Cần trục thiếu nhi

ghép sàn tầng nào thì cần trục sẽ đứng trên sàn tầng ấy.

12.2. Cần trục tự hành. 1. Đông cơ; 2. Trống cuộn cáp; 3. Đối tượng

4. Cáp cẩu; 5. Cáp giữ cầu

Cần trục hành bao gồm cần trục ô tô, cần trục bánh hơi, cần trục bánh xích. Cần trục tự

hành thường dùng để lắp ghép các kết cấu xây dựng.

Cần trục tự hành có những điểm sau:

- Độ cơ động cao, có thế phục vụ nhiều điểm lắp ghép trên công trường;

- Có thể vận chuyển vật đến bất kỳ chỗ nào, theo bất kỳ hướng nào trên mặt

bằng.

- Tốn ít công và thời gian tháo lắp cần trục trước và sau khi sử dụng;

- Có thể tự đi từ công trình này sang công trình khác;

Những nhược điểm:

- Độ ổn định kém, nhất là cần trục bánh hơi, khi lắp ghép cần phải có chân

chống.

- Tay cần ở tư thế nghiêng và khớp tay cần thấp, nên khi lắp ghép kết cấu cần trục phải đứng xa công trình, như vậy tổn thất nhiều về độ với hữu ích, thường người

ta phải trang bị thêm mỏ cần (mỏ phụ)

12.2.1. Cần trục ô tô.

Cần trục ô tô có sức trục từ 3 đến 100 tấn-lực.

Tay cấn dài tới 35m. Tốc độ di chuyển khá lớn,

40km/h. Mỗi cần trục có 2 loại sức trục; sức trục khi

không dùng chân chống và sức trục khi có chân

chống.

Cần trục ôtô gồm 2 loại, loại tay cần có chiều dài cố định được sản xuất từ thép ống, thép góc. Loại này tay cần có độ dài nhỏ. Nhược điểm lớn nhất của

cần trục loại này là tay cần cồng kềnh, di chuyển trên đường khó khăn.

Loại thứ hai là tay cần có khả năng thay đổi

chiều dài nhờ vào cơ cấu thủy lực, ở Việt Nam đang

sử dụng một số loại như sau: AKD, KATO, Hình 12.2. Cần trục ôtô TANANO…Do đó khả năng thay đổi độ dài tay cần

136

nên nó được sử dụng khá phổ biến trên công trường xây dựng.

Các cần trục ôtô có khuyết điểm là khi cẩu vật nặng thì phải đứng trên các chân

phụ, điều này gây ra bất tiện khi phải di chuyển luôn.

Nếu không dùng các bộ chân phụ thì trọng tải của cần

trục ôtô giảm đi 3-4 lần.

Cần trục ô tô thường dùng trong công tác bốc xếp

hoặc lắp ghép nhỏ, mặt bằng rộng công việc phân tán.

12.2.2. Cầm trục bánh hơi.

Có sức trục từ 5 đến 10 tấn. Tay cần dài tới 35 m.

Tốc độ di chuyển khoảng 15 km/h

Khi đi xa thường phải tháo dỡ tay cần dài để vận chuyển riêng, hoặc xếp trên nóc chính xe trục. Biểu đồ

tính năng của loại cần trục này thường có hai đường: đường tính năng khi không có chân chống và đường tính năng khi có chân chống.

Một loại cần trục có thể lắp nhiều tay cần dài Hình 12.3. Cần trục bánh hơi ngắn khác nhau nên biểu đồ tính năng cũng có nhiều

đường cho từng loại tay cần nó có.

Cần trục bánh hơi sử dụng để lắp các kết cấu nhà dân dụng, nhà công nghiệp,

xếp dỡ các cấu kiện lắp ghép. Khi cẩu các vật nặng phải dùng chân chống để tăng

cường sự ổn định cho cần trục.

12.2.3. Cần trục bánh xích.

Cần trục bánh xích có trọng tải từ 3 đến 100 tấn – lực, tay cần dài tới 40m. Cần trục bánh xích có độ cơ động cao vì nó có thể đi lại dễ dàng trên mặt bằng xây dựng

không phải sửa đường như cần trục ô tô, cần trục bánh

hơi. Tốc độ di chuyển 3-4 km/h, khi di chuyển xa phải

tháo dỡ tay cần, và một phần của cần trục, để đưa lên xe hoả hoặc xe chuyên dụng chở đi.

Cần trục bánh xích thường sử dụng để cẩu lắp ráp các kết cấu, thiết bị công nghệ trong xây dựng các

công trình dân dụng và công nghiệp thấp tầng có nhịp lớn hoặc cẩu các vật nặng.

12.3. Cần trục cổng.

Cần trục cổng (hình 12.6) có sức trục Q = 1 –

Hình 12.4. Cần trục bánh xích 120 tấn, thông dụng là loại cần trục có sức Q từ 5

đến 60 tấn, khẩu độ từ 7  45 m, chiều cao tới 40m.

137

Cần trục di chuyển trên đường ray bằng động cơ điện. Cần trục cổng có một hoặc hai

xe con mang vật cẩu chạy trên dầm cầu, có loại cần trục palăng điện để di chuyển vật

cẩu. Palăng này chạy trên đường ray treo vào cánh hạ của dầm cầu.

Hình 12.5. Cần trục cổng

Dầm cần trục cổng có một hoặc hai conson, hoặc không có conson. Côngxon có

thể dài tới 10m. Cần trục cổng khá ổn định khi chịu gió bão.

Cần trục cổng có conson có thể lắp ghép những công trình nằm dưới dầm cẩu

và cẩu cấu kiện từ xe vận tải đứng dưới conson. Để phục vụ công tác lắp ghép được

thuận lợi hơn, người ta trang bị thêm cho cần trục cổng hạng lớn những đòn cẩu lắp

vào các chân hoặc dầm cầu trục.

Dùng cần trục cổng để lắp ghép những kết cấu khối lớn và nặng (như một căn

phòng hình hộp của nhà). Cần trục cổng vừa làm nhiệm vụ bốc xếp vừa làm nhiệm vụ

lắp ghép.

12.4. Cần trục tháp.

Hình 12.6. Cần trục tháp

Cần cẩu trục tháp là loại cần trục có tháp cao, tự ổn định, đỉnh tháp có lắp tay

cần dài. Cần trục tháp có chiều cao nâng và tầm với lớn, cần trục tháp quay được toàn

138

vòng. Là loại máy cẩu thông dụng nhất trong xây dựng dân dụng và công nghiệp để

lắp ghép các công trình cao và chạy dài.

12.4.1. Đặc điểm

Cần trục tháp có sức trục từ 0,5160 tấn, tầm với đến 50m. Thân tháp và tay

cần được cấu tạo bởi nhiều đoạn ghép lại với nhau, mỗi đoạn dài 510m. những cần

trục tháp có chiều cao lớn (trên 25m) thì tiết diện thân tháp thay đổi, có loại kết cấu

bằng thép lồng vào nhau từng đoạn, có thể kéo dài hoặc thu ngắn thân tháp để thay đổi chiều cao. Chiều tháp được đặt trên một hệ bánh xe rộng, đảm bảo ổn định cho cần

trục và truyền tải trọng đều xuống đường ray.

12.4.2. Phân loại. - Phân loại theo sức trục có các nhóm sau:

+ Cần trục loại nhẹ (sức trục lớn nhất 10 tấn) dùng để xây dựng nhà công cộng,

nhà công nghiệp nhiều tầng và nhà dân dụng.

+ Cần trục loại nặng, có sức trục lớn hơn 10 tấn, thường dùng để lắp ghép các

công trình công nghiệp lớn như nhà máy điện, phân xưởng đúc thép, công trình lò cao.

- Phân loại theo tính chất làm việc. Gồm có:

+ Loại cần trục có tay cần nghiêng nâng hạ được;

+ Loại cần trục có tay cần nằm ngang (thay đổi tầm với bằng xe trục di chuyển

trên cần)

- Phân loại theo vị trí đối trọng. Gồm có:

+ Loại cần trục tháp, đối trọng ở trên cao

+ Loại cần trục tháp, đối trọng ở dưới thấp

- Phân loại theo phương pháp lắp đặt tại hiện trường. Gồm có:

+ Cần trục tháp tự di chuyển trên đường ray;

+ Cần trục tháp tự cố định.

+ Cần trục tháp tự nâng.

12.4.3. Cần trục tháp so với các loại cần trục khác có những ưu điểm chính sau

đây: - Độ cao nâng vật khá lớn. - Từ trên cần trục người công nhân nhìn thấy vị trí lắp ghép cấu kiện.

- Không có dây giằng cản cản trở mặt băng thi công và gây khó khăn cho sự di chuyển cần trục.

- Khớp nối tay cần ở cao, nên có thể vận chuyển vật đến bất kỳ chỗ nào trên công trình mà không sợ tay cần bị vướng bởi công trình đã xây lắp trước.

- Đứng gần sát công trình xây dựng hơn so với các cần trục tự hành, do đó tận dụng được độ với và sức trục. - Di chuyển dễ dàng trên đường ray dọc công trình và cũng có thể di chuyển theo

đường ray cong như vậy. Có thể vận chuyển vật liệu và cấu kiện một cách trực tiếp từ

139

xe vận tải hay từ kho bãi đến vị trí lắp ghép trên công trình, không qua khâu bốc xếp

trung gian.

12.4.4. Các thông số kỹ thuật và đặc tính làm việc.

Các thông số kỹ thuật và thông số làm việc cơ bản của các loại cần trục bao

gồm:

1- Sức nâng: được ký hiệu là Q, đơn vị tính là tấn, là khối lượng hàng hoá lớn nhất mà

cần trục có thể nâng được ở tầm với đã cho. Nói chung, khi tăng tầm với, sức nâng giảm. Sức nâng đạt lớn nhất khi tầm với nhỏ nhất.

2- Mômen tải: ký hiệu là MT, đơn vị tính tấn mét, là tích số giữa nâng và tầm với. Mômen tải có thể là không đôi hoặc thay đổi theo tầm với.

3- Tầm với: ký hiệu là R, đơn vị tính là mét: là khoảng cách từ tâm quay của cần trục tới tầm móc treo hàng.

4- Chiều dài tay cần: ký hiệu là L, đơn vị tính là mét, là khoảng cách từ tâm của lỗ

chốt lắp chân cần đến tâm trục puli đầu cần. Chiều dài cần phụ ký hiệu là l, đơn vị tính

là mét.

5- Chiều cao nâng móc lớn nhất: ký hiệu là H, đơn vị tính là mét, là khoảng cách từ

mặt bằng máy đứng đến tâm móc cẩu hàng ở vị trí làm việc. Khi nâng hạ cần thì chiều

cao nâng móc thay đổi phụ thuộc vào tầm với.

6- Độ dốc có thể vượt qua khi cần trục di chuyển: tính bằng % là độ dốc dọc theo

đường di chuyển.

7- Khối lượng cần trục: là khối lượng của bản thân máy cần trục, đơn vị tính là tấn.

8- Công suất chung của tất cả các động cơ: ký hiệu là P, đơn vị là kW hoặc ml (mã

lực).

9- Tốc độ di chuyển khi không có hàng của cần trục, đơn vị tính là km/h

10- Tốc độ di chuyển khi có hàng, thường là chậm, đơn vị tính là m/s

11- Tốc độ nâng, hạ hàng đơn vị tính là m/s

12- Tốc độ thay đổi tầm với, đơn vị tính là m/s

13- Tốc độ bàn quay, đơn vị tính là m/s

14- Thời gian thay đổi tầm với, đơn vị tính là giây

15- Kích thước bao của cần trục là kích thước lớn nhất theo các chiều rộng, dài, cao, đơn vị tính là mét.

Những thông số kỹ thuật và làm việc rất cần thiết khi chọn phương án sử dụng

cần trục. Những thông số kỹ thuật phải phù hợp với điều kiện làm việc cụ thể ở nơi sử dụng cần trục.

12.4.5. Biểu đồ tính năng của cần trục

Quan hệ giữa sức nâng Q, Tầm với R và chiều cao nâng móc H được biểu hiện

bằng biểu đồ tính năng của cần trục (hình 12.7)

140

Hình 12.7. Biểu đồ tính năng của cần trục

Đường biểu thị sức trục và độ của cần trục;

Đường biểu thị chiều cao nâng móc của cần trục và độ với.

Mỗi loại cần trục có một biểu đồ tính năng (đường đặc tính cần trục) khác nhau

biểu thị mối quan hệ trên, từ đó có thể xác định ở mỗi vị trí nhất định của tay cần các

trị số Q,R,H

12.5. Cọn cần trục để lắp ghép.

Khi chọn cần trục để lắp ghép các kết cấu của công trình, về kỹ thuật phải căn

cứ vào các yếu tố sau:

- Hình dáng, kích thước của cấu kiện

- Kích thước của công trình lắp ghép

- Trọng lượng cấu kiện và thiết bị treo buộc Q (T)

- Chiều cao đặt cấu kiện H (m)

- Độ với của cần trục R (m)

- Chiều dài tay cần của trục L (m)

- Sơ đồ di chuyển của trục khi lắp ghép

các kiện

- Vật cản phía trước cần trục, những cấu

kiện bất lợi có thể là: Nặng nhất, xa nhất

so với vị trí đứng của cần trục, hoặc là ở vị trí cao nhất của công trình.

- Thời gian yêu cầu hoàn thành công trình.

- Các điều kiện về mặt bằng thi công lắp

ghép công trình

12.5.1. Chọn cần trục tự hành. Hình12.8. Sơ đồ tính thông số khi cần trục

lắp ghép kết cấu 1. Khi lắp ghép kết không có vật cản phía trước không có vật cản phía trước

- Chiều cao nâng móc cẩu H tính theo công thức:

141

H = h + h +h

Trong đó:

h - đoạn chiều cao nâng cấu kiện hơn cao trình máy đứng

h = H + (0,5 1) m

h - chiều cao của cấu kiện lắp ghép (m)

h - chiều cao của thiết bị treo buộc tính từ điểm cao nhất của cấu kiện tới móc cẩu

(m);

h - đoạn pu-li, ròng rọc , móc cẩu đầu cần h 1,5m

- Chiều cao từ cao trình máy đứng đến pu-li đầu cần trục là:

H = H + h (m)

- Trọng lượng Q của vật cẩu tính bằng công thức:

Q = Q + q

Trong đó:

Q - trọng lượng cấu kiện lắp ghép (tấn)

q - trọng lượng các thiết bị treo và dây treo buộc (tấn)

- Chiều dài tay cần có thể sơ bộ chọn theo công thức :

L =

h - khoảng cách từ khớp quay tay cần đến cao trình của cần trục đứng h = 1,5 1,7m

Với cần trục tự hành ta lấy = 70 75 là góc lớn nhất mà tay cần có thể thực hiện,

khi đó tầm với gần nhất của trục là

R = Lcos + r

r – khoảng cách từ khớp quay tay cần đến trục quay của cần trục r = 1,0 1,5m

2. Trường hợp cần trục lắp ghép kết cấu có vật án ngữ phía trước - Chiều cao nâng móc cẩu để lắp cấu kiện (Hm)

Hm = HL + h1 + h2 + h3

Trong đó: - HL: chiều cao từ cao trình máy đứng

đến điểm đặt cấu kiện (m)

- h1: đoạn chiều cao nâng cấu kiện

cao hơn điểm đặt m, h1 = 0,5 – 1m

- h2: Chiều cao của cấu kiện (m)

- h3: Chiều cao của thiết bị treo

buộc (m); Hình 12.9. Sơ đồ tính thông số khi cần trục lắp ghép có vật cản phía trước - h4: đoạn dây cáp cần trục: tính từ

móc cẩu tới puli đầu cần (m);

142

- Độ với xa để lắp cấu kiện (RLG)

RLG = L.cos + r

L- chiều dài tay cần

r- khoảng cách từ khớp quay của tay cần đến trục quay của cần trục

r = 11,5m

- Trọng lượng tổng cộng của vật cẩu (Q)

Q = Qck + qtb

Trong đó:

- Qck: trọng lượng cấu kiện lắp ghép (tấn) (trường hợp 1 cần trục lắp toàn bộ các cấu kiện của công trình thì lấy Qckbằng trọng lượng của cấu kiện nặng nhất.)

- qtb: trọng lượng các thiết bị và

dây treo buộc.

- Chiều dài tay cần ngắn nhất (Lmin) sao cho khi lắp kết cấu không chạm vào Hình 12.10. Sơ đồ tính thông số khi cần trục lắp ghép có vật cản phía trước có mỏ điểm I, muốn vậy tay cần phải cách I phụ một đoạn an toàn e = 1 1,5m, được

xác định như sau:

a) Không có mỏ phụ

Chiều dài tay cần xác định bằng công thức:

L = l1 + l2

HL: chiều cao từ cao trình máy đứng đến điểm đặt cấu kiện (m)

e- khoảng cách an toàn, e = 1 1,5 m;

a- khoảng cách từ trọng tâm cấu kiện lắp ghép đên điểm chạm

Ta thấy L là một hàm số của góc nghiêng .

