113
PHẦN 4
BỆNH HỌC NỘI KHOA TẠP BỆNH
Chƣơng 1: Tâm căn suy nhƣợc
Mục tiêu
1. Trình bày được nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của tâm căn suy nhược.
2. Trình bày được tiêu chuẩn chẩn đoán tâm căn suy nhược theo bảng phân loại quốc
lần thứ 10 và theo các tiêu chuẩn cổ.
3. Trình bày các thể lâm sàng thường gặp và phương pháp điều trị theo y học cổ truyền.
4. Trình bày phương pháp phòng bệnh, giáo dục sức khoẻ về tâm sinh lý.
Nội dung
I. Y học hiện đại:
1. Dịch tể học :
- m căn suy nhược bệnh khá phổ biến. Tại Việt Nam chiếm 3%-4% số dân, tại các
nước Tây Âu chiếm 5%-10% chiều ớng phát triển với sự tập trung dân vào
các đô thị lớn, với sự gia tăng mật độ giao thông, với sự bùng nổ dân số, sự va chạm của
các nền văn hoá các thế hệ già trẻ khác nhau, với khối lượng thông tin vào não con
người ngày càng nhiều, với sự ng thẳng trường diễn của hệ thần kinh trong cuộc sống
ngày nay.
- Bệnh thường xuất hiện lao động trí óc nhiều n chân tay, nam nhiều hơn nữ, nhiều
nhất ở lứa tuổi 20-45.
- Bệnh tâm căn suy nhược không gây chết người như ung thư, tim mạch nhưng kéo dài từ
năm này qua năm khác ảnh hưởng lớn đến công tác, học tập và hạnh phúc gia đình. Việc
điều trị không đúng cách không những không khỏi bệnh, tốn kém, đôi khi còn bị lệ
thuộc thuốc.
2. Nguyên nhân và cơ chế bnh sinh:
2.1. Nguyên nhân:
- Nguyên nhân chủ yếu chấn thương m , thường cường độ không mạnh lắm nhưng
kéo dài như : mâu thuẫn quyền lợi nhân và yêu cầu hội, thất bại trong công việc
đời sống, mâu thuẫn vì bất hoà với tập thể, bị nghi ngờ oan uổng, mâu thuẫn trong đời
sống nhân gia đình, thất bại trong tình yêu, vợ chồng không hhợp, con cái bị tàn
tật hư hỏng, người thân chết ...
- Yếu tố chấn thương tâm lý gây bệnh có thể ít hay nhiều, thường gặp chấn thương trường
diễn, kế tục nhau hoặc kết hợp nhau. Bệnh tâm căn suy nhược thường xuất hiện từ từ sau
một thời gian sang chấn thương và biểu hiện rõ khi gặp thêm nhân tố thúc đẩy.
- Các nhân tố thúc đẩy như:
+ Loại hình thần kinh: loại hình thần kinh yếu, loại hình thần kinh mạnh không cân bằng
(Paplop căn cứ vào hai quá trình cường lực của hưng phấn và ức chế chia ra các loại hình
thần kinh. Loại hình thần kinh yếu, nhút nhát thiếu sáng kiến, thiếu tinh thần khác phục
khó khăn. Loại hình thần kinh mạnh, không thăng bằng, nhiều nghị lực sáng kiến nhưng
114
nóng nảy thiếu kiên nhẫn. Loại hình thần kinh mạnh thăng bằng linh hoạt thích ứng
nhanh chóng với môi trường bên ngoài).
+ Lao động trí óc quá mức, quá mệt mỏi, thiếu ng lâu ngày, i sống làm việc
nhiều nhân tố kích thích, tiếng ồn, điều kiện làm việc phức tạp.
+ Những bệnh mãn tính : Viêm xoang, viêm loét dạ dày, cao huyết áp, thiếu dinh
dưỡng…
2.2. Cơ chế bệnh sinh
chế phát sinh tâm căn suy nhược rất phức tạp do sự suy yếu của tổ chức lưới
thân não lên vỏ não, tức rối loạn sự liên hệ lưới và vỏ não. Do đó các dòng xung động
từ bên ngoài vào không được sàng lọc qua tổ chức lưới thân não dồn cả lên vỏ não. Vì thế
vỏ não không chịu đựng nỗi dẫn đến sự rối loạn hai quá trình hưng phấn và ức chế. Theo
các thầy thuốc Nga, từ lúc bắt đầu mắc bệnh đến khi hình thành các thể m sàng, quá
trình sinh não biến đổi qua ba giai đoạn. Mỗi giai đoạn tương ứng với những dấu hiệu
lâm sàng nhất định.
Giai đoạn đầu do tính chất suy yếu, quá trình ức chế trong lâm sàng biểu hiện trạng
thái kích thích bùng nổ, khí sắc dao động trong ngày, mất tập trung khó ngủ.
Giai đoạn hai suy yếu quá trình hưng phấn biểu hiện chóng mệt mỏi, giảm chú ý,
đau đầu, dễ cảm xúc.
Giai đoạn ba, ức chế giới hạn bảo vệ tế bào thần kinh não, tránh những kích thích
qúa mức, hiệu quả là suy yếu cả hai quá trình hưng phấn và ức chế, biểu hiện trạng thái ức
chế bàng quan, vô cảm hoặc trầm cảm, có khuynh hướng phát sinh ám ảnh sợ.
2.3. Bệnh cảnh lâmng điển hình:
Có ba biểu hiện cơ bản hội chứng kích thích suy nhược, đau đầu, mất ngủ.
- Hội chứng kích thích suy nhược : do sự suy yếu quá trình ức chế và stắng hưng phấn,
người bệnh dễ bị kích thích không còn tự ch như trước, với một nguyên nhân nhỏ nhặt
cũng thể giận dữ quát tháo. Người bệnh hiểu mình nên kiềm chế hối hận về
những việc đã làm nhưng khi gặp lại một kích thích nhỏ họ vẫn lại có những cơn bùng nỗ
cảm xúc. Trạng thái dễ kích thích còn biểu hiện ở chỗ người bệnh hay xúc động, hay khóc
khi nghe một câu chuyện, một bộ phim, một cuốn tiểu thuyết nội dung bi ai. Mất tập
trung chú ý, muốn tập trung phải ức chế tích cực sự tiếp thu hàng loạt kích thích tbên
ngoài. Đàn ông dễ bị kích thích tình dục nhưng sự kích thích chóng hết, xuất tinh sớm.
- Đau đầu : triệu chứng hay gặp thường cảm giác nặng nề âm ỉ, khu trú trán, thái
dương, đỉnh đầu hay toàn bộ, thường tăng lên khi tập trung tư tưởng, suy nghĩ căng thẳng,
giảm khi thoải mái, ngủ tốt, đau đầu ít xảy ra ban đêm.
- Mất ngủ : giấc ngủ thường không sâu, nhiều ác mộng, ánh sáng tiếng ồn làm người bệnh
khó ngủ, thức giấc. Sáng dậy mệt mỏi, ban ngày buồn ngủ, ngủ gà nhưng lên giường nằm
lại không ngủ được (do suy yếu quá trình ức chế các kích thích từ bên ngoài cũng như bên
trong nội tạng tác động lên vỏ não làm tăng quá trình hưng phấn
- Rối loạn thực vật nội tạng rất đa dạng: mạch nhanh, đánh trống ngực, đau vùng tim,
nóng bừng khó thở ; rối loạn tiêu hoá, táo bón ỉa chảy, nôn, miệng khô…
- Rối loạn cảm giác giác quan vận động: chóng mặt, hoa mắt, ù tai, đau nhức , đau
lưng, mỏi gáy, tê bì, kiến bò, run tay, run mí mắt..