Gải phương trình = 0 ta sẽ có

Từ đó xác định được trị số góc , thay vào công thức xác định được sin ,

tìm được chiều dài tay cần tối thiểu (Lmin)

cos b) Có mỏ phụ

Chiều dài tay cần tối thiểu tính theo công thức:

143

Trong đó:

lm: chiều dài của mỏ

: góc nghiêng của mỏ cần phụ, lấyβ = 300

Giải phương trình =0 

vào công thức xác định được sin , cos

Từ đó xác định được trị số góc , thay tìm được chiều dài tay cần tối thiểu (Lmin)

- Phương pháp họa đồ: Vẽ theo một tỷ lệ nhất định, trình tự vẽ như sau:

+ Trường hợp cần trục không có mỏ

Hình 12.11. Hoạ đồ chọn cần trục không có mỏ

Bước 1: Vẽ mặt công trình khi lắp đặt cấu kiện với các kích thước của H0, h1, hck, h2,

h3 theo một tỷ lệ nhất định. Bước 2: kẻ đường thẳng P-P’ đi qua trọng tâm cấu kiện lắp ghép, điểm B là puli đầu

cần của cần trục

Bước 3: Từ điểm I, điểm chạm lấy ra 1 đoạn an toàn IE = 1-1,5m;

Bước 4: Từ cao trình máy đứng kẻ đường NN’ song song với mặt đất và cách mặt đất một đoạn là hc = 1,5 – 1,7 m tuỳ theo loại cần trục được chọn;

Bước 5: nối B với E kéo dài gặp đường N-N’ tại F (F là khớp quay tay cần) Bước 6: Từ E kẻ 1 chùm tia sao cho FF’ = F’F’’ = 1m về phía công trình như hình vẽ, ta được các đoạn thẳng FB, F’B’, F”,F” là các tay cần có thể lắp được cấu kiện. Đoạn thẳng ngắn trong đó là tay cần tìm để chọn cần trục;

Bước 7: Dùng thước đo được độ vươn của cần trục R tương ứng với tay cần nhỏ nhất

+ Trường hợp cần trục mỏ phụ

144

Các bước 1,2,3,4 vẽ giống như trường hợp cần trục không có mỏ

Bước 5: từ B kẻ đường song song với

mặt đất và lấy đoạn BB’ = 35m

(thường chiều dài tay cần phụ từ 3-5

mm tuỳ theo cần trục định chọn);

Bước 6: Nối B’ với E, kéo dài cắt N-N’

tại F (F là khớp quay tay cần);

Bước 7: Đo đoạn B’F được chiều dài tay cần

Từ F lấy dịch sang trái 1,5 – 1,7 m được điểm doanh nghiệp, đo từ truch Hình 12.12. Thông số chọn cần trục mỏ phụ O-O’ đến trục P-P’ được độ vươn R. theo giải tích * Chọn cần trục

Sau khi xác định được các thông số cẩu lắp, dựa vào bảng đặc tính của các loại

cần trục ta tiến hành chọn cần trục dựa trên nguyên tắc sau:

- Các thông số của cần trục phải lớn hơn hoặc bằng thông số cẩu lắp, nghĩa là:

LCT  Lmin QCT  QLG HCT  HLG RCT  RLG

Trong đó: LCT: chiều dài tay cần của cần trục ;

QCT ,HCT, RCT: là sức nâng, chiều cao nâng móc, độ với xa của cần trục (các đại

lượng này luôn phụ thuộc lẫn nhau qua biểu đồ tính năng)

12.5.2. Chọn cần trục tháp.

QLG, HLG như tính toán chọn cần trục tự hành, còn khi tính toán độ với xa của

cần trục tháp RLG và bố trí vị trí đứng của cần trục cần chú ý những điểm sau:

+ Khi cần trục có đối trọng đặt ở trên cao, công trình thấp hơn đối tượng trọng,

từ cần trục đến công trình phải có khoảng an toàn ít nhất là 0,8m

+ cần trục tháp có đối trọng đặt ở thấp (hình 12.13) phải tính toán khoảng cách đặt sao cho khi đối tượng quay về phía công trình vẫn còn một khoảng cách an toàn b2 = b3 + 0,8(m)

Trong đó b3 – kích thước đối trọng tính từ tâm đường ray đến điểm xa nhất.

145

Hình 12.13. Khi cần trục tháp có đối trọng ở dưới thấp

+ Khi cần trục có đối trọng ở trên cao nhưng thấp hơn công trình thì phải xác

định khoảng cách đặt ray theo đối tượng (hình 12.14)

b  b1 + 0,8 (m)

b1: khoảng cách từ tâm quay cần trục đến điểm xa nhất của đối trọng

Hình 12.14. Bố trí cần trục tháp có đối trọng ở trên cao

nhưng vẫn thấp hơn công trình

- Cầu trục đặt trên mặt đất, hố móng công trình chưa lấp phải đảm bảo ngoài mặt trượt

của mái đất, khi đó khoảng cách đặt ray là

b +H.cotg + b (m)

- góc ma sát trong của đất;

b - khoảng cách an toàn lấy bằng 0,8m.

Hình12.15. Bố trí cần trục tháp khi hố móng chưa lấp đất

146

- Đặt cần trục tháp khi hố móng đã lấp xong thì khoảng cách đặt ray tính từ mép công

trình sẽ là :

b + 0,8 (m)

Trong đó :

B – kích thước ngang lớn nhất của phần bệ cần trục

- Khi cần trục có đối trọng cao nhưng thấp

hơn công trình thì phải xác định khoảng cách

đặt ray theo đối trọng

b b + 0,8 (m) Hình 12.16. Bố trí cần trục tháp khi hố

Trong đó: móng đã lấp đất

b - khoảng cách từ tâm quay cần trục đến

điểm xa nhất của đối trọng (m)

Hình 12.17. Bố trí cần trục tháp có đối trọng trên cao nhưng vẫn thấp hơn công trình

B. Nội dung thảo luận

- Đề tài thảo luận: trình bầy và so sánh đặc tính kỹ thuật, phạm vi áp dụng của cần trục

tự hành và cần trục tháp.

- Yêu cầu mỗi nhóm đóng 2 quyển A4 (1 nộp GV, 1 dùng báo cáo) gồm: Trang bìa (Tiêu đề, tên nhóm, đề bài, tên sinh viên và giáo viên), Mục lục và Nội dung.

XIII. CHƯƠNG 13. CÔNG TÁC CHUẨN BỊ CHO LẮP GHÉP.

XIII.1. Mục tiêu, nhiệm vụ - Mục tiêu: cung cấp kiến thức về công tác chuẩn bị để phục vụ công tác lắp ghép.

- Tóm tắt nội dung: Chương 13 lần lượt nghiên cứu các công tác: Vận chuyển cấu kiện, xếp kho, kiểm tra chất lượng cấu kiện, kích thước, sự đồng bộ và số lượng cấu

147

kiện, khuếch đại và gia cường cấu kiện, chuẩn bị các thiết bị phục vụ cẩu lắp, chuẩn bị

vị trí lắp hoặc gối tựa để đặt cấu kiện.

XIII.2. Các nội dung cụ thể A. Nội dung lý thuyết 13.1. Vận chuyển cấu kiện.

Vận chuyển cấu kiện là đưa cấu kiện từ nơi sản xuất (nhà máy, sân đúc cấu

kiện…) đến nơi dựng lắp. công tác vận chuyển bao gồm: Bốc xếp cấu kiện, vận

chuyển, tập kết cấu kiện trên mặt bằng lắp ghép.

*. Các nguyên tắc khi vận chuyển: Trong quá trình vận chuyển phải đảm bảo các

nguyên tắc sau:

- Kết cấu vận chuyển đến công trình phải phù hợp với yêu cầu kỹ thuật do thiết kế quy định và các tiêu chuẩn hiện hành của nhà nước về loại sản phẩm đó, cấu kiện

không bị hư hỏng, dễ bốc xếp và an toàn trong giao thông bảo đảm kế hoạch lắp ghép.

- Cấu kiện vận chuyển đến công trình phải đạt cường độ vận chuyển mới được vận chuyển. Đối với cấu kiện bê tông cốt thép đúc sẵn phải đạt cường độ lớn hơn hoặc

bằng 70% cường độ thiết kế.

- Trạng thái cấu kiện khi vận chuyển càng gần trạng thái làm việc càng tốt, để

trong quá trình vận chuyển không phát sinh ứng suất trong sơ đồ tính toán, trừ những

trường hợp không thể được như cột, dàn cao.

- Cấu kiện chịu uốn phải được kê trên những khúc gỗ trên sàn xe đúng vị trí

thiết kế (thường trùng với vị trí quai cẩu), hoặc kê ở hai đầu như đơn giản, hoặc điểm

kê các đầu cấu kiện 0,1l. Cấu kiện chịu nén, điểm kê cách đầu cấu kiện 0,2l (l: chiều

dài cấu kiện).

Hình 13.1. Cách kê cấu kiện chịu uốn trên xe

- Khi xếp nhiều lớp cấu kiện phải bối trí các tấm đệm theo một chiều thẳng

đứng để chúng chỉ chịu tải trọng là trọng lượng bản thân.

- Khi cấu kiện dài phải dùng xe kéo có móc, cấu kiện chỉ được kê 2 điểm ở trên

2 thùng khác nhau và cho xoay được khi xe chạy trên đường cong.

148

Hình 13.2. Kê cấu kiện dài trên hai xe

1. Toa xe; 2. Giá đỡ; 3. cấu kiện

- Chiều cao của cấu kiện trên thùng xe không qua 3,8m, chiều dài phải đảm bảo

xe chạy được qua ngã tư, đường cong.

- Khi vận chuyển, cấu kiện phải được chằng buộc chắc chắn, không để cấu kiện bị đổ lật, xê dịch dọc ngang, va đập vào nhau hay vào thành xe. Những cấu kiện lớn

chuyển bằng xe chuyên dùng trên đó phải có những thiết bị chằng buộc theo thiết kế

sẵn.

*. Các phương tiện vận chuyển.

+ Khi vận chuyển cấu kiện đi xa có thể dùng ô tô, máy kéo, tàu hoả hay xe

chuyên dùng. Chiều dài phương tiện vận chuyển phải phù hợp với chiều dài của cấu

kiện.

Hình 13.3. Cố định cấu kiện trên xe chuyên dùng

a) Cố định trong khung; b) Cố định bằng giá chữ A

- Vận chuyển bằng ô tô: Ôtô là phương tiện vận chuyển chủ yếu trên các công

trường lắp ghép. Trọng tải của ô tô sử dụng để chở cấu kiện từ 3 đến 40 tấn. Ô tô thùng chuyên chở cấu kiện kiện dài 6m, khi vận chuyển cấu kiện dài hơn nó gắn thêm

rơ moóc, có loại 1 trục hoặc 2 trục.

149

Hình 13.4. vận chuyển cấu kiện bằng ô tô

a) Ô tô thường; b) Ô tô + tomoóc

1- cấu kiện; 2-con kê; 3- Khung đỡ; 4- Vít me; 5 – Gỗ chèn

Hình 13.5. Vận chuyển bằng xe chuyên dụng

a) Panen; b) Dàn; c) Dầm cột

- Vận chuyển bằng xe chuyên dùng: Xe chuyên dùng là loại ô tô có gắn thêm

giá đỡ và các thiết bị cố định chuyên dùng để chở một loại cấu kiện như dàn vì kèo,

panel tấm lớn rất tiện lợi cho việc chuyên chở và bốc xếp.

- Vận chuyển bằng máy kéo: Máy kéo dùng để vận chuyển cấu kiện trong phạm

vi nhỏ hơn 15km. Máy kéo thường đi với rơ moóc 2 trục hoặc rơ moóc chuyên dùng,

tốc độ chạy chậm.

+ Khi vận chuyển cấu kiện cự ly gần:

Trường hợp cấu kiện có trọng lượng nhỏ hơn 1 tấn, có thể dùng xe cải tiến chuyên dùng. Mỗi xe do 2 đến 4 công nhân điều khiển, cấu kiện được móc dưới dầm treo của xe.

Hình13.6. Xe cải tiến chuyên dùng

1. Cấu kiện; 2. Dâm treo; 3. Tay lái

150

Đối với những cấu kiện nặng dưới 250kg có thể dùng xe cải tiến thông thường

để vận chuyển. Chú ý khi dùng 2 xe chở cấu kiện thì 2 xe đỡ 2 đầu tường ừng với

điểm kê của cấu kiện.

13.2. Xếp kho, bố trí cấu kiện trên công trường.

Cấu kiện vận chuyển từ nơi sản xuất đến công trường có 2 cách:

- Cấu kiện được vận chuyển đến bốc xếp trên mặt bằng lắp ghép sau đó cần cẩu

đến lắp ghép.

- Cấu kiện chở đến, cầu trục lắp ghép thẳng từ xe, không phải xếp kho.

Khi không có điều kiện lắp ghép các cấu kiện lấy trực tiếp từ xe vận chuyển thì

xếp cấu kiện trên mặt đường công trường, sau đó cần trục lắp ghép sẽ nâng cấu kiện

lắp đặt vào vị trí.

Khi xếp cấu kiện trên mặt bằng cần theo các nguyên tắc sau:

+ Cấu kiện phải xếp trong tầm hoạt động của cần trục để tránh những vận

chuyển phụ và cần trục không phải đi lại nhiều.

+ Cấu kiện được đặt trên các con kê bằng gỗ đặt thăng bằng trên một mặt

phẳng. Cấu kiện ở tư thế càng gần trạng thái làm việc càng tốt. Cấu kiện có thể xếp

thành chồng hoặc xếp vào giá đỡ, chiều cao xếp chồng không được lớn hơn 2m.

Hình 13.7. Xếp cấu kiện

a) Xếp dầm; b) Tấm sàn; c) Tấm tường

+ Vị trí đặt cấu kiện phải thích hợp với vị trí đứng và các thao tác của cần trục

trong quá trình lắp ghép. Cấu kiện nặng đặt gần , cấu kiện nhẹ đặt xa, cấu kiện có số lượng nhiều đặt ở vị trí có góc quay nhỏ, cần trục đứng một chỗ lấy được càng nhiều cấu kiện càng tốt.

13.3. Khuyếc đại cấu kiện.

Những cấu kiện có kích thước và trọng lượng lớn như dàn vì kèo, cột cao, tấm

lợp… nếu vận chuyển nguyên cả cấu kiện từ nơi sản xuất đến công trường sẽ rất khó khăn, nhiều trường hợp không thực hiện được. Vì vậy, với những cấu kiện lớn thường được sản xuất thành nhiều thành phần để chở đến công trường, ở đó các bộ phận được ghép lại với nhau trên mặt bằng trước khi lắp gọi là khuếch đại cấu kiện. Khi khuếch đại, cấu kiện có thể đặt đứng hoặc đặt nằm. Trường hợp đặt nằm phải chú ý đến khả năng xuất hiện nội lực khi lật cấu kiện. Khi khuếch đại cấu kiện, yêu cầu các bộ phận

151

phải đặt chính xác vào vị trí theo bản vẽ thiết kế mới thực hiện các mối nối theo tứ thứ

tự và quy trình nghiêm ngặt để tránh nội lực bổ sung.

Trong một vài trường hợp như xây dựng các hội trường, phòng khán giả, rạp

xiếc … bằng kết cấu thép người ta còn khuếch đại toàn bộ kết cấu mái thành một cấu kiện để nâng, lắp một lần (hợp khối). Hinh 13.14 trình bày một số kết cấu khuếch đại ở mức độ khác nhau.

Hình 13.8. Sơ đồ kết cấu khi mức độ khuếch đại khác nhau

a) Cột: gồm nhiều cấu kiện nhỏ;

b) Dàn: kết cấu nguyên được khuếch đại trên mặt đất;

c,d: khối kết cấu mái được khuếch đại trên đường băng chuyền;

d. Khối kế cấu mái được khuếch đại dưới đất

Khuếch đại cấu kiện có ưu điểm là nâng cao hiệu quả sử dụng cần trục, giảm

thời gian lắp ghép, giảm dàn giáo phục vụ lắp ghép và thiết bị cố định tạm, mối nối

được thực hiện ngay trên mặt bằng lắp ghép nên giảm được các thao tác trên cao.

13.4. Gia cường cấu kiện.

Trong quá trình lắp ghép, nhiều trường hợp trạng thái làm việc của kết cấu khác

với trạng thái làm việc theo thiết kế, như: cột đứng nhưng vận chuyển, xếp kho, nâng

lại nằm ngang. Dàn vì kèo, khi cẩu lắp điểm buộc của dàn làm cho nội lực trong dàn

đổi dấu . Mục đích của gia cường cấu kiện là làm tăng thêm độ cứng cho kết cấu hoặc

gây ứng suất ngược dấu với ứng suất sẽ xuất hiện trong khi cẩu lắp để giảm ứng suất trong cấu kiện.

Hình 13.9. Nội lực trong dàn

a. Trạng thái làm việc; b. Trạng thái cẩu lắp

Có 2 loại gia cố dàn vì kèo:

152

* Gia cường cho dàn khỏi bị cong oằn khi lật từ tư thế nằm sang tư thế đứng bằng cách

bó ghép các cây gỗ vào ngang dàn từ thanh cánh hạ đến thanh cánh thượng. Khi lật

đứng dàn xong thì tháo ngay các cây gỗ gia cường để khỏi tháo dỡ chúng ở trên cao.

* Gia cường ngăn ngừa cho dàn khỏi bị cong vênh khỏi mặt phẳng của mình khi treo

cẩu bằng cách bó ghép các cây gỗ dọc theo thanh cánh thượng và thanh cánh hạ của dàn.

Sau khi cố định xong dàn mái bằng các thanh giằng và xà gồ mới được tháo các cây gỗ

gia cường khỏi dàn từ sàn công tác trên cao.

Những dàn vì kèo nhỏ thường không phải gia cố, nhưng với những dàn vì kèo lớn phải

kiểm tra ổn định để gia cường.

Công tác gia cường dàn thép và tháo dỡ các cây gia cường khỏi dàn khá phức tạp, tốn

kém nhiều công và thời gian, kéo dài quá trình lắp ghép, vì vậy người ta sử dụng

những loại đòn treo, đặc biệt có thể treo buộc dàn ở nhiều điểm đảm bảo giữ ổn định

dàn khi lật và khi cẩu lắp.

13.5. Một số chuẩn bị khác.

- Chuẩn bị cấu kiện trước khi lắp như kiểm tra chất lượng cấu kiện , đo lại kích

thước, vạch đường tim, tuyến lên cấu kiện.

- Chuẩn bị thiết bị treo buộc cấu kiện, sàn công tác, thang phục vụ lắp ghép, các

thiết bị dụng cụ kiểm tra, điều chỉnh, cố định tạm cấu kiện.

- Chuẩn bị vị trí lắp hoặc gối tựa đế đặt cấu kiện vào vị trí thiết kế.

B. Nội dung thảo luận

- Đề tài thảo luận:

1. Các loại phương tiện vận chuyển cấu kiện và biện pháp vận chuyển các loại cấu

kiện (vận chuyển cột, dầm, panen mái)?

2. Kỹ thuật xếp kho, bố trí cấu kiện trên công trường (yêu cầu kỹ thuật, nguyên lý

chung)?

3. Khuyếch đại cấu kiện (lý do, biện pháp khuyếch đại cấu kiện…)?

- Yêu cầu mỗi nhóm đóng 2 quyển A4 (1 nộp GV, 1 dùng báo cáo) gồm: Trang bìa (Tiêu đề, tên nhóm, đề bài, tên sinh viên và giáo viên), Mục lục và Nội dung.

XIV. CHƯƠNG 14. LẮP GHÉP CÁC CẤU KIỆN CƠ BẢN

XIV.1. Mục tiêu, nhiệm vụ - Mục tiêu: : Chương 14 nghiên cứu các bước cơ bản trong lắp ghép một cấu kiện và kỹ thuật lắp ghép các bộ phận của công trình: móng đơn - móng băng, cột BT cốt thép và móng cốc, cột trong nhà nhiều tầng, tấm tường, các loại dầm xà, các loại tấm sàn, tấm ô văng, ban công, các tấm mái và kỹ thuật lắp ghép dàn vì kèo. - Tóm tắt nội dung: Chương 14 lần lượt nghiên cứu các bước cơ bản trong lắp ghép

một cấu kiện và kỹ thuật lắp ghép các bộ phận của công trình: móng đơn - móng băng,

153

cột BT cốt thép và móng cốc, cột trong nhà nhiều tầng, tấm tường, các loại dầm xà, các

loại tấm sàn, tấm ô văng, ban công, các tấm mái và kỹ thuật lắp ghép dàn vì kèo.

XIV.2. Các nội dung cụ thể A. Nội dung lý thuyết

14.1. Các bước cơ bản trong lắp ghép cấu kiện

Công tác lắp ghép các kết cấu gồm các việc cơ bản sau: công tác chuẩn bị, treo

buộc cấu kiện, nâng lắp cấu kiện vào vị trí, kiểm tra và điều chỉnh, cố định tạm, cuối

cùng là cố định vĩnh viễn cấu kiện. Các công việc này liên quan với nhau rất chặt chẽ,

công việc chuẩn bị quyết định hiệu quả và năng suất của quá trình lắp ghép, và ngược lại quá trình quyết định phương hướng của quá trình chuẩn bị. Các công tác chuẩn bị

phải phù hợp hoàn toàn với quá trình lắp ghép để đảm bảo chất lượng, năng suất hiệu

qua và an toàn lao động.

14.1.1. Chuẩn bị cấu kiện - Chuẩn bị cấu kiện trước khi lắp như: kiểm tra chất lượng cấu kiện, làm sạch các điểm

tựa, vạch sẵn đường tim – cốt, bẻ thẳng lại các đầu thép lòi ra, kiểm tra vị trí các chi

tiết chôn sẵn.

- Chuẩn bị các thiết bị treo buộc cấu kiện, sàn thao tác, thang phụ vụ lắp ghép, các

thiết bị dụng cụ kiểm tra, điều chỉnh, cố định tạm cấu kiện.

- Chuẩn bị ví trí lắp như ghi kí hiệu kết cấu, đánh dấu mặt trên mặt dưới của các kết

cấu có cốt thép ở một phía, xác định trọng tâm của các kết cấu phức tạp và không đối

xứng, ghi vị trí điểm treo buộc… - Những kết cấu nào không đủ cường độ để chịu tải trọng bản thân khi cẩu lắp thì phải

được gia cường trước.

- Sắp xếp các kết cấu nằm trong tầm hoạt động của cần trục lắp ghép, ở vị trí thuận tiện nhất cho việc treo buộc cẩu dựng.

14.1.2. Treo buộc cấu kiện

Để nâng cấu kiện lên, người ta phải sử dụng các thiết bị treo buộc. Tùy theo

loại cấu kiện cần nâng mà dùng những thiết bị treo phù hợp, như dùng chùm dây cẩu

để treo buộc tấm pa nen, tấm sàn , dùng dây cẩu đơn treo buộc dầm hoặc cột, dùng đòn treo để treo buộc dàn vì keo, dùng thiết bị treo buộc chuyên dùng để treo cấu kiện thép và bê tông cốt thép.

Hiện nay nhiều nước trên thế giới đã chế tạo và sử dụng các thiết bị treo buộc

và điều khiển từ xa. Ở một vị trí xa có thể điều khiển treo buộc nhiều tấm cấu kiện và tháo các thiết bị treo buộc ra khỏi cấu kiện.

Khi chế tạo các thiết bị treo buộc cần phải chú ý:

- Phải phân bố đều các điểm treo buộc kết cấu sao cho không gây ra những ứng suất quá lớn khi cẩu trục và không làm đứt dây cẩu, khi cần thiết cần dùng thêm đòn treo.

154

- Các dụng cụ treo buộc kết cấu phải đảm bảo không bị tuột bất ngờ. Nếu dùng các dây

cẩu có khóa bán tự động để có thể tháo dỡ chúng khỏi kết cấu từ dưới đất hoặc từ sàn

công tác thì người ta không phải trèo lên các kết cấu mới lắp.

- Nên treo buộc kết cấu ở tư thế gần giống tư thế của nó ở vị trí thiết kế nhất.

- Khi cẩu những cấu kiện có trọng lượng gần bằng sức trục tới hạn ở một mức độ nào đó của cần trục thì phải nâng thử cấu kiện lên cao 20-30cm, để kiểm tra độ ổn định của

cần trục, độ bền của bộ phận hãm và của dụng cụ treo buộc.

- Giữ cấu kiện treo khỏi quay đưa bằng một hoặc hai dây thừng buộc sẵn ở đầu cấu

kiện. Dùng đòn bẩy dẫn kết cấu dần vào vị trí thiết kế của nó, không cho va chạm

mạnh vào các bộ phận kết cấu khác.

- Treo buộc luân phiên các loại kết cấu khác nhau, nhất là các kết cấu đứng và kết cấu

nằm, yêu cầu phải luôn thay đổi các dụng cụ treo buộc và thiết bị khác, như vậy năng

suất công tác lắp ghép bị giảm sút. Nên tổ chức lắp ghép từng loại kết cấu giống nhau

theo một trình tự nhất định trên một đoạn công trình nhất định (ví dụ: trên một đoạn công trình giữa hai mạch nhiệt).

14.1.3. Nâng, lắp cấu kiện vào vị trí

Cần trục lắp ghép nâng cấu kiện từ xe vận chuyển hoặc từ mặt bằng công trình

lên cao hơn điểm đặt sau đó quay cần về vị trí lắp, từ từ đặt cấu kiện lên gối tựa.

- Trước khi nâng bổng cấu kiện lên, có những cấu kiện phải dựng từ tư thế nằm ngang

thành tư thế thẳng đứng, như cột, tháp trụ… hai phương pháp dựng cấu kiện từ tư thế nằm ngang lên thẳng đứng là phương pháp quay và phương pháp kéo lê.

+ Phương pháp quay: khi dựng một đầu cấu kiện được tỳ lên mặt đất, còn đầu kia

được kéo lên cho tới khi cấu kiện về tư thế thẳng đứng. Dùng phương pháp này để

dựng những cấu kiện nặng sẽ an toàn cho cần trục, vì khi dựng, cần trục chỉ chịu một

nửa trọng lượng cấu kiện. Phương pháp này thường áp dụng những cấu kiện có trọng

lượng lớn hơn 8 tấn.

+ Phương pháp kéo lê: Cần trục vừa nâng một cấu kiện lên, đồng thời đầu kia được kéo lê trên mặt đất về phía điểm đặt cấu kiện.

- Phương pháp đặt cấu kiện lên gối tựa: cấu kiện được đặt lên gối tựa theo các cách sau:

+ Đặt tự do: Các cấu kiện được đặt tự do trên gối tựa. Theo phương pháp này, độ chính xác khi lắp đặt cấu kiện vào đúng vị trí của nó phụ thuộc vào thao tác chính xác

của người điều khiển cần trục, công việc đón đỡ, điều chỉnh cấu kiện của công nhân lắp ghép, nghĩa là độ chính xác và tốc độ lắp ghép phụ thuộc vào tay nghề của công nhân.

+ Đặt tự do hạn chế một số phương: Trước khi đặt cấu kiện lên mặt tựa đặt các khung dẫn, khi đặt cấu kiện lên gối tựa là đúng vị trí ngay. Phương pháp này đòi hỏi việc gia

công cấu kiện phải thật chính xác.

155

14.1.4. Kiểm tra và điều chỉnh cấu kiện

Công việc kiểm tra và điều chỉnh cấu kiện bao gồm kiểm tra vị trí của các bộ

phận sau khi đặt chúng lên gối tựa và chỉnh lại các vị trí bị nghiêng lệch hoặc là vượt

so với vị trí cho phép. Dụng cụ kiểm tra, tùy theo loại cấu kiện mà dụng cụ kiểm tra có

thể là máy kinh vĩ, máy thủy bình, dụng cụ trắc địa khác hoặc những dụng cụ kiểm tra đơn giản như quả dọi, đường tim đã vạch trên cấu kiện và các khuôn mẫu. Khi kiểm

tra, nếu sai lệch lớn hơn trị số cho phép phải tiến hành điều chỉnh.

Có hai cách thức điều chỉnh kết cấu:

- Lắp đặt và điều chỉnh kết cấu vào đúng vị trí thiết kế bằng cần trục

- Điều chỉnh kết cấu bằng những thiết bị đặc biệt, sau khi đã lắp đặt kết cấu vào chỗ và

cố định tạm.

Áp dụng cách thức thứ nhất thì thời gian sử dụng cần trục dài hơn, nhưng lại

tốn ít hoặc không tốn công lao động thủ công. Áp dụng cách thức thứ hai thì mau chóng giải phóng cần trục hơn nhưng tốn nhiều công lao động thủ công hơn, những thiết bị dùng để điều chỉnh kết cấu thường nặng và cồng kềnh hơn. Cách thức điều

chỉnh thứ nhất được nhiều nơi áp dụng vì các thiết bị dùng để điều chỉnh nhỏ và nhẹ,

cách cố định tạm kết cấu không phức tạp.

14.1.5. Cố định tạm cấu kiện

Để giải phóng nhanh cần trục và tăng tốc độ làm việc của cần trục, sau khi lắp

đặt và điều chỉnh cấu kiện vào vị trí thiết kế, tiến hành cố định tạm kết cấu. Người ta

dùng các thiết bị, dụng cụ như khung dẫn, dây giằng, thanh chống xiên… cố định tạm kết cấu, những dụng cụ này có tính chất đơn lẻ. Ngoài ra còn dùng nhóm khung dẫn,

khung chuẩn để cố định tạm thời nhiều cấu kiện, nhằm tăng tốc độ lắp ghép và chất

lượng công trình.

Khi cố định tạm cần chú ý:

- Trong quá trình cố định tạm luôn phải đảm bảo vị trí kết cấu chính xác theo thiết kế,

chuẩn bị sẵn sàng cho việc cố định vĩnh viễn kết cấu.

- Sau khi cố định tạm vào vị trí kết cấu phải chịu được tải trọng gió và tải trọng lắp

ghép.

- Cố định vĩnh viễn kết cấu nên tiến hành sớm sau khi đã điều chỉnh nó đúng vào vị trí thiết kế.

14.1.6. Cố định vĩnh viễn cấu kiện

Trước khi cố định vĩnh viễn cấu kiện, phải kiểm tra lần cuối vị trí, độ thẳng đứng và cao độ của cấu kiện, nếu đảm bảo các yêu cầu của thiết kế mới tiến hành cố

định vĩnh viễn cấu kiện. Cách cố định vĩnh viễn cấu kiện: hàn, bắt bu lông hay chèn bê

tông… theo bản vẽ thiết kế.

14.2. Kỹ thuật lắp ghép móng. a. Công tác chuẩn bị:

156

- Đầm chặt nền đất dưới đáy hố móng, đổ một lớp bê tông lót móng theo thiết kế (dày

khoảng 100-150). Lớp lót phải rộng hơn đế móng mỗi chiều từ 20 đến 30 cm để điều

chỉnh móng vào đúng vị trí thiết kế. Kiểm tra độ bằng phẳng bề mặt lớp lót.

- Xác định vị trí các đường trục móng bằng cách đóng 4 cọc thép 10 - 12 quét sơn

đỏ, cách mỗi cạnh khối móng khoảng 5cm để đánh dấu vị trí đường trục.

- Kiểm tra cao trình móng và các gối tựa đặt đặt kết cấu.

- Vạch đường tim trên mặt khối móng đúc sẵn.

- Chuẩn bị dụng cụ treo buộc.

b. Bố trí mặt bằng

* Bố trí cấu kiện

Có thể bố trí theo 2 phương án sau:

- Phương án bày sẵn: Các khối móng được đặt trên mặt bằng công trình, dọc theo

tuyến công tác của cần trục nằm trong phạm vi tầm với của trục.

Hình 14.1. Lắp móng

1-Cần trục bánh xích; 2 - Khối móng đặt trên mặt bằng trước khi lắp;

3-Khối móng đã đặt vào hố móng đúng cao trình và vị trí; 4 - Dây treo buộc móng

- Phương án lắp trực tiếp từ xe vận chuyển: Xe vận chuyển về công trường, chở thẳng

đến dưới tầm với của cần trục để cần trục cẩu lắp trực tiếp vào hố móng, khi áp dụng

phương pháp này phải tính toán xác định số lượng xe vận chuyển và điều phối chặt chẽ

phù hợp với tốc độ làm việc của cần trục.

* Bố trí cần trục

Khi lắp ghép các khối móng đơn nhà công nghiệp thường sử dụng cần trục tự

hành bánh xích. Vạch đường đi của cần trục phụ thuộc vào khẩu độ của công trình và tính năng cần trục, có thể bố trí đi giữa hay biên cho phù hợp. Vị trí đứng của cần trục phải được lựa chọn sao cho số vị trí đứng ít mà khả năng cẩu lắp tốt nhất.

- Nhà khẩu độ nhỏ thì (l = 12 30cm) thì cần trục thường được bố trí giữa nhà.

- Nhà khẩu độ lớn (l > 30m) thì thường bố trí cần trục đi biên.

c. Treo buộc móng: Dùng dây treo nhiều nhánh hoặc đòn treo móc vào những quai cầu có sẵn trên khối móng.

157

d. Cẩu lắp móng

Trình tự như sau:

- Trên lớp lót rải một lớp vữa dày 2 đến 3cm.