115
- Rối loạn cảm xúc, ý chí, ý năng:
+ Cảm xúc : dễ cáu, dễ cảm động, quá lo âu về bệnh tật, lo âu kích thích xấu m bệnh
nặng thêm.
+ Ý chí : thiếu tự tin, thiếu quyết đoán.
+ Trí năng : khó tập trung nên trí nhớ giảm.
+ Hành vi tác phong thay đổi : đi lại hối hả, đứng ngồi không yên, động tác không dứt
khoát.
+ Trạng thái ám ảnh : ám ảnh sợ, ý tưởng ám ảnh, hành vi ảm ảnh..
3. Các thể lâmng:
- Thể cường : nét nỗi bật là dễ kích thích dễ phản ứng, cảm xúc không ổn định, hồi họp lo
âu, đứng ngồi không yên, rối loạn thực vật nội tạng xuất hiện rầm rộ.
- Thể trung gian : giảm sút khả năng lao động, giảm sút tình dục trí nhớ, rối loạn thực
vật không rầm rộ nhưng dai dẵng hơn.
- Thể nhược : phản ứng cảm xúc yếu hơn, thường phản ứng tiêu cực, dễ mủi lòng khóc
lóc, khả năng lao động giảm hẳn. Rối loạn thực vật nhiều, trầm trọng.
4. Chẩn đoán:
4.1. Chẩn đoán theo bảng quốc tế lần 10
- Triệu chứng dai dẳng về sự mệt mỏi ngày càng tăng sau những cố gắng hoạt động trí óc,
hoặc đau khổ về sự suy yếu cơ thể và kiệt sức sau một cố gắng tối thiểu.
- một trong hai triệu chứng : cảm giác đau nhức , chóng mặt, đau đầu, rối loạn giấc
ngủ, tính tình cáu gắt.
- Không có triệu chứng lo âu hay trầm cảm dai dẳng trầm trọng để đáp ứng đầy đủ các
tiêu chuẩn của các rối loạn đặc hiệu đó.
4.2. Chẩn đoán theo các tiêu chuẩn cổ điển:
- Bộ ba triệu chứng : đau đầu, mất ngủ, kích thích suy nhược.
- Tiền sử sang chấn tâm lý.
- Không có triệu chứng của bệnh thần kinh tâm thần nội khoa…
4.3. Chẩn đoán phân biệt:
- Chứng mệt mỏi trong m việc quá sức. Đây tình trạng sinh tạm thời xuất hiện khi
gắng sức, cải thiện hồi phục khi nghỉ ngơi.
- Với hội chứng tâm căn suy nhược trong các bệnh: cao huyết áp, viêm loét dạ dày, viêm
xoang.
5. Điều trị:
- Nguyên tắc điều trị : liệu pháp m chủ yếu. Thầy thuốc phải ân cần, thăm khám
chu đáo, tìm hiểu tình hình bệnh tật hoàn cảnh sinh hoạt của họ. Trên sở đó ,tạo niềm
tin cho người bệnh, giải thích hợp lý m người bệnh hiểu được bản chất nguyên nhân gây
bệnh, thuyết phục bệnh nhân tin tưởng vào toàn bộ kế hoạch điều trị, hợp tác chặt chẽ với
thầy thuốc. Chú ý luyện tập, thư giãn. Hạn chế yếu tố thúc đẩy. Điều trị triệu chứng: giảm
đau, an thần… tạo nên sự khác biệt rất lớn cho người bệnh. Chữa các bệnh m suy yếu
thể. Hướng dẫn bệnh nhân thay đổi chế đsinh hoạt : bỏ thói quen xấu như thuốc
thuốc lá, uống càfe, bia rượu; cải thiện điều kiện lao động, sinh hoạt hợp kế hoạch,
xây dựng quan hệ tốt với các thành viên trong gia đình, cơ quan, tập thể…
116
II. Y học cổ truyền
1. Bệnh danh: Tâm căn suy nhược thuộc phạm vi các chứng đầu thống, huyễn vựng, thất
miên, tâm quí, kiện vong..