- Dùng cần trục cẩu khối móng lên, đưa về vị trí lắp, từ từ hạ móng xuống hố, khi còn

cách lớp vữa từ 10 đến 15 cm thì tạm dừng để công nhân điều chỉnh sao cho đường

tim trên mặt hố móng trùng với đường trục của móng (đã được đánh dấu bằng cọc

thép) và từ từ hạ khối móng xuống.

- Hướng lắp: Lắp móng được tiến hành từ góc đầu nhà trở đi, nếu công trình chia làm

nhiều đoạn thì có thể lắp từ góc mỗi phân đoạn trở đi.

e) Kiểm tra và điều chỉnh: Dùng hai máy trắc đặt dọc theo 2 đường trục hàng cột để

kiểm tra vị trí của từng móng. Độ cao mặt móng không được sai lệch quá 3, đường 5, nếu sai lệch về tim lớn thì dùng cần trục nâng khối tim không được sai lệch quá

móng lên đặt lại. Sai lệch nhỏ thì dùng đòn bẩy điều chỉnh vị trí. Về độ cao độ sai lệch lớn hơn 10mm thì dùng cần trục nhấc khối móng lên, điều chỉnh lớp vữa rải và lắp lại. Sai lệch nhỏ thì dùng xà beng để điều chỉnh.

g) Kết thúc: Sau khi lắp móng xong thì tiến hành lấp đất ngay và đầm thật kỹ để ổn

định khối móng, chuẩn bị cho việc lắp cột và các kết cấu bên trên.

Các số liệu về móng đã thi công so với thiết kế cần được đo và thể hiện trên bản

vẽ hoàn công, trên đó thể hiện vị trí của từng cấu kiện và độ sai lệch khi lắp ghép.

14.3. Kỹ thuật lắp ghép cột

14.3.1. Lắp ghép cột bê tông a) Công tác chuẩn bị

- Kiểm tra kích thước hình học của cột

- Lấy dấu tim cột theo hai phương và trọng tâm của cột.

- Bố trí trên mặt bằng, tùy theo điều kiện mặt bằng công trình, tính năng kỹ thuật của cần trục và phương pháp dựng cột mà bố trí mặt bằng cho phù hợp.

Hình 14.2. Các vạch dấu để kiểm tra vị trí cột

1-Vạch dấu trên móng; 2- Vạch dấu trên cột;

3- Tim dầm cầu chạy

158

- Chuẩn bị các thiết bị treo buộc cột, dụng cụ cố định tạm cột. Việc lựa chọn các dụng

cụ treo buộc cột bê tông tùy vào trọng lượng, kích thước, hình dánh và vị trí móc treo

cẩu của cột.

Căn cứ vào mặt bằng bố trí cột và yêu cầu của công việc xây lắp mà xác định

đường đi của cần trục sao cho đường đi ngắn nhất và mỗi vị trí dựng lắp được nhiều cột nhất.

b) Treo buộc cột:

Tùy theo trọng lượng, kích thước, hình dáng cột, vị trí móc treo cẩu mà lựa

chọn dụng cụ treo buộc (dây treo, đòn treo hay đai ma sát...). Hình 14.3 trình bày cách

treo buộc cột đơn giản, cách này có nhược điểm là khi muốn tháo dây cẩu, người công

nhân phải trèo lên thang dựa vào cột vừa lắp để tháo.

Hình 14.3. Cách treo buộc cột đơn giản

Hình 14.4 trình bày cách treo buộc bằng các dụng cụ chuyên dùng. Cách này

có ưu điểm là treo buộc cột dễ dàng, tháo lắp nhanh.

Hình 14.4. Cách treo buộc cột bằng các dụng cụ chuyên dùng

a) Dụng cụ treo buộc đai ma sát; b) Dụng cụ treo buộc có chất ngang xuyên qua cột;

c,d) Dụng cụ treo buộc tự cân bằng 1 - Đòn treo; 2-Dây cáp; 3-Thanh thép chữ U; 4-Đai ma sát; 5- Móc cẩu;

6-Chốt sắt; 7-Trọng tâm cột; 8-Chốt sắt

c) Dựng lắp cột:

159

Trình tự tiến hành như sau:

- Trước khi lắp cột vào hố móng phải tiến hành dựng cột từ tư thế nằm ngang

sang tư thế thẳng đứng. Có hai phương pháp dựng cột là phương pháp kép lê và

phương pháp quay.

+ Dựng cột theo phương pháp kéo lê: tay cần của cần trục giữ nguyên, cần trục cuốn cáp nâng đầu cột lên cao, chân cột trượt trên mặt đất từ từ về hố móng cho tới khi

cột ở tư thế thẳng đứng. Khi kéo lê, chân cột thường bị xóc nảy nên dễ bị sứt mẻ và có

thể còn làm rung cần trục, để khắc phục những hiện tượng này người ta cho chân cột

chạy trên ray bôi trơn hoặc trên xe con.

Khi dựng cột theo phương pháp kéo lê cần bố trí cột trên mặt bằng sao cho

điểm buộc cột và tâm hố móng cùng nằm trên bán kính hoạt động của cần trục, thường

điểm buộc cột đặt gần hố móng

+ Dựng cột theo phương pháp quay: cần trục vừa cuốn cáp nâng đầu cột lên cao

vừa quay cần về phía hố móng cho tới khi cột ở tư thế thẳng đứng, chân cột vẫn giữ nguyên vị trí. Phương pháp này khi dựng cột, cần trục chỉ chịu một nửa trọng lượng

cột, nên thường áp dụng khi dựng cột nặng ≥ 8 tấn. Dựng cột theo phương pháp quay phải bố trí cột trên mặt bằng sao cho điểm buộc cột, chân cột và điểm đặt cột cùng

nằm trên bán kính hoạt động của cần trục, thường trục, thường bố trí chân cột đặt gần

móng.

Hình 14.5a. Dựng lắp cột theo phương pháp kéo lê

a) Sơ đồ mặt bằng lắp ghép; b) Cách dựng cột

Hình 14.5b. Dựng lắp cột theo phương pháp quay

a) Sơ đồ mặt bằng lắp ghép; b) Cách dựng cột

160

- Lắp cột: Khi dựng được cột về tư thế thẳng đứng, cần trục nhấc cột lên cao

cách mặt đất khoảng 50cm rồi quay cần đưa cột về tim móng và từ từ hạ cột, khi chân

cột cách mặt móng khoảng 10-15cm thì dừng lại chỉnh cột cho đúng vị trí (chỉnh các

đường tim vạch trên cột và mặt móng trùng nhau) sau đó từ từ hạ cột xuống cốc móng.

e) Kiểm tra và điều chỉnh cột:

Sau khi lắp cột vào móng xong cần kiểm tra vị trí chân cột, sau đó tiến hành cố

định tạm thời cột rồi mới tháo móc cẩu giải phóng cần trục.

Kiểm tra vị trí chân cột: xem các đường tim vạch trên thân cột và trên chậu

móng có trùng nhau không, công việc điều chỉnh nên tiến hành ngay khi cột còn đang

treo, lúc này chỉ cần dùng tay đẩy và xoay cột vào đúng vị trí. Khi đã đặt cột vào chậu

móng, muốn xê dịch chân cột thì nới các nêm chèn ở các khe hở giữa chân cột và

thành móng, dùng xà beng bẩy điều chỉnh, trường hợp cột nặng dùng kích để điều

chỉnh.

Kiểm tra độ thẳng của cột: bằng máy kinh vĩ, đặt hai máy đồng thời ngắm vào đường tim của hai mặt cột vuông góc với nhau; hoặc dùng dây dọi dóng song song với

đường tim của 2 mặt phẳng cột vuông góc với nhau. Cột càng cao, dây dọi càng dài và quả dọi càng phải nặng. Nếu cột bị nghiêng cần điều chỉnh bằng cách nới nêm và điều

chỉnh dây giằng.

Kiểm tra về cao độ: yêu cầu các đỉnh cột cùng cao độ, các vai cột cùng cao độ,

dùng máy thủy bình để kiểm tra, căn cứ vào các vạch dấu đã ghi sẵn trên các cột ở tầm

cao của máy thủy bình. Nếu cao độ cột chưa đạt yêu cầu dùng cầu trục kéo nhẹ cột và

thay đổi chiều dày đệm bê tông cốt móng để đảm bảo cao trình cột.

Cách tính chiều dầy lớp vữa bê tông lót chân cột:

E = H – L

Trong đó :

H – cao trình đặt vai cột

L – chiều dài thân cột.

d) Cố định tạm cột

Sau khi điều chỉnh cột đứng vị trí thì tiến hành cố định tạm cột rồi mới tháo móc cẩu giải

Hình 14.6. Cách điều chỉnh cột phóng cần trục. Biện pháp cố định tạm phụ thuộc vào

bằng kích kết cấu công trình và biện pháp lắp ghép.

1- Khung đai; 2-Cặp chêm;

3-Kích thủy lực; 4-Chêm chân - Các trường hợp lắp cột vào móng: + Khi cột có chiều cao < 8m, nặng < 6 tấn,

cột

thường cố định tạm chân cột bằng nêm gỗ hoặc bê tông (thường bằng nêm gỗ). Chiều dài nêm ≥ 30cm,

phần nhô lên khỏi mặt móng ≥ 12cm, độ vát của nêm theo độ vát của cốc móng . Người ta còn dùng khung dẫn bằng thép để cố định tạm cột và điều chỉnh cột.

161

+ Khi cột có chiều cao ≥ 8m và nặng thì ngoài việc cố định tạm chân cột bằng

nêm hay khung dẫn còn phải cố định thêm bằng các thanh chống xiên (hay dây neo có

tăng đơ).

+ Trường hợp lắp ghép các đoạn cột tầng trên của nhà nhiều tầng: Cố định tạm

cột bằng các khung dẫn, tăng đơ hay các dây giằng.

Hình 14.7. Cố định tạm cột

a) Cố định tạm cột vào móng bằng nêm; b)Bằng khung dẫn;

c) Bằng nêm và dây neo

Hình 14.8. Cố định tạm thời các đoạn, cột tầng trên vào vị trí

a) Dùng dây giằng; b)Dùng thanh giằng

b) 1-Cột; 2-Đai; 3-Các dây giằng; 4-5-Vị trí trên mặt bằng; 6-Panen sàn;

7- Dầm; 8-Tăng đơ; 9-Thanh chống xiên

Khung dẫn cố định tạm cột nhà nhiều tầng gồm có 4 sống làm bằng thép góc,

ôm vào đầu cột dưới bằng các bulông giằng, bên trên là hai đai điều chỉnh có các vít me và nhiều khớp nối, mỗi thanh đai mang hai vít me trong đó có một thanh đai mang hai vít me dùng để quay chỉnh cột . Sau khi hàn nối cốt tầng trên với tầng dưới và đổ

bê tông mối nối đật 50% cường độ thiết kế thì có thể tháo khung dẫn đi lắp cho các cột khác.

f) Cố định hẳn cột

162

Sau khi đã điều chỉnh cột và cố định tạm cột phải tiến hành kiểm tra và điều

chỉnh cột rồi mới đổ bê tông chèn cố định chân cột.

Bê tông chèn có cường độ > 20% mác bê

tông cột và móng, bê tông thường dùng xi măng

đông kết nhanh cốt liệu nhỏ để dễ lọt xuống đáy chậu móng. Trước khi chèn bê tông chân cột

phải làm vệ sinh cốc móng xong sau đó mới đổ bê tông chèn. Cách làm như sau:

+ Trường hợp cố định tạm cột bằng nêm

gỗ phải tiến hành chèn bê tông làm hai đợt

Đợt một đổ bê tông đến chân nêm

Đợt hai chờ bê tông đợt một đạt ≥ 80%

cường độ thiết kế thì rút nêm lên và đổ bê tông

đến miệng cốc móng.

+ Trường hợp cố định tạm cột bằng nêm Hình 14.9. Khung dẫn lắp cột nhà bê tông, đổ bê tông một đợt cho đầy cốc móng, nhiều tầng nêm nằm lại trong công trình. 1-Sống khung dẫn; Đối với cột tầng của nhà nhiều tầng thì 2-Kích vít điều chỉnh; cố định hẳn cột như sau: Hàn nối cốt thép cột 3- ốc ở khớp nối; tầng trên với tầng dưới, rồi đổ bê tông mối nối. 4- Thanh đai; Khi bê tông mối nối đạt 50% cường độ có thể 5-Bulông giằng tháo khung dẫn để lắp cho những cột khác.

14.3.2. Lắp ghép cột thép a. Công tác chuẩn bị:

* Chuẩn bị móng cột thép: Trong công tác chuẩn bị lắp ghép cột thép như vận

chuyển, bốc xếp, khuyếch đại, gia cường (nếu cần thiết). Trước khi lắp ghép trang bị

đầy đủ các thiết bị cần thiết như sàn thao tác, thiết bị cố định tạm và điều chỉnh các kết

cấu. Trong công tác chuẩn bị lắp cột thép còn bao gồm cả chuẩn bị móng dưới cột.

Cột thép thường được lắp trên móng bê tông đúc sẵn hoặc đổ tại chỗ, trong móng có chôn sẵn các bulông neo để cố định cột thép vào móng. Trước khi lắp ghép

cột phải kiểm tra lại vị trí của các móng, vị trí các bu lông neo, cao độ mặt tựa, kiểm tra bằng máy trắc địa, sai số ≤ sai số cho phép.

Có 3 cách chuẩn bị móng cột thép là:

+ Đặt cột thép lên ngay trên mặt móng bê tông ở đúng cao độ thiết kế (nghĩa là tấm đế cả cột thép tỳ trực tiếp lên mặt móng bê tông), vậy phải chuẩn bị chính xác mặt móng trước, nếu mặt móng nghiêng lệch chút ít thì đầu cột lệch đi rất nhiều.

+ Đặt cột thép tỳ lên trên một sống tựa bằng thép đã chôn sẵn ở đúng độ cao

thiết kế trong móng bê tông. Cách chuẩn bị như sau: khi đổ bê tông móng, ta chôn một

163

đoạn thép hình hay ray làm sống tựa cho cột, mặt trên của sống tựa ở đúng cao trình

thiết kế của mặt móng, còn bê tông đổ thấp hơn cao trình đó 40 – 50mm. Khi lắp cột

trên sống tựa chỉ còn phải điều chỉnh cột cho đúng vị trí và thẳng đứng, điều chỉnh độ

thẳng đứng của cột bằng cách chêm,sau khi cố định cột bằng các bu lông neo thì rót

vữa xi măng lót khe đáy cột.

+ Đặt cột lên trên tấm đế thép của cột (lắp đế trước). Cách chuẩn bị như sau: Đổ

bê tông móng thấp dưới cao trình thiết kế khoảng 50mm thì dừng lại, đặt tấm đế thép cột có đinh vít điều chỉnh lên, chỉnh cho tim của tấm thép trùng với tim của móng, mặt đáy của tấm thép trùng với cao trình thiết kế (chỉnh bằng cách vặn các đinh vít), sau đó

rót vữa xi măng lấp kín khe dưới tấm đề. Khi lắp cột, cột gắn vào móng bằng các bu

lông giằng. Khi chôn các bu lông này được xác định chính xác bằng cách dùng các

khung dẫn cứng có khoan lỗ để treo bu lông neo đảm bảo cự ly giữa các bu lông đó.

* Một số chuẩn bị khác:

Cột thép vận chuyển đến công trình dùng cần trục bốc xuống được đặt nằm trên

các khúc gỗ kê (đầu cột đặt cao hơn chân cột một chút) và bố trí trong phạm vi độ với

của cần trục.

Kiểm tra kích thước hình học của cột:

- Vạch tim cốt lên chân đế cột và thân cột.

- Lắp sẵn các thang và sàn thao tác vào cột (hoặc các chi tiết để lắp thang và sàn

công tác) cho công nhân có chỗ đứng sau này để liên kết dầm và giàn mái.

- Chuẩn bị các thiết bị treo buộc cố định tạm.

b) Treo buộc cột

Có các phương pháp sau:

- Buộc cột ở ngay dưới công son đỡ dầm cầu chạy. Chỗ buộc có đệm các khúc gỗ

vào các cạnh của cột để dây cáp buộc ít bị gãy đứt do ma sát gây ra.

Buộc cột ở ngay đầu cột . Cách này có ưu điểm là khi cẩu cột lên cột sẽ ở tư thế

thẳng đứng nên dễ lồng vào các bulông neo của móng, dễ dóng cột theo đúng các

đường tim. Cách treo buộc này áp dụng khi cần trục có tay cần dài hoặc vị trí tay cần ở

cao hơn nhiều so với công trình lắp kết cấu. c) Dựng lắp cột:

Dựng cột từ tư thế nằm ngang lên thẳng đứng bằng phương pháp kéo lê hoặc quay cột. Cách thức dựng cột và xếp cột trên mặt bằng như đã trình bày ở phần lắp cột

bê tông cốt thép.

Lắp cột: Khi cột được dựng đứng thẳng, cần trục nhắc cột lên khỏi mặt đất (hoặc mặt móng nếu mặt móng cao hơn mặt đất) khoảng 50cm, quay tay cần đưa cột

về đúng vị trí trên mặt móng và từ từ đặt chân cột lồng vào các bu lông neo.

d) Kiểm tra và điều chỉnh cột

164

Kiểm tra độ thẳng đứng cột bằng máy kính vĩ hoặc dây dọi theo các đường tim

đi trên cột

e) Giữ ổn định cho cột

- Nếu cột thấp và chân đế cột rộng thì cố định cho cột bằng cách xiết chặt bốn

bu lông neo đủ đảm bảo giữ cột ổn định.

- Nếu cột cao hơn 8m thì ngoài các bu lông neo còn phải cố định tạm cột bằng

các dây neo dọc hàng cột.

Hình 14.10. Cách treo buộc cột thép

a,b) Treo buộc cột bằng dây cẩu thường dưối công son đỡ dầm cầu chạy.

c) Dụng cụ treo buộc cột có chốt;

1-Dây cẩu; 2-Puli đòn treo; 3-Khóa để cố định và giữ dây cẩu; 4 - Đòn treo

5- Thang lên sàn công tác; 6- Sàn công tác; 7-8-Quai treo; 9-Cầu để treo dây rút chốt

10-Thang thép để luồn dây rút chốt; 11-Dây rút chốt; 12-Chốt

- Nếu chân đế cột hẹp, hoặc chân cột liên kết với móng là khớp thì phải đặt các dây

giằng ngang và dọc hàng cột. Các dây giằng cố định vào các móng bên cạnh và chỉ được tháo dỡ khi cột đã được liên kết chắc chắn vào các kết cấu khác.

- Nên lắp cột thép đồng thời với lắp các kết cấu khác trong nhà. Trong trường hợp chưa lắp được kết cấu mái ngay thì lắp dựng từng hàng cột một và cố định các cột đó bằng các thanh giằng dọc, dầm cầu chạy và giằng sườn.

f) Cố định hẳn cột

165

14.4. Kỹ thuật lắp ghép tấm tường.

Sau khi đã làm xong phần móng, tiến hành lấp móng và san nền ngay để tạo

điều kiện thuận lợi cho quá trình lắp ghép các kết cấu bên trên sau này. Trình tự lắp

ghép tấm tường tiến hành như sau:

a) Công tác chuẩn bị

- Xác định vị trí các tấm tường trên mặt bằng lắp ghép: Dùng máy kinh vĩ xác

định các đường tim và vị trí mặt tựa trên mặt móng hay trên mặt sàn.

- Chuẩn bị vị trí lắp: Trên đoạn nhà chuẩn bị lắp ghép, dưới chân mỗi tấm tường đặt những miếng đệm bằng vữa khô (hay bằng gỗ) để đảm bảo độ chính xác của tấm tường theo chiều cao, đồng thời làm gối kê cho các tấm tường không bị lún trên

lớp vữa mới rải. Chiều dày trung bình của lớp vữa là 15mm.

- Để lắp các tấm tường mau chóng và chính xác, thường sử dụng các chi tiết định vị hàn trước vào các chi tiết thép chôn sẵn, hay chôn trước các chi tiết định vị

trong panel sàn. Chi tiết định vị này cao 100mm, làm bằng các thanh thép 10  12

hoặc các đoạn thép góc, khoảng cách giữa hai chi tiết định vị lớn hơn chiều dày tường 3mm.

b) Treo buộc tấm tường

Dùng dây treo nhiều nhánh hoặc đòn treo móc vào những móc có sẵn trên tấm

tường.

c) Cẩu lắp tấm tường

Cần trục nâng tấm tường lên cao hơn vị trí đặt rồi quay về vị trí đặt tấm tường. Một công nhân lắp ghép đẩy nhẹ tấm tường theo hướng cần đặt, kiểm tra bằng mắt

xem tấm tường đã đúng vị trí chưa. Người thứ 2 đứng ở đầu kia giữ cho tấm tường hạ

xuống đúng vị trí.

d) Cố định tạm tấm tường:

Sau khi đặt tấm tường vào đúng vị trí thiết kế, trước khi tháo móc cẩu giải

phóng cần trục phải cố định tạm bằng những cây chống xiên có tăng đơ điều chỉnh, mỗi tấm tường cần được cố định tạm ít nhất hai vị trí (hình 14.23).

e) Kiểm tra và điều chỉnh tấm tường

Do cấu tạo tấm tường mỏng nên độ ổn định của nhà và chất lượng chung của

công trình phụ thuộc vào độ chính xác của công tác lắp ghép. Nếu tim tường tầng trên

lệch với tường tầng dưới 1cm thì khả năng chịu lực của kết cấu giảm 10  12%. Kiểm

tra về vị trí, dựa vào những đường tim đã vạch sẵn trên mặt tựa, yêu cầu tim tầng trên trùng với tim tầng dưới. Kiểm tra độ thẳng đứng thường dùng thước rọi. Kiểm tra độ ngang bằng của tường cùng với cao trình của tầng nhà bằng máy thủy bình.

166

Hình14.23. Các quá trình lắp dựng một tấm tường

1- Treo buộc tấm tường; 2- Vận chuyển tấm tường tới chỗ lắp; 3 - Đón nhận tấm tường; 4- Cố định tạm thời; 5- Kiểm tra vị trí; 6- Hàn liên kết; 7 – Chèn vữa các mối nối.

Hình 14.24. Cách thức cố định tạm các panen tường

1- Thanh chống xiên có móc kẹp; 2-Thanh giằng góc có móc kép

3- Thanh giằng ngang (các chữ số trong vòng tròn chỉ trình tự lắp)

f) Liên kết cố định tấm tường

Sau khi đã cố định tạm, kiểm tra điều chỉnh đạt yêu cầu thiết kế tiến hành liên kết 2 tấm tường với nhau bằng hàn các chi tiết chôn sẵn hoặc dùng thép tròn rằng móc

chúng lại với nhau rồi đổ bê tông chèn khe nối

14.5. Kỹ thuật lắp ghép dầm, giàn. 14.5.1. Lắp dầm bê tông cốt thép a) Công tác chuẩn bị

- Dầm bê tông cốt thép được vận chuyển về công trường, tiến hành kiểm tra

chất lượng bê tông dầm, đo lại kích thước, vạch tuyến trục lên mặt dầm.

167

- Kiểm tra cao độ mặt tựa của dầm, vạch tuyến trục lên mặt tựa.

- Một số chuẩn bị khác: Như chuẩn bị thiết bị treo buộc dầm.

b) Treo buộc dầm

Đối với những dầm loại nhỏ, dài tới 6m thường dùng dây cẩu móc vào những

quai cẩu đặt sẵn trong dầm. Nếu dầm nặng và dài tới 12m thì phải dùng đòn treo.

Hình14.11. Treo buộc dầm bê tông cốt thép

a) Treo buộc dầm loại nhỏ; b) Đòn treo dùng để treo buộc dầm bê tông cốt thép

dài và nặng; c) Treo buộc dầm cầu chạy bằng dụng cụ có khóa bán tự động

Để thuận tiện cho việc tháo dỡ dụng cụ treo buộc (khi tháo không phải trèo lên

cao), người ta dùng dụng cụ treo buộc có khóa bán tự động, dây cẩu kép treo dầm luồn

qua khóa, một đầu dây tròng vào móc cẩu cần trục, còn vòng quai kia đi vào khóa ở đó

có chốt ngang giữ đầu dây lại. Để tránh dây cáp không cọ vào mép dầm, người ta làm

bốn miếng thép đệm góc, di động được trên dây, ốp vào mép cạnh dầm. Khi đặt dầm

vào vị trí và cố định song, người công nhân đứng ở sàn công tác kéo sợi dây rút chốt

ra, vòng quai đầu dây cẩu tuột khỏi khóa giải phóng thiết bị treo buộc khỏi dầm.

c) Cẩu lắp dầm

Cần trục nâng dầm lên cao hơn điểm đặt sau đó quay cần đưa dầm về vị trí, từ

từ đặt dầm lên gối tựa, công nhân đứng trên sàn công tác để điều chỉnh dầm vào đúng

vị trí thiết kế có sự trợ giúp của cần trục.

d) Kiểm tra và điều chỉnh

Trước khi tháo móc cẩu tiến hành kiểm tra về vị trí và độ ngang bằng của dầm. Kiểm tra về vị trí căn cứ vào các đường tuyến, trục đã vạch trên mặt tựa và trên dầm (khi kiểm tra về vị trí kết hợp kiểm tra khoảng cách khẩu độ và độ thẳng hàng của các

dầm). Kiểm tra mặt phẳng ngang của mặt trên dầm tường dùng ni vô dây hoặc máy thủy bình. Sau khi kiểm tra đạt yêu cầu, tiến hành hàn sơ bộ mối nối sau đó mới tháo dây cẩu khỏi dầm.

e) Cố định tạm dầm

Nói chung dầm sàn, dầm cầu chạy thường có độ ổn định tương đối lớn nên không cần phải cố định tạm sau khi đặt vào vị trí, trừ trường hợp dầm cầu chạy mảnh

168

và cao (Chiều cao lớn hơn 5 lần chiều rộng tiết diện) thì cố định tạm bằng bu lông

giằng.

f) Cố định vĩnh viễn

Làm theo bản vẽ thiết kế, hàn cố định mối nối hai đầu dầm vào cột, tiến hành

chèn vữa khe nối.

14.5.2. Lắp dầm cầu chạy a) Công tác chuẩn bị

Dầm cầu chạy thép thường dài từ 6 đến 36m. Có những dầm cầu chạy nặng tới

100 tấn.

Cần tiến hành kiểm tra chất lượng, đo lại kích thước theo thiết kế.

Chuẩn bị khác: thiết bị treo buộc dầm, khóa, đòn treo...

b) Treo buộc dầm cầu chạy

Các cách treo buộc dầm thép bằng các dây cẩu thường, bằng dụng cụ treo buộc

và cách treo buộc dầm bằng dây cẩu có khóa tự động. Có thể nối dây cẩu vào dầm cầu chạy bằng các móc sắt sâu qua lỗ cố định tay dầm.

c) Cẩu lắp dầm cầu chạy

Những dầm cầu chạy và dàn đỡ vì kèo hạng nhẹ cẩu lắp bằng một cầu trục phụ,

mà thường là cần trục tự hành.

Cẩu lắp những dầm cầu chạy hạng nặng (20-100 tấn) tiến hành theo mấy biện pháp

sau:

- Dùng hai cần trục tự hành để cẩu nguyên cả dầm lên.

- Dùng hai cần trục tự hành để cẩu từng nửa dầm cầu chạy và đặt lên một gối tựa trung gian tạm thời, khi dầm quá nặng.

Hình14.12. Treo buộc dầm thép bằng dây cẩu thường

169

Hình 14.13. Treo buộc dầm bằng dụng cụ riêng

1- Hai tấm má ; 2- Tấm đệm giữa ; 3- Chốt ; 4 – Càng ; 5 – Khe cặp ; 6- Thanh cố định càng ; 7 – Bulông ; 8 – Chốt ; 9 – Ống an toàn.

Hình 14.14. Treo buộc dầm cầu chạy bằng dây cẩu có khóa bán tự động.

a) Dây cẩu buộc ôm quanh dầm ; b) Dây cẩu nối vào móc sắt sâu qua lỗ bắt ray. 1- Dây cẩu có khóa bán tự động ; 2- Móc sắt ; 3- Đệm góc ; 4 – Sàn hãm

Biện pháp này có ưu điểm là sử dụng được cần trục vẫn dùng để lắp ghép các kết cấu khác của phân xưởng, khi trọng lượng các kết cấu khác của phân xưởng này chỉ bằng nửa trọng lượng của dầm cầu chạy (ví dụ như cột thép). Gối tựa trung gian

chế tạo dễ dàng, dùng được nhiều lần và có thể mang đi chỗ khác bằng cần trục lắp ghép.

170

Hình 14.15. Các biện pháp lắp ghép dầm cầu chạy nặng

a) Lắp nguyên cả dầm bằng hai cầu trục đường sắt; b) Lắp từng nửa dầm cầu chạy trên gối tựa trung gian tạm thời bằng hai cần trục đường săt

Ngoài ra còn có những biện pháp lắp ghép các

dầm cầu chạy nặng bằng các thiết bị khác như: - Dùng hai cột để lắp dầm cầu chạy. Dầm và cột trụ bố trí

ở hai phía đối với hàng cột, và cột trụ phải hơi dốc

nghiêng về phía dầm; khi này cần có những dây neo ăn

vào tời tay, giữ không cho dầm va chạm vào đầu cột.

- Dùng hai ròng rọc treo ở các đầu cột đã lắp xong, để

cẩu dầm cầu chạy lên vị trí. Biện pháp này chỉ nên áp

dụng khi cần thay thế các dầm cầu chạy trong phân

xưởng đang sản xuất hoặc vì lý do gì không thể Hình 14.16. Cẩu lắp dầm cầu

chạy nặng bằng hai cột trụ.

cẩu lắp dầm bằng cách khác được. Vì quá trình

buộc các ròng rọc lên các đầu cột và di chuyển

chúng từ cột này sang cột khác khá phức tạp và

tốn nhiều công sức. Ngoài ra còn phải tính toán

kiển tra khả năng chịu lực của cột khi làm việc này.

d) Kiểm tra và điều chỉnh

Hình 14.17. Cẩu lắp dầm cầu chạy nặng bằng hai ròng rọc ở

đầu cột và sơ đồ tính toán kiểm tra Sau khi đặt dầm cầu chạy vào đúng vị trí thiết kế, trước khi tháo móc cẩu giải phóng cần trục phải cố định tạm. Trước khi tháo móc cẩu tiến hành kiểm tra về vị trí và độ ngang bằng của dầm.

lại cột. Kiểm tra cao trình mặt dầm cầu chạy

171

bằng máy thủy bình. Kiểm tra vị trí đường tim của dầm bằng máy kinh vĩ và các quả

dọi.

Kiểm tra khoảng cách ngang giữa các đường tim dầm cầu chạy bằng thước thép

cuộn ở một số điểm trong các bước cột.

Điều chỉnh vị trí dầm cầu chạy theo độ cao bằng cách thêm bớt những tấm thép đệm nằm 3 (hình). Còn điều chỉnh vị trí dầm cầu chạy trên mặt bằng thì thêm bớt

những tấm thép đệm đứng giữa dầm cầu chạy và chi tiết liên kết dầm vào cột.

d) Cố định tạm dầm cầu chạy:

Đối với những dầm cầu chạy có tỷ lệ giữa chiều cao và chiều rộng mặt tựa lớn hơn 4:1 thì phải cố định tạm nó vào cột. Các chi tiết đảm bảo độ ổn định của dầm cầu

chạy, vừa dùng để cố định tạm dầm, vừa cho phép xê dịch dầm khi điều chỉnh

f) Cố định vĩnh viễn dầm cầu chạy

Sau khi kiểm tra, điều chỉnh đạt thiết kế tiến

hành cố định hẳn dầm cầu trục bằng cách xiết chặt

bulông liên kết hoặc hàn liên kết theo bản vẽ thiết

kế.

14.5.3. Lắp dàn vì kèo thép a) Công tác chuẩn bị

Sau khi vận chuyển dàn vì kèo về công trường tiến hành công tác chuẩn bị tiếp theo như

sau:

Khuyếch đại vì kèo: Các dàn vì kèo khẩu

độ lớn thường được gia công thành từng đoạn để Hình 14.18. Các chi tiết cố tiện vận chuyển về công trường, trước khi lắp ghép định dầm cầu chạy vào mới khuếch đại thành nguyên dạng tại ngay mặt

bằng lắp ghép.

Trên mặt bằng lắp ghép, xếp điểm giữa của cột: 1-Lỗ hình bầu dục; 2- Tấm đệm đứng; 3 – Tấm đệm nằm vì kèo và tâm khẩu độ cùng nằm trên bán kính quay

của cần trục để khi lắp cần trục không phải thay đổi độ với.

- Gia cường dàn vì kèo: Vì kèo thép và kết cấu thanh mảnh nên trước khi cẩu lắp phải xét xem có cần phải gia cường không, vì khi treo trên cẩu thường các thanh trong dàn chịu lực sẽ khác với khi dàn nằm ở vị trí thiết kế công trình thông thường có

hai loại gia cường vì kèo:

172

Hình 14.19. Treo buộc và gia cường vì kèo

a, b, c, d) Cách thức treo buộc và gia cường; e, f) Chi tiết gia cường

- Khi dựng dàn vì kèo từ tư thế nằm ngang lên tư thế thẳng đứng, để giữ cho

dàn khỏi bị cong vênh gia cường bằng cách bó ghép các đoạn gỗ cây vào ngang dàn,

từ thanh cánh hạ lên thanh cánh thượng. Khi lật dàn xong thì phải tháo dỡ ngay các cây gỗ khi gia cường này để sau khỏi phải tháo dỡ chúng trên cao.