2. Nguyên nhân : tình trí thất điều (Stress ), tiên thiên bất túc (loại hình thần kinh yếu)
đưa đến sự rối loạn các tạng tâm can tỳ thận.
3. Biện chứng luận trị: ngoài đau đầu, mất ngủ, kém tập trung tuỳ theo các biểu hiện
khác mà chia ra các thể.
4. Các thể lâmng
4.1. Tâm can khí uất
- Tinh thần u uất, phiền muộn, thở dài, nhức đầu chối nắn, đầy tức hông sườn, cầu táo, hồi
hộp, rêu trắng, mạch huyền..
- Pháp: sơ can lý khí an thần.
- Phương thuốc :
+ Sài hồ can tán : Sài hồ 8g, xuyên khung 6g, chỉ xác 6g, hương phụ 6g, trần 6g,
bạch thược 6g, cam thảo 6g (sài hồ can, chỉ xác, hương phụ, trần khí giúp sài hồ
tăng tác dụng sơ can, xuyên khung, bạch thược hoà can, cam thảo điều hoà các vị thuốc).
+ Thuốc nam: củ gấu 10g, cúc hoa 10g, hạt muồng 10g, quả dành dành 10g, tim sen 10g.
- Phương huyệt: Châm tả các huyệt thái xung, nội quan, thần môn, a thị huyệt (thái xung,
thần môn là nguyên huyệt của kinh can, tâm, nội quan chủ trị vùng ngực)
4.2 Can thận âm hƣ :
- Chóng mặt, hoa mắt, đau lưng, ù tai, mỏi gối, tiểu vàng, cầu táo, di tinh, mạch trầm, tế
sác, lưỡi đỏ giáng
- Pháp: bổ can thận âm.
- Phương thuốc :
+ Lục vị địa hoàng hoàn: Thục địa 12g, hoài n 8g, sơn thù 8g, đơn 6g, bạch linh 6g,
trạnh tả 6g (thục địa bổ thận âm, hoài sơn thận kiện tỳ, sơn thù tư thận liễmcan, hoài
sơn tư thận bổ tỳ, đơn bì để tả can hoả, trạch tđể tả thận, giáng trọc, phục linh để kiện tỳ
thẩm thấp).
+ Thuốc nam: thục địa 20g, thủ ô 20g, cỏ xước 10g, đậu đen 10g, lạc tiên tiên 10g,
vông 10g.
Bài thuốc nam chữa mất ngủ, chống lo âu: lạc tiên 12g, sen 12g, vông 10g, hạt
muồng sao đen 10g.
- Phương huyệt: cm bổ thận du, can du, tam âm giao (thận du, can du là huyệt du tác
dụng chữa bệnh tạng, tam âm giao huyệt gặp nhau của ba đường kinh âm can, thận,
tỳ, có tác dụng tư âm).
4.3. Thận âm dƣơng lƣỡng hƣ
- Tinh thần uỷ mị, hay khóc lóc hờn dỗi, lưng gối mỏi, liệt dương, trầm cảm, chân tay
lạnh, sợ lạnh, cầu phân lỏng, mạch trầm nhược.
- Pháp : Bổ thận âm, thận dương.
- Phương thuốc : bát vị - thục địa 12g, hoài sơn 12g, sơn thù 8g, đơn 4g, bạch linh 4g,
trạch tả 4g, nhục quế 4g, phụ tchế 8g (lục v dưỡng thận âm, nhục quế. phụ tử ôn bổ
thận dương)
117
- Phương huyệt : cứu bổ thận du, mệnh môn, quan huyên, khải (thận du huyệt du
chữa bệnh tạng, mệnh môn chủ trị thận dương hư, quan huyên khí hải bổ k tăng
cường tráng dương).