- Khi treo cẩu dàn, để giữa cho dàn không bị cong vênh khỏi mặt hẳng của dàn,

gia cường bằng cách bó ghép các đoạn gỗ cây dọc thanh cánh hạ hoặc thanh cánh

thượng. Sau khi cố định dàn mái bằng các thanh xà gồ hoặc thanh giằng mới được tháo

dỡ các thanh gia cường ra khỏi giằng. Những dàn vì kèo nhỏ thường không phải gia

cường, những dàn lớn phải tính toán kiểm tra ổn định để gia cường

Các tiết diện tối thiểu của các thanh cánh thượng và dàn thanh cánh hạ dàn vì

kèo khi treo buộc ở bất cứ điểm nào trên thanh cánh thượng mà không phải gia cường

ổn định được cho trong bảng dưới đây.

Khẩu độ dàn vì kèo (m)

Tiết diện 18 21 24 27 30

Cánh thượng 100x75x8 120x80x8 120x80x12 120x80x12 130x90x12

Cánh hạ 75x5 90x8 120x80x8 120x80x10 150x100x10

Ghi chú: Bảng này thiết lập cho những dàn có thanh cánh thượng, thanh cánh hạ song song, và thanh cánh thượng dốc 1/10 - 1/12.

Nếu tiết diện các thanh cánh thượng và thanh cánh hạ nhỏ hơn các só trong

bảng thì phải gia cường dàn.

b) Treo buộc dàn vì kèo

Dàn vì kèo thường treo buộc tại mắt dàn ở thanh cánh thượng bằng các dây cẩu thông thường, hoặc bằng dây treo có khóa bán tự động. Cần chú ý treo buộc dàn ở

nhiều điểm, đảm bảo giữ dàn ổn định khi lật và cẩu lắp.

173

Hình 14.20. Treo buộc dàn bằng dây cẩu thường a) Bằng dây cầu đơn có móc; b) Bằng dây cẩu kép; c) Bằng dụng cụ treo buộc có

chốt rút; -Khosal 2-Chốt; 3- Vòng quai ăn vào khóa; 4-Miếng đệm

- Lắp sàn thao tác: Treo vì kèo ở tư thế thẳng đứng dưới thấp, gá lắp vào dàn

các dụng cụ cố định tạm, các bộ phân của sàn công tác để cho công nhân đứng liên kết

các thanh giằng vì kèo sau này.

c) Cẩu lắp và cố định tạm

Để lắp dàn vì kèo dễ dàng, trước khi lắp

đặt dàn trên cột thép đã hàn sẵn các gối tựa làm

chỗ đặt dàn, tạo điều kiện cho việc liên kết dàn vào cột. Trường hợp dàn đặt trên tường gạch

hoặc đầu cột bê tông cốt thép thì phải chuẩn bị

trước gối tựa và các bulông neo, kiểm tra lại vị

trí và cao độ của chúng.

- Khi lắp các dàn vì kèo mái vào công

trình cần chú ý đến độ ổn định của từng dàn,

của phần công trình vừa lắp xong. Mỗi dàn vì

kèo sau khi lắp lên phải được cố định sơ bộ vào Hình 14.21. Gối tựa ở cột thép

để đặt dàn

1. Cột thép; 2-Sườn gối; 3-Gối

đỡ gối tựa của nó ít nhất 50% số lượng bulông thiết kế. Tuy đã cố định dàn vào các gối tựa nhưng dàn vẫn chưa được đảm bảo ổn định, vẫn có thể bị cong vênh khỏi mặt phẳng của dàn.

174

Hình 14.22. a) Cố định tạm vì kèo; b) Sơ đồ mặt bằng lắp ghé

1- Dàn vì kèo; 2- Dây giằng tạm; 3-Thanh giằng

Vậy trước khi tháo các dây cẩu dàn cần phải cố định thêm nó vào các phần kết

cấu đã lắp xong bằng ít nhất ba thanh xà gồ hoặc các thanh giằng tạm. Riêng dàn đầu

tiên cố định tạm bằng các dây neo số lượng dây là 2, 4 hoặc 6 dây tùy theo khẩu độ.

Các dây treo này một đầu buộc vào thanh cánh thượng của dàn, một đầu buộc vào

móng cột hoặc cọc neo.

d) Kiểm tra và điều chỉnh

Về vị trí yêu cầu lắp đúng vị trí. Về độ thẳng, yêu cầu mặt phẳng vì kèo phải

thẳng đứng trùng với phương dây dọi.

e) Cố định hẳn vì kèo

Sau khi kiểm tra, điều chỉnh đạt yêu cầu thiết kế tiến hành cố định hẳn vì kèo

vào đầu cột bằng cách xiết chặt các bulông liên kết hoặc hàn liên kết các tấm thép chờ ở đầu cột vì kèo vào đầu cột bằng cách xiết chặt các bu lông liên kết hoặc hàn liên kết

các tấm thép chờ ở đầu cột và vì kèo theo bản vẽ thiết kế.

14.6. Kỹ thuật lắp các tấm sàn.

a) Công tác chuẩn bị: Trước khi lắp các tấm sàn nhà nhiều tầng lên các mặt

dầm hoặc mặt tường (mặt tựa) cần làm các công tác chuẩn bị sau:

- Kiểm tra vị trí, cao độ và độ phẳng của mặt tựa, nếu cần dài lên mặt một lớp

vữa dày vừa 10  12mm cho phẳng mặt.

- Vạch đường tim lên mặt tựa để sau này tiện việc điều chỉnh và kiểm tra vị trí

tấm sàn có lắp đúng vị trí hay không.

- Kiểm tra chất lượng bê tông tấm sàn, đo lại kích thước tấm sàn.

- Một số chuẩn bị khác như các thiết bị treo buộc tấm sàn, các thiết bị phục vụ

lắp ghép như giáo, ghế.

175

b) Treo buộc tấm sàn: Dùng dây cẩu 4 nhánh móc vào các quai cẩu đặt sẵn trên tấm

sẵn.

c) Cẩu lắp tấm sàn: Cầu trục nâng tấm sàn cao hơn điểm đặt sau đó quay về vị trí lắp

từ từ đặt tấm sàn lên gối tựa. Cần phải đặt các tấm sàn đúng vị trí tên các gối tựa, nhất

là các tấm sàn đặt trên đầm bê tông cốt thép mỏng (tường các nhà dân dụng thường dày 160mm). Lắp các tấm sàn panel hộp của nhà dân dụng bắt đầu từ tường trở đi. Để

lắp tấm thứ nhất người công nhân đứng trên giáo ghế để điều chỉnh. Khi lắp các tấm tiếp theo người công nhân đứng trên các tấm sàn vừa lắp xong.

d) Cố định hẳn: Các tấm sàn được cố định hẳn vào tường chịu lực hay vào khung nhà

bằng cách hàn các chi tiết thép chôn sẵn trong tấm sàn với chi tiết thép chôn sẵn trong tường hoặc trong khung nhà. Sau khi cố định xong thì chèn lấp vữa các mạch hở giữa

hai tấm tiếp giáp nhau bằng vữa bê tông sỏi nhỏ, bê tông chèn có mác lớn hơn hoặc

bằng mác bê tông tấm sàn. Lấp vữa các khe hở nhằm làm tăng độ cứng, độ ổn định của

sàn nhà, đồng thời cũng nâng cao khả năng cách âm của sàn nhà. 14.7. Kỹ thuật lắp ghép tấm ô văng, ban công, cầu thang.

Các tấm ban công, mái hắt (ô văng) chỉ gắn vào tường một phần còn phần lớn nhô ra khỏi tường, nên khi lắp cần phải có biện pháp chống lật. Hình trình bày cách cố định tạm tấm ban công.

Sau khi hàn liên kết các tấm ban công, hoặc ô văng vào tường và xây, hoặc lắp các tấm tường trên đè lên đủ đối trọng chống lật mới được phép tháo gỡ các dụng cụ chống lật này.

Hình 14.25. Cố định tạm các tấm ban công, ô văng

a) Bằng giáo treo: 1-Móng; 2-Dây giằng; 3-Tăng đơ; 4-Giá treo; 5 – Dây neo hậu; b) Bằng cột chống đứng co rút được: 1- Cột ống; 2- ống co rút; 3-Chốt

c) Bằng hai thanh chống xiên có móc kẹp

176

Lắp các tấm bậc thang

Các tấm bậc thang, tấm chiếu nghỉ cầu thang được lắp ghép cùng một lúc với

các kết cấu khác của nhà. Lắp và kiểm tra xong các tấm chiếu nghỉ, chiếu tới mới cho

lắp các tấm bậc thang. Cẩu lắp các tấm bậc thang này ở tư thế nghiêng gần như vị trí

của nó, rồi mới hạ từ từ lên gối tựa, khi kiểm tra xong thì hàn liên kết ngay các mối nối hàn, lấp vữa các khe hở.

14.8. Kỹ thuật lắp ghép các thanh xà gồ, thanh giằng.

Ngay sau khi lắp xong từng dàn vì kèo từng gian, tiến hành lắp một số hoặc

toàn bộ các thanh xà gồ và thanh giằng để giữ ổn định cho hệ giằng (như đã trình bày

ở trên). Thường có các phương pháp lắp xà gồ sau:

+ Biện pháp phổ biến nhất là dùng ngay cần trục lắp ghép dàn để lắp các thanh

xà gồ, khi đó cần trục được trang bị thêm tay cầm phụ. Cần trục cẩu bó xà gồ đặt lên

mái dốc của dàn vì kèo. Nếu các thanh xà gồ dài và nặng thì dùng cần trục lắp đặt từng

thanh một.

+ Nếu dùng cần trục lắp ghép chính để cẩu lắp từng thanh xà gồ là không tận

dụng được hết công suất hoặc vì lý do gì khác nữa thì dùng loại cần trục mái để cẩu

lắp xà gồ.

Hình14.26. Lắp các thanh xà gồ và thanh giằng.

a) Bằng cần trục mái; b) Bằng các giá cẩu nhẹ.

1-Dàn vì kèo; 2-Giá cẩu nhẹ; 3-Thanh xà gồ; 4-Dây cáp chạy xuống tời.

Trong trường hợp này cần trục chính sẽ lắp ghép hai dàn vì kèo đầu tiên và lắp tất cả các thanh giằng và thanh xà gồ để liên kết ổn định hai dàn đó. Sau đó đặt lên trên các thanh xà gồ đã lắp một hoặc hai cần trục mái tùy theo khẩu độ của dàn.

177

Khi lắp dàn vì kèo tiếp theo cần trục mái lắp ngay 3, 4 xà gồ, để đảm bảo độ ổn

định và giải phóng cần trục chính. Sau đó mới tiếp tục lắp các thanh xà gồ và thanh

giằng còn lại trong gian đó bằng cần trục mái.

+ Dùng các thanh giá cẩu để lắp các thanh xà gồ và thanh giằng: Giá cẩu làm

bằng một đoạn ống thép, trang bị ở đầu trên một ròng rọc, đầu dưới cố định bằng bu lông vào các thanh cánh thượng của dàn tại mắt dàn. Mỗi dàn mang một giá cẩu nhẹ

để nâng dần từng thanh xà gồ lên, hai giá cẩu cùng kéo xà gồ từ đất lên gần đến dàn vì kèo thì hãm một ròng rọc, để cho một đầu xà gồ được nâng cao lên trước tránh va chạm vào dàn vì kèo. Mỗi lần lắp xong một thanh xà gồ, công nhân lại tháo và di

chuyển giá cẩu đó sang vị trí khác.

B. Nội dung thảo luận

- Đề tài thảo luận:

1. Các bước cơ bản trong lắp ghép cấu kiện, những yêu cầu từng bước lấy ví dụ kèm

theo công trình thực tế? - Yêu cầu mỗi nhóm đóng 2 quyển A4 (1 nộp GV, 1 dùng báo cáo) gồm: Trang bìa

(Tiêu đề, tên nhóm, đề bài, tên sinh viên và giáo viên), Mục lục và Nội dung.

XV. CHƯƠNG 15. PHƯƠNG PHÁP LẮP GHÉP CÔNG TRÌNH DÂN DỤNG

VÀ CÔNG NGHIỆP

XV.1. Mục tiêu, nhiệm vụ - Mục tiêu: Chương 15 cung cấp các phương pháp lắp ghép một công trình, phân tích

ưu nhược điểm của từng phương pháp và phạm vi ứng dụng của từng phương pháp.

Nghiên cứu phương pháp lắp ghép cụ thể của công trình: nhà công nghiệp một tầng

khẩu độ nhỏ, nhà công nghiệp một tầng khẩu độ lớn, nhà tấm lớn, nhà khung nhiều

tầng và công trình khẩu độ lớn.

- Tóm tắt nội dung:

XV.3. Các nội dung cụ thể A. Nội dung lý thuyết

15.1. Phương pháp lắp ghép một công trình.

Quá trình xây dựng công trình gồm 3 giai đoạn chính: Chuẩn bị, thi công phần

dưới mặt đất, phần trên mặt đất.

- Giai đoạn chuẩn bị: Giải phóng mặt bằng, san mặt bằng, thi công các công

trình tạm.

- Giai đoạn thi công phần dưới mặt đất: Đặt các mạng lưới kỹ thuật, các đường ống ngầm, làm đường tạm, đào hố móng, làm móng, lấp đất san bằng đất xung quanh

nhà, tôn nền tầng một và rải các lớp chống ẩm.

178

- Giai đoạn thi công phần nhà trên mặt đất: Lắp các kết cấu của nhà như cột

dầm, tường, sàn, mái …, lắp các thiết bị vệ sinh , điện nước, hoàn thiện và trang trí trong nhà.

Yêu cầu:

- Khi bắt đầu xây dựng phần trên mặt đất thì phải hoàn thành xong mọi công tác

của phần ngầm, dựng lắp xong cần trục, mắc xong điện cho công trường phù hợp với

tiến độ xây lắp. Số lượng cấu kiện dự trữ phải được thường xuyên bổ sung để đảm bảo thi công liên tục. Các chi tiết, cấu kiện và vật liệu phải bố trí sắp xếp trong tầm hoạt

động của cần trục.

Tùy theo sơ đồ kết cấu của nhà và khả năng của phương tiện lắp ghép mà ta

chọn phương pháp lắp ghép thích hợp nhằm bảo đảm chất lượng công trình, rút ngắn

được thời hạn thi công và đạt hiệu quả kinh tế. Công tác lắp ghép thường được làm

trong hai hoặc ba kíp trong một ngày. Trong đó phải giành một kíp cho bốc xếp cấu

kiện, vận chuyển vật liệu cho việc hoàn thiện bên trong nhà, kiểm tra và tu sửa máy

móc, cần trục.

Lắp ghép cấu kiện có các phương pháp sau:

* Theo độ lớn của các cấu kiện lắp ghép: người ta phân phương pháp lắp ghép

nhà và công trình thành phương pháp lắp ghép cấu kiện nhỏ, lắp ghép nguyên cấu kiện

và lắp ghép cấu kiện dạng khối.

+ Lắp ghép cấu kiện nhỏ: Là các cấu kiện lắp ghép các phần kết cấu riêng biệt

có trọng lượng nhỏ. Áp dụng phương pháp này tốn nhiều công lao động. Người ta

thường áp dụng khi công trình có trình độ cơ giới thấp hoặc lắp thủ công.

+ Lắp ghép nguyên cấu kiện: Là các cấu kiện lắp ghép (cột, dầm, sàn, panel,

tường....) được chế tạo dưới dạng kết cấu nguyên khuếch đại từ các phần cấu kiện

riêng lẻ thành kết cấu nguyên, sau đó sẽ được cẩu lắp và cố định vào vị trí thiết kế. Sự

ổn định của kết cấu sẽ được thực hiện khi lắp đặt. Phương pháp này được áp dụng rộng

rãi.

+ Lắp ghép cấu kiện dạng khối: ở mặt đất các kiện lắp ghép được khuếch đại

thành các khối lớn sau đó được cẩu lắp vào vị trí thiết kế.

Thường gặp các dạng khối lắp ghép sau: Dạng khung phẳng như dàn, khung cửa trời, cột và dầm trong một khung. Dạng khung không gian,gồm cột dầm của một ô gian, khối mái của một ô gian nhà công nghiệp, một gian phòng lắp ghép.

Phương pháp lắp ghép cấu kiện dạng khối được dùng rộng rãi vì có ưu điểm là giảm được số lần cẩu lắp, giảm các thao tác trên cao, rút ngắn được thời gian lắp ghép. Tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi phải sử dụng cần trục có sức cẩu lớn.

* Theo trình tự lắp ghép: Ta có phương pháp lắp ghép tuần tự, phương pháp

lắp ghép đồng bộ và phương pháp lắp ghép hỗn hợp.

179

+ Phương pháp lắp ghép tuần tự: mỗi một lượt đi cần trục chỉ lắp ghép một loại

cấu kiện nhất định cho một đơn nguyên hay toàn bộ công trình,

Phương pháp này có ưu điểm là dễ lắp, dễ điều chỉnh, năng suất cao, mặt bằng

thi công gọn. Nhưng cũng có những nhược điểm là cần nhiều thiết bị cố định tạm, dễ

sai số tích lũy. Phương pháp này thường áp dụng để lắp ghép các kết cấu bê tông cốt thép.

+ Phương pháp lắp ghép đồng bộ: Trong một lượt đi cần trục lắp ghép tất cả các

cấu kiện trong một gian, trong một đoạn.

Phương pháp này có ưu điểm là giảm được các thiết bị cố định tạm, tạo điện thi

công mới. Nhưng có nhược điểm là phải luôn luôn thay đổi thiết bị treo buộc nên năng

suất lắp ghép giảm, phải điều chỉnh nhiều loại kết cấu khác nhau cùng một lúc nên rất

khó điều chỉnh, khó bố trí mặt bằng vì cùng một lúc có nhiều loại cấu kiện.

Phương pháp này thường áp dụng trong lắp ghép các công trình làm bằng kết

cấu thép hoặc lắp ghép nhà nhiều tầng.

+ Phương pháp lắp ghép hỗn hợp: Là sự kết hợp của hai phương pháp trên.

Phương pháp này điều hòa được những ưu nhược điểm của hai phương pháp

trên.

* Theo hướng lắp ghép: Người ta phân ra: Phương pháp lắp ghép dọc nhà và

phương pháp lắp ghép ngang nhà.

+ Phương pháp lắp ghép ngang nhà: áp dụng khi cần phải đưa từng đoạn của

công trình vào sử dụng, mỗi đoạn bao gồm các khẩu độ nhà. Cẩu lắp các kết cấu bằng

những cần cẩu trục có bán kính hoạt động lớn, tại mỗi vị trí đứng nó có thể lắp ghép toàn bộ đoạn công trình; hoặc dùng các các cần trục lắp ghép di chuyển theo hướng

ngang nhà.

Có thể rút ngắn thời gian thi công công trình bằng cách áp dụng phương pháp

lắp ghép theo hai chiều; từ giữa ra hai đầu nhà. Mỗi chiều bao gồm dây truyền công

tác như nhau.

+ Theo phương pháp lắp ghép dọc nhà: cần trục có thể di chuyển ở chính giữa

khẩu độ, dọc hai bên khẩu độ và di chuyển zích zắc tùy theo chiều rộng khẩu độ, trọng lượng cột và độ với cần trục.

Hình trình bầy hai phương án lắp ghép cột dọc nhà và lắp ghép cột ngang nhà của cần trục tự hành bánh xích. Số vị trí đứng lắp ghép của hai phương án như nhau,

nhưng đoạn đường di chuyển của phương án thứ hai dài hơn đoạn đường di chuyển của phương án thứ nhất.

Vậy trong các sơ đồ lắp ghép công trình bằng một cần trục nào đó, nên chọn sơ đồ có đoạn đường di chuyển cần trục ngắn nhất và số vị trí đứng lắp ghép của cần trục nhỏ nhất.

180

Hình 15.1. Sơ đồ di chuyển của cần trục khi lắp ghép cột, dầm cầu chạy và nhà

công nghiệp một tầng

a) ở chính giữa khẩu độ; b) Dọc hai bên khẩu độ; c) Zích zắc

Diện tích công trình công nghiệp thường rộng lớn, người ta phân chia nó thành

nhiều phân đoạn giống nhau, sao cho trong mỗi phân đoạn cần trục có thể di chuyển và

lắp ghép khung nhà theo một trình tự có lợi nhất, đảm bảo thi công dây chuyền song

song.

Mỗi phân đoạn lắp ghép trong sơ đồ di chuyển dọc của cần trục thường lấy là

một khẩu độ nhà hoặc là một đoạn nhà trong phạm vi giữa hai mạch nhiệt của khẩu độ.

Nếu công trình làm bằng các kết cấu bê tông đúc sẵn thì chiều dài của mỗi phân

đoạn lắp ghép có thể xác định theo điều kiện tạo ra khoảng thời gian gián đoạn kỹ

thuật giữa lúc lắp cột và lúc lắp kết cấu mái. Khoảng thời gian gián đoạn này cần thiết

cho việc điều chỉnh cột, lấp vữa chân cột và bảo dưỡng bê tông tới khi đạt cường độ

cho phép lắp các kết cấu mái lên cột.

15.2. Lắp ghép nhà khung nhiều tầng.

15.2.1. Đặc điểm của nhà khung nhiều tầng

Nhà khung là loại nhà có kết cấu chịu lực là móng, cột, dầm sàn, còn tường là

kết cấu bao che (có thể là tường lắp ghép hoặc tường xây gạch). Theo sơ đồ kết cấu của nhà thường có hai loại nhà khung cứng và loại nhà khung khớp.

Nhà khung cứng bao gồm cột và dầm liên kết cứng với nhau.

Nhà khung khớp là cột tầng trên nối với cột tầng dưới là khớp, dầm và cột nối với nhau là khớp. Hệ khung này thường dựa vào lõi cứng (lồng cầu thang) hoặc vách cứng tùy theo cấu tạo của nhà.

Ngày nay trong xây dựng có xu hướng khuếch đại khung nhà ở mức tối đa trước khi cẩu lắp theo khả năng của thiết bị lắp ghép. Có trường hợp người ta đổ cột

dài tới 17m cho ba đến bốn tầng nhà.

181

15.2.2. Phương pháp lắp ghép

+ Lắp ghép nhà khung cứng: nhà khung cứng thường chia thành nhiều phân

đoạn lắp ghép lên cao theo từng đợt. Mỗi đợt gồm cột của một hoặc hai tầng. Cần trục

lắp ghép có thể đứng một bên hoặc hai bên của công trình tùy theo chiều rộng của nhà

và mặt bằng công trình.

Ví dụ: lắp ghép nhà khung Panen như hình vẽ, một nhà khung panen có bốn

hàng cột , chia thành các phân đoạn và có thể tiến hành lắp ghép đồng thời hai phân

đoạn một lúc bằng hai cần trục đứng ở một phía của nhà.

Hình 15.2. Phân chia nhà khung panen thành các phân đoạn và ô thi công.

Trong phân đoạn B bắt đầu lắp từ đầu hồi bên phải nhà và tiến dần về phía lồng

cầu thang đặt ở giữa nhà. Trong phân đoạn A lắp lồng cầu thang trước rồi từ đó lắp

tiến dần về phía đầu hồi bên trái nhà.

Lượt thứ nhất: Cần trục lắp cột (hoặc cột và dầm nếu cấu tạo liền nhau)

Lượt thứ hai: Cần trục lắp dầm và các tấm vách ngăn các tấm chiếu nghỉ và bậc

thang.

Lượt thứ ba: Lắp panen sàn.

Các phân đoạn nhà chia thành nhiều ô, cần trục lắp ghép tại mỗi chỗ đứng có

thể lắp ghép các kết cấu trong ô. Sau khi lắp ghép, điều chỉnh và cố định tạm xong thì

cần trục di chuyển sang chỗ đứng khác để lắp ô sau và tại ô trước cho hàn liên kết và

chèn vữa các mối nối.

Với trình tự như trên có thể tiến hành thi công đồng thời nhiều vị trí không cùng

một phương thẳng đứng, đảm bảo an toàn lao động.

+ Lắp ghép nhà khung khớp: bắt đầu lắp ghép từ các lõi cứng và vách cứng,

phát triển đến đâu ổn định đến đó.

Trong lắp ghép các loại nhà khung phải chú ý đến cách cố định tạm thời kết cấu và chất lượng mối nối giữa các kết cấu với nhau. Chỉ lắp các két cấu đợt trên sau khi đã liên kết và chèn vữa kín các mối nối ở tầng dưới, kể cả các tường ngoài. Chỉ được tháo dỡ hệ giằng tạm sau khi vữa chèn mối nối đạt tới cường độ thiết kế.

15.3. Lắp ghép nhà panel tấm lớn

15.3.1. Đặc điểm nhà panel tấm lớn

182

Các nhà tấm lớn gồm những tấm tường ngoài và tường trong có kích thước một

căn phòng. Những tường này vừa là kết cấu chịu lực, đồng thời cũng là kết cấu bao

che, số lượng các loại kết cấu khác nhau rất ít nên khi lắp ghép cũng đỡ phức tạp các

tấm tường thường mỏng vì vậy độ ổn định của công trình phụ thuộc rất nhiều vào độ

chính xác lắp ghép.

15.3.2. Phương pháp lắp ghép nhà panel tấm lớn

Sau khi làm xong móng tiến hành lắp đất chân móng và san nền ngay để tạo

điều kiện thuận lợi cho quá trình lắp ghép. Trước khi lắp ghép dùng máy kinh vĩ xác

định tim tường và vị trí mặt tựa của tường trên mặt móng (hay trên mặt sàn).

Việc lựa chọn cần trục lắp ghép cho công trình phụ thuộc vào quy mô, chiều

cao và chiều rộng công trình, trọng lượng và hình dáng của cấu kiện.

Thứ tự lắp nhà tấm lớn như sau: Lắp lần lượt từ tầng một lên tầng hai cho đến

hết tầng trên cùng. Trong mỗi tầng lắp ghép theo thứ tự: Lắp các tấm tường chịu lực,

lắp các vách ngăn, lắp các tấm sàn, tấm ban công và cầu thang.

15.3.3. Sơ đồ lắp ghép nhà tấm lớn

Khi lắp ghép tấm lớn thường áp dụng các sơ đồ sau.

Sơ đồ một (hình 10.3): Tại mỗi tầng nhà, trong phạm vi một phân đoạn. đầu tiên

lắp các panen cữ, dựa vào các panen cữ lắp tiếp các panen khác nguyên tắc tạo thành

các hộp chữ nhật ổn định. Nghĩa là tuần tự lắp các tấm tường ngoài, tường trong dọc,

tường trong ngang, các chiếu nghỉ cùng các tấm bậc thang. Sau khi lắp và cố định

xong các bộ phận đó trong phạm vi của phân đoạn nhà, mới lắp các vách ngăn rồi đến

panen và các tấm ban công.

Hình 15.3. Trình tự lắp ghép nhà panen có đặt trước các panen cữ

Các chữ số chỉ trình lắp panen tường; Các panen cữ có gạch chéo

Sơ đồ hai (sơ đồ lắp ghép đồng bộ): Bắt đầu lắp ghép từ các panen tường ở góc xa nhất đối với vị trí đứng cửa cầu trục, từ đó lắp tiếp các panen tường theo một trình tự sao cho khép thành từng hộp kín. Lắp xong hộp nào thì luôn hộp nào thì lắp luôn vách ngăn trong hộp ấy, rồi đến lắp các panen sàn (hình 15.3). Lắp theo sơ đồ này, 183

trong một ca cần nhiều loại cấu kiện khác nhau gây khó khăn cho việc cung cấp cấu

kiện, các dụng cụ treo buộc và thiết bị cố định tạm cũng thay đổi luôn ảnh hưởng tới

năng suất lắp ghép.

Hình 15.4. Sơ đồ lắp ghép tổng hợp panen

Chữ số không có vòng tròn chỉ trình tự lắp panen tường;

Chữ số có vòng tròn chỉ trình tự lắp panen sàn

Sơ đồ ba (sơ đồ lắp ghép tuần tự): Bắt đầu lắp ghép các panen tường ngoài cách xa

cầu trục nhất, sau đó lắp các panen tường trong, các tấm bậc thang, đến các panen

tường ngoài gần cần trục nhất rồi đến các vách ngăng.

Theo sơ đồ lắp ghép này trong mỗi thời gian dài chỉ lắp một loại kết cấu, do đó

năng suất lao động cao.

Sơ đồ bốn: Dùng khung chuẩn. Người ta dùng một khung chuẩn (thường bằng

théo ống) có kích thước một phòng làm giá tựa cố định tạm cho các tấm tường xung

quanh. Từ tấm tường lắp tựa vào khung chuẩn, lắp phát triển ra xa tương tự như lắp

nhà lõi cứng.

Hình 15.5. Cách thức liên kết các panen tường ngang của nhà khung chuẩn

1- Khung chuẩn bằng thép ống; 2- Vít kẹp; 3- Khớp nối của thanh giằng ống; 4- Thanh giằng bằng thép ống; 5- Móc kẹp; 6- Chi tiết định vị; 7- Tấm sàn; 8- Chân lật khi không sử dụng; 9- Kích để điều chỉnh khung chuẩn ngang bằng; 10- Panen tường ngang chịu lực; 11- Chân lật khi sử dụng; 12- Móc giữ tường trên

15.4. Lắp ghép nhà công nghiệp một tầng khẩu độ nhỏ

15.4.1. Đặc điểm cấu tạo của nhà

184

Những công nghiệp một tầng loại nhỏ có khẩu độ từ 6  15m, cao 5  12m,

thường dài cả về chiều dọc lẫn chiều ngang. Những nhà này không có dầm cầu chạy, hoặc có cần trục thì tải trọng của nó thường ≤ 5 tấn, kết cấu tương đối đồng nhất

thường nặng không quá 6,5 tấn.

Để lắp ghép các cấu kiện của loại nhà này, có thể sử dụng các loại cần trục ôtô, cần trục bánh hơi, cần trục bánh xích để lắp ghép. Thường sử dụng cần trục ôtô, cần

trục bánh hơi thì hợp lý hơn, vì tính cơ động của chúng cao, di chuyển dễ dàng. Dùng

cần trục bánh xích năng suất thấp hơn, tuy chúng không đạt yêu cầu phải chuẩn bị

đường xá như các cần trục bánh lốp.

15.4.2. Trình tự lắp dựng nhà

Lắp ghép các khung nhà khẩu độ hẹp bằng các cần trục tự hành có thể áp dụng

phương pháp tuần tự hoặc phương pháp tổng hợp.

Nếu nhà chiếm diện tích khá lớn thì phân chia thành từng phân đoạn giống nhau để có thể áp dụng phương pháp thi công dây chuyền và tiến hành theo mấy sơ đồ lắp

ghép như sau:

1 – Lắp toàn bộ kết cấu kể cả móng bằng một cần trục.

2 – Lắp móng bằng một cần trục, lắp các kết cấu khung bằng một cần trục khác.

3 – Lắp mỗi đoạn nhà bằng một loại cần trục, khi các kết cấu của các đoạn

không giống nhau.

Hình thể hiện việc tổ chức lắp ghép nhà công nghiệp một tầng ba khẩu độ theo

phương pháp tuần tự bằng một cần trục bánh xích. Cần trục lắp ghép xong bộ khung

nhà sau ba vòng đi:

Vòng đi thứ nhất: Cần trục lắp ghép các chậu móng bê tông cốt thép. Sau khi

kiểm tra cẩn thận vị trí của chúng thì cho lấp đất chèn hố móng.

Vòng đi thứ hai: Cần trục chạy giữa khẩu độ lắp các hàng cột nhà. Bắt đầu từ

khẩu độ I nó lắp hàng cột A và B, rồi sang khẩu độ III nó lắp sang cột C và D. Sau khi lắp và kiểm tra xong từng cột thì cố định tạm chân cột vào chậu móng và lấp vữa chèn

mối nối chân cột.

Vòng thứ ba: Bắt đầu từ khẩu độ I cần trục lắp các dầm móng, dầm giằng và

dầm cầu chạy ở hàng A, lắp các dầm cầu chạy ở hàng B và lắp dầm mái khẩu độ I. Sau đó cần trục sang khẩu độ III và cũng lắp các loại kết cấu như nó đã lắp ở khẩu độ I. Tiếp sau đó sang khẩu độ II để lắp các dầm mái của khẩu độ này.

185

Hình 15.9. Sơ đồ di chuyển của cần trục bánh xích khi lắp nhà công nghiệp ba

khẩu độ.

Hình 15.10. Lắp ghép khung nhà công nghiệp bằng các cột trụ cẩu lắp.

1- Cột trụ lắp cột; 2- Đường di chuyển của cột trụ lắp cột; 3 – Cột trụ lắp dàn

mái; 4 - Đường di chuyển của cột trụ lắp dàn mái; 5- Cần trục mái để lắp các cấu kiện

nhẹ.

Nếu mái lợp bằng các tấm panen lớn, không có xà gồ, thì cần trục bánh xích sẽ

lắp cả các tấm mái này trong vòng đi thứ ba. Nếu mái lợp bằng các tấm nhỏ trên xà gồ

thì nên dùng loại cần trục mái di chuyển trên các xà gồ đã lắp trước để thi công mái.