III. Giáo dục sức khỏe về mặt tâm sinh lý
- Sự hiểu biết về tâm căn suy nhược một yếu tố quan trọng để phòng chữa bệnh, đây
một bệnh có thể phòng và chữa khỏi.
Công việc: công việc căng thẳng không gây ra bệnh nhưng phải với điều kiện là tình trạng
này không được kéo dài vượt qua sức chịu đựng thông thường của hệ thần kinh. Nói đến
công tác khẩn trương không chỉ nói đến số giờ làm việc mà phải xem xét đến tính chất
công việc phức tạp hay đơn giản, phải tập trung tưởng cao độ. Nói đến công tác khẩn
trương n phải nói đến trình độ năng lực của người m việc, nếu vừa với khả năng của
mình thì người đó sẽ bớt lo lắng, thư thái n phải m một việc vượt quá khả năng.
Lúc ta m một việc say yêu thích, thì chẳng những năng suất cao cũng
chẳng thấy mệt nhọc, ngược lại làm một việc đó miễn cưỡng không nhận thức đầy đủ ý
nghĩ của việc đó thì sẽ mau mệt , bi quan, những kích thích xấu làm vỏ não suy yếu.
Nói đến công tác khẩn trương còn phải nói đến công tác tốt hay không, nếu việc gì chuẩn
bị chu đáo có kế hoạch tỉ mỉ thì hiệu suất sẽ cao không mệt mỏi, nếu làm việc thíếu kế
hoạch gặp đâu làm đó thì hiệu suất kém và mau mệt mỏi.
- Nghỉ ngơi: m việc quá căng thẳng tế bào vnão luôn trạng thái hưng phấn và tiêu
hao nhiều năng lượng. Nếu không qúa trình nghĩ ngơi thích đáng để vỏ não trở lại
trạng thái ức chế phục hồi năng lượng thì hai qtrình hưng phấn và ức chế của vỏ não sẽ
bị mất thăng bằng đưa đến bệnh m căn suy nhược. Mỗi người cần nhận thức tầm quan
trọng của sự phân phối giữ m việc nghĩ ngơi để đảm bảo khả năng phục vụ lâu dài,
cũng cần biết nghĩ ngơi như thế nào cho chất lượng.
Nghĩ ngơi một cách tiêu cực như nằm dài trên giường, hút thuốc lá, uống nước trà, nói
truyện phiếm..thì chỉ thể giảm bớt mệt nhọc nhưng không n luyện được hệ thống
thần kinh.
Nghĩ ngơi tích cực lúc tạm dừng công việc đang m, luyện tập tgiãn, tập thể dục,
làm vườn..thì chẳng những giảm bớt mệt nhọc mà còn có tác dụng rèn luyện hệ thần kinh.
Ngủ phương pháp nghĩ ngơi quan trong nhất, ngủ sâu, ngủ đủ giờ cần thiết thì vnão
được ức chế tốt hồi phục được nhiều năng lương.
Thầy thuốc cần phổ biến những điều vệ sinh về giấc ngủ, dùng các biện pháp m lý,
thuốc men, luyện tập, châm cứu..để tạo cho nời bệnh giấc ngủ tốt. Nời bệnh nên
nghĩ ngơi an dưỡng, nghĩ học? Não bộ con người càng m việc càng được rèn luyện,
nghĩ ngơi lâu dài m cho năng lực hoạt động của não giảm sút, nếu nghi ngơi lâu dài sẽ
lạc hậu với tình hình, khi trở lại công việc phải cố gắng nhiều hơn, trong hoàn cảnh như
vậy bệnh dễ tái phát.
- Sinh hoạt quy củ, trật tự, ngăn nắp: cần một thời khoá biểu quy định giờ ăn ngủ,
làm việc, giải trí..và cố gắng tuân theo. Làm nvậy sẽ góp phần rèn luyện hệ thống thần
kinh, làm cho vỏ não hưng phấn và ức chế theo một trật tự sắp đặt từ trước.