Nếu không có cần trục tự hành có thể dùng các thiết bị cẩu lắp đơn giản, chẳng

hạn như cột trụ cẩu lắp. Khi đó nên tiến hành lắp ghép các công trình theo phương

pháp tuần tự và cứ mỗi loại kết cấu thì sử dụng một loại cột trụ riêng. Hình trình bầy việc tổ chức lắp ghép một khẩu độ nhà công nghiệp bằng các cột trụ cẩu lắp. Tùy theo khối lượng công tác có thể dùng một hoặc hai cột trụ để lắp cột nhà, dầm cầu chạy, dàn đỡ vì kèo; và dùng một cột trụ khác để lắp dàn mái, các thanh xà gồ, thanh giằng.

Nếu phân xưởng khá dài thì nên dùng cần trục mái để lắp các cấu kiện nhẹ trên mái.

15.5. Lắp ghép nhà công nghiệp khẩu độ lớn

15.5.1. Đặc điểm của nhà công nghiệp một tầng khẩu độ lớn

Nhà có kích thước mặt bằng công trình khá lớn, thường trên 18  36m, cao 8 –

50m. Những nhà này hầu hết được trang bị cần trục cầu chạy có trọng tải 5 – 200 tấn lực.

186

Những nhà có khẩu độ lớn này thường bằng bê tông cốt thép hoặc bằng thép,

hoặc khung nhà bê tông cốt thép đúc sẵn còn kết cấu mái thì bằng thép. Các kết cấu bê

tông cốt thép loại này nặng tới 50 tấn, các kết cấu thép nặng tới 100 tấn.

15.5.2. Phương pháp lắp ghép nhà công nghiệp một tầng khẩu độ lớn

Các kết cấu vận chuyển đến công trường trong phạm vi hoạt động của cần trục lắp ghép theo một thứ tự quy định. Hướng vận chuyển kết cấu đến ngược chiều với

hướng tiến của lắp ghép.

Hình 15.11. Phân bố các cột và dầm cầu chạy bằng bê tông cốt thép khi đúc

chúng ở ngay trên mặt bằng lắp ghép

Chỉ nên phân bố các cấu kiện bê tông đúc sẵn trên mặt bằng công trình trước

lúc lắp ghép, trừ khi cần phải khuyếch đại chúng trong tầm hoạt động của cần trục,

hoặc khi phải đúc tại chỗ một số kết cấu bê tông khá nặng ngay trên mặt bằng công

trình. Bố trí các kết cấu này trên mặt bằng sao cho vẽ bởi tay cần trục đi qua điểm

buộc kết cấu cũng đi qua điểm đặt thiết kế của nó. Trong suốt quá trình di chuyển để

lắp ghép các kết cấu đó cần trục không phải thay đổi độ với của tay cần.

Để lắp ghép nhà một tầng công nghiệp khẩu độ lớn thường sử dụng cần trục tự

hành bánh xích để lắp. Cần trục đi biên của khẩu độ để lắp cột và dầm cầu chạy như

vậy mới chọn được cần trục có sức trục hợp lý. Nếu khẩu độ quá lớn mà chọn cần trục

đi giữa khẩu độ để lắp ghép các kết cấu (cột, dầm) thì sẽ phải chọn cần trục có sức trục lớn, nhiều khi thực tế không cho phép hoặc giá thành cao. Các cấu kiện lắp ghép được bố trí phạm vi độ với của cần trục và bố trí sao cho điểm buộc cấu kiện, tâm điểm đặt cấu kiện cùng nằm trên bán kính quay của tay cần, để khi lắp ghép cần trục không phải

thay đổi độ với hoặc thay đổi rất nhỏ. Còn lắp dàn mái và panen mái thường kết hợp trong một lượt đi của cần trục và cần trục đi giữa khẩu độ.

Trường hợp nhà có số bước cột nhiều, để cần trục lắp mái có thể vào thi công

sớm, người ta áp dụng sơ đồ dích dắc để lắp cột và dầm cầu chạy.

Sau đây là một ví dụ về tổ chức lắp ghép những kết cấu nhà công nghiệp loại

lớn.

187

Lắp ghép một phân xưởng luyện thép (lò bằng) thường áp dụng phương pháp

lắp ghép tổng hợp theo chiều rộng nhà. Thông thường khung nhà được lắp ghép đồng

thời với sàn công tác của phân xưởng, sau đó mới lắp ráp kết cấu thép của lò. Cũng có

thể lắp theo một trình tự khác, nghĩa là lắp phần dưới khung lò trước, sau đó mới lắp

sàn công tác, khung nhà và phần trên của lò.

Phân xưởng chính gồm ba gian (ba khẩu độ): Gian đúc AB, gian lò BC và gian

phối liệu CD.

Khung nhà hai khẩu độ là bộ phận chịu lực chính, mỗi khung này cách nhau

36m. Theo hướng dọc nhà thì các cột của những khung này liên kết với nhau bằng

dầm cầu chạy và các thanh giằng.

Ngoài các cột chính (cột của khung) trong hàng A và C còn có những cột phụ

thuộc hai loại sau:

a) Cột đỡ dầm cầu chạy cách nhau 12m một, chịu tải trọng thẳng đứng của dầm

cầu chạy.

b) Cột kết cấu bao che, cách nhau 6m, trên cột tựa các dàn mái trung gian. Các

tấm tường bao che cố định vào những cột này.

Hàng B không có những cột phụ vì cứ mỗi đoạn nhà 36m giữa hai khung chính

có đặt một lò bằng (lò Mác – tanh). Vị trí lò không cho phép đặt những cột phụ.

Các dàn mái trung thuộc gian đúc và gian lò tựa trên các dàn đỡ vì kèo ở hàng

B.

Như vậy dầm, dầm chạy và dàn đỡ vì kèo ở hàng B có khẩu độ 36m, còn dầm

ầu chạy ở hàng A và C có khẩu độ 12m; các kết cấu ở hàng B nặng nhất. Cột hàng này nặng tới 40 – 50 tấn, dầm cầu chạy nặng tới 90-100 tấn.

- Trong gian lò và gian phối liệu có các sàn công tác, gồm các hàng dầm thép

ngang dọc đặt gối lên nhau, trên lát sàn và bắc đường ray cho các xe chạy tiếp tế nhiên

liệu.

Trước kia lắp ghép phân xưởng này thường sử dụng cần trục trụ dây giằng,

trọng tải 40 tấn. Di chuyển trong gian đúc AB, cách hàng cột B độ 8-10m. Cần trục

này lắp các kết cấu ở hàng A và B, một phần sàn công tác và các kết cấu mái trong khẩu độ AB và BC.

Sàn công tác còn được lắp ghép bằng cần trục chân xiên, di chuyển trên phần

sàn đã lắp xong trước. Cần trục này còn dùng để lắp kết cấu lò.

Gian phối liệu CD lắp bằng cần trục bánh xích.

Phương pháp lắp ghép này có những khuyết điểm sau: cần trục trụ giây giằng di

chuyển khó khăn; dây giằng làm trở ngại mặt bằng; lắp ghép phải theo một trình tự nhất định các kết cấu ở xa cần trục phải lắp trước.

188

Hình 15.12. Lắp ghép phân xưởng luyện thép bằng cần trục trụ dây giằng.

15.6. Lắp ghép nhà không gian nhịp lớn.

Những công trình có khẩu độ lớn thường là rạp xiếc, rạp hát, nhà thi đấu, nhà

triển lãm.... Những mái nhà của loại công trình này thường có dạng khung, vòm trụ,

vòm cầu hoặc dạng dây treo. Vật liệu làm các loại kết cấu này thường làm bằng thép,

bê tông cốt thép hoặc các tấm vỏ mỏng bê tông lưới thép.

15.6.1. Lắp ghép các kết cấu mái dạng khung

Trước tiên lắp các khung cột của nhà, sau đó lắp dàn mái và panen mái. Dàn

mái thường dài từ 30  60m được gia công thành nhiều đoạn trở đến công trình xếp ở

hai bên gần hàng cột rồi tiến hành khuếch đại. Có hai phương pháp khuếch đại: khuếch

đại ở dưới thấp và khuếch ở dưới thấp và khuếch đại ở trên cao.

- Khuếch đại ở dưới thấp: Cần trục nâng các đoạn dàn đặt vào giá khuếch đại.

Sau khi khuếch đại ở dưới thấp xong, một đến hai cần trục nâng dàn lên đặt vào vị trí thiết kế.

- Khuếch đại ở trên cao: Để khuếch đại được trên cao phải có các trụ đỡ trung gian, thường dùng hai cần trục, mỗi cần trục đi một bên của nhà và nâng một bán dàn lên đặt trên trụ đỡ để khuếch đại. Sau khi ghép và liên kết vĩnh viễn các đoạn dàn lại với nhau và giữ ổn định tạm thời dàn mới được phép chuyển trụ dỡ sang vị trí lắp tiếp.

Hai cần trục dùng để lắp dàn ở trên cũng được dùng luôn vào việc lắp các tấm

mái, mỗi cần trục sẽ lắp một bên của mái.

15.6.2. Lắp ghép kết cấu mái dạng vòm trụ

+ Trường hợp mái dạng vòm hai khớp có giằng ngang tựa trên các cột: Phương

pháp lắp giống như phương pháp lắp các mái dạng khung.

189

+ Trường hợp mái dạng vòm ba khớp: Do đặc điểm củan vòm này có một khớp

ở trên đỉnh, để liên kết được khớp này phải dùng một giá đỡ tạm, phương pháp lắp tiến

hành như sau:

- Đặt một giá đỡ tạm có trang bị kích hoặc nêm ở giữa khẩu độ, giá đỡ có các

sàn công tác để công nhân đứng thi công các mối nối tại các độ cao tương ứng.

- Cần trục nâng từng vòm đặt lên giá đỡ tạm, tại giá đỡ này người ta liên kết hai

bán vòm lại với nhau. Dàn vòm thứ nhất lắp xong được cố định bằng các dây giằng

tạm, các dàn vòm lắp sau sẽ liên kết vào phần vòm trước bằng các thanh giằng và các

thanh chống ngang.

Nhưng bán vòm lớn ( dài hơn 20 – 25 m ) thường dễ ổn định ngoài mặt phẳng,

nếu gia cường độ cứng cho chúng thì tốn thêm nhiều vật liệu, và giằng cố định các

vòm lớn rất phức tạp, cho nên người ta liên kết trước ở dưới đất hai dàn vòm gần nhau

thành một khung không gian rồi mới cẩu lên đặt vào vị trí lắp.

B. Nội dung thảo luận

- Đề tài thảo luận:

1. Các phương pháp lắp ghép một công trình, kèm theo công trình thực tế?

2. Phương pháp lắp ghép đồng bộ, hỗn hợp, kèm theo công trình thực tế?

3. Phương pháp lắp ngang, lắp dọc nhà, kèm theo công trình thực tế?

- Yêu cầu mỗi nhóm đóng 2 quyển A4 (1 nộp GV, 1 dùng báo cáo) gồm: Trang bìa (Tiêu đề, tên nhóm, đề bài, tên sinh viên và giáo viên), Mục lục và Nội dung.

190

NGÂN HÀNG CÂU HỎI THI HỌC PHẦN

1. Mã số học phần: FIM426

2. Số tín chỉ: 4

3. Nội dung đánh giá thi kết thúc học phần:

Kiến thức để thiết kế biện pháp thi công phần ngầm, bê tông toàn khối các công

trình và kỹ thuật lắp ghép dùng trong xây dựng. 4 . Phương pháp đánh giá: thi viết, thời gian làm bài thi 120 phút.

5. Nguyên tắc tổ hợp đề thi:

Mỗi đề thi có 5 câu hỏi, 4 loại câu hỏi và cách tổ hợp: câu 1: loại 1, câu 2 loại 3, câu 3: loại

3, câu 4: loại 4, câu 5: loại 4.

6. Ngân hàng câu hỏi:

6.1. Câu hỏi loại 1 ( 2 điểm)

1. Các dạng công trình đất?

2. Mục đích phân cấp đất, các tính chất cơ học đất và ảnh hưởng của nó tới các phương

pháp thi công?

3. Tính toán khối lượng công trình có dạng hình khối?

4. Tính khối lượng công trình đất chạy dài?

5. Công tác chống tường hố đào?

6. Hạ mực nước ngầm?

7. Hạ mực nước ngầm bằng ống kim lọc hút sâu?

8. Thi công đất bằng thủ công?

9. Đào đất bằng máy đào gầu thuận?

10. Đào đất bằng máy đào gầu nghịch?

11. Đào đất bằng máy ủi?

12. Đào đất bằng máy cạp?

13.Yêu cầu và kỹ thuật đắp đất?

14. Đất đắp, những yếu tố ảnh hưởng đến việc đầm đất?

15. Đầm đất bằng thủ công?

16. Kỹ thuật đầm đất bằng máy đầm lu nhẵn mặt?

17. Đầm đất bằng máy đầm lu có vấu?

18. Đầm đất bằng đầm chày?

6.2. Câu hỏi loại 2 ( 2 điểm)

19. Phân loại cọc cách gia công chế tạo, yêu cầu chất lượng?

20. Phân loại ván cừ, cấu tạo phạm vi sử dụng, biện pháp thi công?

21. Các loại búa đóng cọc. Cách chọn búa?

22. Kỹ thuật đóng cọc BTCT, các sơ đồ đóng cọc?

23. Những trở ngại và biện pháp khắc phục khi thi công đóng cọc BTCT?

191

6.3. Câu hỏi loại 3 (2 điểm)

24. Những yêu cầu đối với ván khuôn và biện pháp đáp ứng yêu cầu đó?

25. Phân loại ván khuôn?

26. Cấu tạo và cách lắp dựng ván khuôn dầm sàn?

27. Cấu tạo ván khuôn cột, kỹ thuật và trình tự lắp dựng?

28. Nghiệm thu ván khuôn?

29. Phân loại cốt thép trong xây dựng?

30. Trình bày cách cắt – nối – uốn CT?

31. Cách thức đặt CT cho kết cấu xây dựng – nghiệm thu CT?

32. Những yêu cầu đối với vữa BT , xác định thành phần cấp phối BT cho một mẻ

trộn?

33. Công tác trộn BT?

34. Vận chuyển vữa BT?

35. Đổ BT ( Yêu cầu – nguyên tắc và biện pháp)?

36. Đầm bê tông ( Mục đích – phương pháp đầm – các loại đầm)?

37. Mạch ngừng trong thi công bê tông toàn khối?

38. Bảo dưỡng bê tông, sửa chữa các khuyết tật sau khi đổ bê tông?

39. Tháo dỡ ván khuôn?

6.4. Câu hỏi loại 4 ( 2 điểm)

Lắp ghép

40. Lựa chọn và tính toán sức chịu kéo của dây cáp?

41. Tính toán neo, cố định tời?

42. Nêu cấu tạo và tác dụng của ròng rọc?

43. Tính toán hố thế : Hố thế gia cường và hố thế không gia cường?

44. Cách lựa chọn cần trục lắp ghép theo các thông số H, L, K bằng phương pháp giải

tích. Minh hoạt bằng hình vẽ?

45. Xác định các thông số lắp ghép của cần trục bằng phương pháp vẽ?

46. Các biện pháp sử dụng cần trục lắp ghép hợp lý?

47. Cần trục thiếu nhi?

48. Cần trục tự hành?

49. Cần trục bánh xích?

50. Cầu trục cổng?

51. Cần trục tháp?

52. Kỹ thuật xếp kho, bố trí cấu kiện trên công trường?

53. Khuyếch đại cấu kiện?

54. Gia cường cấu kiện lắp ghép?

55. Nêu cách lắp ghép các cấu kiện bê tông cốt thép?

192

56. Kỹ thuật lắp ghép cột bê tông cốt thép?

57. Các phương pháp chuẩn bị móng cốt thép?

58. Lắp dầm, dàn mái bê tông cốt thép?

59. Lắp dầm cẩu chạy thép?

60. Các biện pháp lắp cột thép?

61. Nêu các phương pháp lắp ghép nhà công nghiệp?

62. Lắp dàn vì kèo thép?

63. Đặc điểm và phương pháp lắp ghép nhà công nghiệp một tầng loại nhỏ?

64. Đặc điểm và phương pháp lắp ghép nhà công nghiệp 1 tầng loại lớn?

65. Cách lắp ghép nhà panen tấm lớn?

66. Yêu cầu của các mối nối lắp ghép?

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Kỹ thuật xây dựng, tập 1 – TS. Đỗ Đình Đức, PGS. Lê Kiều – NXB Xây Dựng

2006.

2. Giáo trình kỹ thuật thi công, tập 2 – TS. Đỗ Đình Đức, PGS. Lê Kiều, TS. Lê Anh

Dũng, Ths. Lê Công Chính, Ths. Cù Huy Tình, Ths. Nguyễn Cảnh Tường - NXB Xây

dựng 2004.

3. Giáo trình Kỹ thuật thi công – Bộ Xây dựng - NXB Xây dựng 2007.

4. Ván khuôn và giàn giáo - Phạm Hùng, Trần Như Đính - NXB Xây dựng

5. Thi công nhà cao tầng – Nguyễn Xuân Trọng - NXB Xây dựng 2007

193